1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh tế nông nghiệp huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến năm 2009

74 644 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng nói trên, kinh tế nông nghiệp huyện Lập Thạch đã có bước phát triển vững mạnh, bộ mặt kinh tế - xã hội có nhiều thay đổi, đời sống nhân dân được cải

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TS BÙI NGỌC THẠCH

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo trong khoa

Lịch sử, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã dạy dỗ, chỉ bảo và truyền đạt

kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường cũng như trong quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp này

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS Bùi Ngọc Thạch đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện khoá luận tốt nghiệp này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những người thân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này

Trong quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp, do thời gian có hạn và bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học nên không thể tránh khỏi những thiếu xót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy giáo,

cô giáo và các bạn sinh viên

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người thực hiện

Nguyễn Thị Thu

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài khóa luận này là do sự cố gắng, nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu của bản thân với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo TS Bùi Ngọc Thạch

Công trình này không trùng lặp với các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác

Người thực hiện

Nguyễn Thị Thu

Trang 4

MỤC LỤC

Mở đầu 1

Chương 1: Khái quát kinh tế nông nghiệp huyện Lập Thạch trước năm 1986 6

1.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư và truyền thống sản xuất nông nghiệp của nhân dân huyện Lập Thạch 6

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 6

1.1.2 Điều kiện dân cư 9

1.1.3 Truyền thống sản xuất nông nghiệp của nhân dân huyện Lập Thạch 12

1.2 T×nh h×nh kinh tÕ n«ng nghiÖp huyÖn LËp Th¹ch tríc n¨m 1986 17

1.2.1 Kinh tÕ c«ng th¬ng nghiÖp, thñ c«ng nghiÖp 17

1.2.2 Thùc tr¹ng kinh tÕ n«ng nghiÖp 18

Chương 2: Kinh tế nông nghiệp huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc trong thời kì đổi mới từ năm 1986 đến năm 2009 23

2.1 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp trong thời kì đổi mới của huyện Lập Thạch 23

2.1.1 Đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng ta 23

2.1.2 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc và huyện Lập Thạch 25

2.2 Thành tựu phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Lập Thạch trong thời kì đổi mới (1986 - 2009) 33

2.2.1 Ngành trồng trọt 33

2.2.2 Ngành chăn nuôi 38

2.3 Hạn chế của kinh tế nông nghiệp huyện Lập Thạch trong thời kì đổi mới 41

Trang 5

2.3.1 Quá trình đô thị hoá 41

2.3.2 Sự bùng nổ dân số 42

2.3.3 Sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi gặp nhiều khó khăn 44

2.3.4 Việc áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật còn hạn chế 46

Chương 3: Đặc điểm và vai trò của kinh tế nông nghiệp huyện Lập Thạch trong thời kì đổi mới (1986 - 2009) 48

3.1 Đặc điểm 48

3.1.1 Sản xuất nông nghiệp đã được chú trọng đầu tư nhưng chưa đồng bộ, hợp lí 48

3.1.2 Diện tích nông nghiệp bị thu hẹp, đời sống nông dân còn nhiều khó khăn 50

3.1.3 Sản xuất nông nghiệp mang tính chất tự thu, tự tiêu, thị trường khó khăn 51

3.2 Vai trò 52

3.2.1 Nông nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội của huyện Lập Thạch 52

3.2.2 Là cơ sở để phát triển kinh tế công thương nghiệp và thủ công nghiệp của huyện Lập Thạch 53

3.2.3 Đảm bảo đời sống nhân dân, ổn định xã hội, tăng cường thế trận an ninh quốc phòng 56

3.3 Một số biện pháp tổ chức sản xuất nông nghiệp những năm tới 57

Kết luận 59

Tài liệu tham khảo 60

Phụ lục 63

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nông nghiệp là một ngành kinh tế có vai trò, vị trí hết sức quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, là cơ sở để phát triển công nghiệp, cung cấp nguyên liệu, lương thực cho công nghiệp, tiêu thụ hàng hóa cho công nghiệp, đồng thời góp phần đảm bảo an ninh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân

Để xây dựng một nền kinh tế nông nghiệp vững mạnh, Đảng ta chủ trương: Đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân, đồng thời phải phát triển toàn diện nông nghiệp, chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng nói trên, kinh tế nông nghiệp huyện Lập Thạch đã có bước phát triển vững mạnh, bộ mặt kinh tế - xã hội có nhiều thay đổi, đời sống nhân dân được cải thiện, nâng cao Tuy nhiên, nhiều khó khăn, thách thức cũng đang đặt ra cho huyện Lập Thạch cần phải khắc phục như: Vấn đề đô thị hoá, vấn đề dân số, vấn đề chuyển đổi cơ cấu sản xuất, vật nuôi, cây trồng, vấn đề dịch bệnh, ô nhiễm môi trường,…

Việc tìm hiểu, nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp huyện Lập Thạch trong thời kì đổi mới có ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc:

Về mặt lí luận, góp phần làm sáng tỏ đường lối đổi mới của Đảng về kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng, đồng thời làm rõ mối quan

hệ giữa kinh tế nông nghiệp với các ngành kinh tế khác Mặt khác, nghiên cứu vấn đề trên còn làm sáng tỏ các vấn đề đầu tư, kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế,…

Về mặt thực tiễn, nghiên cứu về vấn đề này nêu rõ những thành tựu mà huyện Lập Thạch đã đạt được trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp,

Trang 7

những tiến bộ trong việc cải tiến công tác quản lí, cơ cấu giống cây trồng, nâng cao năng suất lao động; những khó khăn, hạn chế về kinh tế - xã hội ở huyện Lập Thạch đang đặt ra cần phải giải quyết

Trong vấn đề này có ý nghĩa to lớn, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp huyện Lập Thạch trong thời kì đổi mới Do đó, việc nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp huyện Lập Thạch trong thời kì đổi mới là yêu cầu rất cần thiết Trên cơ sở đó, tôi quyết định lựa chọn vấn đề: “Kinh tế nông nghiệp huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc trong thời kì đổi mới từ năm 1986 đến năm 2009” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Kinh tế nông nghiệp đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều học giả trong nước và ngoài nước Trước hết phải kể đến cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ huyện Lập Thạch, tập III”, do Đảng bộ huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xuất bản năm 2000 Nó đề cập đến nhiều vấn đề về kinh tế - xã hội nói chung ở huyện Lập Thạch từ năm 1976 đến năm 2000, trong đó kinh tế nông nghiệp được giới thiệu một cách khái quát

Tiếp đến là cuốn sách “Lập Thạch anh hùng”, do Huyện uỷ - Hội đồng nhân dân - Uỷ ban nhân dân huyện Lập Thạch xuất bản năm 2002 và cuốn sách “Địa chí huyện Lập Thạch”, do Huyện uỷ - Hội đồng nhân dân - Uỷ ban nhân dân huyện Lập Thạch xuất bản năm 2005 Lĩnh vực nông nghiệp của huyện được nói đến như: truyền thống sản xuất nông nghiệp, một số thành tựu trong sản xuất nông nghiệp đạt được từ năm 2000 đến năm 2005…

Đặc biệt, qua cuốn sách của TS Đặng Kim Sơn (2008),“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Cuốn sách đã nêu lên thực trạng các vấn đề về nông nghiệp,

Trang 8

nông dân, nông thôn Việt Nam hiện nay; những thành tựu cũng như những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại

Bên cạnh đó, trên các Tạp chí Nghiên cứu Lịch Sử, Tạp chí Kinh tế - xã hội, Báo Vĩnh Phúc qua các năm cũng đăng tải nhiều bài viết về nhiều khía cạnh khác nhau của kinh tế nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc trong đó có huyện Lập Thạch

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu riêng về lĩnh vực kinh tế nông nghiệp của huyện Lập Thạch Vì vậy, việc nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp huyện Lập Thạch trong thời kì đổi mới từ năm 1986 đến năm 2009 là vấn đề rất cần thiết

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Khoá luận dựng lại bức tranh lịch sử tương đối đầy đủ, khách quan về kinh tế nông nghiệp huyện Lập Thạch trong thời kì đổi mới từ năm 1986 đến năm 2009

Nêu bật thành tựu và hạn chế của kinh tế nông nghiệp huyện Lập Thạch trong thời kì đổi mới Đồng thời, rút ra đặc điểm, vai trò và bài học kinh nghiệm của kinh tế nông nghiệp Lập Thạch trong thời kì đổi mới từ năm 1986 đến nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày cơ sở, điều kiện tự nhiên của huyện Lập Thạch trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp

- Nêu rõ những thành tựu, hạn chế trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Lập Thạch trong thời kì đổi mới từ năm 1986 đến năm

2009

- Rút ra đặc điểm và vai trò của kinh tế nông nghiệp ở huyện Lập Thạch trong thời kì đổi mới từ năm 1986 đến năm 2009

Trang 9

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Khoá luận khai thác các nguồn tư liệu:

- Tài liệu thông sử như: Đảng bộ huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (2000), “Lịch sử Đảng bộ huyện Lập Thạch ” 3 tập; Huyện uỷ - Hội đồng nhân dân - Uỷ ban nhân dân huyện Lập Thạch (2005), “Địa chí huyện Lập Thạch” ; Đào Duy Anh (2005), “Đất nước Việt Nam qua các đời”, NXB Văn hoá thông tin;…

- Tài liệu chuyên sâu như: Huyện uỷ - Hội đồng nhân dân - Uỷ ban nhân dân huyện Lập Thạch (2002), “Lập Thạch anh hùng”; Tạp chí; Báo Vĩnh Phúc…

Ngoài ra, khoá luận còn khai thác các nguồn tài liệu lí luận, tài liệu thông số, tài liệu các Văn kiện, Báo cáo chính trị, Nghị quyết, Tổng kết của các kì Đại hội Đảng bộ tỉnh, huyện Lập Thạch từ năm 1986 đến nay

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Khoá luận nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh

Kết hợp giữa phương pháp lịch sử với phương pháp lôgíc, trong đó

phương pháp lịch sử là chủ yếu

Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng phương pháp như: Sưu tầm, thu thập,

xử lý tư liệu, thống kê, phân tích và đối chiếu so sánh để xác minh sự kiện, nội dung lịch sử

Trang 10

Khóa luận phản ánh thực trạng nền kinh tế nông nghiệp của huyện Lập Thạch trong thời kì đổi mới từ năm 1986 đến năm 2009 và tác động của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội ở huyện Lập Thạch hiện nay

Trang 11

Chương 1 KHÁI QUÁT KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN LẬP THẠCH TRƯỚC NĂM 1986

1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN CƯ VÀ TRUYỀN THỐNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Lập Thạch là một huyện miền núi của tỉnh Vĩnh Phúc Có vị trí chiến lược quan trọng: Phía Bắc giáp huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang, phía Đông Bắc giáp huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, phía Đông và Đông Nam giáp với huyện Tam Dương và Vĩnh Tường, phía Tây giáp huyện Phù Ninh, phía Tây Nam giáp với thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ [20, tr.13]

Với vị trí này, huyện Lập Thạch nằm trong tọa độ là từ 105°30′ đến 105°45′ kinh độ Đông và 21°10′ đến 21°30′ vĩ độ Bắc

- Điểm cực Bắc tại xã Đạo Trù, nằm trên vĩ tuyến 21°30′ Bắc

- Điểm cực Nam tại xã Sơn Đông, nằm trên vĩ tuyến 21°10′ Bắc

- Điểm cực Tây tại xã Bạch Lưu, nằm trên kinh tuyến 105°30′ Đông

- Điểm cực Đông tại xã Đạo Trù, nằm trên kinh tuyến 105°45′ Đông

Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 41205,8 ha (chiếm 30% diện tích tỉnh Vĩnh Phúc), trong đó:

- Đất nông nghiệp là 16.796,57 ha chiếm 40,30% diện tích đất tự nhiên - Đất lâm nghiệp là 13.228,44 ha chiếm 31,80% diện tích đất tự nhiên

- Đất chuyên dùng là 4.261,58 ha chiếm 10, 20% diện tích đất tự nhiên

- Đất ở là 939,14 ha chiếm 2,30% diện tích đất tự nhiên

- Đất chưa sử dụng và sông, suối, núi đá là 6.396,75 ha chiếm 15,40% diện tích đất tự nhiên

Tính đến năm 2004, huyện Lập Thạch có 1 thị trấn và 38 xã

Trang 12

Với vị trí địa lý và diện tích đất đai như trên Lập Thạch là vùng đất có điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp về mọi mặt, giao lưu buôn bán với các vùng khác trong cả nước Đồng thời, đây là nơi hội tụ của nhiều loại động vật, thực vật khác nhau tạo ra hệ sinh thái đa dạng, phong phú về giống loài Lập Thạch cũng là nơi thiên di của nhiều dân tộc khác nhau đến sinh sống, vì thế đã diễn ra quá trình giao thoa giữa các nền văn hóa làm cho nền văn hóa ở Lập Thạch đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc

Lập Thạch là một huyện miền núi nên có địa hình khá phức tạp, xen kẽ

gò đồi là những dải ruộng hẹp, khe lạch, núi non, làng mạc Khái quát địa hình Lập Thạch có thể chia ra làm 3 vùng chính là: Vùng núi, vùng đất giữa

và vùng đất trũng Lập Thạch còn là huyện có cấu tạo địa tầng cổ nhất ở tỉnh Vĩnh Phúc Khu vực xung quanh núi Sáng và các xã Quang Sơn, Hợp Lí, Bắc Bình, Liễn Sơn, ở hữu ngạn sông Phó Đáy có hàng chục km2 độ tuổi Đại nguyên sinh Vùng ven rìa trước núi Tam Đảo thuộc xã Đạo Trù có độ tuổi Đại trung sinh Chính bởi thế, mà huyện Lập Thạch nằm trên một địa tầng rất vững vàng, rất cổ xưa nơi trẻ nhất cũng cách ngày nay trên 200 triệu năm

Chính những yếu tố địa hình và cấu tạo địa tầng đã làm cho huyện Lập Thạch là nơi tập trung nhiều loại khoáng sản mà chủ yếu là các loại phi kim làm vật liệu xây dựng như:

- Than bùn: Có ở Văn Quán, Đồng Ích, Đầm Đông, Đồng Thịnh… có tổng trữ lượng khoảng vài nghìn tấn

- Sét gạch ngói: Có ở Long Cương, thị trấn Lập Thạch có trữ lượng khoảng 32 triệu m3

- Đá ốp lát: Có ở Núi Sáng, Quang Yên… chưa tính ra trữ lượng

- Cremrit (loại sét làm vật liệu nhẹ trong xây dựng): Có ở thị trấn Lập Thạch, Tử Du,…

Trang 13

- Cát cuộn sỏi: Có ở sông Lô, sông Phó Đáy thuộc xã Triệu Đề, xã Cao Phong,…

- Mica: Đồng Quế, Lãng Công

- Đá mĩ nghệ và đá xây dựng: Có ở Hải Lựu, Bạch Lựu

Nguồn khoáng sản vô cùng phong phú đó là cơ sở để Lập Thạch phát triển các ngành công nghiệp

Lập Thạch có rất nhiều sông suối và hồ lớn mà tiêu biểu là sông Phó Đáy và sông Lô Hai con sông này hàng năm đã cung cấp một khối lượng phù

sa lớn bồi đắp cho các vùng đồng bằng ở Lập Thạch thêm màu mỡ, tạo điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp về mọi mặt Đồng thời, hai con sông này còn cung cấp thực phẩm quan trọng cho đời sống của nhân dân trong vùng đó

là các loại tôm, cá, cua…

Hơn nữa, Lập Thạch lại là nơi tiếp giáp giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam nên có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều vào mùa hè và khô hanh vào mùa đông Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22°c - 23°c (nhiệt độ cao nhất vào các tháng 6, 7, 8 và lạnh nhất vào tháng 12, 1, 2)

Số giờ nắng trung bình vào mùa hè là 6 - 7 giờ/ngày, mùa đông từ 3 - 4 giờ/ngày, tổng số giờ nắng trung bình hàng năm là 1450 - 1550 giờ Lượng mưa trung bình hàng năm ở Lập Thạch là 1500 - 1800 mm

Nguồn thủy văn và khí hậu ấy là điều kiện thuận lợi cho người dân nơi đây tiến hành sản xuất nông nghiệp với nhiều loại cây trồng, vật nuôi rất đa dạng, phong phú về giống loài

Những yếu tố về vị trí địa lý, đặc điểm địa hình, khí hậu, thủy văn nêu trên đã làm cho Lập Thạch là nơi hội tụ của nhiều loài động, thực vật khác nhau đến sinh sống

Về thực vật: Trên các cánh rừng đại ngàn, thực vật tạo thành tầng tầng lớp lớp với rất nhiều loại cây quý hiếm như: Lim, chẹt, trò chỉ, muồng đen,

Trang 14

sấu, de hương… Dưới tán cây cổ thụ là lớp cây dây leo cho quả như: Gắm, nắm cơm, cùng với các loại chuối rừng, sa nhân đến rừng giang, rừng nứa, rừng rặt, rừng vầu, song mây Tất cả tạo thành thảm thực vật dày đặc giữ cho đất đỡ bị xói mòn vào mùa mưa, đồng thời giữ độ ẩm và tạo nguồn sinh thủy trong những tháng mùa khô

Về động vật: Với thảm thực vật phong phú nêu trên động vật rừng ở Lập Thạch cũng khá phong phú Lớp thú gồm có: Hổ, lợn rừng, cheo cheo, cáo, nhím, cầy hương, hoẵng, voi, khỉ, culi, sóc đỏ bụng… Lớp chim thì có rất nhiều loài như: Gà rừng, bìm bịp, cò trắng, cò lửa, cò vằn, khướu, họa mi,

gõ kiến, tu hú, vàng anh, yểng… Lớp bò sát có: Tắc kè, kì đà, các loài rắn, thằn lằn, trăn gió, ba ba, rùa vàng…

Với thảm thực vật và động vật phong phú và đa dạng như trên là điều kiện thuận lợi để cư dân Lập Thạch phát triển ngành du lịch sinh thái Hiện nay, rừng cò ở Hải Lựu đã trở thành điểm du lịch sinh thái hấp dẫn của Lập Thạch

Như vậy, ta có thể thấy vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ở Lập Thạch khá thuận lợi cho sự sinh sống của con người Bên cạnh những điều kiện thuận lợi trên, thiên nhiên Lập Thạch cũng khá khắc nghiệt, hàng năm nơi đây thường xảy ra lũ lụt vào mùa mưa, hạn hán vào mùa khô; địa hình thì rất đa dạng xen kẽ đồng bằng là gò đồi và núi nên việc sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Vì thế, để tồn tại và phát triển cư dân Lập Thạch phải không ngừng cải tạo và làm chủ thiên nhiên

1.1.2 Điều kiện dân cư

Ngay từ xa xưa Lập Thạch là vùng núi cao, rừng rậm, có vị trí địa lý đặc biệt là nơi tiếp giáp với đỉnh của tam giác đồng bằng châu thổ sông Hồng, đất đai ở Lập Thạch màu mỡ, rừng lại có nhiều lâm sản quý, giao thông đường thủy thuận lợi… nên ở Lập Thạch sớm có sự sinh sống của con người

Trang 15

Dân cư Lập Thạch có nhiều nguồn gốc khác nhau Trước hết là người Việt cổ cư trú ở Lập Thạch từ hàng ngàn năm trước Vào cuối năm 1964 đầu năm 1965, tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành (đợt 1) “Kiểm kê phổ thông di tích lịch sử”, ngành Khảo cổ học đã xác định ở Lập Thạch có di chỉ thời đại đồ đá mới ở xã Đôn Nhân, thôn Đồng Xuân xã Xuân Hòa tại hai di chỉ đó đã tìm thấy những lưỡi rìu bằng đá của người Việt cổ Điều đó đã khẳng định, người Việt cổ đã cư trú ở Lập Thạch từ hàng ngàn năm nay

Từ cuối thế kỉ thứ II đến đầu thế kỉ I trước Công nguyên trở về sau, dân

cư Lập Thạch đã có nhiều biến đổi qua các thời kì, do các cuộc chiến tranh một bộ phận dân cư bị phiêu tán cũng như do vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

có nhiều thuận lợi, nhất là đất đai phì nhiêu, sản xuất nông - lâm nghiệp có điều kiện phát triển nhanh trong khi đó dân cư thưa thớt nên nguồn nhập dân

cư nhập vào vùng đất Lập Thạch ngày càng nhiều

Theo truyền thuyết và thần phả ở một số đình làng ven sông Lô phía Tây Bắc huyện vào cuối thế kỉ thứ II, đầu thế kỉ thứ I trước Công nguyên, Thừa tướng Lữ Gia (cha là người Hán - Trung Quốc, mẹ là người Việt) của nhà Triệu không chịu thuần phục nhà Hán đã bị quan quân nhà Hán đánh bại

Lữ Gia đã chọn con đường hướng Nam, nương nhờ dân Âu Lạc Ông đã đưa quan quân cùng thân tộc về xây dựng căn cứ ở vùng Tây Bắc Lập Thạch (các

xã Bạch Lựu, Hải Lựu, Quang Yên, Nhân Đạo ngày nay) rồi chung sống, đồng hóa với nhân dân địa phương

Những năm đầu thế kỉ I sau Công nguyên, nổ ra cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40 - 43) chống quân xâm lược nhà Hán, vùng đất Lập Thạch là một trong những căn cứ rộng lớn của cuộc khởi nghĩa Ở vùng Đông Bắc huyện có các căn cứ và địa bàn hoạt động của nghĩa quân do các thủ lĩnh chỉ huy như: Đạo Trù có bà Chúa Bầu; ở xã Hợp Lý có ba anh em Nguyễn Trĩ, Nguyễn Tuấn, Nguyễn Lĩnh; ở Thái Hòa có vợ chồng ông Nguyễn Tuấn bà

Trang 16

Thục Nương; ở thôn Thản Sơn xã Liễn Sơn có bà Quế Lan (thường gọi là Quý Lan Nương)

Bản anh hùng ca ngắn ngủi của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau ba năm được giải phóng đất nước ta lại bị bọn phong kiến phương Bắc đô hộ Sau cuộc khởi nghĩa này, nhiều nghĩa quân của các thủ lĩnh của Hai Bà Trưng

đã ở lại trên đất Lập Thạch và đồng hóa với dân bản địa

Thế kỉ XIII - XIV, nhiều vương hầu, công chúa của nhà Trần được phong đất ở các nơi như quan Tư đồ Trần Nguyên Đán đã đem con cháu, nô

tì, nông nô lên nhập điền trang ở Bạch Hạc (Vĩnh Tường) rồi sau lập điền trang tại thôn Đa Cai (xã Sơn Đông) ngày nay Vì vậy, dân cư Lập Thạch thời

kì này tăng lên nhanh chóng

Vào những năm 20 của thế kỉ XVII, dân tộc Cao Lan (còn có tên là Sán Chay) là một dân tộc nhỏ bé sống tập trung ở tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc)

bị nhà Minh đàn áp, bóc lột, đói rách, cực khổ đã tìm đường sang Việt Nam (năm 1624), lúc đầu họ ở Móng Cái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên… Quá trình làm ăn sinh sống lâu đời được nhân dân ở các địa phương đùm bọc, giúp đỡ họ di cư sâu vào các tỉnh Bắc Giang, Yên Bái, Hòa Bình, Phú Thọ, Hà Tây, Vĩnh Phúc Đến cuối thế kỉ XIX, người Cao Lan nhập cư vào Lập Thạch tập trung thành các thôn bản tại xã Quang Yên

Cuối thế kỉ XVII đời nhà Thanh (Trung Quốc) người Sán Dìu (còn gọi

là dân tộc Trại hay Mán quần cộc…) ở Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) vì không chịu nổi ách áp bức dã man của bọn phong kiến thống trị họ

đã nổi dậy đấu tranh và bị đàn áp tan cửa, nát nhà, bản làng bị thiêu dụi, phiêu bạt khắp nơi Số người sống xót đã tập trung lại và tìm đường sang Việt Nam sinh sống tại xã Đạo Trù - Lập Thạch

Trang 17

Năm 1898, có trên 100 người đủ mọi lứa tuổi cả nam lẫn nữ thuộc dân tộc Dao (Mán quần chẹt) từ tỉnh Hòa Bình nhập cư vào Lập Thạch đã lập lên bản người Dao ở thôn Thành Công xã Lãng Công

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ nhân dân Lập Thạch cùng với nhân dân cả nước tiến hành 2 cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954) và chống Mĩ (1954 - 1975) giành lại độc lập, tự do hoàn toàn cho dân tộc, thống nhất nước nhà Và trong suốt quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, công cuộc đổi mới hôm nay dân cư ở Lập Thạch tăng nhanh về số lượng Tuy nhiên, thành phần dân cư chính của Lập Thạch cho đến nay vẫn bao gồm 4 dân tộc là: Kinh, Cao Lan, Sán Dìu và Dao Trong đó, người Kinh là thành phần chủ yếu, chiếm khoảng 93,2% dân số toàn huyện

Ngoài 4 dân tộc chính trên, Lập Thạch còn là nơi cư trú, sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số khác như: Tày, Nùng, Thái, Hoa,… [20, tr.22-26]

Tất cả các dân tộc ấy sinh sống hòa hợp với nhau, tạo ra một cộng đồng dân cư ổn định và thống nhất trên vùng đất Lập Thạch

1.1.3 Truyền thống sản xuất nông nghiệp của nhân dân huyện Lập Thạch

Lập Thạch là vùng đất tối cổ nằm liền kề đỉnh tam giác của đồng bằng Bắc Bộ, từ ngàn đời nay người dân Lập Thạch sống chủ yếu bằng nghề nông

và luôn được thừa hưởng một nền nông nghiệp truyền thống của tổ tiên truyền lại với những giống cây, con bản địa rất phong phú về chất lượng và loài Nhìn chung, đất đai, khí hậu, nguồn nước ở Lập Thạch thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt

Từ năm 60 của thế kỉ XX đến nay, nhất là từ thời kì đổi mới nhờ phát minh của khoa học kĩ thuật, cộng với bản chất cần cù, chịu thương, chịu khó

áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật và những kinh nghiệm trong công

Trang 18

tác, chăn nuôi cổ truyền, với những giống cây, con bản địa mà ông cha để lại

đã đưa năng suất các loại cây lương thực, thực phẩm, các loại gia cầm, gia súc, các giống thuỷ sản lên cao góp phần xoá đói giảm nghèo, thúc đẩy sản xuất, nâng cao đới sống sản xuất, nâng cao đời sống cho người dân mà hàng đầu là cây lúa và một số cây lương thực điển hình

Người nông dân Lập Thạch đã tiếp thu cách canh tác lúa nước cùng các cây, con vào địa phương như sau:

 Ngành trồng trọt

- Cây lương thực: Lúa là một loại cây lương thực được con người sử dụng từ lâu, việc tìm hiểu cây lúa cổ đến nay vẫn còn những bí ẩn Theo các nhà nghiên cứu văn hoá, các nhà khảo cổ học và các nhà khoa học nghiên cứu

về nông nghiệp thì cây lúa ở Việt Nam là cây bản địa, có nguồn gốc từ Hoà Bình, được con người phát hiện từ thời hái lượm đem về trồng cấy, chăm sóc, thuần hoá, trở thành những giống lúa truyền thống đến tận ngày nay Thời kì đầu là giống lúa hoang dại, mọc tự nhiên, sau đó người dân đem về gieo trồng, thuần hoá và phát triển rộng rãi đã trở thành cây nông nghiệp chính

Trong thế kỉ XX, người ta đã tìm thấy than của lúa ở nhiều nơi, trong

đó ở Đồng Đậu (Yên Lạc - Vĩnh Phúc) Những năm 50, nhiều nơi trong huyện Lập Thạch vẫn trồng những giống lúa cả nếp và tẻ có lớp vỏ chấu và cám dày, đầu hạt lúa có lông cứng, gân của vỏ chấu nổi rõ

Đất canh tác và ruộng ở Lập Thạch: Lập Thạch ở thể bán sơn địa, có độ cao phía Tây Bắc thấp dần về phía Nam, xen giữa khu ruộng là đồi gò và các làng mạc Các sông suối chủ yếu bắt nguồn từ dãy núi Sáng chạy qua nhiều làng xóm đồi nương đổ ra hai con sông Lô và sông Phó Đáy rất thuận lợi cho việc đắp các phai đập ngăn dòng chảy lấy nước vào đồng ruộng để canh tác

Đất canh tác ở Lập Thạch có thể chia ra làm 5 loại:

+ Nương: Được khai phá ở đồi và núi

Trang 19

+ Ruộng dộc: Loại ruộng được vỡ hoang nằm giữa hai khu đồi hoặc chân núi nối liên tiếp với nhau có thế bậc thang thấp

+ Ruộng giữa: Là những khu nằm dưới ruộng dộc, tương đối bằng phẳng bao lấy các đồi và làng mạc, có ao hồ xen lẫn, 1 năm cấy 2 vụ

+ Ruộng chiêm: Là những vùng đồng thấp ở phía Nam huyện, hàng năm bị ngập từ tháng 5 đến tháng 9 nên chỉ cấy được 1 vụ chiêm

+ Ruộng lầy: Thường nằm dưới các chân núi, chân đồi, rừng do có những mạch nước chảy ngầm gặp khe nứt phun lên làm cho đất phía dưới nhão thành bùn, phía trên mặt có vỏ cây đan xen và nắng chiếu vào làm săn lại, đất ở thế bùng nhùng

+ Đất soi: nằm ở ven các con sông là vùng đất lộ ra về mùa cạn Loại đất phù sa pha cát rất tốt nên người ta thường trồng ngô, rau, khoai lang Mùa cạn ở giữa dòng sông nổi lên những cồn đất gọi là bãi soi

Những kinh nghiệm dân gian được nhân dân Lập Thạch sử dụng để canh tác nghề lúa:

Do gắn cả cuộc đời với mảnh đất, cây lúa, với thiên nhiên, người nông dân Lập Thạch đã rút ra những kinh nghiệm làm nghề nông, để cho dễ nhớ và

áp dụng trong canh tác họ đã chuyển thành những câu nói có vần điệu, những câu tục ngữ:

Khoai đất lạ, mạ đất quen

Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống

Công cấy là công bỏ, công làm cỏ là công ăn

Thứ nhất cày ải, thứ nhì giải phân…

Những giống lúa cổ truyền đã trồng trên đồng ruộng Lập Thạch: Lập Thạch đã trồng các giống lúa truyền thống với thời gian rất dài theo 2 vụ chiêm, mùa Vụ chiêm có: Chiêm tép, chiêm tranh, chiêm giang, chiêm cút, chiêm bầu, chiêm trắng… Nếp chiêm có: Nếp ngoi, nếp đỏ, nếp vàng Vụ

Trang 20

mùa lúa tẻ có:Tám lùn, tám cao cây, tám xoan… Nếp mùa có: Nếp cẩm, nếp cái, nếp hoa vàng Lúa trồng trên nương: Nếp nương, gié đồi, lúa lốc

Một số giống lúa đặc sản như: Nếp cẩm, tám xoan, nếp cái, nếp hoa vàng Đó là những giống lúa được coi như giống bản địa của Lập Thạch từ năm 1960 trở về trước

Từ năm 1968 đến cuối những năm 1980, ta nhập từ nước ngoài một số giống lúa, các nhà khoa học đã lai tạo được một số giống lúa mới như: IR 8 với đặc tính thấp cây chịu nước, được trồng ở đồng ruộng Lập Thạch một thời gian dài Năm 1990 đến nay, ta nhập một số giống lúa như: Bao thai, mộc tuyền, khang dân… Đặc biệt, những năm gần đây các giống lúa mới được trồng rộng rãi trên đồng ruộng Lập Thạch như: Khang dân, Q5, các giống dài ngày có: Xi21, Xi23, NX30, DT10 đều phù hợp đồng chiêm trũng , đưa năng suất lúa ở Lập Thạch từ 30 - 42 tạ/ha

- Cây hoa màu:

+ Cây ngô: Là cây lương thực có vị trí đứng sau cây lúa, thuộc loại cây lương thực ngắn ngày Ngô dùng để chế biến thực phẩm, lương thực cho con người và chăn nuôi, ngô giàu chất dinh dưỡng có lượng tinh bột cao Trước năm 1980, Lập Thạch chỉ trồng ngô nếp và ngô tẻ là những cây ngô truyền thống ở địa phương ăn ngon nhưng năng suất thấp, chỉ đạt trung bình 90 kg/sào

Ngô được trồng trên núi, đồi, ruộng cao, soi, bãi sông đều được Trước đây, trên đất Lập Thạch thường trồng hai vụ ngô là vụ xuân và vụ hè trồng nhiều ở đất bãi ven sông Sau này những giống ngô mới được đưa vào trồng ở Lập Thạch đó là: TSB2, TSB49, P11… Nhìn chung, các giống ngô này đều cho năng suất cao

+ Cây sắn: Thuộc loại cây dài ngày, Lập Thạch là huyện trồng nhiều sắn nhất tỉnh Vĩnh Phúc Sắn là loại cây lương thực quan trọng trong đời sống

Trang 21

con người Sắn cho củ tinh bột, sắn vừa là cây lương thực vừa là cây công nghiệp Các loại sắn truyền thống ở Lập Thạch gồm: Sắn ta, sắn huế, sắn trắng, sắn nghệ vàng, sắn chuối… từ năm 1960 có thêm sắn dù Sắn được trồng trên đồi, chân núi

+ Khoai: Các giống khoai ở Lập Thạch từ xa xưa là khoai lang, khoai

sọ thuộc giống cây lương thực vừa ngắn ngày vừa dài ngày

+ Một số cây công nghiệp thực phẩm: Cây lạc, cây vừng Cây chè, cây dâu tằm đều thuộc giống cây công nghiệp

- Các loại rau: Phong phú về chất lượng và số lượng hội tụ gần đầy đủ các loại rau có ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ trong cả 4 mùa Rau vụ đông: Cải bắp, cải củ, cải thìa, cải canh, súp lơ, su hào, xà lách, dưa chuột… Rau vụ thu hè: Rau dền, rau muống, rau đay, rau mồng tơi… Có loại trồng hai vụ: Húng chó, lá lốt, tía tô, xương sông… Rau dễ trồng, chiếm vị trí quan trọng đời sống con người

- Các loại cây ăn quả: Lập Thạch có nhiều giống, nhiều loài như: Cây tai chua, trám, hồng xiêm, vải thiều… Ở Lập Thạch 4 mùa đều có các loại quả phục vụ con người

 Chăn nuôi:

Cũng như cây lúa, cây hoa màu, cây ăn quả, rau xanh, chăn nuôi là nghề chính không thể thiếu đối với người dân Lập Thạch Sản phẩm của chăn nuôi phục vụ thiết thực cuộc sống và mang lại lợi nhuận khá cao cho người dân Các loài động vật hiện nay có: Trâu, bò, lợn gà, ngan, vịt… rất phong phú [20, tr.152-162]

Như vậy, ở Lập Thạch các giống cây trồng và vật nuôi rất đa dạng, có truyền thống sản xuất lâu đời Bên cạnh những giống cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc bản địa còn có cả những giống lai tạo

Trang 22

1.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN LẬP THẠCH TRƯỚC NĂM 1986

1.2.1 Kinh tế công thương nghiệp, thủ công nghiệp

Lập Thạch là huyện thuần nông của tỉnh Vĩnh Phúc Ngoài nghề nông

ra người dân nơi đây còn có nhiều nghề thủ công truyền thống như: Nghề đan tre ở Triệu Xá (xã Triệu Đề), nghề đục đá ở Hải Lựu, nghề làm giát giường ở Hoàng Chung (xã Đồng Ích) Các sản phẩm như: Giát giường, thúng, mủng, nia, rổ, giá… được sản xuất từ các vùng này là những sản phẩm có chất lượng, đạt thẩm mĩ cao đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho gia đình Ngoài

ra, ở Lập Thạch còn nhiều nghề phụ gia đình như: Nghề rèn, mộc, nề… được làm vào lúc công việc đồng áng nhàn rỗi, đem lại nguồn thu nhập phụ cần thiết cho các gia đình

Trong thời kì kháng chiến chống Pháp, Lập Thạch là vùng tự do Trong thời kì này, Lập Thạch đón nhiều cơ quan của Đảng, Chính phủ, Tỉnh và huyện bạn về sơ tán tại địa phương Trong đó có nhiều cơ sở công nghiệp như: Xưởng quân giới (1948 - 1949), xí nghiệp in Trung ương (1948 - 1949), xưởng dệt Trung ương (1948 - 1953), sở bào chế thuốc Việt Bắc 1951 - 1952), nhà in Vĩnh Yên (1945) Các nghề thủ công ở địa phương như: Đan lát, thợ mộc… được khuyến khích phát triển đã đáp ứng một phần nhu cầu của nhân dân trong huyện và để đấu tranh kinh tế với địch

- Thời kì (1954 - 1965): Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, nhân dân Lập Thạch cùng với nhân dân miền Bắc bước vào cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp tuy có quy mô không lớn, trong 5 năm (1961 - 1965) toàn huyện có 12,5% số hợp tác xã có

tổ cải tiến nông cụ, trang bị cơ khí nhỏ cho các hợp tác xã nông nghiệp đạt 65% Hoạt động của các tiểu thủ công nghiệp chủ yếu phục vụ nhu cầu của

Trang 23

nhân dân địa phương, các nghề phụ trong gia đình hầu như không phát triển được

- Thời kì (1965 - 1975): Đây là thời kì sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cũng như nhiều ngành nghề kinh tế khác gặp nhiều khó khăn do chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mĩ Hai công trình được đưa vào sử dụng là nhà máy tinh bột Liễn Sơn có công suất 300 tấn/năm và xưởng cơ khí Lập Thạch Năm 1967, tỉnh đầu tư xây dựng xưởng mari và chế biến nông sản, ngoài ra còn chỉ đạo xây dựng 19 điểm cơ khí nhỏ trong các hợp tác xã nông nghiệp để sửa chữa và lắp ráp, cải tiến các công cụ sản xuất Tổng giá trị sản lượng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp năm 1967 đạt 2.870.014 đồng, so với năm 1965 tăng 33%

- Thời kì (1976 - 1985): Chiến tranh biên giới và mùa màng thất bát triền miên đã gây nhiều khó khăn về đời sống cho công nhân và thợ thủ công,

về cung cấp vật tư, nguyên liệu cho sản xuất Các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp phát huy làng nghề truyền thống địa phương, cố gắng sử dụng nguyên vật liệu tại chỗ, khai thác nguồn hàng, phát triển thêm ngành nghề góp phần giải quyết việc làm cho hành ngàn lao động như: Đan lát mây tre ở Triệu Đề, Văn Quán; đồ đá ở Hải Lựu; vôi ở Yên Thạch… nhờ đó, đời sống nhân dân ở các xã giảm bớt khó khăn [20, tr.190-192]

Như vậy, thời kì trước năm 1986 kinh tế công thương nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở Lập Thạch nhìn chung chưa phát triển Đời sống của công nhân, nông dân trong huyện còn gặp nhiều khó khăn

1.2.2 Thực trạng kinh tế nông nghiệp

 Kinh tế nông nghiệp đối với đời sống nhân dân huyện Lập Thạch trong

lịch sử

Nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng

Trang 24

chính và chăn nuôi đàn gia súc (nuôi trong nhà) Công việc nông nghiệp cũng được biết đến bởi những người dân, trong khi đó các nhà khoa học, những nhà phát minh thì cách cải tiến phương pháp, công nghệ và kĩ thuật để làm tăng năng suất cây trồng và vật nuôi

Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, đặc biệt là trong các thế kỉ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển và nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế

Nông nghiệp là tập hợp các phân ngành như: Trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch

Trong nông nghiệp có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:

- Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai: Là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hoá trong nông nghiệp sinh nhai

- Nông nghiệp chuyên sâu: Là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được môn hoá trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử các hoá chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hoá Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hoá bán ra trên thị trường hay xuất khẩu Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố

gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các

sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi

Nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống, loại sản xuất nông nghiệp chủ yếu tạo ra lương thực cho con người hay làm

Trang 25

thức ăn cho các con vật Các sản phẩm nông nghiệp hiện đại ngày nay ngoài lương thực, thực phẩm truyền thống phục vụ cho con người còn các loại khác như: Sợi dệt (sợi bông, sợi len, lụa, sợi lanh), chất đốt (mêtan, dầu sinh học… ), cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hoá học (tinh bột, đường, mì chính, cồn, nhựa thông), lai tạo giống, các chất nghiện cả hợp pháp và không hợp như (thuốc

lá, cocaine… )

Thế kỉ XX đã trải qua một sự thay đổi lớn trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sự cơ giới hoá trong nông nghiệp và ngành sinh hoá trong nông nghiệp Các sản phẩm sinh hoá nông nghiệp gồm các hoá chất để lai tạo, gây giống, các chất trừ sâu, diệt cỏ, diệt nấm, phân đạm

 Việc sử dụng ruộng đất và phát triển nông nghiệp qua các thời kì

tư bản chủ nghĩa

Tổng số ruộng đất bị bọn chúng chiếm giữ lên tới trên 2000 ha Vì vậy, người nông dân Lập Thạch phần lớn không có đất đã trở thành lao động làm thuê cho chủ đồn điền

- Thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1954): Trong thời kì này huyện Lập Thạch là căn cứ địa kháng chiến của toàn tỉnh, là hậu phương trực tiếp của chiến trường sau lưng địch Thực hiện chủ trương khôi phục sản xuất, đảm bảo nhu cầu lương thực cho kháng chiến Thi hành chủ trương của Hội đồng tạm cấp ruộng đất tỉnh, Lập Thạch đã chia toàn

bộ số ruộng đồn điền Rier ở Bắc Bình cho nông dân cày cấy Đồng thời hội

Trang 26

đồng giảm tô huyện đã chỉ đạo tốt việc giảm tô 25% theo sắc lệnh của Chính phủ đối với các chủ đồn điền Với phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, tập trung tu sửa hệ thống thuỷ lợi đảm bảo nước tưới cho sản xuất, trồng trọt Vận động nhân dân khai hoang vỡ dậm, tăng diện tích gieo trồng thực hiện “Tấc đất tấc vàng” khai phá đất đai, tranh thủ trồng lúa, màu, rau, đậu và chăn nuôi để tự túc một phần lương thực, cải thiện đời sống nhân dân

và phục vụ tiền tuyến Nhờ vậy, sản xuất nông nghiệp ở Lập Thạch đã có những bước tiến mới, đáp ứng nhu cầu lương thực cho nhân dân trong huyện

và góp phần giải quyết khó khăn cho lực lượng vũ trang Năm 1953, toàn huyện hoàn thành vượt mức 49.863 kg thóc thuế, đạt 110% kế hoạch, tăng hơn năm 1952 là 117 tấn

- Thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc (1955 - 1975):

Đại hội Đảng bộ huyện Lập Thạch xác định: Phải phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp theo hướng toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc, lấy sản xuất lương thực là khâu chính Trên cơ sở đó phát triển cây công nghiệp, chăn nuôi, nghề rừng cùng các ngành nghề phụ khác Mục đích để đưa Lập Thạch thoát khỏi cảnh nghèo đói, chủ động phòng chống thiên tai và hoàn thành kế hoạch nhà nước Để phục vụ sản xuất nông nghiệp trước hết phải tập trung xây dựng các công trình thuỷ lợi mang tính chiến lược như hệ thống đê điều

để ngăn nước sông mùa lũ, hệ thống hồ chứa nước trên cao có trữ lượng lớn

để khắc phục hạn hán, hệ thống kênh tưới tiêu phục vụ cho sản xuất Cùng với công tác thuỷ lợi, huyện còn chỉ đạo các hợp tác xã đẩy mạnh áp dụng các biện pháp kĩ thuật mới vào sản xuất như: Phân, giống và phòng trừ sâu bệnh, thực hiện thâm canh, tăng năng suất, tăng vụ Diện tích gieo trồng hàng năm đều tăng, tính đến năm 1975 đạt 20.475 ha Tổng sản lượng lương thực là

Trang 27

31.126 tấn Đàn trâu có 10.378 con, bò có 10.929 con, lợn có 44.336 con, gia cầm có 215.524 con, diện tích nuôi thả cá hàng năm có 1.291 ha

- Thời kì cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội và phát triển kinh tế (1976

- 1986):

Thực hành Nghị quyết 61 của Hội đồng Chính phủ, huyện đã tổ chức lại sản xuất trong hợp tác xã nông nghiệp, tổ chức hợp nhất 50 hợp tác xã nhỏ thành 33 hợp tác xã lớn quy mô toàn xã, bình quân 1 hợp tác xã có 653 hộ,

1217 lao động, 3100 khẩu, 326 ha canh tác

Sản xuất nông nghiệp của huyện trong 5 năm đạt 37.450 tấn tăng 25%

so với kế hoạch 5 năm (1976 - 1980), tốc độ tăng bình quân mỗi năm 7,3% Năm 1985, thực hiện được 43.322 tấn, vượt mục tiêu Đại hội Đảng bộ lần thứ

12 đề ra 11,8% Năng suất cả năm từ 4,4 tấn/ha năm 1983 lên 5,7 tấn/ha năm

Lâm nghiệp trong thời kì này do khai thác không có kế hoạch và bảo vệ không tốt nên rừng đồi của huyện đã bị tàn phá nặng nề Từ sau khi có Nghị quyết 24 của thường vụ Tỉnh uỷ về quản lí, sử dụng đất đồi rừng, sản xuất lâm nghiệp có chuyển biến [20, tr.147-151]

Nhìn chung, giai đoạn này cùng cả nước Đảng bộ và nhân dân huyện Lập Thạch đã vượt qua nhiều khó khăn thử thách đạt được những thành tựu mới Sản xuất nông nghiệp tuy có phát triển, song tốc độ tăng còn chậm so với tiềm năng về đất đai, lao động, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp còn chậm được củng cố, đời sống nhân dân còn khó khăn

Trang 28

Chương 2 KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN LẬP THẠCH,

Trang 29

TỈNH VĨNH PHÚC TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI

TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2009

2.1 CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI CỦA HUYỆN LẬP THẠCH

2.1.1 Đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng ta

Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam được triệu tập tại Thủ đô Hà Nội, mở trang sử mới trong lịch sử cách mạng Việt Nam ở cuối thế kỉ XX; là điểm mốc đánh dấu bước chuyển biến, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội với những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp

Với tư tưởng cầu thị, nhìn thẳng vào sự thật, Đại hội VI đã nghiêm túc đánh giá những thành tựu và tiến bộ trong các lĩnh vực đời sống xã hội; đồng thời cũng thẳng thắn chỉ ra những sai lầm khuyết điểm, nhất là trong chỉ đạo phát triển kinh tế xã hội

Để khắc phục những sai lầm khuyết điểm đưa đất nước vượt qua khó khăn thử thách, đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước Nghị quyết Đại hội VI đã chỉ rõ: Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của chặng đường đầu tiên là: ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong những chặng đường tiếp theo Trước mắt trong 5 năm 1986 - 1990 tập trung sức người, sức của thực hiện bằng những mục tiêu 3 chương trình kinh tế: Lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và xuất khẩu Thừa nhận sự tồn tại lâu dài của các thành phần kinh

tế còn tác dụng thúc đẩy sản xuất, mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh” Mặt khác, xoá bỏ cơ chế quản lí tập trung quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế thị trường, hoạch

Trang 30

toán kinh doanh, phát triển sản xuất; lấy kết quả lao động và hiệu quả kinh tế làm nguyên tắc cao nhất để phân phối sản phẩm cho người lao động [10, tr.57-58]

Nghị quyết Đại hội VI của Đảng nhanh vào cuộc sống Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị chỉ rõ: Chủ trương phải chấn chỉnh tổ chức, đổi mới quản lí hợp tác xã, thực hiện chế độ tự quản lí, tiếp tục thực hiện cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động

Tiếp đến, Đại hội VII (6/1991), VIII (7/1996) của Đảng diễn ra Đại hội VII đã thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”; cương lĩnh đã nêu lên quan điểm về chủ nghĩa xã hội

ở Việt Nam mới, xác định ở nước ta bước đầu hình thành nền kinh tế nước ta là: Cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác

Đại hội VII đã thông qua “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000” Mục tiêu tổng quát của chiến lược là: Ra khỏi khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế - xã hội Phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng và

an ninh, tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỉ XX [10, tr.79]

Đại hội VIII của Đảng là Đại hội tiếp tục đổi mới sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân Đại hội có nhiệm vụ quan trọng là kiểm điểm kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII; Tổng kết

10 năm đổi mới; đề ra những mục tiêu phương hướng, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong thời kì mới, thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; Đại hội cũng thông qua phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996 - 2000 với những chỉ tiêu cụ thể trong các chương trình và lĩnh vực phát triển [10, tr.80]

Trang 31

Như vậy, Đại hội VI của Đảng có những Nghị quyết nhằm thúc đẩy, phát triển kinh tế Đây là Đại hội đánh dấu bước chuyển biến, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội với những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp.Tiếp đến, Đại hội VII (6/1991), VIII (7/1996) của Đảng là Đại hội tiếp tục đổi mới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, có những chính sách phát triển kinh tế thích hợp

2.1.2 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc và huyện Lập Thạch

- Để đưa Nghị quyết Đại hội VI của Đảng nhanh vào cuộc sống, lĩnh

vực sản xuất nông - lâm nghiệp của huyện được đón nhận Nghị quyết 10 của

Bộ Chính trị khoá VI (4/1998), Nghị quyết 10 Tỉnh uỷ Vĩnh Phú (5/1998) hướng dẫn tổ chức cơ sở Đảng thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị Trên tinh thần đó, Đảng bộ huyện Lập Thạch tiến hành Đại hội lần thứ XIII (10/1986), Đại hội lần thứ XIV (12/1988) xác định mục tiêu, kế hoạch cụ thể

để thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng

Tuy nhiên, thời gian này sản xuất nông nghiệp của huyện tiếp tục gặp nhiều khó khăn do thời tiết diễn biến xấu, thiên tai xảy ra liên tục: Vụ lũ lụt năm 1986 Lập Thạch vỡ cả 2 tuyến đê sông Lô và sông Phó Đáy, gây thiệt hại

và hậu quả hết sức nặng nề Cùng với những tác động khách quan: Lạm phát

cả nước tăng, giá - lương - tiền bất hợp lí ảnh hưởng đến phát triển kinh tế -

xã hội, đời sống nhân dân của huyện

Đặc biệt, với Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã khuyến khích mọi người dân làm giàu chính đáng bằng phát triển kinh tế gia đình, thúc đẩy chăn nuôi phát triển toàn diện, quá trình đổi mới kinh tế hợp tác xã là quá trình chống bao cấp qua giá, qua quỹ, tiến hành hoạch toán kinh tế để đem lại hiệu quả thiết thực và nâng cao mức sống nhân dân

- Đại hội lần thứ XIII, XIV của Đảng bộ huyện Lập Thạch:

Trang 32

Sau 5 năm (1986 - 1990) các chỉ tiêu kinh tế do Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIII, XIV đều đạt và vượt kế hoạch Có được những thành tựu ấy trước hết do các cấp uỷ Đảng đã quán triệt sâu sắc vận dụng triển khai có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI với tinh thần đổi mới “Đổi mới tư duy trước hết là tư duy kinh tế”, Đảng đã nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng những sai lầm khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế, từ đó rút ra bài học lớn để hành động cho phù hợp với quy luật khách quan đưa sản xuất nông

- lâm nghiệp của huyện phát triển Đồng thời, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị

và Nghị quyết 10 của Tỉnh uỷ Vĩnh Phú thực sự đã khơi dậy trong quần chúng nhân dân lao động những nhân tố mới, sáng kiến mới trong quản lí Người lao động thực sự phấn khởi, tích cực sản xuất, quan tâm chú ý đến sản phẩm cuối cùng bằng công sức lao động của mình Hình thức bao cấp trong hợp tác xã từng bước được xoá bỏ, cơ chế quản lí mới dần được hình thành,

bộ máy hành chính tinh giản gọn nhẹ, hiệu quả Các thành phần kinh tế nhất

là kinh tế hộ gia đình, cá thể phát triển, đời sống người lao động được ổn định

và từng bước cải thiện

- Đại hội Đảng bộ Tỉnh:

Quán triệt Nghị quyết Đại hội VII, Đại hội VIII của toàn quốc của Đảng, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú lần thứ VII (12/1991), lần thứ VIII (5/1996) và Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XII (11/1997) đã đề ra quan điểm, chủ trương, phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của từng thời

kì Đặc biệt, Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XII xác định: “… phát triển nền kinh tế đi liền với bảo vệ môi trường sinh thái Phát huy tiềm lực của các thành phần kinh tế để khai thác được mọi tiềm năng, thế mạnh của tỉnh Kết hợp tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá xã hội, giải quyết tốt hơn việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, xoá hộ đói, giảm hộ nghèo”

Trang 33

- Đại hội lần thứ XV của Đảng bộ huyện Lập Thạch nhiệm kì (1991 - 1995):

Vận dụng các Nghị quyết của Trung ương và của tỉnh vào điều kiện cụ thể của địa phương, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XV (10/1991) đề ra phương hướng phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1991 - 1995 là: “… phấn đấu

ổn định và phát triển một bước tình hình kinh tế - xã hội Tạo điều kiện môi trường thúc đẩy kinh tế hộ phát triển toàn diện, mạnh mẽ Tăng nhanh tốc độ phát triển nông lâm nghiệp để có khối lượng nông lâm sản lớn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu, bước đầu có tích luỹ trong các hộ nông dân Tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật, chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng gắn liền với việc xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa hạ thấp tỉ lệ phát triển dân số tạo điều kiện cho người lao động để giải quyết việc làm…” Quan điểm xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu ngày càng được thể hiện rõ hơn; vấn

đề nông nghiệp, nông thôn được hết sức coi trọng

- Đại hội lần thứ XVI của Đảng bộ huyện Lập Thạch nhiệm kì (1996 - 2000):

Đại hội xác định: “Lập Thạch là một huyện Nông lâm nghiệp - Dịch vụ

- Tiểu thủ công nghiệp… phấn đấu thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng cường đầu tư thâm canh

và ứng dụng tiến bộ kĩ thuật tạo ra các vùng sản xuất hàng hoá lớn; phát triển mạnh chăn nuôi Phát triển tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ với nhịp độ cao, năng cao năng lực vận tải cả đường bộ và đường thuỷ Tăng cường cơ sở vật chất hạ tầng, đẩy mạnh tích luỹ nội bộ nền kinh tế Phát triển mạnh sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, tạo nguồn lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước…”

Trang 34

Trong nhiệm kì 1996 - 2000, BCH Huyện uỷ đã ban hành 4 Nghị quyết

về kinh tế - xã hội, đó là:

+ Nghị quyết 02 về ANCT và trật tự an toàn xã hội

+ Nghị quyết 03 về đổi mới Hợp tác xã nông nghiệp

+ Nghị quyết 04 về quản lí, tu bổ các công trình thuỷ lợi

+ Nghị quyết 05 về phát triển trồng cây ăn quả: “… Phát triển cây ăn quả theo hướng công nghiệp hoá, hiên đại hoá Khai thác hợp lí, sử dụng có hiệu quả 6000 ha đất có khả năng trồng cây ăn quả

Hàng năm, trồng 300 - 400 ha cây ăn quả, với 4 giống cây ăn quả chủ lực Cơ cấu toàn huyện là: Vải thiều 50%, nhãn lồng 40%, hồng và xoài 10% nhằm thay đổi về cơ bản cơ cấu cây trồng trên đất đồi, tạo ra sự tăng trưởng vượt bậc về kinh tế của huyện sau năm 2010

Áp dụng các biện pháp kĩ thuật thâm canh cao, cải tạo, bảo vệ tài nguyên, giữ gìn môi trường sinh thái, thực hiện phương thức canh tác bền vững vừa cải tạo vừa bồi dưỡng đất

Tạo ra sản phẩm hàng hoá có khối lượng lớn, có giá trị kinh tế cao phục

vụ cho công nghiệp chế biến, tiêu dùng tại chỗ, đáp ứng nhu cầu cho các vùng lân cận, tiến tới tham gia hàng xuất khẩu

Từng bước xoá đói giảm nghèo và làm giàu từ cây ăn quả…” [10, tr.113]

Đồng thời, với các Nghị quyết, Ban thường vụ Huyện uỷ thảo luận và

có nhiều kết luận về phát triển kinh tế - xã hội trên các lĩnh vực nhằm từng bước đưa Lập Thạch phát triển hoà nhập với sự đổi mới của đất nước

Về lĩnh vực nông - lâm nghiệp: Thời kì này, nhiều năm thời tiết diễn biến phức tạp rét đậm, hạn hán kéo dài, lũ lụt gây úng ngập, mưa đá, lốc xoáy… làm cho sản xuất gặp nhiều khó khăn [10, tr.81-82]

Trang 35

Cùng với diễn biến phức tạp về thời tiết, những chi phối khác như: Cơ chế chính sách (đầu ra và tỉ giá nông sản là một trong những yếu tố có tác động lớn), khủng hoảng tài chính tiền tệ ở khu vực Đông Nam Á dẫn tới khủng hoảng kinh tế nhiều nước trên thế giới… là những khó khăn cho nền kinh tế nói chung và sản xuất lâm nghiệp nói riêng của cả nước, của tỉnh và huyện

Nhìn chung, kinh tế nông - lâm nghiệp của huyện trong 10 năm tiếp tục đổi mới và có bước phát triển toàn diện Những vấn đề về nông nghiệp, nông thôn, nông dân được Huyện uỷ và toàn Đảng bộ quan tâm hàng đầu; nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn được cụ thể hoá có kết quả tốt, đời sống nông dân được cải thiện rõ rệt, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc Tổng thu nhập bình quân đầu người năm 1995 là gần 1 triệu đồng, đến năm 2000 đạt 1.785.000 đồng

- Đại hội lần thứ XVII của Đảng bộ huyện Lập Thạch nhiệm kì (2000 - 2005):

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XVII trong bối cảnh thế giới có những diễn biến phức tạp: Xung đột vũ trang, khủng bố xảy ra ở nhiều nơi Trong nước, lũ lụt, hạn hán, dịch cúm gia cầm lan rộng, giá cả nhiều mặt hàng tăng cao

Lập Thạch là huyện miền núi, địa bàn rộng, dân số đông, nhiều đầu mối, điểm xuất phát kinh tế thấp, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai Cơ sở hạ tầng thiếu, một bộ phận nhân dân thiếu việc làm đời sống khó khăn Song, có thuận lợi lớn là được kế thừa những thành tựu của 15 năm đổi mới; Có Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, các Nghị quyết của Trung ương Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIII soi sáng; Đảng bộ và nhân dân phát huy truyền thống cách mạng anh hùng, đoàn kết, vượt mọi khó khăn, đạt được những thành tựu quan

Trang 36

trọng trên tất cả các lĩnh vực và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu do Đại hội

đề ra

Về phát triển kinh tế: Xác định là nhiệm vụ trọng tâm nên đã tập trung trí tuệ, sức lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, đẩy mạnh phát triển kinh tế các ngành, các vùng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vì vậy, kinh tế phát triển nhanh, tổng giá trị sản xuất năm 2005 so với năm 2000 đạt 169,64%; nhịp độ tăng bình quân 5 năm là 13,92% (vượt 3,92% mục tiêu Đại hội đề ra) Thu nhập bình quân đầu người năm 2005 ước đạt 4,71 triệu đồng, tăng 2,34 triệu đồng so với năm 2000 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng

tỉ trọng nông nghiệp giảm, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, dịch vụ tăng Hiện nay có cơ cấu: Nông - lâm nghiệp 58,71%; Tiểu thủ công nghiệp - xây dựng 22,88%; dịch vụ 18,41% So với năm 2000, tỉ trọng nông nghiệp giảm 6,7%, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng tăng 7,16% vượt mục tiêu Đại hội đề ra [4, tr.23-24]

Huyện luôn chủ động phòng chống lụt bão giảm nhẹ thiên tai, sẵn sàng ứng phó với các tình huống phân chậm lũ Tích cực huy động các nguồn vốn đầu tư nâng cấp 2 tuyến đê sông Lô, sông Phó Đáy, bê tông 2 mặt đê vừa chống lũ lụt, vừa phục vụ giao thông Quản lí, khai thác có hiệu quả các công trình thuỷ lợi Từ năm 2000 đến nay đã xây được 48,2 km kênh cứng, các hồ lớn, nâng cấp nhiều trạm bơm phục vụ sản xuất

Công tác quản lí đất đai có tiến bộ, hoàn thành quy hoạch sử dụng đất đai giai đoạn 2001 - 2010 ở 36 xã, thị trấn Đến nay, 90% số hộ được cấp giấy chững nhận quyền sử dụng đất, nhân dân yên tâm, đầu tư thâm canh, phát triển kinh tế

- Đại hội lần thứ XVIII của Đảng bộ huyện Lập Thạch nhiệm kì (2005 - 2010):

Trang 37

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVIII trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp: Xung đột vũ trang, khủng hoảng tài chính xảy ra ở nhiều nơi…; Trong nước, lạm phát có thời điểm tăng cao, giá

cả biến động, dịch bệnh gia súc, gia cầm phức tạp; Thời tiết diễn biến xấu, hạn hán, rét đậm, rét hại kéo dài, bão lốc, lũ lụt, mưa đá ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp của huyện

Thực hiện Nghị định 09 của Chính phủ ngày 23/12/2008 về điều chỉnh địa giới hành chính huyện Lập Thạch, thành lập huyện Sông Lô, có nhiều thay đổi về tổ chức, cán bộ, về diện tích tự nhiên và quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội… Song, có những thuận lợi lớn như: Đảng bộ và nhân dân trong huyện luôn nhận được sự quan tâm, hỗ trợ thiết thực của các cấp, các ngành từ Trung ương đến tỉnh; Phát huy truyền thống đoàn kết của huyện anh hùng, tập trung chỉ đạo, sâu sát cơ sở, tranh thủ lợi thế tìm ra giải pháp phù hợp, nên đã đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực: Chính trị ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững, kinh tế - xã hội phát triển, từng bước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XVIII đề ra

+ Sản xuất nông - lâm nghiệp: Quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội

XVIII “Sản xuất nông - lâm nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu và giữ vị trí rất

quan trọng đối với kinh tế và đời sống của nhân dân trong huyện” , cấp uỷ,

chính quyền các cấp luôn chỉ đạo sát sao, phù hợp với từng thời điểm cụ thể,

kịp thời triển khai Nghị quyết 03 của BCH Đảng bộ tỉnh về “Phát triển nông

nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân” Đẩy mạnh thâm canh

tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đưa tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất Chỉ đạo các đơn vị dịch vụ nông nghiệp bám sát tình hình, kịp thời cung ứng vật tư, giống, phục vụ sản xuất Vượt qua nhiều khó khăn như: Thời tiết diễn biến bất thường năm 2006 làm mất mùa trên diện rộng toàn miền Bắc, đầu năm 2008 rét đậm rét hại kéo dài, hạn hán

Ngày đăng: 17/07/2015, 06:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê năng suất và sản lượng lúa - Kinh tế nông nghiệp huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến năm 2009
Bảng th ống kê năng suất và sản lượng lúa (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm