TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC ĐÀO THỊ SANG PHÁT TRIỂN LỜI NÓI MẠCH LẠC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA HÌNH THỨC DẠY TRẺ KỂ LẠI TRUYỆN VĂN HỌC KHOÁ LUẬN TỐT NGH
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
ĐÀO THỊ SANG
PHÁT TRIỂN LỜI NÓI MẠCH LẠC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA HÌNH THỨC DẠY TRẺ KỂ LẠI TRUYỆN VĂN HỌC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học
Th.S LÊ THỊ LAN ANH
Hà Nội – 2011
Trang 2Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học sư phạm Hà Nội
2, Ban chủ nhiệm, các thầy cô giáo khoa Giáo Dục Tiểu Học đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt khoá học
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo – Th.S Lê Thị Lan Anh – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp em hoàn thành tốt khoá luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Đào Thị Sang
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đề tài “Phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hình thức dạy trẻ kể lại truyện văn học” là kết quả nghiên cứu của riêng mình, khoá luận không sao chép từ các tài liệu có sẵn nào Đề tài chưa được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác
Hà Nội, Ngày 10 tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Đào Thị Sang
MỤC LỤC
Trang
Trang 41.2 Lời nói mạch lach và đặc trưng lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn 23
1.2.3 Đặc trưng lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn 25 1.2.4 Sự cần thiết phải phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn 26
1.3.2 Mục đích của việc dạy trẻ kể lại truyện văn học 27 1.3.3 Nhiệm vụ của việc dạy trẻ kể lại truyện văn học 28 1.3.4 Yêu cầu về chọn lựa tác phẩm truyển để trẻ kể lại 28 1.3.5 Phân biệt kể lại truyện văn học và kể lại chuyện 29
CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP DẠY TRẺ KỂ LẠI TRUYỆN VĂN HỌC
NHẰM PHÁT TRIỂN LỜI NÓI MẠCH LẠC CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
Trang 52.2.3 Biện pháp cho trẻ kể lại truyện tập thể 37 2.2.4 Biện pháp sử dụng lời chỉ dẫn của cô 38
2.2.6 Biện pháp đánh giá truyện kể lại của trẻ 39 2.3 Tổ chức cho trẻ luyện tập kể lại truyện văn học thông qua một số dạng hoạt
động ngoài tiết học
41
2.3.2 Tổ chức hoạt động vui chơi: trò chơi đóng kịch 42 2.3.3 Tổ chức thông qua các hoạt động dạo chơi tham quan 43 Một số giáo án thể nghiệm
Giáo án dạy trẻ kể lại truyện 1
45
45
Trang 6Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
1.1 “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”, trẻ em hôm nay là chủ nhân
của đất nước mai sau, trẻ em không chỉ là niềm vui, niềm hạnh phúc của mỗi gia đình mà còn là chủ nhân của đất nước mai sau, trẻ em không chỉ là niềm vui, niềm hạnh phúc của mỗi gia đình mà còn là niềm vui của toàn xã hội
Chính vì thế mà từ ngàn đời xưa ông cha ta đã dạy: “Uốn cây từ thuở còn
non, dạy con từ thuở con còn bé thơ” Thấm nhuần lời dạy đó của ông cha,
ngày nay thế hệ trẻ Việt Nam nói chung và thế hệ mầm non nói riêng đang nhận được sự quan tâm chăm sóc của toàn xã hội với tinh thần “hãy dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em”
Trong đó vai trò quan trọng nhất trong việc giáo dục trẻ theo đúng phương pháp khoa học là các trường mầm non Ngay từ thuở thơ ấu, trẻ em đã
có nhu cầu lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội được vật chất hoá trong nền văn hoá của loài người Đó là quá trình chỉ được thực hiện trong
điều kiện có sự hướng dẫn thường xuyên của người lớn, tức là giáo dục Đối với trẻ em trước tuổi đến trường phổ thông ở nước ta (trước 6 tuổi), giáo dục mầm non đảm nhiệm nhiệm vụ hướng dẫn đó
Giáo dục mầm non là khâu đầu tiên của quá trình đào tạo nhân cách con người mới Việt Nam, là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục Quốc dân Trong báo cáo giám sát toàn cầu về giáo dục cho mọi người năm 2005,
UNESSCO đã đánh giá : “Những năm đầu của cuộc sống là giai đoạn chủ
yếu của sự phát triển trí tuệ, nhân cách và hành vi”, “bằng chứng cho thấy rằng việc chăm sóc giáo dục trẻ ở lứa tuổi trước tuổi học có liên quan đến việc phát triển nhận thức và xã hội tốt hơn”
Từ lúc lọt lòng cho đến 6 tuổi là một quãng đời có tầm quan trọng trong quá trình phát triển chung của trẻ em Đúng như L.N Tônxtôi đã nhận định khi
Trang 7nhấn mạnh ý nghĩa của giai đoạn đó: “Tất cả những gì mà đứa trẻ sẽ có sau
này khi trở thành người lớn đều thu nhận được trong thời thơ ấu Trong quãng đời còn lại, những cái mà nó thu nhận được chỉ đáng 1% những cái
đó mà thôi” Với sự nhạy cảm trực giỏc của nhà văn, ông đã nêu ra một phép
so sánh như sau: “Nếu từ đứa trẻ 5 tuổi đến người lớn, khoảng cách chỉ là một bước thì từ đứa trẻ sơ sinh đến đứa trẻ 5 tuổi là một khoảng dài kinh khủng”
để nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục tiền học đường (tức là giáo dục mầm non) Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục mầm non là hình thành cho trẻ những cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới, làm cho trẻ phát triển toàn diện, hài hoà và cân đối, tạo điều kiện tốt cho những bước phát triển sau này, xây dựng cho trẻ em một nền tảng nhân cách vừa khoẻ khoắn, vừa mềm mại,
đầy sức sống cả về thể chất lẫn tinh thần, có nghĩa là giáo dục mầm non một mặt làm cho trẻ hồn nhiên, vui tươi, tích cực, chủ động, nhạy cảm để trở thành người dễ tiếp thu giáo dục Mặt khác giáo dục mầm non hướng sự phát triển của trẻ vào việc hình thành những tiền đề nhân cách mới, chuẩn bị cho trẻ khả năng học tập tốt, sống và làm việc phù hợp với xã hội mới của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ở thế kỷ XXI Vớ như người trồng cây, ở giai
đoạn đầu là phải tạo ra những mầm non bụ bẫm, mềm mại để cho cây sau này phát triển được khoẻ khoắn, chứ không phải tạo ra những cây còi cọc, nhiệm
vụ của giáo dục mầm non cũng tương tự như vậy
1.2 Con người khác xa với con vật là nhờ có ngôn ngữ Ngôn ngữ vừa
là phương tiện, vừa là điều kiện để con người hoạt động và giao tiếp Trong hoạt động học tập, ngôn ngữ vừa là công cụ để tư duy, lĩnh hội tri thức, vừa nói lên khả năng trí tuệ của con người Ngôn ngữ được hình thành và phát triển tâm lý nhân cách cá nhân Phát triển ngôn ngữ cho trẻ đã trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất trong mục tiêu giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non Trẻ em phải được lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người để xã hội hoá bản thân, và nhờ có ngôn ngữ để tiếp thu lịch sử, xã hội
Trang 8loài người Sự phát triển đú tác động đến sự phát triển tư duy qua biểu tượng
được giữ gìn, cung cấp vững chắc, nhanh nhạy vì ngôn ngữ phản ánh kết quả của hoạt động nhận thức, ngôn ngữ càng trở nên quan trọng đối với sự phát triển nhận thức và tư duy của con người, con người vượt xa hơn về chất so với con vật và trở thành động vật bậc cao có ý thức Ngôn ngữ giúp con người hoạt động trí tuệ, đề ra được kế hoạch hoạt động, là phương tiện quan trọng trong việc phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ, nói cách khác, ngôn ngữ là phương tiện để phát triển toàn diện Vì vậy, việc dạy trẻ lời nói mạch lạc sẽ là tiền đề, là công cụ để trẻ lĩnh hội tri thức khi trẻ bước vào lớp Một
1.3 Thấy rõ tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, đặc biệt là lời nói mạch lạc, chúng tôi muốn đi nghiên cứu vấn đề phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn ở đề tài này, chúng tôi sẽ đi sâu vào việc nghiên cứu sử dụng hình thức dạy trẻ kể lại truyện văn học để phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn Kể lại truyện văn học là một
“thách thức” đối với trẻ Bởi vì, trẻ muốn kể lại được truyện thỡ đũi hỏi trẻ phải hiểu được nội dung truyện, nắm được cốt truyện Không những vậy, trẻ còn phải phát âm đúng, có vốn từ phong phú, có khả năng diễn đạt lưu loát, rõ ràng thể hiện sự hiểu biết của mình Như vậy, kể lại truyện là một hình thức cho trẻ “thâm nhập” trực tiếp về tác phẩm và cũng qua đó ta hiểu được khả năng của trẻ để bồi dưỡng năng lực kể truyện văn học cho trẻ
Từ những lý do trên, chỳng tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Phát triển
lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hình thức dạy trẻ kể lại truyện văn học” làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình Chỳng tôi thấy
rằng đây là đề tài thiết thực đối với hoạt động dạy học và học ở bậc học mầm non, và hi vọng đề tài này sẽ hấp dẫn với những người quan tâm tới trẻ em
2 Lịch sử vấn đề
Chăm sóc – giáo dục trẻ em ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc
Trang 9sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước
Theo nhà giỏo dục Xô Viết A.S Makarenko, ụng cho rằng những cơ sở căn bản của việc giỏo dục trẻ được hình thành từ trước tuổi lên 5 Những điều dạy cho trẻ trong thời kỳ đó chiếm tới 90% tiến trình giỏo dục trẻ Về sau việc giỏo dục đào tạo con người vẫn tiếp tục những lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả, cùng những nụ hoa thời đó được vun trồng trong 5 năm đầu tiên
Ngày nay, thế hệ trẻ nói chung và trẻ em mầm non nói riêng giành được rất nhiều sự quan tâm của gia đình, nhà trường và xã hội Những vấn đề về trẻ
em đã được các nhà nghiên cứu khoa học hết sức quan tâm Riêng về phát triển ngôn ngữ và lời nói mạch lạc cho trẻ đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu khoa học với những công trình nghiên cứu được xã hội ghi nhận
Trong cuốn “Giáo trình phương pháp phát triển lời nói trẻ em”, tác giả Nguyễn Xuân Khoa, NXB ĐHSP, năm 2007 đã viết chi tiết về lời nói mạch lạc và các hình thức, phương pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo
Từ những năm 80 của thế kỉ trước, nước ta bắt đầu có những cuốn giáo trình đầu tiên về phương pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ Bên cạnh đó
là nhiều công trình nghiên cứu sự phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo Một số luận văn, luận án về phát triển ngôn ngữ ở trường mầm non, các luận
án tiến sĩ: Nguyễn Thị Oanh với “Các biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn “(2001), Huỳnh ái Hồng với “Một số biện pháp dạy trẻ
kể chuyện theo chủ đề nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại TP.HCM (1997), Đinh Hồng Thái với “Phát triển ngôn ngữ mạch lạc trẻ mẫu giáo”, đây là đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ mã số B 2003 - 75 -
85, Hà Nội, 2005
Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”, NXB
ĐHSP, năm 2004, tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã nghiên cứu rất kỹ sự phát
Trang 10triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo Trên cơ sở những đánh giá chung về đặc
điểm sinh lý của trẻ ở lứa tuổi này, dựa trên mối quan hệ của bộ môn ngôn ngữ học với những bộ môn khác ông đã đưa ra được một số phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, trong đó bao gồm cả vấn đề phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ
Cũng nghiên cứu về việc dạy trẻ 5 - 6 tuổi, thông qua hình thức dạy trẻ
kể chuyện theo tranh, tác giả Nguyễn Thuỳ Linh lại nhìn nhận vấn đề ở góc nhìn khác Với “Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo kể chuyện theo tranh liên hoàn có chủ đề”, tác giả Nguyễn Thuỳ Linh đã tìm được phương thức hiệu nghiệm dùng tranh liên hoàn có chủ đề trong việc dạy trẻ mẫu giáo lớn kể chuyện
Cũng nghiên cứu mảng ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo năm 2005, tác giả Nguyễn Thị Xuân, ĐHSP Hà Nội đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ với đề tài: “Một số biện pháp triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hỡnh thức kể chuyện theo tranh” Nguyễn Thị Xuân đã điều tra được thực trạng sử dụng ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi và thực trạng về việc sử dụng các biện pháp dạy trẻ kể chuyện theo tranh Nguyễn Thị Xuân đã đưa ra
được kết luận khoa học và đề xuất những kiến nghị về biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi
Còn rất nhiều những công trình nghiên cứu khác đã đi vào tìm hiểu về ngôn ngữ và lời nói mạch lạc của các độ tuổi, các giai đoạn Tựu chung lại các nhà khoa học đều muốn tìm ra các hình thức và biện pháp để phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ hiệu quả nhất, nâng cao chất lượng dạy và học của ngành giáo dục mầm non nói riêng và nền giáo dục của đất nước ta nói chung Tuy nhiên, cho tới thời điểm này, chưa có một ai, chưa có một công trình khoa học nào đi sâu và khai thác việc dạy trẻ mẫu giáo lớn kể lại truyện văn học nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã tìm
Trang 11được cho mình một hướng đi riêng, dựa trên sự tìm hiểu, đánh giá và thực nghiệm của chính bản thân mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hình thức dạy trẻ kể lại truyện văn học
Phạm vi nghiên cứu: ngụn ngữ mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn ( 5 - 6 tuổi)
4 Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ việc tìm hiểu được tầm quan trọng của lời nói mạch lạc đối với trẻ mẫu giáo lớn, từ lòng yêu nghề mến trẻ, từ niềm say mê tìm tòi khoa học, chỳng tôi đi vào nghiên cứu đề tài nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn dựa trên hình thức dạy trẻ kể lại truyện văn học Thông qua
đó góp phần khơi dậy và phát triển trí tưởng tượng, năng lực kể truyện cho trẻ
Đồng thời giúp trẻ mạnh dạn tự tin, thích giao tiếp, đặc biệt góp phần chuẩn bị tâm thế cho trẻ trước khi đến trường phổ thông
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, đề tài nghiên cứu của chúng tôi nhằm thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài
- Tìm hiểu biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hình thức dạy trẻ kể lại truyện văn học
- Trên cơ sở của hai nhiệm vụ trên, chúng tôi đưa ra một số giáo án thể nghiệm để phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ thông qua hình thức dạy trẻ kể lại truyện văn học ở trường mầm non
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chung: Quy nạp
- Phương pháp cụ thể:
+ Phân tích
Trang 12+ Tổng hợp
+ Nghiên cứu lý thuyết
7 Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, Nội dung của khoá luận gồm các chương sau:
- Chương 1 Cơ sở lí luận
- Chương 2 Các biện pháp dạy trẻ lể lại truyện văn học nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn
Trang 13Chương 1 Cơ sở lí luận 1.1 Một số đặc điểm của trẻ mẫu giáo lớn
1.1.1 Đặc điểm sinh lí
ở trẻ mẫu giáo lớn, sự phát triển diễn ra chậm hơn so với các giai đoạn trước
- Về số lượng: Chiều cao trung bình của trẻ tăng từ 4 - 6 cm đạt 105, 5
cm - 125, 5 cm; cân nặng tăng khoảng 15,7kg, có sự thay đổi rõ rệt về chất lượng
- Về hệ thần kinh: Trẻ 5 - 6 tuổi, cường và độ tính linh hoạt của cả quá trình thần kinh tăng lên Trẻ 6 tuổi có thể tập trung chú ý vào một đối tượng nhất định trong thời gian 15 - 20 phút Đồng thời, ở lứa tuổi này, vai trò của hệ thống tín hiệu thứ hai càng tăng lên Tư duy bằng từ càng tăng, ngôn ngữ bên trong xuất hiện Chức năng khái quát hoá của từ đã có bước nhảy vọt gần như
ở người lớn Chỉ khác với người lớn ở chỗ: sự khái quát hoá được thực hiện theo hành động với đồ vật Ví dụ: cái cốc là “cái dùng để uống” Vì thế “tư duy bằng hành động” vẫn giữ vai trò quan trọng trong hoạt động thần kinh cấp cao của trẻ Từ 6 tuổi trẻ có thể học đọc và học viết được ở độ tuổi này trẻ có vốn từ khá nhiều và chúng có thể dùng ngôn ngữ để đáp lại ngôn ngữ Như vậy, lúc này ở trẻ đã xuất hiện mối liên hệ “ngôn ngữ - ngôn ngữ” (chỉ cần nói
là trẻ hiểu) ở giai đoạn này, do sự phát triển của hệ thần kinh nên số lần ngủ trong ngày và thời gian ngủ của trẻ cũng giảm xuống còn 11 giờ/ngày
- Cơ quan phân tích: Trẻ 5 - 6 tuổi đã có khả năng phân biệt được một
số màu trung gian Trẻ có khả năng thu nhận và phân biệt những kích thích (hình dáng, màu sắc…) càng phong phú Nhưng mức độ phong phú đó lại phụ thuộc vào sự luyện tập của từng trẻ
- Hệ vận động: Trẻ 5 - 6 tuổi đã có những vận động phức tạp đa dạng như nhảy, nhảy lò cò, làm các động tác thể dục và nhào lộn khác nhau Tất
Trang 14nhiên là trẻ không làm được ngay các động tác mới mà cần có thói quen luyện tập Trẻ có thể cử động các ngón tay một cách chính xác phối hợp chúng một cách khéo léo và rất đa dạng Chẳng hạn: trẻ có thể vẽ, cắt bằng kéo chơi
đàn… Nhìn chung, trẻ 5 - 6 tuổi có sự phối hợp vận động của nhiều nhóm cơ như ở người lớn, còn việc tiếp thu những thói quen vận động thì phụ thuộc vào
đặc điểm cá thể của từng cơ thể, nhất là vào sự luyện tập phù hợp
- Hệ tuần hoàn: Thành phần máu của trẻ tăng lên và có sự biến đổi về chất:
Huyết sắc tố: 80 - 90%
Hồng cầu: 4,5 - 5 triệu
Bạch cầu: 7 - 10 nghìn
Tiểu cầu: 200 - 300 nghìn
Huyết áp của trẻ cũng tăng lên theo lứa tuổi:
Huyết áp tối đa: 103,8mm Hg
Huyết áp tối thiểu: 63,6mmHg
Ngoài ra, trọng lượng của tim cũng có sự thay đổi rõ rệt:
Trẻ nam có trọng lượng tim: 85,1 (g)
Trẻ nữ có trọng lượng tim: 82,4 (g)
Tần số co bóp của tim trong giai đoạn này là 80 - 110 lần/phút, tần số
co bóp của tim tiếp tục giảm đi chút ít khi trẻ càng lớn
- Hệ hô hấp: Khe thanh âm ngắn, thanh đới ngắn, trẻ có giọng nói cao hơn so với người lớn Nhịp thở của trẻ giảm dần, cơ quan phát âm của trẻ cũng phát triển
1.1.2 Đặc điểm tâm lí
1.1.2.1 Đặc điểm hoạt động vui chơi
* Chủ đề và nội dung chơi được mở rộng:
- Về chủ đề chơi, số lượng chủ đề đã tăng lên xuất hiện các chủ đề mới
Trang 15- Nội dung chơi cũng đa dạng và phong phú hơn, trẻ không chỉ tái tạo những mối quan hệ bên ngoài chức năng xã hội của người lớn mà còn tái tạo tình cảm đạo đức giữa người với người
Sở dĩ như vậy là do vào tuổi mẫu giáo lớn, các các nhóm chơi ổn định
và bền vững trên cơ sở của các nhóm chơi từ lớp nhỡ chuyển lên, dần dần xuất hiện nhiều trũ chơi tập thể có thể kéo dài hàng tuần hàng tháng, số lượng vai chơi đông, kéo theo việc chủ động và xuất hiện chủ đề chơi mới làm cho nội dung chơi chở nên đa dạng và phong phú
* Xuất hiện trò chơi có luật
Đây là một bước phát triển mới trong hoạt động chơi của trẻ Luật chơi
là những quy định về phương thức hành động ứng xử thể hiện tình cảm của các vai chơi Bước sang lứa tuổi này động cơ vui chơi đang chuyển dần thành
động cơ có kết quả
Vớ dụ: khi tham gia trò chơi nào đó trẻ không chỉ chơi vì thích trò đó,
mà trẻ còn muốn giành phần thắng về cho đội mình
Tuy nhiên, luật chơi trong lứa tuổi này chủ yếu là do trẻ thoả thuận với nhau, mang tính sinh hoạt và phụ thuộc vào nhóm chơi
Do thực hiện trò chơi có luật nên hành động của trẻ theo hướng nhất
Trang 16thuận bàn bạc về dự định chơi, dự kiến đưa thờm trũ chơi mới… Giữa cỏc nhúm chơi cú mối quan hệ chặt chẽ với nhau, phối hợp cựng nhau hướng theo một chủ đề chung dưới sự điều khiển của “thủ lĩnh” (Thủ lĩnh thường là một trẻ giàu kinh nghiệm có khả năng thu hút và điều khiển cuộc chơi) Trong quá trình chơi trẻ biết nhận xét và đánh giá các bạn khác cũng như biết nhận xét về bản thân mình
1.1.2.2 Sự xác định ý thức bản ngó và tính chủ định trong hoạt động tâm lớ
1.1.2.2.1 Sự xác định ý thức bản ngã
Tiền đề của ý thức bản ngã là việc tách mình ra khỏi người khác, đã
được hình thành ở cuối tuổi ấu nhi (15 - 36 tháng tuổi) Tuy nhiên, phải trải qua một quá trình phát triển ý thức bản ngã của trẻ mới được xác định rõ ràng Khi bước vào tuổi mẫu giáo, đứa trẻ chưa hiểu biết gì mấy về bản thân mình
và những phẩm chất của mình Nhưng đến cuối tuổi mẫu giáo trẻ mới hiểu
được mình là người như thế nào, có những phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử với mình ra sao, và tại sao mình lại có hành động này hay hành
động khác… í thức bản ngã hay sự tự ý thức được thể hiện rõ nhất trong sự tự
đánh giá về thành công hay thất bại của mình, về những ưu điểm hay khuyết
điểm của bản thân, về những khả năng và cả sự bất lực nữa Tự ý thức của trẻ
ở lứa tuổi này mang một số đặc điểm sau:
- Trẻ đã biết đánh giá hành vi, phẩm chất, cử chỉ của người khác Tuy nhiên, sự đánh giá đó còn phụ thuộc nhiều vào tình cảm của trẻ đối với người
được đánh giá Vớ dụ: mọi đứa trẻ thường đánh giá tốt mẹ mình và đánh giá ngược lại những người mà chúng không yêu quý
- Trẻ bắt đầu nhận thức được giới tính của mình biết mình là trai hay là gái Trẻ bắt đầu biết thực hiện những hành vi phù hợp với giới tính của mình,
đồng thời trẻ cũng bắt đều nhận xét đánh giá theo khía cạnh giới tính
Trang 17- Trẻ bắt đầu nhận biết lắng nghe ý kiến của người khác về bản thân mình, từ đó tiếp tục tiếp thu những chuẩn mực hành vi và coi đó là thước đo để
1.1.2.2.2 ý thức bản ngã được xác định rõ ràng còn cho phép trẻ thực hiện các hành động một cách chủ tâm hơn, nhờ đó các quá trình tâm
lý mang tính chủ định rõ rệt
Tính chủ định trong hoạt động tâm lý của trẻ được thể hiện qua một số
đặc điểm sau:
- ở lứa tuổi mẫu giáo lớn, sự chú ý đã tập trung hơn và bền vững hơn
Điều đó thể hiện ở thời gian chơi, “tiết học” được kéo dài hơn và đặc biệt là khi trẻ xem tranh Đến cuối tuổi mẫu giáo thời gian có thể tập trung để xem tranh nên gấp đôi so với độ tuổi mẫu giáo bé Trẻ 5 - 6 tuổi đã hiểu tranh vẽ hơn, tách biệt được trong tranh vẽ nhiều mặt và chi tiết lý thú với mình hơn Ngôn ngữ phát triển cũng giúp trẻ biết điều khiển chú ý của mình, biết tự giác hướng chú ý của mình vào những đối tượng nhất định
- Sự ghi nhớ có chủ định phát triển mạnh, trẻ bắt đầu nắm được phương thức của sự ghi nhớ Ban đầu, trẻ ghi nhớ máy móc bằng cách tri giác nhiều lần đối tượng, sau đó trẻ xác lập mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng do người lớn gợi ý trở thành ghi nhớ logíc
- ở tuổi mẫu giáo lớn việc đặt mục đích cho hành động và lập kế hoạch
để thực hiện hành động thường được thể hiện rất rõ nét Điều đó thúc đẩy các
Trang 18hành động định hướng bên trong (tức là các quá trình tâm lý) phát triển mang tính chủ định rõ ràng Tính chủ định này được phát triển cùng với sự tiến triển của hoạt động vui chơi ở trẻ mẫu giáo lớn, làm cho dạng trò chơi đóng vai theo chủ đề chuyển dần sang trũ chơi có luật rõ hơn Ví dụ, trước đây khi
tham gia trò chơi “dạy học”, đứa trẻ đóng vai cô giáo, nhưng nó hoàn toàn
không cần biết những lời dạy bảo của nó đã có ảnh hưởng như thế nào đối với
“các học trò” Nó chỉ biết là nó đang làm cô giáo Nhưng giờ đây trong khi
tham gia trò chơi có luật thí dụ trò “cướp cờ”, đứa trẻ không chỉ thích trò chơi cướp cờ này mà trẻ còn cố gắng làm sao để cướp cho bằng được lá cờ càng
nhanh càng tốt để mang về cho đồng đội theo quy định Vì làm như vậy đội của trẻ mới thắng cuộc
Rõ ràng việc tham gia vào những trò chơi có luật làm cho hoạt động của
đứa trẻ trở nên có chủ tâm hơn Hành động chơi ở đây có mục đích rất rõ ràng: một là phải hành động khéo léo để không vi phạm luật lệ của trò chơi; hai là cần phải đạt tới kết quả cao nhất Nhờ loại trò chơi này mà các hoạt động tâm
lý bên trong được biến đổi một cách rõ nét, từ những quá trình tâm lý không chủ định chuyển sang những quá trình tâm lý có chủ định như tri giác có chủ
định, chú ý có chủ định, ghi nhớ có chủ định…
- Trong sự phát triển các hành động ý chí của trẻ mẫu giáo lớn, có thể thấy được sự liên kết giữa ba mặt: thứ nhất là sự phát triển tính mục đích của hành động, thứ hai là sự xác lập quan hệ giữa mục đích của hành với động cơ
và thứ ba là tăng tăng vai trò điều chỉnh của ngôn ngữ trong việc thực hiện các hành động
Có thể coi sự phát triển mặt ý chí là một trong những biểu hiện rõ nhất của ý thức, khiến cho nhân cách của trẻ được khẳng định
Trang 191.1.3 Đặc điểm tư duy
Tư duy trực quan – hành động và tư duy trực quan – hình ảnh vẫn tiếp tục phát triển, nghĩa là trẻ em giải quyết nhiệm vụ vẫn phải dựa vào các thao tác bằng tay và các hình ảnh trực quan
Đặc điểm nổi trội của trẻ ở giai đoạn này là xuất hiện một trình độ tư duy mới: tư duy trực quan sơ đồ Đây là trình độ phát triển cao nhất của tư duy trực quan – hình ảnh, đây cũng là cơ sở để trẻ em phát triển tư duy tưởng tượng
Kiểu tư duy này tạo ra cho trẻ một khả năng phản ánh những mối liên
hệ tồn tại khách quan, không bị phụ thuộc vào hành động hay ý muốn chủ quan của bản thân đứa trẻ
Có nhiều dạng tri thức nếu chỉ giải thích bằng lời hay tổ chức hành
động với đồ vật trẻ vẫn không thể lĩnh hội được Nhưng nếu tổ chức cho trẻ hành động với sơ đồ trực quan thì trẻ sẽ lĩnh hội được một cách dễ dàng Vớ dụ: chỉ cần một sơ đồ đơn giản là từ một tờ giấy được cắt ra làm nhiều mảnh rồi từ những mảnh đó chắp lại với nhau để tạo thành tờ giấy như cũ, thì việc làm đó đã giúp cho trẻ hiểu rõ một nguyên lý khá trừu tượng là: bất cứ một đối tượng nguyên vẹn nào cũng đều có thể chia ra thành nhiều bộ phận nhỏ và lại
có thể khôi phục những bộ phận đó lại hình thành một chỉnh thể Tư duy trực quan – sơ đồ giúp trẻ một cách có hiệu lực để lĩnh hội những tri thức ở trình
độ khái quát cao, từ đú mà hiểu được bản chất của sự vật Tuy nhiên tư duy của trẻ vẫn bị sơ đồ khống chế hoàn toàn cho nên trẻ chưa tiếp thu được những mối quan hệ trừu tượng tách khỏi sơ đồ, nghĩa là chưa tiếp thu được khái niệm khoa học, chỉ khi vào học lớp Một thì trẻ mới tiếp thu được
Tư duy của trẻ đang có bước chuyển biến quan trọng, tự nhận biết những sự vật hiện tượng cụ thể chuyển sang nhận biết những hình ảnh khái quát đó là chuẩn cảm giác
Trang 201.1.4 Đặc điểm ngôn ngữ
Một trong những thành tựu lớn lao nhất của giáo dục mầm non (tức là giáo dục tiên học đường) là làm cho trẻ sử dụng được một cách thành thạo tiếng mẹ đẻ trong đời sống hàng ngày Tiếng mẹ đẻ là phương tiện quan trọng nhất để lĩnh hội nền văn hoá dân tộc, để giao lưu với những người xung quanh,
để tư duy, để tiếp thu khoa học, để bồi bổ tâm hồn… Ganzalốp – một nhà thơ nổi tiếng của Đaghextan đã nói: “Khi chết người cha để lại cho con cái của mình nhà cửa, ruộng vườn, thanh kiếm và cõy đàn pandua Nhưng một thế hệ khi mất đi thì đề lại cho thế hệ tiếp theo tiếng nói Ai có tiếng nói người ấy sẽ xây dựng nhà mình, sẽ cày được ruộng, đúc được kiếm, lên được dây đàn pandua và gẩy được nó”
Trẻ em “tốt nghiệp” trường mẫu giáo là đứng trước một nền văn hoá đồ
sộ của dân tộc và nhân loại mà nó có nhiệm vụ phải lĩnh hội những kinh nghiệm của ông cha để lại, đồng thời có sứ mạng xây dựng nền văn hoá đó trong tương lai Cho nờn việc phỏt triển tiếng mẹ đẻ cho trẻ em ở lứa tuổi mầm non là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng mà ở độ tuổi mẫu giáo lớn nhiệm vụ đó phải được hoàn thành Nếu một đứa trẻ 5 – 6 tuổi mà nói năng ấp úng, phát âm ngọng, vốn từ nghèo nàn tới mức không đủ diễn đạt những điều
mà mình cần nói, không sử dụng được ngữ pháp để nói mạch lạc cho mọi người hiểu mình và hiểu lời người khác nói, thì có thể liệt em bé đó vào loại chậm phát triển
Lứa tuổi mẫu giáo là thời kỳ bộc lộ tính nhạy cảm cao nhất đối với các hiện tượng ngôn ngữ, điều đó khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt tốc
độ khá nhanh, và đến cuối tuổi mẫu giáo thì hầu hết trẻ em đều biết sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thục trong sinh hoạt hàng ngày
Sự hoàn thiện tiếng mẹ dẻ ở trẻ mẫu giáo lớn theo các hướng sau:
Trang 21a) Nắm vững ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ
ở cuối tuổi mẫu giáo, do việc giáo tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng trong những năm trước đây, tai âm vị được rèn luyện thường xuyên để tiếp nhận các ngữ âm khi nghe người lớn nói, mặt khác cơ quan phát âm đã trưởng thành đến mức trẻ có thể phát ra những âm tương đối chuẩn, kể cả những âm khó của tiếng mẹ đẻ Vớ dụ: uềnh oàng, khúc khuỷu… Chỉ trong trường hợp
bộ máy phát âm của trẻ bị tổn thương hay do chịu ảnh hưởng của lời nói ngọng của người lớn xung quanh, thì trẻ mẫu giáo lớn mới phạm nhiều lỗi trong việc nắm ngữ âm của tiếng mẹ đẻ
Trẻ mẫu giáo lớn đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nội dung giao tiếp hay nội dung của câu chuyện mà trẻ kể Trẻ thường dùng ngữ
điệu êm ái để biểu thị tình yêu thương tình cảm trìu mến Ngược lại, khi giận dữ, trẻ lại dùng ngữ điệu thô và mạnh Khả năng này được thể hiện khá rõ khi trẻ kể chuyện mà mình thích cho người khác nghe
b) Phát triển vốn từ và cấu trúc ngữ pháp
Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn tích luỹ được khá phong phú, không chỉ về danh từ mà cả về động từ, tính từ, liên từ… Trẻ nắm được vốn từ trong tiếng
mẹ đẻ đủ để diễn đạt các mặt trong đời sống hàng ngày
Sự lĩnh hội ngôn ngữ của trẻ được quyết định bởi điều kiện sống và giáo dục Nói chung, với điều kiện sống và giáo dục tốt thì trẻ em mẫu giáo lớn đã
có thể sử dụng ngữ pháp tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo, mặc dù quá trình
đó diễn ra một cách không ý thức, khác với quá trình học ngữ pháp một cách
có ý thức ở trường phổ thông sau này
Sự lĩnh hội ngôn ngữ của trẻ còn được quyết định bởi tính tích cực của bản thân trẻ đối với ngôn ngữ Những trẻ em mà năng giao tiếp, năng tìm hiểu các hiện tượng ngôn ngữ (tức là ngôn ngữ đã trở thành đối tượng của ý thức) thì không những hiểu được từ ngữ và nắm vững ngữ pháp một cách vững vàng
mà còn “sáng tạo” ra những từ ngữ, những cách nói chưa hề có trong ngôn
Trang 22ngữ của người lớn Vớ dụ: Cháu Hoa Anh (5 tuổi) đã nói “vịt ngó lộn phèo” hay cháu Vàng Anh (6 tuổi) đã dùng từ rất mới lạ để nói về màu đỏ như “đỏ choen choét” Tính tích cực cao đối với ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn còn biểu hiện ở chỗ thích “sáng tạo” thơ ca Nhìn chung thì trẻ mẫu giáo chưa thể sáng tác thơ ca được, nhưng ở một số em đã tiếp xúc sớm với những âm hưởng thơ ca nên cũng đã bắt đầu làm thơ vào cuối tuổi mẫu giáo Vớ dụ: Bé Thuý Giang đã làm bài thơ đầu tiên vào lúc gần 6 tuổi:
Bài thơ: “Cỏi vườn”
Cái vườn nho nhỏ Cô giáo đến chơi Cô đưa võng đỏ
Ru chú mặt trời
Và đây là bài thơ bé Ngô Thị Bích Hiền làm lúc bé 5 tuổi:
Bài thơ: “Ông mặt trời”
Ông mặt trời óng ánh Toả sáng hai mẹ con Bóng em và bóng mẹ Dắt nhau đi trên đường
Ông mỉm cười nhìn em
Em mỉm cười nhìn ông
Ông ở trên trời nhé Cháu ở dưới này thôi
Trang 23Trong khi sử dụng ngôn ngữ trẻ đã bắt đầu hiểu nghĩa của từ và nguồn gốc của nó, một cháu mẫu giáo lớn đã giải thích cho bạn hiểu là: “con của bò thì gọi là: “bê” vì nó hay kêu bê bê…”
- Ngôn ngữ tình huống: trẻ sử dụng khi đối thoại với người lớn Khi giao tiếp với những người xung quanh trẻ sử dụng nhiều yếu tố trong tình huống giao tiếp để hỗ trợ cho ngôn ngữ của mình Như vậy, chỉ có những người đang giao tiếp với trẻ lúc đó mới hiểu được trẻ muốn nói gì
- Ngôn ngữ mạch lạc (ngôn ngữ giải thích): ở độ tuổi này, ngôn ngữ giải thích ở trẻ phát triển mạnh Trẻ có nhu cầu giải thích cho bạn bè cùng tuổi hiểu về nội dung trò chơi, cách tạo ra đồ chơi và nhiều chuyện khác Không những thế trẻ còn muốn giải thích cho người lớn (cha mẹ, anh chị, cô giáo…) những điều mà trẻ cần họ hiểu Ngôn ngữ giải thích đòi hỏi đứa trẻ phải trình bày ý kiến của mình theo một trình tự nhất định phải nêu bật những điểm chủ yếu và những mối quan hệ liên kết các sự vật và hiện tượng một cách hợp lý
để người khác dễ đồng tỡnh Có nghĩa là nó yêu cầu phải có tính chặt chẽ và mạch lạc, do đó còn gọi là ngôn ngữ mạch lạc Kiểu ngôn ngữ mạch lạc có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc hình thành những mối quan hệ qua lại trong nhóm trẻ và với những người xung quanh, đặc biệt là đối với sự phát
Trang 24triển trí tuệ của trẻ Muốn có ngôn ngữ mạch lạc thì những điều trẻ định nói ra cần phải được suy nghĩ rõ ràng, rành mạch ngay từ trong đầu tức là cần được tư duy hỗ trợ Mặt khác, chính ngôn ngữ mạch lạc là phương tiện làm cho tư duy của trẻ phát triển đến một chất lượng mới đó là việc nảy sinh các yếu tố của tư duy lôgíc nhờ đó mà toàn bộ sự phát triển của trẻ được nâng lên một trình độ mới, cao hơn
* Nhìn chung, đứa trẻ trước khi bước vào tuổi học sinh đã có khả năng nắm được ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm của người lớn (tuỳ theo địa phương có giọng nói như thế nào thì trẻ sẽ nói theo như vậy) Biết dùng ngữ điệu phự hợp với hoàn cảnh giao tiếp, và đặc biệt là nói đúng hệ thống ngữ pháp phức tạp bao gồm những quy luật ngôn ngữ tinh vi nhất về phương diện cú pháp về phương diện tu từ, nói năng mạch lạc thoải mái Tóm lại ở giai đoạn này, trẻ đã thực sự nắm được vững tiếng mẹ đẻ
1.2 Lời nói mạch lạc và đặc trưng lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn
1.2.1 Khái niệm lời nói mạch lạc
Nhiều nhà nghiờn cứu đó nờu ra cỏc định nghĩa về lời núi mạch lạc của
trẻ em trong đú cú những điểm chung và điểm khỏc nhau Trong cuốn “Giỏo trỡnh phương phỏp phỏt triển lời núi trẻ em” của Đinh Hồng Thỏi đó nờu ra
định nghĩa của Tiến sĩ ngụn ngữ học Xụkhin – tỏc giả của nhiều cuốn sỏch giỏo khoa, phương phỏp về phỏt triển ngụn ngữ trẻ em ễng đó định nghĩa đơn giản như sau:
“Lời nói mạch lạc được hiểu là sự diễn đạt mở rộng một nội dung
xác định, được thực hiện một cách lôgic, tuần tự, chính xác, đúng ngữ pháp
Trang 25Đây là khái niệm chỳng tôi sẽ sử dụng làm cơ sở lý luận xuyên suốt trong khoá luận của mình
1.2.2 Các kiểu lời nói mạch lạc
Có hai hình thức cơ bản của ngôn ngữ mạch lạc của trẻ là lời núi hội thoại và ngôn ngữ độc thoại
* Lời nói hội thoại: bao gồm những phản ứng tương hỗ của hai cá nhân
giao tiếp với nhau, các phản ứng tự phát một cách bình thường được xác định bởi hoàn cảnh hoặc lời nói của những người tham gia đối thoại Có thể hiểu
đơn giản: Lời nói hội thoại là câu chuyện giữa hai hoặc nhiều chủ thể nói năng (có sự đổi ngôi)
- Có 2 hình thức hội thoại là: nói chuyện và đàm thoại
+ Nói chuyện: là câu chuyện giữa 2 người trở lên, không được chuẩn bị
kỹ từ trước
+ Đàm thoại: là câu chuyện về một chủ đề nào đó được chuẩn bị kỹ càng với hệ thống câu hỏi Nó mang tính hoàn cảnh cao, sử dụng nhiều hình thức ngôn ngữ tỉnh lược, những phương tiện biểu cảm phi ngôn ngữ, các đặc tính biểu cảm của lời nói đóng vai trò quan trọng
Có thể thấy rằng, đặc điểm nổi bật của lời nói hội thoại chính là: đặt ra câu hỏi và trả lời cho câu hỏi ấy dẫn đến các câu trả lời không đầy đủ, thậm chí chỉ có một từ và câu không đầy đủ thiếu thành phần nào đó, với ngữ điệu biểu cảm, cử chỉ, điệu bộ ở đây, đặc biệt quan trọng là kĩ năng hình thành và
đưa ra câu hỏi tương ứng với nó là câu trả lời bổ sung và sửa chữa cho người
đối thoại với mình
Trẻ có thể dễ dàng nắm được lời nói hội thoại vì trẻ sử dụng và được nghe nhiều trong cuộc sống
* Ngôn ngữ độc thoại: là câu chuyện của một chủ thể nói năng với
nhiều đối tượng, đây là hình thức ngôn ngữ phức tạp nhất về tư duy và hình thức, chủ thể phải có vốn ngôn ngữ rất rộng và chuẩn bị bài nói rất cẩn thận về
Trang 26nội dung, người nói phải có kỹ năng ngôn ngữ phát triển tốt Bên cạnh đó, người nói phải biết cách trình bày sáng tỏ các hình thức biểu cảm phi ngôn ngữ và bằng các đặc tính biểu cảm của giọng nói, phải biết kiểm tra và kiểm soát các hình thức ngôn từ
- Ngôn ngữ độc thoại đòi hỏi ở người nói sự chú ý căng thẳng hơn đối với nội dung lời nói và hình thức của nó ở đây rất cần phải giữ được sự sinh
động và trực tiếp của lời nói
- Ngôn ngữ độc thoại khó đối với trẻ, vì trẻ ít nghe trong đời sống hàng ngày
1.2.3 Đặc trưng lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn
ở trẻ mẫu giáo lớn, lời nói mạch lạc đã đạt được tới trình độ cao hơn hẳn so với hai độ tuổi trước (mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ)
Trẻ mẫu giáo bé phù hợp với hình thức đơn giản của lời nói đối thoại (trả lời câu hỏi), nhưng ở đây trẻ thường xa rời với nội dung câu hỏi Trẻ mới chỉ bắt đầu nắm được kĩ năng bày tỏ một cách mạch lạc những ý nghĩ của mình, mắc nhiều lỗi trong xây dựng câu, đặc biệt là câu phức
Lời nói của trẻ mang tính tình huống, chủ yếu là diễn đạt một cách vội vàng Những lời nói mạch lạc đầu tiên của trẻ được cấu tạo từ hai đến ba câu nhưng cũng cần phải xem đó là sự thể hiện mạch lạc Dạy lời nói đối thoại cho trẻ mẫu giáo bé và sự phát triển của nó sau này là cơ sở để hình thành lời nói
Trang 27Trong độ tuổi này diễn ra sự phát triển mạnh lời nói văn cảnh có nghĩa
là nói chỉ tự mình hiểu được
ở trẻ mẫu giáo lớn, lời nói mạch lạc đã đạt được trình độ khá cao Để trả lời câu hỏi, trẻ đã sử dụng các câu tương đối chính xác ngắn gọn và khi cần thì mở rộng Lúc này, trẻ đã phát triển kĩ năng nhận xét lời nói và câu trả lời của các bạn, bổ sung hoặc sửa chữa các câu trả lời đó Sang tuổi thứ 6 trẻ có thể đặt các câu chuyện miêu tả hay theo một chủ đề nào đó cho trước một cách tương đối tuần tự và rõ ràng, nhưng vẫn cần đến mẫu lời nói của cô Kĩ năng truyền đạt trong lời kể, thái độ xúc cảm của mình đối với các sự vật, hiện tượng trong câu chuyện của trẻ còn chưa phát triển đầy đủ
1.2.4 Sự cần thiết phải phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn
Theo tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, ngôn ngữ mạch lạc của trẻ mẫu giáo xuất hiện do nhu cầu muốn mô tả lại cho người khác nghe những gì trẻ nhìn thấy mà không thể dựa vào các tình huống cụ thể trước mắt Trẻ muốn được
kể về những điều mà mình đã trải qua, những điều mắt thấy tai nghe, những hiểu biết, suy nghĩ và những cảm xúc của mình trước sự vật hiện tượng Vớ dụ: trẻ kể về ngày chủ nhật được bố mẹ đưa đi chơi ở công viên
Nhu cầu giải thích, phân trần cho bạn hay người lớn về một vấn đề nào
đó nhằm mục đích thuyết phục người nghe Để đạt được mong muốn đó, trẻ phải cố gắng diễn đạt suy nghĩ của mình một cách rõ ràng theo đúng trình tự, thể hiện được ý cơ bản và mối liên hễ giữa các sự vật, sự việc, hiện tượng…
Có nghĩa là trẻ phải nắm được các kĩ năng diễn đạt mạch lạc ý nghĩa của mình
Mẫu giáo lớn là lứa tuổi cao nhất của bậc học mầm non, ở tuổi này trong nội dung dạy học cho trẻ có thêm một nội dung mới hết sức quan trọng
là chuẩn bị cho trẻ vào học lớp Một Lứa tuổi này nhu cầu nhận thức là nhu cầu hướng tới, tiếp thu những tri thức mới, phương pháp mới, nhu cầu này sẽ
Trang 28phát triển thành động cơ học tập nếu như trẻ em được vào lớp Một, biểu hiện
là trẻ rất thích được đến trường Tròn 6 tuổi trẻ em phải có vốn từ phong phú, diễn đạt những câu hỏi đơn giản, hiểu được những câu đơn giản người khác nói
Do vậy phát triển lời nói mạch lạc là một nhiệm vụ quan trọng trong việc giáo dục trẻ mẫu giáo lớn
1.3 Kể lại truyện văn học
1.3.1 Khái niệm kể lại truyện văn học
Kể lại truyện văn học - Đó là thuật lại một văn bản văn học đã có sẵn: một truyện kể dân gian, một truyện ngắn do các nhà văn học hiện đại sáng tác phù hợp với trẻ nhỏ… Tuy nhiên, cũng có thể có đôi phần sáng tạo trong cách
kể chuyện bên cạnh yêu cầu bảo đảm tính chính xác của cốt truyện
1.3.2 Mục đích của việc dạy trẻ kể lại truyện văn học
Trong giờ học kể lại truyện, trẻ được tiếp cận với ngôn ngữ văn học, ghi nhớ những từ, câu có xúc cảm, có hình ảnh, tập sử dụng tiếng mẹ đẻ sinh
động Khi trẻ kể lại truyện, trẻ phải có vốn từ phong phú, các kĩ năng tổng hợp (kĩ năng thắt nút, đỉnh điểm, mở nút), kĩ năng truyền đạt lại ý nghĩ của mình một cách chính xác tập trung chú ý và biểu cảm Những kĩ năng này trẻ lĩnh hội được trong quá trình học tập có hệ thống và bằng con đường luyện tập thường xuyên Tính nghệ thuật cao của các tác phẩm được lựa chọn kể lại, giá trị của hình thức kết cấu và ngôn ngữ dạy trẻ xây dựng câu chuyện một cách
rõ ràng, trật tự, không bỏ qua cái chính, sa vào chi tiết phụ có nghĩa là phát triển kĩ năng nói của trẻ
Mục đích của việc dạy trẻ kể lại truyện văn học cụ thể như sau:
- Tập cho trẻ ghi nhớ một cách có chủ định
- Tập phát âm và phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ
- Giúp trẻ trải nghiệm nghệ thuật một cách sâu sắc
Trang 29- Phát triển ở trẻ tính tích cực cá nhân, tính độc lập trong việc sử dụng vốn từ sử dụng ngôn ngữ, ngữ điệu… để kể lại truyện
1.3.3 Nhiệm vụ của việc dạy trẻ kể lại truyện văn học
Đối với trẻ mẫu giáo lớn người ta nêu ra những nhiệm vụ mới trong việc dạy trẻ kể lại các tác phẩm văn học: kĩ năng truyền đạt lại các tác phẩm văn học kĩ năng truyền đạt lại nội dung truyện kể, truyện dân gian một cách thứ
tự, biểu cảm, chặt chẽ, không cần đến những câu hỏi gợi ý của cô, truyền đạt lại lời thoại có biến đổi ngữ điệu tương ứng với tình cảm của các nhân vật, sử dụng các phương tiện biểu cảm
Vớ dụ: Trong truyện kể “Chú Dê đen”, trẻ biết kể giọng của Dê trắng run sợ, yếu ớt; giọng của Dê đen bình tĩnh đánh thép; giọng của Chó sói với
Dê trắng thì quát nạt; nhưng giọng của Chó sói với Dê đen lúc đầu thì quát nạt, hách dịch, sau thì chuyển sang lo lắng, ngần ngại và sợ sệt…
Trẻ được nghe và kể lại những tác phẩm cú cốt truyện phức tạp hơn như các truyện cổ tích Tấm Cám, Cô bé quàng khăn đỏ…
Với trẻ cuối tuổi mẫu giáo lớn, có thể đem đến cho trẻ những câu chuyện có tính chất miêu tả
1.3.4 Yêu cầu về chọn lựa tác phẩm truện để trẻ kể lại
Khi chọn lựa các tác phẩm truyện để trẻ kể lại, cô giáo cần tính đến các yêu cầu sau: giá trị nghệ thuật cao, có tính tư tưởng sinh động, ngắn gọn và có hình ảnh trong biểu hiện; có sự rõ ràng và tuần tự trong triển khai hành động; biểu hiện một cách tập trung và vừa sức nội dung; khối lượng không lớn Phù hợp với những yêu cầu này là những câu chuyện cổ tích đơn giản, những truyện kể ngắn của các nhà văn hiện đại như: Tô Hoài, Phạm Hổ, Võ Quảng, Trần Hoài Dương và nhiều tác giả viết cho trẻ em khác Những câu chuyện cổ tích đơn giản phù hợp cho trẻ kể lại như: Chú Dê đen, Tích Chu, Ba cô gái, Bác gấu đen và hai chú thỏ, Chiếc áo mùa Xuân,…
Trang 301.3.5 Phân biệt kể lại truyện văn học và kể lại chuyện
1.3.5.1 Khái niệm cốt truyện
Theo từ điển thuật ngữ văn học, chủ biên Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi thì: “ Cốt truyện là hệ thống những sự kiện cụ thể được tổ chức theo yêu cầu của hệ thống tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành một bộ phận cơ bản, quan trọng trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch”
1.3.5.2 Kể lại truyện văn học
Kể lại truyện văn học - đó là thuật lại một văn bản văn học đã có sẵn: một truyện kể dân gian, một truyện ngắn do các nhà văn hiện đại sáng tác phù hợp với trẻ nhỏ Tuy nhiên, cũng có thể có đôi phần sáng tạo trong cách kể chuyện bên cạnh yêu cầu bảo đảm tính chính xác của cốt truyện
Kế hoạch của giờ học kể lại truyện văn học được tiến hành theo các phần sau: cô đọc tác phẩm; cho trẻ thảo luận theo câu hỏi; cô đọc lại, kể lại rồi sau
đó cho trẻ kể lại
Bước 1: Cô đọc tác phẩm văn học cho trẻ nghe
Bước 2: Cho trẻ thảo luận theo các câu hỏi
Bước 3: Cô đọc lại tác phẩm
Bước 4: Cho trẻ kể lại truyện
Để trẻ có thể kể lại truyện thật hiệu quả, đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị kĩ lưỡng và đọc tác phẩm thật hấp dẫn Đọc là sự truyền đạt trung thành với tác phẩm (nhìn vào truyện, thơ), không thêm, bớt, thay đổi dù chỉ một từ, một câu để trẻ tiếp nhận nguyên vẹn nghệ thuật của tác phẩm Trong khi đọc, người đọc sử dụng sắc thái giọng của mình và các phương diện đọc biểu cảm khác là cho tác phẩm cất tiếng nói Như vậy, giờ học kể lại truyện văn học được bắt đầu từ bước cô đọc tác phẩm cho trẻ nghe, cho trẻ thảo luận, cô đọc lại tác phẩm, và cuối cùng cho trẻ kể lại tác phẩm