TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC********* NGUYỄN THỊ HOA PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI MÔI TRƯỜNG XUNG QUAN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
*********
NGUYỄN THỊ HOA
PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH (CHỦ ĐỀ
THẾ GIỚI THỰC VẬT)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn khoa học
TH.S NGUYỄN THU TRANG
HÀ NỘI - 2011
Trang 2Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Đảng và nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến công tác giáo dục
và đào tạo, xem đây là nhân tố quyết định đến sự phát triển lớn mạnh của đất nước Trong đó giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quôc dân có nhiệm vụ hình thành và phát triển nhân cách trẻ tạo ra những thế hệ người Việt Nam có đầy
đủ các phẩm chất trí tuệ, thể chất cũng như đạo đức đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách trẻ, ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng Nhà giáo
dục Usinxki K.D đã từng nói “Tiếng mẹ đẻ là cơ sở của mọi sự phát
triển trí tuệ và là kho tàng của mọi tri thức” Còn nhà sư phạm Nga
Chikhieva E.L nói rằng “Ngôn ngữ là công cụ của tư duy, là chìa
khoá để nhận thức, là vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng văn hoá của dân tộc, của nhân loại”
Các thành tựu nghiên cứu tâm lí ngôn ngữ trẻ em đã chứng minh rằng giai đoạn từ hai đến năm tuổi là thời kì ngôn ngữ phát triển mạnh mẽ nhất Vì vậy, việc rèn luyện và phát triển ngôn ngữ cho trẻ
là một trong những nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt của giáo dục mầm non, góp phần vào việc trang bị cho trẻ một phương tiện
để nhận thức, chiếm lĩnh tri thức của nhân loại
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là phát triển vốn từ Bởi từ vựng là đơn vị cơ bản để xây dựng lời nói Để có thể giao tiếp được với những người xung quanh, bộc lộ suy nghĩ của mình một cách có hiệu quả nhất thì trẻ phải có vốn từ phong phú Đối với trẻ mẫu giáo nhỡ (4 – 5 tuổi) thì nhiệm
vụ này cũng có vai trò quan trọng vì trong giai đoạn này ngôn ngữ của trẻ phát triển rất mạnh mẽ Do đó, nếu không phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này một cách kịp thời đúng hướng thì
Trang 3ngôn ngữ của trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn về sau, sẽ ảnh hưởng đến nhận thức cũng như học tập của trẻ khi bước vào trường phổ thông Hiện nay, chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mẫu giáo chưa
có phần riêng biệt nhằm phát triển ngôn ngữ nói chung, phát triển vốn từ nói riêng cho trẻ Chủ yếu việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
được lồng ghép vào các môn học khác và nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ chỉ là thứ yếu Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh đã được các nhà giáo dục quan tâm ở chủ đề thế giới thực vật, trẻ được khám phá những điều thú vị gần gũi xung quanh trẻ về các loại cây, hoa, lá…Trẻ được tiếp xúc với những điều trẻ thường xuyên quan sát
được nên trẻ dễ dàng nhận diện và nói chính xác hơn Tuy nhiên việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua môn học này (với chủ đề thế giới thực vật) vẫn chưa được chú trọng Điều đó đã phần nào làm ảnh hưởng đến việc phát triển ngôn ngữ, ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ
Là một giáo viên mầm non tương lai, tôi hiểu rõ nhiệm vụ cơ bản của vệc dạy tiếng mẹ đẻ ở trường mầm non Vì những lí do trên,
tôi lựa chọn thực hiện đề tài “Phương pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh (chủ đề thế giới thực vật)”
2 Lịch sử vấn đề
Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non được rất nhiều nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm và đi sâu tìm hiểu ở các khía cạnh khác nhau
ở Việt Nam, từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, vấn đề
này cũng được quan tâm Một số hội nghị khoa học ở Trung ương cũng như các địa phương đã hướng nội dung vào việc thảo luận nâng cao chất lượng giảng dạy phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Trang 4Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn “Phương pháp phát
triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”, Nxb Đại học Sư phạm, 2004, đã
nói về phương pháp phát triển tiếng cho trẻ mẫu giáo rất chi tiết, tỉ
mỉ và cụ thể Ngoài ra, ông cũng đã đưa ra các cách sửa lỗi phát âm
và một số trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo
Trong cuốn sách “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mẫu giáo” , Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, các tác giả Hoàng
Thị Oanh- Phạm Thị Việt – Nguyễn Kim Đức đã nói lên được tầm quan trọng của ngôn ngữ trong việc giáo dục toàn diện cho trẻ và nêu sơ lược về nội dung, phương pháp, biện pháp để luyện phát âm, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ
Tác giả Đinh Hồng Thái trong cuốn “Phương pháp phát triển
lời nói trẻ em”, Nxb Đại học Sư phạm, 2006 đã trình bày các
phương pháp phát triển vốn từ cho trẻ
Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6
tuổi” , NXB Đại học Quốc gia, 2005, các tác giả Hoàng Thị Oanh,
Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức tìm hiểu các vấn đề luyện phát âm cho trẻ ở các lứa tuổi
Và nhiều cuốn sách, tạp chí khác cũng đề cập đến vấn đề này Như vậy, rất nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp phát ngôn ngữ cho trẻ Cơ sở lí luận và phương pháp này đã được nhiều chuyên gia về giáo dục nghiên cứu và không ai phủ nhận được mặt tích cực của các dạng hoạt động trong phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo Tuy nhiên chưa có tác phẩm, tác giả nào đi sâu vào nghiên cứu vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh (Chủ đề thế giới thực vật) Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, chúng tôi
mạnh dạn chọn và tìm hiểu về đề tài “Phương pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh (chủ đề thế giới thực vật)”
Trang 53 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh là một hình thức để phát triển ngôn ngữ cho trẻ nên đối tượng nghiên cứu của nó cũng không nằm ngoài nhiệm vụ của bộ môn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ” Đó là các qui luật hoạt động sư phạm nhằm hình thành và phát triển ngôn ngữ cho trẻ Cụ thể ở đây là phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là nghiên cứu phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh (chủ đề thế giới thực vật)
4 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn tìm ra các phương pháp, biện pháp, hình thức tốt nhất để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh ở chủ đề thế giới thực vật
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong khoá luận này chúng tôi giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh
- Tìm hiểu hình thức, phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh
- Thể nghiệm một số giáo án
6 Các phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ, yêu cầu của đề tài, chúng tôi sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu chính sau:
Trang 6- Phương pháp nghiên cứu tài liệu lí luận
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp trò chuyện
- Phương pháp phân tích tổng hợp
7 Cấu trúc của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận gồm ba chương: Chương 1 Cơ sở lí luận
Chương 2 Các hình thức và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh ( Chủ đề thế giới thực vật)
Chương 3 Thể nghiệm giáo án
Trang 7Nội dung Chương 1 Cơ sở lí luận 1.1 Cơ sở sinh lí
Các nhà sinh lí và giải phẫu sinh lí học đã chứng minh cơ sở vật chất của đời sống trẻ phụ thuộc vào bộ não và hệ thần kinh cấp cao Cho đến khi ra đời não bộ của trẻ vẫn chưa được phát triển đầy đủ, mặc dù hình thái và cấu tạo của nó không khác mấy so với người
lớn ở trẻ sơ sinh, não bộ có kích thước nhỏ, trọng lượng khoảng
370 – 392g (bằng 1/8 – 1/9 trọng lượng cơ thể) Trong 9 năm đầu trọng lượng của não bộ tăng lên mạnh mẽ Trẻ 6 tháng tuổi trọng lượng của não tăng gấp đôi lúc mới sinh, 3 tuổi trọng lượng của não tăng gấp ba lần so với lúc mới sinh, lớp trong của não phát triển chậm so với lớp vỏ ngoài Chính sự phát triển quá mạnh đó của lớp
vỏ tạo thành những nếp nhăn, những rãnh trên vỏ não
Sự khôn lớn và trưởng thành của trẻ phụ thuộc vào hoạt động thích nghi với môi trường và thế giới xung quanh theo cơ chế đồng hoá và điều ứng của trẻ Môi trường luôn luôn thay đổi nên muốn thích ứng với nó, cơ thể không chỉ dựa vào những phản xạ bẩm sinh
di truyền - những phản xạ không điều kiện, mà phải dựa vào một loạt phản xạ mới, cơ động hơn, tinh vi hơn, được hình thành sau nà y trong đời sống cá thể Đó chính là phản xạ có điều kiện Phản xạ có
điều kiện có ý nghĩa trong quá trình học tập, giáo dục tư tưởng, tình
cảm cho trẻ Nó là “chiếc chìa khoá” để hiểu được các hiện tượng
tâm lí Phản xạ có điều kiện là hoạt động tín hiệu nhờ hai loại kích thích Kích thích cụ thể như âm thanh, hình ảnh, màu sắc, mô hình, trạng thái, gọi là tín hiệu thứ nhất Còn tín hiệu thứ hai có được ở trẻ nhờ những kích thích trừu tượng như: ngôn ngữ, lời nói, chữ viết, môi trường, xã hội, con người,… Các tín hiệu đó sẽ là vật kích
Trang 8thích có điều kiện khi tác động vào các giác quan chúng sẽ tạo ra trên vỏ não những đường liên hệ thần kinh tạm thời Sau khi những kích thích này được lặp đi lặp lại nhiều lần, đường liên hệ thần kinh tạm thời này sẽ được khắc sâu hơn tạo thành những rãnh trên vỏ não của trẻ
Khả năng chú ý của trẻ mầm non chưa cao Tư duy của trẻ mang
đậm tư duy trực quan hành động và trực quan hình ảnh, chưa hình thành loại tư duy ngôn ngữ - lôgic Do đó ngôn ngữ của trẻ còn hạn chế so với các độ tuổi khác, vốn từ của trẻ cũng nghèo nàn
Để có thể giao tiếp tốt, chúng ta không thể không kể đến bộ máy phát âm Cấu tạo của bộ máy phát âm gồm: dây thanh và các hộp cộng hưởng phía trên thanh hầu
Hai cơ mỏng nằm sóng nhau theo chiều dọc trong một hộp bằng sụn, gọi là thanh hầu, nằm ở phía trên của khí quản Thanh hầu
được cấu tạo bởi một sụn hình giáp vốn nhô ra trước cổ, nhất là ở người gầy, mà người phương tây quen gọi là quả táo của Ađam và ta gọi là “hầu” Sụn này chỉ che được ở phía trước còn phía sau hở Để
bù lại, phía dưới nó có một sụn hình nhẫn mà mặt nhẫn quay về phía sau, khiến cho phía sau vừa đủ che kín, làm thành một cái hộp.Trong hộp này có hai sụn hình chóp điều khiển sự hoạt động của dây thanh
Do dây thần kinh chỉ huy, hai mép của hai dây thanh khép lại làm cho áp suất của không khí trong khí quản ở phía dưới tăng lên Sau một thời gian ngắn, thanh môn mở ra cho phép một luồng không khí từ khí quản đi lên và thoát ra ngoài Thanh môn tiếp tục đóng lại, và lại mở ra, cứ như thế và người ta bảo dây thanh chấn động
Nó làm cho luồng không khí từ phổi ra ngoài thành từng đợt cách nhau đều đặn tạo nên sóng âm Những âm được tạo ra như thế được gọi là thanh, trái với những âm được tạo ra không phải do sự hoạt
động của dây thanh mà do cọ sát không khí vào thành bộ máy phát
Trang 9âm khi thoát ra ngoài, hoặc do không khí phá vỡ sự cản trở trên lối thoát tạo thành một tiếng nổ, được gọi là tiếng động
Miệng và mũi được ngăn ra bởi vòm miệng mà phía trước gọi là ngạc, phía sau là mạc hay khẩu mạc Trong miệng, lưỡi khi nâng lên lại tạo ra hai khoang: khoang miệng ở phía trước, khoang yết hầu ở phía sau Yết hầu có một lỗ nhỏ thông lên mũi và được đóng lại khi cần thiết bởi lưỡi con Đó là ngã tư, chỗ giao nhau giữa đường của thức ăn từ miệng vào thực quản và đường của không khí từ phổi lên mũi Mỗi khi ăn uống, đường vào phổi phải được đóng lại bởi nắp họng Yết hầu, miệng và mũi là ba khoang trống đóng vai trò của những hộp cộng hưởng Riêng yết hầu và miệng do hoạt động của lưỡi và môi mà có thể thay đổi thể tích, hình dáng và lối thoát của không khí bất cứ lúc nào và vì thế hai khoang này có một vai trò hết sức quan trọng trong việc thay đổi âm sắc của âm thanh vốn được tạo ra do sự chấn động của dây thanh đi lên
Mỗi lần dây thanh chấn động với tần số khác nhau, tạo nên âm cơ bản khác nhau cho ta những thanh điệu khác nhau Trái lại, dây thanh chấn động trong mọi trường hợp như nhau thì ta chỉ có một thanh điệu duy nhất nhưng khi đi qua yết hầu, miệng, mũi thì các hoạ âm chịu ảnh hưởng của sự cộng hưởng, đã bị thay đổi đi, trong mối tương quan với âm cơ bản và cho các nguyên âm khác nhau Mỗi lần môi, lưỡi, hàm ở một vị trí khác nhau là một lần hộp cộng hưởng miệng và yết hầu thay đổi thể tích, hình dáng, lối thoát của không khí, tức là những nhân tố quyết định khả năng cộng hưởng của mình và làm biến đổi âm sắc của âm thanh đi qua chúng một cách khác nhau Chính vì thế hai khoang miệng và yết hầu là hai hộp quan trọng nhất Hộp cộng hưởng mũi tạo nên một âm sắc riêng
Âm sắc và tiếng nói do tính chất của hoà âm xác định và phụ thuộc vào các khoang cộng hưởng của phần trên các bộ phận thanh quản, họng, khoang miệng, mũi
Trang 10Bộ máy phát âm của trẻ mầm non phát triển chưa đầy đủ các bộ phận tạo thành tiếng nói chưa liên kết chặt chẽ nên trẻ thường phát
âm không chuẩn, không chính xác Do đó, việc nghiên cứu bộ máy phát âm để tìm hiểu ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ là hoàn toàn có cơ sơ và mang tính khoa học
1.2 Cơ sở tâm lí
Ngay từ giai đoạn hài nhi ở trẻ đã hình thành những tiền đề của
sự lĩnh hội ngôn ngữ Nhu cầu giao tiếp với người lớn và sự định hướng vào môi trường xung quanh ngày càng tăng đã làm nảy sinh khả năng nói năng ở trẻ Khi giao tiếp trẻ bắt trước những âm thanh trong lời của những người xung quanh Đứa trẻ thường thích thú, chăm chú lắng nghe lời người lớn nói với mình
Cuối tuổi hài nhi, mối liên hệ giữa đối tượng và bản thân đối tượng trở nên rõ ràng và phong phú hơn Đó là hình thức đầu tiên của sự thông hiểu ngôn ngữ Lúc này, trẻ có thể chỉ ra đúng đối tượng mà người lớn hỏi Như vậy, trong quá trình tiếp xúc trực tiếp với người lớn, sự thông hiểu ngôn ngữ của trẻ dần dần mang tính chất tích cực hơn trở thành một trong những phương tiện quan trọng
để mở rộng khả năng giao tiếp của trẻ với những người xung quanh Đến tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ có một bước ngoặt rất cơ bản
Đó là sự chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong mà thực chất đó là sự chuyển những hành động định hướng bên trong theo cơ chế nhập tâm Quá trình tư duy của trẻ đã bắt đầu dựa vào những hình ảnh của sự vật và hiện tượng đã có trong đầu, cũng có nghĩa là chuyển từ kiểu tư duy trực quan - hành động sang kiểu tư duy trực quan – hình tượng.Tuy nhiên, bước chuyển này mới chỉ là một bước nhảy từ bờ bên này (là tư duy ở bình diện bên ngoài, tư duy trực quan – hành động) sang bờ bên kia (là tư duy ở bình diện bên trong, tư duy trực quan – hình tượng) nên nó mới là
điểm khởi đầu của loại tư duy mới
Trang 11Đối với trẻ mẫu giáo nhỡ trong quá trình vui chơi trẻ bộc lộ toàn bộ tâm trí của mình, nhận thức, tình cảm, ý chí, nói năng đều
tỏ ra tích cực và chủ động Trong khi vui chơi, trẻ mẫu giáo nhỡ thể hiện tính tự lực, tự do rất rõ, ít lệ thuộc vào người lớn và hoàn toàn tuỳ thuộc vào ý thích của mình Mẫu giáo nhỡ là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của tư duy trực quan hình tượng Trẻ em có nhu cầu khám phá các quan hệ phụ thuộc giữa các sự vật, hiện tượng để giải bài toán nhận thức ngày càng đa dạng và phức tạp Trẻ mẫu giáo nhỡ đã có khả năng suy luận, mặc dù những kết luận của trẻ vẫn còn ngây ngô, ngộ nghĩnh Khả năng tư duy trừu tượng của trẻ còn hạn chế, trẻ thường nhận thức dựa vào những biểu tượng đã có, những kinh nghiệm đã trải qua để suy luận những vấn đề mới Sự nhận thức đó thường chỉ dừng lại ở các đặc điểm nổi bật bên ngoài chứ chưa đi sâu vào bản chất bên trong, chưa thấy được mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng cũng như các đặc điểm của đối tượng
Do đó nhiều khi trẻ giải thích các hiện tượng một cách ngộ nghĩnh
Một cháu bé đi tắm biển, nếm thấy nước biển mặn liền hỏi: “Ai cho
muối vào biển thế?” Một cháu bé bốn tuổi trông thấy một em bé
người Nga đang đi xe đạp ba bánh trên vỉa hè liền kêu lên: “ơ kìa
một ông già bé!” Trẻ dễ lẫn lộn giữa thuộc tính bản chất và không
bản chất của sự vật hiện tượng Vì vậy, cần thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh để cung cấp cho trẻ những biểu tượng mới một cách phong phú, đa dạng, có hệ thống đi đôi với việc củng cố các biểu tượng mới, mở rộng vốn hiểu biết, phát triển vốn
từ cho trẻ phong phú hơn, đa dạng hơn, hình thành hệ thống ngôn ngữ ở trẻ một cách lành mạnh và trong sáng Hình thành cho trẻ kĩ năng hiểu và diễn đạt suy nghĩ tình cảm của mình về thế giới xung quanh bằng ngôn ngữ một cách mạch lạc
Trẻ mẫu giáo nhỡ đã biết so sánh các đặc điểm giống và khác nhau của hai đối tượng Trong giao tiếp trẻ có ý thức đối với hành
động và lời nói của mình Trẻ biết thực hiện nghĩa vụ của bản thân
Trang 12và tuân thủ những qui định về nề nếp trong vui chơi, học tập, lao
động và sinh hoạt ở gia đình cũng như ở trường mầm non
ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ, đời sống tình cảm của trẻ có một bước chuyển biến mạnh mẽ, vừa phong phú vừa sâu sắc hơn so với lứa tuổi trước đó Quan hệ giữa trẻ và những người xung quanh được mở rộng ra một cách đáng kể, do đó tình cảm của trẻ cũng được phát triển về nhiều phía đối với những người trong xã hội Ví dụ: Cháu Hồng Kí đã nói với cô hiệu trưởng khi nghe tin cô giáo lớp cháu bị
ngã xe đạp: “Cháu sẽ tìm đánh người nào làm đổ xe đạp của cô
giáo” Cháu Kim Oanh đã ngồi trên giường bệnh của mẹ rất lâu,
mặc dù bên ngoài các bạn đang rủ đi chơi thỉnh thoảng cháu lại cúi
xuống nói vào tai mẹ: “Mẹ mà khỏi con sẽ mua cho mẹ nhiều bắp
ngô to” Ta có thể thấy rằng đời sống tình cảm của trẻ ở độ tuổi
mẫu giáo nhỡ khá phong phú Trẻ đã có thể thể hiện tình cảm của mình không chỉ bằng hành động, cử chỉ mà trẻ đã biết thể hiện tình cảm của mình bằng ngôn ngữ một cách rõ ràng, mạch lạc Trẻ thường bộc lộ tình cảm của mình với những người xung quanh trước hết là bố, mẹ, anh, chị, cô giáo,…Tình cảm của trẻ không chỉ bộc lộ với người thân hoặc những nhân vật trong chuyện mà đối với động vật, cỏ cây, hoa, lá, đồ vật, đồ chơi, các hiện tượng trong thiên nhiên Vì vậy cần thông qua các chủ đề trong môn học cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh để giúp trẻ có thêm vốn kinh nghiệm, hiểu biết về thế giới xung quanh và diễn tả bằng ngôn ngữ
về vẻ đẹp của thiên nhiên
Giai đoạn này, tư duy của trẻ đã phát triển hơn, trẻ đã có thể hình dung ra những hình ảnh của thiên nhiên, của cuộc sống khi nghe người khác nói Đây chính là thời điểm thuận lợi cho việc giáo dục ngôn ngữ cho đứa trẻ Thông qua việc giáo dục ngôn ngữ ta có thể cho trẻ thấy được cái đẹp, đồng thời giáo dục đạo đức và giúp trẻ phát triển toàn diện
Trang 13ở trẻ mẫu giáo nhỡ,các động cơ đã xuất hiện như muốn tự khẳng định mình, muốn được sống và làm việc giống như người lớn, muốn nhận thức sự vật hiện tượng xung quanh,… đều được phát triển mạnh mẽ Những động cơ này gắn liền với việc lĩnh hội có ý thức những chuẩn mực về những qui tắc đạo đức hành vi trong xã hội Lúc đầu việc thực hiện những qui tắc hành vi xã hội chỉ là phương tiện để trẻ duy trì mối quan hệ qua lại giữa mình với những người xung quanh Sau rồi được tán thưởng, khen ngợi mà đứa trẻ vui vẻ thực hiện những hành vi đó như là một sự bắt buộc của chính
mình Chẳng hạn như câu hỏi: “Tại sao không được đánh bạn?” Nếu như ở trẻ mẫu giáo bé trả lời: “Không được đánh nhau, đánh
nhau sẽ bị phạt” thì trẻ mẫu giáo nhỡ lại trả lời: “Không được
hay khi hỏi các cháu đang làm trực nhật là tại sao chúng làm việc
đó thì trẻ trả lời: “Cháu cần phải giúp bác cấp dưỡng kẻo một
hơn?”,… đối với trẻ mẫu giáo nhỡ có một sức động viên khiến cho
trẻ thực hiện công việc tốt hơn bình thường Vì vậy, trong giai đoạn này ngôn ngữ giữ vai trò vô cùng quan trọng giúp trẻ điều chỉnh
động cơ hành vi đúng đắn với chuẩn mực đạo đức Cần thông qua ngôn ngữ giúp trẻ điều chỉnh những hành vi phù hợp với xã hội ở giai đoạn này, những cấu tạo tâm lí đặc trưng của con người vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ Với sự giáo dục của người lớn, những chức năng tâm lí đó sẽ được hoàn thiện về mọi phương diện của hoạt động tâm lí để hoàn thành việc xây dựng những cơ sở ban đầu
về nhân cách của con người
Một trong những thành tựu lớn lao nhất của giáo dục mầm non
là làm cho trẻ sử dụng một cách thành thạo tiêng mẹ đẻ trong đời sống hàng ngày Tiếng mẹ đẻ là phương tiện quan trọng nhất để lĩnh hội nền văn hoá dân tộc, để giao lưu với những người xung quanh,
để tư duy, để tiếp thu khoa học, để bồi bổ tâm hồn,… Lứa tuổi mẫu
Trang 14giáo là thời kỳ bộc lộ tính nhạy cảm cao nhất đối với các hiện tựợng ngôn ngữ, điều đó khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt tốc
độ rất nhanh Đứng trước một nền văn hóa đồ sộ của dân tộc và nhân loại mà nó có nhiệm vụ phải lĩnh hội những kinh nghiệm của
ông cha để lại, đồng thời có sứ mạng xây dựng nền văn hoá đó trong tương lai Cho nên việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi mầm non là nhiệm vụ vô cùng quan trọng
Đến độ tuổi mẫu giáo nhỡ khi tư duy của trẻ đã phát triển đến mức độ cần thiết cần tổ chức các hoạt động nhằm giúp trẻ phát triển ngôn ngữ Điều quan trọng là cần xây dựng cho trẻ có vốn từ phong phú đa dạng Vì vậy, giáo viên cần cung cấp kiến thức, mở rộng hiểu biết, vốn từ phong phú để giúp trẻ làm giàu vốn từ, tích cực hoá vốn từ, được thường xuyên sử dụng vốn từ của mình Do vậy, cần tạo điều kiện cho trẻ có cơ hội để tích luỹ vốn từ, thể hiện sự hiểu biết bằng lời, trong quá trình diễn đạt trẻ có thái độ tự tin mạnh dạn; Trẻ biết nhận xét, biết tỏ thái độ với ý kiến của bạn đưa
ra và biết tôn trọng người khác khi trình bày Việc này cần chú trọng trong hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh giúp trẻ có hiểu biết hơn về thế giới xung quanh trẻ
cử chỉ, các loại dấu hiệu, kí hiệu khác nhau (kí hiệu toán học, tín hiệu đèn giao thông, những kết hợp âm thanh của âm nhạc, những kết hợp màu sắc của hội hoạ, cử chỉ điệu bộ của chân tay,…) nhưng
Trang 15ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người So với ngôn ngữ thành tiếng, ngôn ngữ cử chỉ thật nghèo nàn và hạn chế Chính nhờ ngôn ngữ mà con người có thể hiểu nhau trong quá trình sinh hoạt và lao động mà người ta có thể diễn đạt và làm cho người khác hiểu được tư tưởng tình cảm trạng thái và nguyện vọng của mình Có hiểu biết lẫn nhau, con người mới có thể đồng tâm hiệp lực chinh phục thiên nhiên, chinh phục xã hội làm cho xã hội ngày càng tiến lên
Cách mạng khoa học kĩ thuật và công cuộc cải cách giáo dục ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải giải quyết những nhiệm vụ giao tiếp
và nâng cao chất lượng của hoạt động giao tiếp về mặt nội dung và hình thức Có như vậy, chúng ta mới đưa được những kiến thức khoa học đang tăng lên không ngừng vào các lĩnh vực của đời sống
Ngôn ngữ là phương tiện truyền đạt kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người, là phương tiện phát triển xã hội loài người Thế hệ đi sau kế thừa những kinh nghiệm của thế hệ đi trước Vì vậy, trẻ em phải được lĩnh hội những kinh nghiệm của lịch sử xã hội loài người
để xã hội hoá bản thân Sự lĩnh hội ấy thông qua ngôn ngữ nhờ có ngôn ngữ trẻ em ngày càng phát triển và sự phát triển của ngôn ngữ tác động đến sự phát triển của tư duy Trẻ mẫu giáo có nhu cầu rất lớn về mặt nhận thức Trẻ khát khao được tìm hiểu khám phá thế giới xung quanh mình trong đó ngôn ngữ là công cụ của tư duy Các nhà nghiên cứu giáo dục đều khẳng định phát triển vốn từ là nền tảng quan trọng để phát triển ngôn ngữ, có ý nghĩa quan trọng quyết
định đến mọi mặt sau này của trẻ Bởi ngôn ngữ nói không chỉ có thông tin mà còn có cả ý nghĩa tình cảm Ngôn ngữ có thể tạo nên hiện thực tâm lí có sức mạnh đặc biệt
Sống trong xã hội con người luôn phải giao tiếp, mà khi giao tiếp con người phải sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt với những người xung quanh Trẻ em giao tiếp với những người xung quanh học các
từ của bạn bè, cha mẹ, người thân thì ngôn ngữ của trẻ phát triển và
Trang 16chịu ảnh hưởng không nhỏ Cần làm giàu vốn từ bằng những từ mới, những từ khó đối với sự tự tìm hiểu của trẻ về những lĩnh vực gần gũi xung quanh trẻ, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội Đào sâu cung cấp chính xác hoá vốn từ cho trẻ hiểu chính xác nghĩa của
từ, dạy trẻ những từ đồng nghĩa trái nghĩa Tích cực hoá vốn từ cho trẻ trang bị cho trẻ vốn từ thực sự sống động
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ trong hoạt động chung “làm quen với môi trường xung quanh” là hết sức thuận lợi Bằng vốn ngôn ngữ của mình trẻ có thể biểu đạt sự hiểu biết của mình cho người lớn hiểu và hiểu được ý nghĩa của người lớn muốn nói gì, từ đó giúp trẻ tích cực giao tiếp với mọi người Qua hoạt
động chung “làm quen với môi trường xung quanh” trẻ học được các tên gọi chỉ đồ vật, sự vật, hành động, hiện tượng, các từ chỉ đặc
điểm, tính chất, công dụng và các từ biểu cảm Nghe và hiểu nội dung các câu đơn, câu mở rộng Trẻ biết dùng từ để biểu lộ tình cảm, nhu cầu và kinh nghiệm bản thân bằng các câu đơn, câu mở rộng Trẻ biết sử dụng các từ biểu thị sự lễ phép và thể hiện cử chỉ
điệu bộ, nét mặt phù hợp với yêu cầu, hoàn cảnh giao tiếp, kể lại sự việc theo trình tự thời gian Biết mô tả đồ dùng, đồ chơi, tranh ảnh, mô tả sự vật hiện tượng theo kinh nghiệm Bước đầu hình thành cho trẻ những năng lực ngôn ngữ như nghe lời nói và phát âm, khả năng
sử dụng từ ngữ, các kiểu câu tiếng việt và đặc biệt là nói năng mạch lạc trong giao tiếp và học tập Ngoài ra trẻ cũng được chuẩn bị một
số kĩ năng tiền đọc, viết cần thiết để học tiếng việt ở lớp một
Việc cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh sẽ giúp trẻ tích luỹ thêm vốn từ, tích cực hoá vốn từ, mở rộng hiểu biết về thế
giới xung quanh, làm cho ngôn ngữ của trẻ ngày càng phong phú ở giai đoạn này, trong những điều kiện thuận lợi, trẻ đã nắm được một
hệ thống ngữ âm, ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ và trên cơ sở này cần phát triển nhanh chóng vốn từ cho trẻ Bây giờ, lời nói của trẻ đã thực hiện chức năng giao tiếp và chức năng nhận thức (thông qua
Trang 17việc nắm được các từ ngữ mới, các hình thức ngữ pháp mới, trẻ mở rộng hiểu biết của mình về thế giới xung quanh về các đối tượng của hiện thực và mối quan hệ giữa chúng) chức năng điều chỉnh hành vi mà hình thức cao của nó là sử dụng lời nói bên trong để kế hoạch hóa hành vi của bản thân mình Chính vì vậy, việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh có ý nghĩa vô cùng quan trọng
1.4 Một số vấn đề liên quan đến hoạt động làm quen với môi trường xung quanh
1.4.1 Quan niệm về hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh
Cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh chính là việc giáo viên tạo ra các điều kiện, cơ hội và tổ chức các hoạt động để cho trẻ tích cực tìm tòi, phát hiện những điều thú vị về các sự vật, hiện tượng xung quanh trẻ Thực chất đó là việc giáo viện tạo môi trường, tạo ra các tình huống và tổ chức các hoạt động cho trẻ tiếp xúc, trải nghiệm với các sự vật hiện tượng của môi trường xung quanh, thông qua đó trẻ hiểu biết về đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng, các mối quan hệ qua lại, sự thay đổi và phát triển của chúng Điều quan trọng hơn cả là thông qua các hoạt động khám phá này trẻ học được các kĩ năng quan sát, so sánh phân loại,
đo lường, phán đoán giải quyết vấn đề, chuyển tải ý kiến của mình
a Đối với sự phát triển trí tuệ
Khám phá khoa học về môi trường xung quanh là hoạt động thực sự hấp dẫn làm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của trẻ, mở cho trẻ
Trang 18cánh cửa vào thế giới rộng lớn hơn Trong các hoạt động khám phá khoa học, trẻ được tích cực sử dụng các giác quan (thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác) Chính vì vậy, các cơ quan cảm giác của trẻ phát triển và khả năng cảm nhận của trẻ cũng nhanh nhạy và chính xác hơn Mặc dù ở độ tuổi này, trẻ chưa cần phải đưa ra những giải thích chính xác về mặt khoa học, song các cách lí giải hợp lí sẽ giúp tư duy của trẻ linh hoạt, mềm dẻo hơn
Vốn từ vựng của trẻ sẽ phát triển khi được hỗ trợ bởi sự tích luỹ kinh nghiệm và bởi các hoạt động quan sát và thực tiễn Ngôn ngữ nghe hiểu được phát triển khi trẻ lắng nghe giáo viên đọc, kể về các khám phá khoa học, tham gia các cuộc thảo luận, nghe, xem những cuốn truyện, những cuộc đối thoại với người lớn và bạn bè Việc bộc lộ ý kiến, quan điểm của bản thân trong các hoạt động khám phá khoa học và nói lên những kết quả thu được sẽ phát triển ở trẻ ngôn ngữ biểu đạt và sự tự tin, cởi mở trong giao tiếp với những người xung quanh
Thông qua những hoạt động khám phá, trẻ thu được kinh nghiệm thực tiễn, những kiến thức đơn giản về đặc điểm tính chất, các mối quan hệ, sự phát triển của các sự vật hiện tượng trong thiên nhiên và xã hội Trẻ có khả năng diễn đạt những điều đó bằng ngôn ngữ nói
b Đối với sự phát triển tình cảm, đạo đức thẩm mĩ, thể lực và
lao động
Việc khám phá môi trường xung quanh khơi gợi ở trẻ tình cảm nhân ái, biết giúp đỡ, bảo vệ những đối tượng yếu ớt Khám phá thiên nhiên và xã hội giúp trẻ có tâm hồn trong sáng, hồn nhiên cởi
mở, có lòng nhân ái, tình yêu đối với người thân và bạn bè
Môi trường xung quanh đặc biệt là thiên nhiên còn là phương tiện quan trọng để giáo dục thẩm mĩ Thông qua việc khám phá môi trường xung quanh trẻ phát hiện thấy sự cân đối, hài hoà, cảm nhận
được màu sắc, hình dạng, mùi vị, âm thanh,…của cỏ cây, hoa, lá,
Trang 19của các sản phẩm mà con người làm ra, biết rung động trước cái đẹp của thiên nhiên và cuộc sống
Như vậy, việc tổ chức cho trẻ khám phá môi trường xung quanh
là phương tiện không thể thiếu nhằm giải quyết mục đích phát triển toàn diện cho trẻ ở trường mầm non mà nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
1.5 Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ
1.5.1 Đặc điểm vốn từ
a Về số lượng từ
So với lứa tuổi mẫu giáo bé, trẻ ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ có số lượng từ nhiều hơn Về số lượng từ của trẻ mẫu giáo, các nhà ngôn ngữ học và tâm lí học có đưa ra những số liệu khác nhau
Trang 20- Về danh từ: nội dung, ý nghĩa của từ được mở rộng, phong phú hơn ở những từ có ý nghĩa rộng
Ví dụ: từ “hoa” có rất nhiều các loại hoa khác nhau, “Quả” có
hàng trăm các loại quả khác nhau
ở trẻ còn có những danh từ mang tính chất văn học
Ví dụ: áng mây, ánh trăng, đoá hoa,…
Trẻ biết sử dụng một số từ chỉ những khái niệm trừu tượng
(kiến trúc, tài năng,…) mặc dù trẻ chưa hiểu hết được nghĩa của
những từ đó
- Về động từ: Phần lớn là những động từ gần gũi, tiếp tục phát
triển thêm những nhóm từ mới như: nhảy nhót, ngo ngoe, rơi lộp
bộp, kêu leng keng,…những động từ chỉ sắc thái khác nhau: chạy
vèo vèo, chạy lung tung,…
ở lứa tuổi này xuất hiện thêm những động từ có ý nghĩa trừu
tượng: khai trương, khánh thành, giáo dục,…
- Về tính từ: Phát triển về số lượng cũng như chất lượng, trẻ sử dụng nhiều những từ có tính chất gợi cảm
Ví dụ: chua chua, to đùng, tròn xoe, chua loét,đo đỏ,…
Từ tượng hình, tượng thanh: rì rào, róc rách, ầm ầm,…
Từ trái nghĩa: to – nhỏ, dài – ngắn, thấp – cao,…
- Về trạng từ: Được mở rộng, trẻ sử dụng đúng các từ ngày xưa,
Tóm lại, Trẻ mẫu giáo nhỡ cùng với thời gian, vốn từ của trẻ
sẽ tăng cả về số lượng và chất lượng Việc nắm được ý nghĩa của từ phụ thuộc vào sự phát triển khả năng nhận thức và tư duy của trẻ
Trang 21Tốc độ phát triển ngôn ngữ của trẻ không đều nhau, càng ở lứa tuổi lớn, sự chênh lệch về số lượng từ không rõ rệt như trẻ còn nhỏ
1.5.2 Đặc điểm ngữ pháp
ở giai đoạn này, trẻ tiến bộ với tốc độ nhanh hơn về phương diện ngữ pháp Câu một từ không còn xuất hiện nữa, câu cụm từ giảm đáng kể nhường chỗ cho sự phát triển của các kiểu câu đơn mở rộng thành phần, các kiểu câu ghép có quan hệ phức tạp hơn
So với trẻ ba tuổi thì trẻ mẫu giáo nhỡ rất ít sử dụng câu một từ
mà thường sử dụng các loại câu:
- Câu cụm từ: câu đầy đủ thành phần (C – V)
- Câu đơn mở rộng thành phần
- Câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ
Xét về loại hình câu thì số lượng không tăng nhưng các thành phần trong từ loại câu đều có sự mở rộng, phát triển
Trẻ 4 – 5 tuổi nói câu có một nhóm từ (một ngữ) làm chủ ngữ hoặc vị ngữ
Ví dụ: Cái áo này rất đẹp!
Thành phần trạng ngữ, bổ ngữ cũng được mở rộng
Ví dụ: Hôm nay, con được cô giáo khen
Các loại câu phức của trẻ cũng được mở rộng Trẻ biết cấu tạo các câu hoàn chỉnh để kể lại nội dung câu chuyện hoặc diễn tả sự hiểu biết, mong muốn của mình
Ví dụ: Hôm qua, nhà cháu đi Công viên Thủ Lệ Cháu nhìn
thấy con hổ Cháu thích lắm! Em gái cháu thì chỉ thích xem con Công thôi
Các câu ghép chính phụ của trẻ đã có đủ các từ chỉ quan hệ, ý
của câu được diễn đạt rõ ràng mạch lạc hơn Ví dụ: Cháu nghỉ học
vì cháu bị ốm
Giai đoạn 4 – 5 tuổi hầu hết các dạng mẫu câu đã xuất hiện trong lời nói của trẻ Câu đơn mở rộng nhiều thành phần hơn Các
Trang 22loại câu ghép có quan hệ phong phú hơn, được trình bày với cấu trúc chặt chẽ hơn
Tuy có bước tiến xa hơn trong việc sử dụng các loại câu so với
độ tuổi mẫu giáo bé nhưng trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ vẫn còn những hạn chế: từ dùng trong câu nhiều khi không chính xác, khi thừa, khi thiếu, vị trí xắp xếp các từ trong câu chưa đúng câu dài nhưng nghĩa lại tối
ở giai đoạn này, trẻ tiến bộ với tốc độ nhanh hơn về phương diện ngữ pháp Câu một từ không còn xuất hiện nữa, câu cụm từ giảm đáng kể nhường chỗ cho sự phát triển của các kiểu câu đơn mở rộng thành phần, các kiểu câu ghép có quan hệ phức tạp hơn
Trẻ mẫu giáo nhỡ bắt đầu được học đặt tên những câu chuyện nhỏ theo tranh, theo đồ chơi Nhưng phần lớn câu chuyện của trẻ giờ đây chỉ là mô phỏng lại mẫu của người lớn
Trong độ tuổi này diễn ra sự phát triển mạnh mẽ của lời nói văn cảnh, có nghĩa là nói chỉ tự mình hiểu được Trẻ có thể nhận biết được những dấu hiệu, đặc điểm đặc trưng có thể diễn đạt rõ ràng, mạch lạc ý nghĩ, sự hiểu biết của mình
Trên đây là cơ sở lí luận của đề tài “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh (chủ đề thế giới thực vật)”, là cơ
sở để tìm ra các phương pháp tốt nhất giúp phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ Thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh ở chủ đề thế giới thực vật sẽ giúp trẻ mở rộng vốn từ, tích cực hoá vốn từ và có khả năng diễn đạt hiểu biết của mình bằng ngôn ngữ, phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ Để làm sáng tỏ đề tài này chúng tôi sẽ trình bày trong chương tiếp theo
Trang 23Chương 2 Các hình thức và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động
làm quen với môi trường xung quanh
(Chủ đề thế giới thực vật) 2.1 Các hình thức phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ
Trẻ mẫu giáo nhỡ có thể được phát triển ngôn ngữ thông qua các giờ học làm quen với môi trường xung quanh và các hoạt động ngoài giờ học như dạo chơi, tham quan,…
- Mở rộng những hiểu biết của trẻ về tự nhiên, xã hội và con người Thế giới xung quanh rất đa dạng, muôn hình, muôn vẻ Muốn mở rộng hiểu biết cho trẻ cần tổ chức cho trẻ hoạt động nhận biết những sự vật, hiện tượng mới lạ, đồng thời khám phá những mối quan hệ đơn giản giữa chúng
- Trẻ biết tên và đặc điểm đặc trưng của các sự vật, hiện tượng xung quanh Nhận biết và giải thích một số mối quan hệ đơn giản của các
sự vật hiện tượng và có thể diễn đạt bằng ngôn ngữ
- Mở rộng vốn từ, tích cực hoá vốn từ theo từ loại, hệ thống hoá vốn
từ là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà tiết học này cần hướng tới
Trang 24b Về kĩ năng
- Cần mở rộng vốn từ cho trẻ và tạo điều kiện cho trẻ thường xuyên
sử dụng vốn từ của mình
- Ngoài ra cần dạy trẻ diễn đạt vấn đề mạch lạc, dễ hiểu, lôgic, thái
độ diễn đạt tự tin mạnh dạn, biết nhận xét, biết tỏ thái độ và biết tôn trọng người khác khi trình bày Tập cho trẻ nói câu đủ thành phần, đủ ý, đúng ngữ pháp và những câu có cảm xúc
- Giáo dục trẻ biết yêu quí, chăm sóc, bảo vệ cây và có một số thói quen kĩ năng chăm sóc cây bảo quản một số loại hoa, quả, rau,…
2.1.1.2 Các loại giờ học làm quen với môi trường xung quanh
Giờ học Làm quen với môi trường xung quanh giúp trẻ tiếp xúc với các sự vật hiện tượng, biết được đặc điểm, cấu tạo, sự đa dạng
về giống loài, môi trường sống, chức năng cũng như mối quan hệ giữa chúng với thế giới xung quanh,…
Từ đó môn học sẽ hình thành ở trẻ các biểu tượng và có cái nhìn
đúng đắn về các sự vật hiện tượng xung quanh và trẻ được nói những điều trẻ biết Như vậy ở giờ học này, trẻ được rèn luyện kĩ năng phát âm, rèn luyện câu theo cấu trúc ngữ pháp và vốn từ của trẻ tăng lên rất nhanh, tạo điều kiện phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ
Dựa vào mục đích của tiết học, các nhà sư phạm Nga đã chia làm bốn loại giờ học và ở mỗi loại đều có tác dụng phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Trang 25a Giờ học kiến thức mới: giờ học này qui định những kiến
thức mới cần truyền đạt cho trẻ Có thể là những kiến thức này trẻ
đã biết (đã sử dụng trong giao tiếp) nhưng giáo viên đưa nó vào hệ thống kiến thức (cần truyền đạt cho trẻ) khi cần lí giải cho trẻ hiểu
và hoàn thiện cho trẻ những kĩ năng khi sử dụng nó
Ví dụ: Trong giờ học về một số loại quả Giáo viên cần chọn ra một số đối tượng và giúp trẻ phân biệt được loại có vỏ sần và vỏ
nhẵn, quả chùm hay quả rời,…cho trẻ làm quen với từ mới như: sần
sùi, thô ráp, nhẵn mịn,…giúp trẻ rèn luyện để phát âm một cách
chính xác những từ mới
b Giờ học củng cố kiến thức và thói quen đã thu nhận được:
các giờ học này chủ yếu để củng cố và ôn luyện những gì trẻ đã
được học Tuy nhiên cần phải cung cấp cho trẻ những ngữ liệu mới (các âm quen thuộc trong nhiều từ khác nhau, các từ đã học trong các tiết học khác nhau, )
Ví dụ: Trong giờ học ôn tập kiến thức cũ, giáo viên có thể cho
trẻ đọc những bài thơ có liên quan đến thế giới thực vật Với giờ ôn tập về quá trình phát triển của cây, cô có thể cho trẻ đọc bài thơ
“Vòng quay luân chuyển”
Từ những hạt quýt Từ những hạt ấy
Nảy ra mầm non Lại ra mầm non
Mầm thành cây xanh Mầm thành cây xanh
Ra hoa đầy cành Ra hoa đầy cành
Hoa lại thành quả Hoa lại ra quả
Quýt vàng ngọt lành Quýt vàng ngọt lành Người ta ăn quả Vòng quay luân chuyển Nhả hạt xinh xinh Tiếp mãi không ngừng
Qua bài thơ này giáo viên có thể cho trẻ ôn lại quá trình phát triển của cây từ hạt cho tới khi ra hoa kết quả Trẻ học được những
từ mới như: nảy, mầm non, ngọt lành,… Cho trẻ tập phát âm cụm
từ “vòng quay luân chuyển” và giải thích cho trẻ hiểu “vòng quay
Trang 26luân chuyển” là sự việc được lặp đi lặp lại nhiều lần và cụ thể
trong bài thơ này là từ hạt sẽ nảy ra những mầm non, mầm lớn lên thành cây xanh ra hoa và kết quả sau đó người ta ăn quả lại nhả ra
hạt rồi hạt nảy mầm non, mầm thành cây xanh, ra hoa đầy cành,
ra hoa kết quả,… cứ như vậy người ta gọi là “vòng quay luân
chuyển”
c Giờ học tổng hợp hoặc hệ thống bài cũ: sử dụng mọi kiến
thức, kĩ năng trong một tình huống cụ thể
Ví dụ: Trò chơi “bán hàng” đòi hỏi trẻ vận dụng mọi kiến thức,
kĩ năng thu nhận được sử dụng vào cuộc sống một cách tự nhiên Khi tham gia chơi trẻ sử dụng ngôn ngữ vốn có của mình để thoả
thuận giá cả hay bày tỏ ý muốn của mình như trẻ có thể nói: “Bác
bán cho tôi một bó rau muống ” hay “Chỗ hoa quả này bao nhiêu
tiền?”,…
d Giờ học liên hợp thực hiện mục đích học tập: vừa cung
cấp kiến thức mới, vừa ôn luyện kiến thức cũ, vừa vận dụng vào thực tế giao tiếp
Để khơi dậy ở trẻ tính tò mò tự nhiên và tạo cơ hội cho trẻ
khám phá về đặc điểm nổi bật và lợi ích của cây cối, một vài mối liên hệ đơn giản giữa cây cối và môi trường sống, cách chăm sóc và bảo vệ chúng, đồng thời chau dồi óc quan sát, so sánh, nhận xét và phỏng đoán ở trẻ, hình thành ở trẻ tình cảm, thái độ đúng đắn đối với cỏ cây, hoa lá Trong giờ học, giáo viên có thể tổ chức các hoạt
động sau đây cho trẻ
2.1.1.3 Các hoạt động nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ
a Quan sát, gọi tên, so sánh, nhận xét và thảo luận về sự
giống nhau (đều có rễ, thân, lá,…) và khác nhau (về màu sắc, kích thước, hình dạng, của thân, lá, hoa, quả,…) rõ nét của hai loại
cây
Trang 27Ví dụ: Cho trẻ quan sát thảo luận và so sánh về điểm giống và khác nhau giữa rau bắp cải và củ su hào Hướng dẫn cho trẻ biết
điểm giống nhau giữa hai loại rau: đều được gọi là rau, cung cấp
cho con người vitamin và chất khoáng giúp cơ thể khoẻ mạnh
Khác nhau: Cải bắp là loại rau ăn lá, su hào là loại rau ăn củ Lá
cải bắp to tròn còn lá su hào nhỏ và dài,…
b Cho trẻ chơi các trò chơi giúp trẻ phát triển ngôn ngữ
như: Đoán cây qua lá, Tìm cây,…Thu nhặt lá, hoa, quả, hạt và chơi
tạo nhóm theo dấu hiệu rõ nét về màu sắc, kích thước, hình dạng cho trước
Quan sát, theo dõi sự lớn lên của cây: nảy mầm, ra lá và lớn lên Thông qua việc quan sát giáo viên khuyến khích trẻ dùng ngôn ngữ để nói lên quá trình phát triển của cây
c Cho trẻ làm quen với các từ mới như: mầm, chồi, lá non,
d Cho trẻ tiến hành một số thử nghiệm nhỏ: gieo hạt đậu vào
chậu để gần cửa sổ Khuyến khích trẻ theo dõi sự nảy mầm và lớn lên của cây trong những điều kiện khác nhau, phán đoán, suy luận các điều kiện sống của cây Cô vẽ sơ đồ biểu thị tốc độ lớn lên của cây, rồi hướng dẫn trẻ cách dùng thước để đo cây,…
Các hoạt động trên đây có thể tiến hành trong chủ đề thực vật ở hoạt động học có chủ đích, nhưng cũng có thể tận dụng ở những tình huống thuận lợi, mọi lúc mọi nơi để giúp trẻ có những kiến thức đúng đắn về thế giới xung quanh với nhiều góc nhìn khác nhau,
đồng thời qua đó cũng giúp cho ngôn ngữ của trẻ phát triển thông qua việc thể hiện ý kiến, suy nghĩ về những kiến thức trẻ lĩnh hội
được trong giờ học
Giờ học Làm quen với môi trường xung quanh ngoài việc cung
cấp cho trẻ những kiến thức về môi trường xung quanh còn làm giàu vốn từ và tích cực hóa vốn từ cho trẻ Cần phải mở rộng vốn từ của trẻ và tạo điều kiện cho trẻ được thường xuyên sử dụng vốn từ của
Trang 28mình Muốn sử dụng tốt vốn từ thì việc rèn luyện phát âm đúng, rõ ràng, nói câu đủ thành phần, đủ ý, biết mô tả bằng lời để người khác hiểu ý định của mình Trong quá trình diễn đạt trẻ có thái độ diễn đạt tự tin, mạnh dạn; Trẻ biết nhận xét, biết tỏ thái độ với ý kiến của bạn đưa ra và biết tôn trọng người khác khi trình bày
Trong giờ học cần giúp trẻ mẫu giáo nhỡ phát triển khả năng nghe và nói là hết sức quan trọng Để nói được tốt, trẻ cần phải
được luyện nghe các âm thanh của ngôn ngữ Đối với trẻ mẫu giáo nhỡ cần được luyện nghe để dần dần giúp trẻ tri giác và phát âm
đúng được các âm khó như: p, n, l, s, x, tr, ch,…
Ví dụ: Trong giờ làm quen với một số loại quả khi cho trẻ qua n sát một số hình ảnh về một số quả cần cho trẻ nói tên các loại quả
đó một cách chính xác như quả na, quả lê, quả mít, quả sầu
riêng,… Ngoài ra còn cho trẻ làm quen với những từ như múi, mắt, trắng nõn nà,…
Khi trò chuyện với trẻ, giáo viên cần chú ý đến những câu hỏi
về đặc điểm, tính chất, công dụng của sự vật: Như thế nào? Cần
phải làm gì? Có màu sắc ra sao? Hình dạng như thế nào? Có tác dụng gì với con người? Để làm gì?,… Đồng thời cô động viê n
khuyến khích trẻ trả lời bằng những câu đơn và câu phức
Cô có thể cung cấp các từ mới cho trẻ, làm phong phú vốn từ và giúp trẻ mở rộng sự hiểu biết về nghĩa của các từ Đồng thời sử dụng ngôn ngữ biểu cảm trong khi giao tiếp với trẻ Tạo cơ hội cho trẻ thường xuyên được tiếp xúc với thế giới thực vật và hướng dẫn trẻ miêu tả bằng lời một cách hình tượng
Ví dụ: Khi quan sát một vườn hoa, cô có thể hỏi: Các con thấy
vườn hoa như thế nào? Các con có nhận xét gì về vườn hoa của
cô? Cô hướng dẫn trẻ sử dụng ngôn ngữ để thể hiện cảm xúc: Vườn hoa thật là đẹp! Có rất nhiều màu sắc khác nhau nào đỏ, nào
vàng, màu gì nữa các con nhỉ? Hoa này có hình dạng như thế
nào? Sau đó cô giúp trẻ hoàn chỉnh lại câu nói
Trang 29Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua giờ học này đòi hỏi giáo viên mầm non cần có cách cư xử đặc biệt đối với học sinh Đó là thái độ nâng đỡ, khuyến khích, thông cảm luôn nhấn mạnh vào những thành công của trẻ Đồng thời người giáo viên cần biết làm việc kiên trì, tỉ mỉ, biết tổ chức quá trình dạy học kết hợp với vui chơi Nắm được các đặc điểm của học sinh, bình tĩnh trước lối nói của các em
Ví dụ: Khi dạy trẻ nói “quả lựu”, trẻ lại nói “quả nựu” hay
“quả na” lại nói “quả la”, giáo viên cần động viên, khuyến khích
và hướng dẫn trẻ phát âm đúng Hoặc khi hỏi trẻ về đặc điểm hay
màu sắc của hoa mai cần dạy trẻ trả lời câu có đủ thành phần: “Con
thưa cô! Hoa mai có màu vàng Cánh dạng hình tròn ạ”.
Khi đến trường, các em đã bắt đầu tham gia vào một môi trường giao tiếp mới có tính chất xã hội Giao tiếp trong lớp học có những
đòi hỏi riêng, khác với môi trường giao tiếp ở gia đình nên giáo viên cần xây dựng hệ thống câu hỏi cũng như tiến trình của giờ học thật khoa học để giúp trẻ lĩnh hội ngôn ngữ tốt hơn
2.1.2 Ngoài tiết học
Các nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ được thực hiện cả trong tiết học, cả trong khi dạo chơi, đi tham quan, khi lao động hay sinh hoạt hàng ngày,… kết hợp cho trẻ làm quen với các âm thanh và mặt ý nghĩa của từ như một đơn vị của ngôn ngữ Trong quá trình giao tiếp ngôn ngữ, trẻ chú ý trước hết đến nội dung, ý nghĩa của cái nghe được trong lời nói của người khác và cái gì do chính mình nói ra Trong khi làm quen với thành phần từ của câu trẻ bắt đầu nhận ra không chỉ nội dung mà cả hình thức của nó nữa
2.1.2.1 Hoạt động vui chơi
Thông qua trò chơi, các biểu tượng mà trẻ thu nhận được sẽ
được chính xác hoá bằng ngôn ngữ Trò chơi giúp trẻ nhớ ngôn ngữ,
Trang 30đồng thời tạo ra các tình huống để trẻ sử dụng vốn từ ngữ đã tích luỹ được
Các trò chơi như: “Cây cao, cây thấp” , “Gieo hạt nảy
mầm”, “Tìm vườn”,… mô phỏng các loại thân cây, làm gió thổi,
cây lung lay,… góp phần vào việc làm giàu vốn từ, rèn luyện khả năng diễn đạt cho trẻ
đã có Từ đó trẻ sẽ biết sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động lao động Trong khi lao động, trẻ sẽ giao tiếp với nhau từ đó vốn từ của trẻ sẽ tăng lên, ngôn ngữ của trẻ sẽ phát triển
2.1.2.3 Hoạt động dạo chơi tham quan
Dạo chơi, tham quan có mục đích, có sự hướng dẫn giúp trẻ phát triển năng lực quan sát, làm cho tâm hồn các cháu phong phú, giúp trẻ tích luỹ được những hình ảnh, biểu tượng về thế giới xung quanh Bằng những câu hỏi hướng dẫn, giáo viên giúp trẻ nhận xét, tìm từ ngữ trả lời đúng những câu hỏi đặt ra trong buổi tham quan giáo viên cần chuẩn bị những từ ngữ mới cần cung cấp cho trẻ
Ví dụ: Khi dạo chơi ở vườn trường, giáo viên có thể đặt ra một
số câu hỏi như: Các con thấy những gì? Cảm thấy như thế nào? hay Các con có nhận xét gì? Và cô hướng dẫn trẻ đưa ra nhận xét
đồng thời giới thiệu một số từ mới có thể giới thiệu về một số loài
hoa mà trẻ ít tiếp xúc như: Hoa thược dược, hoa violet, hoa đồng
tiền,… Cô cũng có thể đưa ra nhận xét của mình về vườn hoa: “Cô thấy vườn hoa thật đẹp! Có nhiều loài hoa với nhiều màu sắc