Trong sách giáo khoa Toán ở Tiểu học, việc dạy học các yếu tố hình học được xuất hiện từ kỳ 1 lớp 1 cho đến hết lớp 5.. Qua việc xem sách giáo khoa và nghiên cứu thực tế các yếu tố hình
Trang 1PHẠM THỊ HƯƠNG GIANG
DẠY HỌC GIẢI CÁC BÀI TOÁN NHẬN DẠNG HÌNH HÌNH HỌC Ở CÁC LỚP 1, 2 ,3
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán
HÀ NỘI, 2011
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng – phạm vi 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Kế hoạch triển khai 7
NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận 8
1.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 1,2,3 8
1.1.1 Tri giác 8
1.1.2 Tư duy 9
1.1.3 Tưởng tượng 9
1.1.4 Chú ý và ghi nhớ 10
1.2 Đặc điểm của môn Toán ở Tiểu học 11
1.3 Vai trò, vị trí nội dung các yếu tố 12
1.4 Mục tiêu và nội dung các yếu tố hình học 14
1.5 Thuận lợi và khó khăn 16
Chương 2: Dạy học giải các bài toán nhận dạng hình hình học ở các lớp 1,2,3 19
2.1 Mục tiêu và nội dung các bài toán nhận dạng hình hình học ở các lớp 1,2,3 19
2.1.1 Mục tiêu 19
2.1.2 Nội dung 19
Trang 32.2 Các bài tập nhận dạng các đối tượng hình học 20
2.2.2 Các hình học được tri giác như là một ‘tổng thể” gắn liền với hình dạng của chúng 20
2.2.3 Các hình hình học được nhận biết theo đặc điểm của hình
2.3 Một số bài tập nhận dạng hình học trong sách giáo khoa ở các lớp
1,2,3 29
2.3.1 Lớp 1 29
2.3.2 Lớp 2 36
2.3.3 Lớp 3 41
KẾT LUẬN 50 PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học và các thầy cô giáo trong tổ bộ môn phương pháp dạy học Toán đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em tìm hiểu khoá luận tốt nghiệp này Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo –
TS.NGUYỄN NĂNG TÂM Người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp
đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cô giáo và các em học sinh trường Tiểu học Liên Minh – Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc đã tận tình giúp đỡ
Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2011
Người thực hiện
Phạm Thị Hương Giang
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “dạy học giải các bài toán nhận dạng hình hình học ở các lớp 1,2,3” là kết quả mà tôi đã nghiên cứu qua đợt kiến tập hàng năm và thực tập cuối năm Trong quá trình nghiên cứu tôi có sử dụng tài liệu của một
số nhà nghiên cứu, một số tác giả khác Tuy nhiên đó chỉ là cơ sở để tôi rút ra được những vấn đề cần tìm hiểu ở đề tài của mình Đây là kết quả của riêng
cá nhân tôi, hoàn toàn không trùng với kết quả của tác giả khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về sự cam đoan này
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2011
Người thực hiện
Phạn Thị Hương Giang
Trang 6Trong các môn học ở Tiểu học thì môn Toán có vai trò, vị trí vô cùng quan trọng Với tư cách là môn khoa học nghiên cứu với một số mặt của thế giớ hiện thực, nó có một hệ thống kiến thức cơ bản và phương pháp nhận thức rất cần thiết Hệ thống này luôn luôn được phát triển trong quá trình để áp dụng vào thực tế Với đặc thù riêng của môn học, Toán học thực sự đóng vai trò chủ đạo trong việc trang bị cho học sinh hệ thống tri thức và phương pháp,
là nền tảng vững chắc để phục vụ cho các bậc sau
Trong sách giáo khoa Toán ở Tiểu học, việc dạy học các yếu tố hình học được xuất hiện từ kỳ 1 lớp 1 cho đến hết lớp 5 Ở các lớp đầu Tiểu học, dạy học các yếu tố hình học góp phần phát triển năng lực tưởng tượng, tư duy sáng tạo cho học sinh Nó hỗ trợ cho học sinh trong các môn học về thủ công như cắt,
xé, dán các hình, chơi các trò chơi học tập về xếp hình hay trang trí họa tiết trong hội họa…
Mọi khoa học đều bắt nguồn từ thực tiễn Toán học cũng không nằm ngoài quy luật đó Nếu số học ra đời trước hết do nhu cầu tính toán thì các yếu tố hình học ra đời do nhu cầu đo đạc và tính toán như: ruộng vườn, nhà cửa… Do có nguồn gôc từ thực tiễn nên các yếu tố hình học có ứng dụng rộng dãi trong cuộc sống, trong nhiều lĩnh vực khác vì vậy mà việc đưa các
Trang 7yếu tố hình học vào trong nội dung học ở Tiểu học đã được tiến hành từ rất lâu và ngày càng mang tính hệ thống, hoàn thiện hơn
Qua việc xem sách giáo khoa và nghiên cứu thực tế các yếu tố hình học
và việc dạy học các yếu tố hình học ở trường Tiểu học, bản thân tôi nhận thấy tầm quan trọng của yếu tố hình học và việc giải quyết những bài toán Chính
vì vậy tôi đã chọn “Dạy học giải các bài toán nhận dạng hình hình học ở các lớp 1,2,3” làm đề tài khóa luận của mình Qua việc nghiên cứu đề tài này chắc chắn sẽ giúp tôi nắm vững về các bài toán hình học và có được các phương pháp dạy học phù hợp, đạt hiệu quả cao
+ Tìm hiểu về đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 1,2,3
+ Tìm hiểu về vai trò, vị trí, mục tiêu, nội dung của việc dạy học giải các bài toán nhận dạng hình hình học ở các lớp 1,2,3
+Trình bầy việc dạy học giải các bài toán nhận dạng hình hình học ở các lớp 1,2,3
+ Những sai lầm thường gặp khi dạy học giải các bài toán nhận dạng hình hình học ở các lớp 1,2,3
4 Đối tượng – phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : Việc dạy học giải các bài toán nhận dạng hình hình học ở các lớp 1,2,3
Trang 8Phạm vi nghiên cứu : Học sinh lớp 1,2,3
5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận tổng hợp
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Phương pháp quan sát
Nghiên cứu tài liệu
6 Kế hoạch triển khai
Tháng 11- 12/2010 : Nhận đề tài và hoàn thành đề cương
Tháng 12-01/2011: Tìm hiểu cơ sở lý luận
Tháng 02-04/2011: Nghiên cứu nội dung
Tháng 05/2011: Hoàn thành đề tài nghiên cứu và bảo vệ đề tài
7 Cấu trúc đề tài
Khóa luận này gồm 3 phần: mở đầu, nội dung và kết luận
Mở đầu
Nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Dạy học giải các bài Toán nhận dạng hình hình học ở các lớp 1,2,3
Chương 3: Một số sai lầm thường gặp khi dạy học giải các bài toán nhận dạng hình hình học ở các lớp 1,2,3
Phần 3: Kết luận
Trang 9
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 1,2,3
Nhìn chung, ở Tiểu học hệ thống tín hiệu thứ nhất còn chiếm ưu thế, các em rất nhạy cảm với tác động bên ngoài Do đó trí nhớ trực quan, hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ lôgic
Khả năng phát triển của các em còn kém, các em thường tri giác trên tổng thể Tri giác thường gắn với hành động, các hoạt động thực tiễn của trẻ
1.1.1 Tri giác
Cảm giác, tri giác là khâu đầu tiên của quá trình nhận thức cảm tính, nhưng cảm giác chỉ đem lại những mặt tương đối rời rạc, chỉ có tri giác mới đạt tới nhận thức toàn bộ của sự vật trực tiếp Chính vì vậy các nhà tâm lý học
đã đặc biệt chú ý tới khả năng tri giác của trẻ Như vậy tri giác quan trọng đối với hoạt động thực tế của trẻ
Tri giác là quá trình nhận thức tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính, hình ảnh của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan [6,78]
Ở Tiểu học tri giác mang tính đại thể, ít đi sâu, đi vào chi tiết Nét đặc trưng của tri giác là tính phân hóa của nó, các em phân biệt tương đối giống nhau còn sai lầm và chưa chính xác, chẳng hạn: quyển vở với diện tích quyển
Trang 10đoạn đầu Tiểu học, cho nên tri giác vẫn gắn liền với tổng thể sự vật, nghĩa là học sinh tri giác tổng thể sự vật mà không đi sâu vào chi tiết
Ví dụ : Khi dạy về hình chữ nhật cho học sinh đo các cạnh để từ đó học sinh tự tìm ra tri thức
1.1.2 Tư duy
Tư duy là quá trình tâm lý, phản ánh các dấu hiệu các mối liên hệ và
các quan hệ bản chất của sự vật và hiện tượng khách quan [6,87]
Tư duy của học sinh là quá trình nhận thức giúp các em phản ánh được bản chất của đối tượng, nghĩa là giúp các em tiếp thu được các khái niệm của các môn học Để tiếp thu được khái niệm học sinh phải tiến hành các thao tác
tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa
Ở giai đoạn đầu Tiểu học, tư duy của học sinh ở giai đoạn này chủ yếu
là tư duy cụ thể Học sinh tiếp thu tri thức các môn học bằng cách tiến hành các thao tác tư duy với các hoạt động cụ thể hoặc là hình ảnh trực quan Sang giai đoạn sau, thì tư duy của học sinh được chuyển dần sang tư duy trừu tượng
Trong quá trình học tập, tư duy của học sinh Tiểu học phát triển rất nhiều Nếu tri giác phát triển mạnh ở mẫu giáo thì lứa tuổi tiểu học tư duy phát triển mạnh mẽ hơn Ở dây, vai trò của các nội dung, phương phát dạy học và các giáo viên có tính quyết định đến tư duy của các em Tư duy trừu tượng bắt đầu phát triển nhưng vẫn còn non yếu Vì vậy, học sinh sẽ tiếp thu
1.1.3 Tưởng tượng
Tưởng tượng là quá trình học sinh tạo ra hình ảnh mới dựa vào các biểu tượng đã biết Ở học sinh Tiểu học có hai loại biểu tượng đã biết: tưởng tượng tái tạo và tưởng tượng sáng tạo
Trên cơ sở đã có hình ảnh ( biểu tượng) học sinh xây dựng những hình ảnh mới qua tưởng tượng để phản ánh những cái chưa có trong kinh nghiệm
Trang 11cá nhân Nội dung của tưởng tượng cũng như tư duy: Tức là có thể tạo ra những cái mới chưa từng có trong kinh ngiệm của con người Mà tưởng tượng
và tư duy chỉ nảy sinh khi con người đứng trước một hoàn cảnh có vấn đề
Sự hình thành tưởng tượng bắt nguồn từ nhận thức những tưởng tượng không gian theo quan hệ thứ tự
Ví dụ : Về đồ đạc, dựng hình, tính toán…
Tưởng tượng có thể phát triển ở những mức độ khác nhau, ở những lứa tuổi, độ tuổi, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm sống, hoạt động thực tiễn ( vẽ, căt, dán, gấp…) làm cho tưởng tượng phong phú, năng động hơn nhờ có khả năng hoạt động trí óc theo tưởng tượng
Tưởng tượng của học sinh lớp 1,2,3 đạt trình độ thấp hơn học sinh lớp 4,5 Học sinh không chỉ hình dung lại những gì đã được học trong giờ học,
mà học sinh có khả năng tưởng tượng sáng tạo
Vậy trí nhớ là một quá trình tâm lý phản ánh những kinh nghiệm đã có của học sinh dưới hình thức biểu tượng, đó là những hình ảnh của sự vật biểu tượng nảy sinh trong óc chúng ta khi có sự tác động trực tiếp của chúng ta vào giác quan
Trang 12Sự chú ý của học sinh lớp 1,2,3 thì chú ý chưa có chủ định vẫn được duy trì, tức là những gì mang tính mới lạ, mới mẻ thì dễ dàng làm cho học sinh xuất hiện chú ý chưa có chủ định Chú ý có chủ định được hình thành và phát triển mạnh mẽ do yêu cầu của hoạt động học Tuy nhiên ở giai đoạn đầu tiểu học chú ý có chủ định chưa bền vững, còn non yếu, học sinh vẫn chưa ý thức được tại sao phải chú ý
Chú ý của học sinh thường được hướng râ bên ngoài, chú ý trong tưởng tượng còn non yếu Do đó học sinh phải làm việc trên giấy nháp hoặc đồ dùng học tập, giáo viên phải trình bày bảng rõ ràng, ghi nix dung cơ bản đầy đủ
Ở các lớp 1,2,3 ghi nhớ của học sinh vẫn chủ yếu là ghi nhớ máy móc, ghi nhớ không có chủ định
1.2 Đặc điểm của môn Toán ở Tiểu học
Toán học là môn khoa học có tính trừu tượng và tính thực tiễn Cũng như mọi môn khoa học khác Toán học có nguồn gốc từ thực tiễn cuộc sống nên nó có những ứng dụng rộng rái trong cuộc sống và có thể ứng dụng hiệu quả trong nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống thực tế
Toán học là môn khoa học có tính lôgic và tính thực nghiệm
Môn Toán giữ một vị trí quan trọng trong nhà trường phổ thông nói riêng Các kiến thức van kỹ năng của môn Toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống và cần thiết để học tập các môn học khác trong nhà trường như: địa lý, khoa học, thủ công…
Môn Toán còn góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện những đức tính, phẩm chất cần thiết của người lao động: cần cù, sáng tạo…
Môn Toán ở Tiểu học là môn khoa học thống nhất không chia thành các phân môn riêng
Trang 13Đặc điểm xây dựng chương trình sách giáo khoa: Hạt nhân của môn Toán là số học ( số tự nhiên, phân số, số thập phân) Các nội dung cơ bản về đại lượng, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học, giải các bài toán có lời văn được sắp xếp gắn bó với hạt nhân số học, tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau không làm mất đi hoặc mờ nhạt đi đặc trưng của từng nội dung – đó chính là sự thể hiện bước đầu quan điểm tích hợp trong cấu trúc nội dung môn Toán ở Tiểu học Cấu trúc nội dung hạt nhân số học của môn Toán cùng với nội dung khác là cấu trúc theo kiểu đồng tâm Nhờ cấu trúc sắp xếp này mà các nội dung của môn Toán được củng cố thường xuyên và được phát triển từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó Trong sách giáo khoa Toán ở các lớp đều có phần ôn tập bổ sung ở đầu năm, hệ thống hóa ở cuối năm học Ngoài các tiết dạy học kiến thức mới và luyện tập để củng cố kiến thức mới còn có các tiết luyện tập chung để ôn tập củng cố kiến thức và hỹ năng trong từng giai đoạn học tập
1.3 Vai trò, vị trí, nội dung các yếu tố hình học trong môn Toán ở các lớp 1,2,3
1.3.1.Vai trò
Nội dung các yếu tố hình học cung cấp cho học sinh những kiến thức
sơ giản ban đầu về biểu tượng của các hình hình học, kỹ năng ban đầu về vẽ hình, các biểu tượng về kích thước, hình dạng trong không gian của các hình Đây chính là nền tảng, cơ sở ban đầu để học sinh có được các biểu tượng của các hình trong không gian hai chiều, ba chiều
Thông qua nội dung “ các yếu tố hình học” giúp cho học sinh học tốt hơn các bộ môn khác, đặc biệt trong môn thủ công
Trang 14Ví dụ: Để cắt được ông mặt trời, ngôi nhà… thì học sinh phải có biểu tượng về hình tròn, hình vuông, tam giác ở trong đầu thì học sinh mới có thể cắt được những hình đó
Nhờ được học phần nội dung “các yếu tố hình học” mà trí tưởng tượng của học sinh Tiểu học dần dần được phát triển hơn Ở lớp 1 học sinh chỉ nhận dạng (nhận biết) các hình (hình tròn, hình vuông, hình tam giác, hình chữ nhật, hình tứ giác) dưới dạng tổng thể, tức là học sinh chỉ chủ yếu quan sát hình dưới dạng toàn thể của hình rồi nêu tên hình) Như vậy, ở lớp 1 học sinh chỉ thấy các hình có hình dạng giống với hình mà giáo viên cho quan sát, học sinh phải đối chiếu một cách tổng thể với vật mẫu Nhưng đến lớp 3, khi nhận dạng hình vuông, hình chữ nhật ngoài xét “tổng thể” học sinh đã biết dựa vào các đătc điểm về yếu tố cạnh, góc, đỉnh của hình để nhận dạng, nêu tên hình Chẳng hạn đến lớp 3, học sinh có thể tưởng tượng đầu mình hình vuông có 4 góc vuông và 4 cạnh bằng nhau, hình chữ nhật có 4 góc vuông có 2 cạnh dài bằng nhau và 2 cạnh ngắn bằng nhau Và khi tưởng tượng được thì học sinh
có thể vẽ được một cách chính xác hình, gọi tên chính xác các hình
Như vậy, nội dung các yếu tố hình học đóng vai trò quan trọng, to lớn đối với sự phát triển tư duy, trí tưởng tượng, năng lực toán của học sinh, góp phần phát triển toàn diện về học tập cho học sinh Tiểu học Nó hỗ trợ đắc lực cho các môn học khác
1.3.2 Vị trí
Việc dạy học “các yếu tố hình học” trong môn Toán có vị trí quan trọng không thể thiếu, là một trong những nôi dung chính của môn Toán ở Tiểu học van cùng với các nội dung khác góp phần rèn luyện trí tuệ cho học sinh Tiểu học Việc dạy học nội dung này không chỉ cung cấp các biểu tượng ban đầu
về các hình Trên cơ sở đó giúp các me có được kỹ năng thực hành về hình học (nhận dạng, cắt, ghép…)
Trang 15Nhờ các hoạt động thực hành dựa vào kiến thức tiếp thu được qua việc học các “ yếu tố hình học” học sinh sẽ tiếp thu được những kỹ năng cần thiết phục vụ cho đời sống thực tiễn
Nói tóm lại, các “yếu tố hình học” là một trong những nội dung cơ bản của môn Toán ở Tiểu học, vừa hỗ trợ cho việc học tập các môn học khác vừa góp phần xây dụng cơ sở cho môn hình học ở bậc trung học cơ sở Vì vậy, việc tìm hiểu và lựa chọn phương pháp, kỹ thuật dạy học cho phù hợp là vấn
đề cần phải được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán nói chung
1.4 Mục tiêu và nội dung dạy học các yếu tố hình học ở các lớp 1,2,3
1.4.1 Mục tiêu
+ Lớp 1
Hình thành biểu tượng ban đầu về một số hình đơn giản: Điểm, đoạn thẳng, hình vuông, hình tam giác, điểm ở trong, điểm ở ngoài một hình
Bước đầu rèn luyện các kỹ năng: nhận dạng hình, vẽ đoạn thẳng
Bước đầu rèn luyện óc quan sát, trí tưởng tượng, phát triển vốn từ vựng
về hình học
+ Lớp 2
Nhận dạng và gọi đúng tên hình chữ nhật, hình tứ giác, đường thẳng, đường gấp khúc
Biết tính đọ dài đường gấp khúc khi cho sẵn độ dài mỗi đoạn thẳng của
nó, tính chu vi hình tam giác, hình tứ giác khi cho sẵn độ dài mỗi cạnh của nó
Biết thực hành vẽ (theo mẫu) trên giấy kẻ ô vuông, ghép các hình đơn giản
Bước đầu làm quen với các thao tác lựa chọn, phân tích, tổng hợp hình, phát triển tư duy, trí tưởng tượng không gian…
Trang 16+ Lớp 3
Có được biểu tượng về góc vuông, góc không vuông, trung diểm của một đoạn thẳng, hình tròn, tâm, bán kính, đường kính của hình tròn Nắm được một số đặc điểm về các yếu tố cạnh, góc, đỉnh của hình chữ nhật, hình vuông
Biết nhận dạng các hình chữ nhật, hình vuông theo đặc điểm về các yếu
tố góc, cạnh của hình đó, nhận biết (xác định trung điểm) của đoạn thẳng
Biết vẽ hình tròn bằng compa, biết kiểm tra góc vuông bằng êke, biết
vẽ trang trí hình tròn đơn giản và biết ghép hình
Biết tính chu vi và diện tích hình chữ nhật, hình vuông (theo quy tắc) Phát triển các năng lực trí tuệ, đặc biệt là phát triển trí tưởng tượng không gian
Tiết 66: Điểm – đoạn thẳng
Tiết 86: Vẽ đoạn thẳng có độ dài cho trước
Tiết 95: Điểm ở trong, điểm ở ngoai một hình
Trang 17Tiết 125: Chu vi hình tam giác – chu vi hình tứ giác
Tiết 41: Góc vuông, gọc không vuông
Tiết 42: Thực hành nhận biết và vẽ góc vuông bằng êke
Khi nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa Toán hiện hành
ở các lớp 1,2,3, chúng tôi thấy có một số thuận lợi sau
Trang 18+ Chương trình được biên soạn phù hớp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh Các kiến thức về yếu tố hình học( nhận dạng hình) được bố trí xen kẽ với các kiến thức về số học, yếu tố thống kê, đại lượng hình học, giải toán nhằm tạo ra mối quan hệ hữu cơ và sự hỗ trợ chặt chẽ giữa các tuyến kiến thức với nhau Đây được coi là một ưu điểm của chương trình Bởi nó tạo điều kiện để rèn luyện các năng lực hình học và các kỹ năng thực hành thường xuyên hơn trong suốt quá trình học Toán
+ Các yếu tố hình học được xây dựng theo nguyên tắc đồng tâm, có sự lặp đi lặp lại vài lần trong chương trình, lần sau củng cố và phát triển các kiến thức và kỹ năng đã học ở lần trước Nội dung chương trình đảm bảo tính phổ cập Mỗi bài đều có phần luyện tập củng cố trong sách giáo khoa và sách bài tập Do vậy, học sinh sau khi học các kiến thức có thể vận dụng ngay để luyện tập củng cố
+ Chương trình và sách giáo khoa rất chú trọng đến nội dung thực hành
và luyện tập các dạng bài tập cũng phong phú, đa dạng tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên lựa chọn các bài tập phù hợp cho học sinh
+ Khi thực hiện chương trình sách giáo khoa, giáo viên có thể được lựa chọn những nôi dung và phương pháp thích hợp, phù hợp với từng đối tượng học sinh, để tổ chức và hướng dẫn học sinh tự phát hiện, chiếm lĩnh kiến thức mới và thực hành theo khả năng của mình
+ Các thông tin trong sách giáo khoa ( kênh hình, kênh chữ) rất đa dạng, phong phú và phù hợp với đại trà học sinh và với đặc điểm tâm lý
Vậy với những thuận lợi trên đã góp phần nâng cao chất lượng dạy và học các yếu tố hình học môn Toán ở Tiểu học Đây là vấn đề quan trọng trong suốt quá trình dạy học Toán nói chung và dạy học các yếu tố hình học nói riêng ở các lớp 1,2,3
1.5.2 Khó khăn
Trang 19Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, có không ít những khó khăn mà giáo viên và học sinh mắc phải
Ở các bài tập về yếu tố hình học thì đa phần các bài đều có hình vẽ mà các kỹ năng vẽ hình của học sinh Tiểu học còn hạn chế nên học sinh thường gặp phải nhiều khó khăn
Hình học ở Tiểu học là hình học trực quan nhưng yêu cầu đặt ra khi dạy các yếu tố hình học ở Tiểu học là phát triển ngôn ngữ hình học, trí tưởng tượng, phát triển tư duy… cho học sinh Vì vậy, để học sinh nắm rõ được kiến thức và hiểu biết được bài là vô cùng khó khăn
Các bài tập đặc biệt là các bài tập nâng cao rất đa dạng, phong phú và phức tạp Việc giáo viên tìm ra cách giải, lựa chọn cách giải hay, phù hợp và các phương pháp cần thiết là rất khó khăn Và quan trọng hơn là việc truyền đạt lại kiến thức một cách bài bản, có hệ thống, lôgic là vô cùng khó
Khi dạy về các hình thì các em rất hay nhầm lẫn giữa tên gọi: Hình tròn – đường tròn; đường thẳng – đoạn thẳng…
Các bài tập thường có rất nhiều cách giải, tuy nhiên các em chỉ làm một cách duy nhất mà chưa chịu đào sâu suy nghĩ
Trên đây là những thuận lợi và khó khăn gặp phải khi dạy học giải các bài toán nhận dạng hình hình học ở các lớp 1,2,3 Như vậy, việc nắm vững đặc điểm tâm lý của học sinh là vô cùng quan trọng trong công tác giảng dạy
Có như vậy thì giáo viên mới vận dụng được phương pháp dạy học phù hợp, sáng tạo, giúp học sinh nắm vững kiến thức
Trang 20
CHƯƠNG 2: DẠY HỌC GIẢI CÁC BÀI TOÁN NHẬN DẠNG HÌNH HÌNH HỌC Ở CÁC LỚP 1,2,3
2.1 Mục tiêu, nội dung về các bài toán nhận dạng hình hình học ở các lớp 1,2,3
2.1.1 Mục tiêu
Lớp 1: Học sinh biết nhận dạng các hình đơn giản như: Điểm, đoạn thẳng, hình vuông, hình tròn, hình tam giác, điểm ở trong, điểm ở ngoài một hình
Lớp 2: Học sinh nhận dạng và gọi đúng tên hình chữ nhật, hình tứ giác, đường thẳng, đường gấp khúc Nhưng học sinh chỉ nhận dạng hình “ tổng thể” chưa yêu cầu nhận ra hình chữ nhật cũng là hình tứ giác, hình vuông cũng là hình chữ nhật
Lớp 3: Học sinh biết nhận dạng các hình chữ nhật, hình vuông theo đặc điểm về các yếu tố góc, cạnh của hình đó, nhận biết trung điểm của đoạn thẳng ( theo mức độ yêu cầu của lớp 3)
2.1.2 Nội dung
+ Lớp 1: Học sinh nhận biết:
Các hình giống nhau
Ví dụ: Hình vuông, hình tròn, hình tam giác…
Đếm đủ số hình khi cho sẵn số lượng cần nhận dạng
Trang 21Nhận biết góc vuông, góc không vuông
Nhận biết điểm ở giữa Trung điêm của đoạn thẳng
Nhận biết hình tròn, tâm, đường kính, bán kính của hình tròn
Nhận biết hình chữ nhật, hình vuông
2.2 Các bài tập về nhận dạng hình hình học ở các lớp 1,2,3
2.2.2 các hình học được tri giác như là một “toàn thể” gắn liền với hình dạng của chúng,chưa chú ý đến việc phân tích các thành phần và đặc điểm của hình
Dạng bài tập này chủ yếu ở lớp 1 và lơp 2
Ví dụ 1 khi học bài nhận biết về hình tam giác: biển giao thông, lá cờ…để giới thiệu cho học sinh Đối với bài này không cần phải giới thiệu về đặc điểm của hình mà chỉ cần nhấn mạnh đây là hình tam giác
Ví dụ 2 giới thiệu về "hình vuông” Giáo viên đưa ra những hình ảnh ,vật mẫu có dạng như hình vuông: cái bánh trưng… và giới thiệu đây là hình vuông
Ví dụ 3 hình chữ nhật Cũng tương tự như trên, giáo viên đưa ra các vật mẫu có hình dạng như hình chữ nhật: quyển sách,mặt bảng…và giới thiệu
đó là hình chữ nhật
Ví dụ 4 Giới thiệu “hình tròn” Giáo viên chỉ cần giới thiệu một cách
“tổng thể” đó là cũng đưa ra những hình ảnh,vật có hình dạng như hình tròn: quả bóng và giới thiệu đó là hình tròn
2.2.3 Các hình hình học được nhận biết theo đặc điểm của hình
Dạng bài tập này chủ yếu ở lớp 3
a Nhận dạng hình hình học riêng lẻ
Bài tập 1: trong các hình dưới đây,hình nào là hình tam giác, hình nào là hình vuông, hình nào là hình chữ nhật?
Trang 23Bài giải:
Dạng bài tập này tương tự với bài trên Học sinh cũng dựa vào đặc
điểm của hình mà dễ dàng nhận ra được
Trang 24b, Nhận dạng hình học phân biệt trong mỗi hình vẽ có nhiều dạng khác
Có tất cả 7 hình tam giác đó là: ADE, AEG, AGI, IGB, GBC, ADG, AGB
c, Nhận dạng hình học có “phần tử chung” trong một cấu hình có nhiều hình hình học
V
Trang 25Bài tập 4: Tìm trên hình vẽ có tất cả mấy hình tam giác?
Bài giải:
Việc đếm số lượng các hình thường được tiến hành theo các bước sau:
Cách 1: Cho học sinh đánh số thứ tự vào các hình tam giác sau đó đếm
- Hình tam giác có ghi 1 số đó là: 1, 2, 3 có : 3 hình
- Hình tam giác ghi 2 số đó là: 1, 2 và 2, 3 có : 2 hình
- Hình tam giác có ghi 3 số đó là: 1, 2, 3 có :1 hình
Vậy có tất cả số tam giác là: 3 + 2 + 1 = 6 (hình tam giác)
Cách 2: Cho học sinh tô màu như hình vẽ
1 2 3
Trang 26+ Lần 1: Cho học sinh cắt rời thành 3 hình tam giác với 3 màu khác nhau như hình vẽ
Ta được 3 hình tam giác
+Lần 2: Cho học sinh ghép đôi một theo thứ tự như hình vẽ đó là (vàng, đỏ và
đỏ, xanh)
Đỏ xanh
Ta được 2 hình tam giác
+Lần 3: Ghép 3 hình tam giác đó lại theo thứ tự đó là vàng, đỏ, xanh
Đỏ
Vàng đỏ
Vàng đỏ xanh