Vấn đề này mới chỉ được đề cập rải rác trong một số công trình nghiên cứu của các nhà sử học: Một là, tác phẩm “Chế độ thuế của thực dân Pháp ở Bắc kỳ năm 1897 đến 1945” của Tiến sỹ Hồ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học Th.S CHU THỊ THU THỦY
HÀ NỘI - 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Khóa luận với đề tài: “Chế độ tô, thuế nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc (1858 - 1945)” em được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, dưới sự động viên, khích lệ của các thầy cô, bạn bè và gia đình
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa Lịch sử đã đào tạo và trang bị cho em những kiến thức cơ bản giúp em thực hiện khóa luận này Đồng thời, em xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình, bạn bè, những người đã động viên, khuyến khích, tạo mọi điều kiện để em có thể thực hiện khóa luận thành công
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S Chu Thị Thu Thủy
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận Trong quá trình thực hiện khóa luận, em không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong các thầy cô nhận xét và góp ý để bài nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Bùi Thị Hòa
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những vấn đề tôi trình bày trong khóa luận là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi, được sự hướng dẫn tận tình của Th.S Chu Thị Thu Thủy, không trùng với kết quả của các công trình nghiên cứu khác
Nếu sai sót tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Sinh viên thực hiện
Bùi Thị Hòa
Trang 4MỤC LỤC
M Đ U Error! Bookmark not defined.
1 LÝ DO CH N Đ TÀI Error! Bookmark not defined.
II L CH S V N Đ Error! Bookmark not defined.
III M C ĐÍCH, NHI M V VÀ PH M VI NGHIÊN C U Error! Bookmark not defined.
IV NGU N T LI U VÀ PH NG PHÁP NGHIÊN C U Error! Bookmark not defined.
V ĐÓNG GÓP C A KHÓA LU N Error! Bookmark not defined.
VI B C C C A BÀI KHÓA LU N Error! Bookmark not defined.
N I DUNG Error! Bookmark not defined.
CH NG I: KHÁI QUÁT V CH Đ TÔ THU NÔNG NGHI P VI T NAM TH I NGUY N TH NG TR (1802 - 1858)Error! Bookmark not defined.
1.1 Tình hình kinh t nông nghi p và xã h i nông thôn Vi t Nam d i th i Nguy n th ng tr Error! Bookmark not defined.
1.1.1 Tình hình kinh t nông nghi p Vi t Nam d i th i Nguy n th ng tr :Error! Bookmark not defined.
1.1.2 Tình hình xã h i nông thôn Vi t Nam Error! Bookmark not defined.
1.2 Ch đ thu nông nghi p Vi t Nam d i th i Nguy n th ng tr (1802 - 1858)Error! Bookmark not defined.
1.2.1 Đ a tô th i Nguy n Error! Bookmark not defined.
1.2.2 Thu nông nghi p th i Nguy n Error! Bookmark not defined.
CH NG II: CH Đ TÔ THU NÔNG NGHI P VI T NAM TH I PHÁP THU C (1858 - 1945)Error! Bookmark not defined.
2.1 Quá trình xâm l c và th ng tr c a Pháp - Nh t Error! Bookmark not defined.
2.1.1 Quá trình th c dân pháp ti n hành công cu c xâm l c, bình đ nh toàn b lãnh th Vi t Nam:Error! Bookmark not defined 2.1.2 Quá trình t ch c b máy hai tr c a Pháp - Nh t: Error! Bookmark not defined.
2.2 Chính sách thu khóa c a th c dân pháp: Error! Bookmark not defined.
2.3 ?????? Error! Bookmark not defined.
2.3.1 Thu nông nghi p c a th c dân pháp: Error! Bookmark not defined.
2.3.2 Đ a tô Error! Bookmark not defined.
2.4 Tác đ ng c a ch đ tô thu đ i v i kinh t - xã h i Vi t Nam th i pháp thu cError! Bookmark not defined.
2.4.1 Tác đ ng c a ch đ tô thu đ i v i nông nghi p Vi t Nam: Error! Bookmark not defined.
2.4.2 Tác đ ng c a ch đ tô thu nông nghi p đ i v i đ i s ng xã h i Vi t NamError! Bookmark not defined.
2.4.3 Ph n ng c a nông dân đ i v i ch đ tô thu Error! Bookmark not defined.
K T LU N Error! Bookmark not defined.
TÀI LI U THAM KH O Error! Bookmark not defined.
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nét nổi bật nhất trong nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc là một nền nông nghiệp lạc hậu, đời sống người nông dân chìm trong cảnh đói nghèo Đó cũng là biểu hiện rõ rệt sự bế tắc của nền sản xuất Việt Nam thời Pháp thuộc Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên có nhiều, nhưng nguyên nhân đặc biệt quan trọng, đó là gánh nặng thuế má, địa tô đè lên vai họ
Ngay sau khi đặt được ách thống trị ở Việt Nam, thực dân Pháp bắt tay ngay vào bóc lột kinh tế, vơ vét của cải, tài nguyên làm giàu cho chính quốc, trong đó tô, thuế là một nguồn thu lớn Cùng với sự bóc lột của thực dân Pháp, người nông dân còn chịu thêm sự bóc lột của địa chủ thông qua chế độ địa tô Ngoài ra cùng với tô, thuế người nông dân còn phải chịu thêm nhiều khoản phụ thu lạm bổ Chính gánh nặng tô, thuế là nguyên nhân dẫn đến cuộc đấu tranh mạnh mẽ của nông dân đấu tranh chống đế quốc và phong kiến Tiêu biểu như: phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, phong trào chống đế quốc của nông dân năm 1930 và Xô Viết Nghệ Tĩnh, cũng như cao trào chống đế quốc của nông dân Việt Nam trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám năm 1945…
Để hiểu rõ hơn tình cảnh khổ cực của người nông dân dưới thời Pháp
thuộc, việc nghiên cứu “Chế độ tô, thuế nông nghiệp Việt Nam thời Pháp
thuộc (1858 – 1945)” là rất quan trọng Làm sáng tỏ vấn đề này sẽ góp phần
làm rõ hơn chế độ tô, thuế nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc, đối chiếu
so sánh với thời phong kiến, chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực của chế độ tô, thuế đối với kinh tế nông nghiệp và đời sống nông dân Việt Nam thời thuộc địa Qua đó đánh giá một cách khách quan chính sách tô, thuế của thực dân Pháp, không chỉ có mặt xấu, mặt hạn chế để “lên án” mà còn thấy
Trang 6được phần “tiến bộ” của nó đối với chế độ tô, thuế thời phong kiến Đồng thời làm sáng tỏ vấn đề này chúng ta sẽ góp phần thêm vào việc tìm hiểu động cơ chống đế quốc của nông dân Việt Nam, làm rõ thêm luận điểm quan trọng về Cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng Khóa luận sẽ góp phần làm sáng rõ một phần quan trọng của nông nghiệp Việt Nam thời cận đại, cung cấp những tư liệu cần thiết phục vụ quá trình học tập, nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Việt Nam cận đại trong các trường phổ thông
“Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Chính phủ” (Mác) Thuế là nguồn thu
chính đảm bảo cho nguồn chi tiêu của mọi Nhà nước, là công cụ tác động sâu sắc nhất đến kinh tế, xã hội của quốc gia Những bài học rút ra từ đề tài nghiên cứu sẽ cung cấp cho các nhà quản lý những cơ sở khoa học để nghiên cứu vận dụng cải tiến chế độ thuế khóa hiện hành, nhằm mục đích bảo vệ công bằng trong thu thuế và thúc đẩy sự phát triển kinh tế
Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn nói trên, tôi chọn đề
tài “Chế độ tô, thuế nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc (1858 – 1945)”
làm đề tài khóa luận
2 Lịch sử vấn đề
Cho tới nay, chưa có một công trình nào đi sâu, tập trung nghiên cứu về
“Chế độ tô, thuế nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc (1858 – 1945)” Vấn
đề này mới chỉ được đề cập rải rác trong một số công trình nghiên cứu của các nhà sử học:
Một là, tác phẩm “Chế độ thuế của thực dân Pháp ở Bắc kỳ năm 1897 đến 1945” của Tiến sỹ Hồ Tuấn Dung đã nghiên cứu một cách có hệ thống
toàn bộ chính sách thuế mà Nhà nước thực dân đã ban hành thực thi trên địa bàn Bắc kỳ từ năm 1897 đến 1945… Tác phẩm đã làm sáng tỏ một số vấn đề
cụ thể gắn liền với chính sách đó ở Bắc kỳ như: cơ sở ban hành chính sách
Trang 7thuế; chủ trương, biện pháp, phương thức đánh thuế; cách tổ chức quản lý thu thuế, cuối cùng là tác dụng của chính sách thuế đến nền kinh tế và đời sống thuộc địa thúc đẩy nhân dân không ngừng đấu tranh với mọi hình thức từ thấp đến cao, cho tới ngày cách mạng thành công Tuy nhiên do nghiên cứu toàn
bộ chính sách thuế Nhà nước thực dân áp dụng ở Bắc kỳ, nên phần nghiên cứu về thuế nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc mới chỉ đề cập trên những nét lớn
Hai là, những công trình nghiên cứu tiêu biểu như: luận văn Thạc sĩ của
Tô Yên Khánh với “Tìm hiểu sự bóc lột của thực dân Pháp đối với nông dân
Việt Nam trước Cách mạng thángTám”, Luận văn tốt nghiệp của Trương
Huấn Thường “Những thủ đoạn bóc lột về nông nghiệp của thực dân Pháp”,
có đề cập đến sự bóc lột về thuế má và địa tô của thực dân Pháp đối với người nông dân Do trình bày trong phạm vi rộng, với nhiều nội dung, nên các tác giả chưa thể đi sâu vào tô, thuế nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc Tuy nhiên, qua đó chúng ta cũng tìm thấy nhiều tài liệu tham khảo, những gợi ý cần thiết cho nội dung của luận văn
Ba là, những tác phẩm tiêu biểu như: “Phác qua tình hình ruộng đất và đời sống nông dân trước Cách mạng tháng Tám” của Nguyễn Kiến Giang,
tác phẩm “Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại” của Viện sử học
…có đề cập đến thuế và địa tô dưới thời Pháp thuộc, nhưng chưa đi sâu vào nghiên cứu tô, thuế nông nghiệp Việt Nam dưới thời Pháp thuộc
Bốn là, những công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài tiêu
biểu như: Y.Henry với “Kinh tế nông nghiệp Đông Dương”, P.Gourou với
“nông dân đồng bằng Bắc Kỳ”, P.Aumiphin với “Sự hiện diện của tài chính
và kinh tế Pháp ở Đông Dương”,… đã góp phần quan trọng trong việc tìm
hiểu tô, thuế nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc
Trang 8Năm là, những bài nghiên cứu được đăng trên các tạp chí: tạp chí Tài chính, Đông Dương tạp chí, tạp chí Dân chúng, báo Ý dân, báo Đời sống mới, báo Tin tức… Cũng góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu tô, thuế
nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc
Nhìn chung, công việc nghiên cứu tô, thuế Việt Nam thời Pháp thuộc đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu Điều đó đã tạo thuận lợi cho chúng tôi tìm thấy nhiều tư liệu, những gợi ý cần thiết cho nội dung khóa luận Tuy nhiên cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu riêng về tô, thuế nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích của khóa luận
Tìm hiểu chế độ tô, thuế nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc Trên
cơ sở đó giúp chúng ta hiểu đầy đủ hơn thủ đoạn bóc lột của thực dân và phong kiến đối với nông dân thông qua chế độ thuế má, địa tô Đồng thời thấy được tác động của tô,thuế đối với kinh tế nông nghiệp và đời sống nông dân thuộc địa, hiểu rõ động cơ chống đế quốc của nông dân Việt Nam và rút ra những bài học kinh nghiệm vào việc cải tiến chế độ thuế khóa hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của khóa luận
Đề tài khóa luận tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau đây:
Khái quát về chế độ tô, thuế nông nghiệp Việt Nam dưới thời Nguyễn thống trị để làm nền tảng tìm hiểu và so sánh với chế độ tô, thuế nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc
Tìm hiểu cụ thể chế độ tô, thuế nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc thông qua đó giải quyết các nhiệm vụ sau:
+ Trình bày quá trình xâm lược và thống trị của Pháp – Nhật
+ Chính sách thuế khóa của thực dân Pháp
+ Chế độ tô, thuế nông nghiệp thời Pháp thuộc
Trang 9+ Tác động của chế độ tô, thuế đối với kinh tế nông nghiệp và xã hội nông thôn Việt Nam thời Pháp thuộc
Rút ra những bài học kinh nghiệm để nghiên cứu vào việc cải tiến chế
độ thuế khóa hiện hành nhằm mục đích đảm bảo công bằng trong thu thuế và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế
3.3 Phạm vi nghiên cứu của khóa luận
Thời gian: khóa luận tập trung nghiên cứu chế độ tô, thuế nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc từ năm 1858 đến 1945
Không gian: Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc (1858- 1945)
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác nhau:
- Một số tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin, văn kiện của Đảng, Nhà nước về vấn đề tô, thuế nông nghiệp làm cơ sở lý luận, phương pháp cho việc nghiên cứu các vấn đề tô, thuế nông nghiệp trong khóa luận
- Những bài nghiên cứu khoa học về tô, thuế được đăng trên các tạp chí Nghiên cứu Lịch sử để nghiên cứu đề tài
- Những công trình nghiên cứu luận án Tiến sỹ của Tiến sỹ Hồ Tuấn Dung, luận văn Thạc sỹ của Tô Yên Khánh, khóa luận tốt nghiệp của Trương Huấn Thường đã cung cấp nhiều tư liệu tham khảo để nghiên cứu đề tài
- Sách tham khảo chuyên ngành lịch sử Việt Nam thời cận đại của các nhà sử học trong nước Ngoài ra chúng tôi còn khai thác một số công trình của tác giả nước ngoài đã được dịch ra tiếng Việt Những tư liệu này chủ yếu được lưu tại thư viện Quốc Gia, thư viện khoa Sử Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội…
Trang 104.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chính sử dụng trong khóa luận là phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic
Ngoài ra còn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp trong từng nội dung cụ thể Thông qua việc trình bày có hệ thống các sự kiện lịch sử theo từng chủ đề từng chương, tác giả phân tích đánh giá các sự kiện, từ đó rút ra những nhận định khái quát thành chương và kết luận chung của khóa luận
5 Đóng góp của khóa luận
Làm rõ chế độ thuế khóa và địa tô nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc, giúp bạn đọc có thêm tài liệu tham khảo về chế độ tô, thuế nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ xâm lược và đô hộ của thực dân Pháp
Góp phần tìm hiểu động cơ chống đế quốc của nông dân Việt Nam, động
cơ chống đế quốc của nông dân chính là sự phản ứng của nông dân đối với gánh nặng thuế má địa tô, cung cấp một phần tài liệu cần thiết làm rõ luận điểm quan trọng về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận tài liệu tham khảo phần nội dung chính của khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát về chế độ tô, thuế nông nghiệp Việt Nam dưới thời Nguyễn thống trị (1802 – 1858)
Chương 2: Chế độ tô, thuế nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc (1858 – 1945)
Trang 11NỘI DUNG Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ TÔ, THUẾ NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM DƯỚI THỜI NGUYỄN THỐNG TRỊ (1802 - 1858)
1.1 TÌNH HÌNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ XÃ HỘI NÔNG THÔN VIỆT NAM DƯỚI THỜI NGUYỄN THỐNG TRỊ
1.1.1 Tình hình kinh tế nông nghiệp Việt Nam dưới thời Nguyễn thống trị
Ruộng đất công làng xã đầu thế kỷ XIX cũng bị thu hẹp rất nhiều Theo
sách Sĩ hoạn tu tri lục của Nguyễn Công Tiệp “Vào đầu thế kỷ XIX tổng diện
tích đất công tư của cả nước là 3.396.584 mẫu, trong đó ruộng công, ruộng quan, ruộng muối là 580.000 chiếm 17,08%” [36, tr.34] Tuy nhiên tỷ lệ
ruộng công phân bố không đều ở các địa phương, Phan Huy Chú cho biết tỷ
lệ ruộng công tư ở các địa phương thời Gia Long như sau “Nước ta ở trấn
Sơn Nam Hạ có nhiều ruộng công, đất bãi công … Còn ở các xứ khác thì hạng ruộng công không mấy” [26, tr.70] Nhìn chung, tỷ lệ ruộng đất công bị
thu hẹp chứng tỏ loại hình sở hữu này không còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế đất nước
Sở hữu tư nhân đến đầu thế kỷ XIX đã chiếm vị trí bao trùm, theo
Nguyễn Công Tiệp là “2.816.211 mẫu chiếm82,92%” [36, tr.35] Tuy nhiên
Trang 12cũng giống như ruộng đất công, ruộng đất tư phân bố không đều Ở miền Bắc, trên địa bàn tỉnh Hà Đông, ruộng tư chiếm tỷ lệ 63,54% Ở vùng Nam Bộ, tỷ
lệ tư điền lên tới 92%
Ở nửa đầu thế kỷ XIX, các hình thức sở hữu tư nhân lớn, vừa và nhỏ tiếp tục tồn tại Sở hữu địa chủ, nhất là địa chủ lớn phát triển mạnh ở Nam Bộ Tuy nhiên xét về mặt số lượng ở Nam Bộ địa chủ vừa vẫn chiếm tỷ lệ cao hơn, đặc biệt là loại địa chủ có từ 5 - 10 mẫu chiếm tỷ lệ phổ biến Còn ở miền Bắc loại sở hữu nhỏ dưới 3 mẫu là chủ yếu Sau khi trở thành thuộc địa của Pháp quá trình phân hóa diễn ra với cường độ mạnh, tình trạng tập trung ruộng đất diễn ra với trình độ cao dẫn tới sự thu hẹp của sở hữu nhỏ Đây là tiền đề cho sự phát triển của kinh tế hàng hóa trong nông thôn thời Pháp thuộc
* Chính sách phát triển nông nghiệp
Ở thế kỷ XIX, dưới thời Nguyễn Việt Nam cơ bản vẫn là nước nông nghiệp Nông nghiệp là nguồn sống chủ yếu của hơn 90% dân số và là nguồn thu nhập chính của Nhà nước và hệ thống quan lại Vì vậy, các vua nhà Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức đều rất qua tâm đến nông nghiệp
Chính sách khai hoang được các vua nhà Nguyễn rất chú ý, đặc biệt là Minh Mệnh Ngay sau khi lên nắm chính quyền Gia Long đã ra lệnh cho các dinh ở Gia Định chia cấp ruộng hoang cho dân nghèo khai khẩn, cày cấy Từ thời Minh Mệnh, để khuyến khích việc khẩn hoang Nhà nước mạnh dạn ban hành các quy định thưởng phạt thích đáng đối với các quan lại các cấp trong việc tổ chức nhân dân khai phá ruộng hoang Chủ trương trên được tiếp nối dưới thời Thiệu Trị và Tự Đức Trong khoảng thời gian 1802 - 1858, nhà Nguyễn đã ban hành 46 quyết định khai hoang áp dụng chủ yếu cho đồng bằng Nam Bộ Lực lượng khai hoang đươc huy động gồm cả binh lính, tù phạm và nhân dân
Trang 13Do chủ trương chung của Nhà nước nhằm ngăn chặn quá trình tư hữu hóa ruộng đất công bắt đầu từ việc ban cấp ruộng đất vốn có tiền lệ trong lịch
sử Việt Nam Nhà Nguyễn đã bỏ các hình thức ban cấp ruộng đất và chỉ duy trì mức độ hạn chế hình thức ban cấp ruộng thờ (tự điền)
Đối với ruộng đất công làng xã, nhà Nguyễn tỏ rõ thái độ trong việc duy trì, bảo vệ và mở rộng ruộng đất công làng xã Nhà Nguyễn, thi hành nhiều biện pháp tăng cường quỹ đất công Từ Gia Long đến Tự Đức, nhà Nguyễn đã ban hành 24 quyết định mở rộng quỹ đất công điền (Gia Long 2, Minh Mạng
18, Thiệu Trị 2, Tự Đức 2) lấy từ ruộng đất do Nhà nước quản lý, từ kết quả khai hoang, từ ruộng tư nhân
Đồng thời với biện pháp trên, nhà Nguyễn đã ban hành chính sách quân điền vào năm 1804, tức chỉ sau hai năm sau khi Gia Long lên ngôi Việc ban hành chính sách quân điền là biện pháp nhằm duy trì ruộng đất công làng xã Theo đó, tất cả mọi người được chia ruộng đất cộng làng xã, trừ quý tộc vương tôn được cấp 18 phần, quan lại nhất phẩm 15 phần, cứ tuần tự hạ mức cho đến người ngèo được 3 phần Đến năm 1840, Minh Mạng sửa lại phép chia ruộng cho tất cả mọi người được hưởng phần như nhau, riêng lão nhiêu,
Nhìn chung, chính sách quân điền dưới thời Nguyễn chỉ có tác dụng ở một số vùng, một số địa phương nhất định Tuy nhiên, qua đây chúng ta thấy được việc duy trì và bảo vệ, mở rộng ruộng đất công đã bộc lộ rõ thái độ chủ quan của nhà Nguyễn Thái độ này vẫn chưa vượt qua tư tưởng phục hồi lại chế độ sở hữu công cộng, một hình thức sở hữu đến lúc này đã trở lên lỗi thời
và đang cản trở quá trình phát triển của lịch sử
* Tình hình nông nghiệp
Một phương thức quen thuộc nhằm mở rộng ruộng đất của nhà Nguyễn
là lập đồn điền khẩn hoang khuyến khích nhân dân khai hoang
Trang 14Đồn điền được thiết lập nhiều nơi nhất là ở Nam Kỳ Đợt xây dựng đồn điền quy mô lớn nhất do Nguyễn Tri phương tổ chức trong các năm 1853-
1854 kết quả lập được 21 cơ với 124 ấp phân bố ở cả 6 tỉnh Tuy nhiên ruộng
đất khai phá không được nhiều
Năm 1828, theo đề xuất của Nguyễn Công Trứ hình thức khai hoang mới
ra đời: hình thức doanh điền Nguyễn Công Trứ đã tổ chức nhiều đợt khai hoang lập làng lớn trong đó kết quả lớn nhất lập được hai huyện mới Kim Sơn (Ninh Bình), Tiền Hải (Thái Bình)
Tuy nhiên, trong thực tế vẫn chưa giải quyết được vấn đề ruộng đất, có tới
hàng chục vạn mẫu ruộng bị bỏ hoang “Cho đến cuối những năm 30 diện tích
hoang hóa đã lên tới 1.314.927 mẫu” [35, tr.448] nhân dân phiêu tán ngày
càng đông Sở dĩ như vậy vì phần lớn đất đai khai khẩn được chủ yếu lọt vào tay kẻ dẫn người đi khai khẩn, còn những người trực tiếp đổ mồ hôi sôi nước mắt khẩn hoang lại trở thành tá điền với mức lao động nặng nề Đồng thời họ không thiết tha với hoàn cảnh mới, nhiều khi còn rất căm phẫn và thường bỏ trốn đi tha phương cầu thực
Vấn đề thủy lợi lúc đầu được nhà Nguyễn chăm lo Gia Long đã 11 lần cấp kinh phí, thời Minh Mệnh cũng có 14 lần cấp kinh phí để chăm lo thủy lợi Nha đê chính cũng được lập ra để chăm lo đê điều ở Bắc Bộ, rồi sau đó triều đình lại bỏ Nha đê chính đi giao việc cho cơ quan sở tại Như vậy ,nhà Nguyễn có quan tâm đến vấn đề đê điều tuy nhiên lụt nội vẫn luôn sảy ra, từ năm 1802 - 1858 cả nước chịu 38 lần mưa bão, lụt lội, trong đó có 16 lần vỡ
đê Thêm vào đó, hạn hán luôn xảy ra, nhất là ở Bắc và Trung Bộ mùa màng
bị sâu bọ phá hoại thường xuyên làm năng suất thấp kém, nông nghiệp lâm vào tình trạng xơ xác tiêu điều
Nhìn chung, nông nghiệp Việt Nam thời Nguyễn vẫn không vượt ra khỏi phương thức sản xuất cổ truyền Ruộng đất chủ yêu tập trung trong tay bọn
Trang 15quan lại, địa chủ nông dân không có ruộng cày cấy Mặc dù , triều Nguyễn có nhiều biện pháp khác nhau từ khuyến khích, khen thưởng đến đồn điền, doanh điền để mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp nhưng nhà Nguyễn vẫn không giải quyết được vấn đề ruộng đất hoang hóa ngày càng nhiều Trong lúc đó, thiên tai hạn hán thường xuyên xảy ra làm cho đời sống nhân dân vô cùng cực khổ
1.1.2 Tình hình xã hội nông thôn Việt Nam
Sự phức tạp của cơ cấu làng xã cùng với hậu quả của các chính sách chính trị, kinh tế xã hội thời Nguyễn là mảnh đất tốt tạo điều kiện thuận lợi cho bọn hương hào tổng lý bành trướng thế lực, lũng đoạn thao túng đời sống nông thôn
Ngay ở thế kỷ XVII, XVIII nạn cường hào đã trở nên nghiêm trọng nhưng đến thế kỷ XIX thì càng nghiêm trọng hơn Giai cấp địa chủ, kẻ có thế
lực ở địa phương, đã biến làng xã thành “pháo đài kiên cố” hạn chế khả năng
kiểm soát của Nhà nước Làng xã vì thế thực sự trở thành bầu trời riêng của bọn hương hào tổng lý
Dưới thời Nguyễn, bọn quan lại, cường hào địa chủ ra sức hạch sách bóc lột nhân dân Trong hoàn cảnh đó, đời sống của người nông dân trong các xã thôn vô cùng cơ cực Dưới triều Nguyễn, tổ chức xã thôn đã hoàn toàn trở thành một công cụ của bọn cường hào địa chủ nông thôn Nó trói buộc người nông dân trong những quan hệ địa phương hẹp hòi, cơ hội cho sự bóc lột của Nhà nước phong kiến và cản trở sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa
Ruộng đất phần nhiều tập trung trong bọn quan lại, địa chủ Nông dân không có ruộng để cày cấy Họ phải chịu gánh nặng thuế má sưu dịch nặng
nề Nhận xét về tô, thuế thời Gia Long một giáo sỹ người Pháp Ghêra đã nhận
xét “Gia Long bóp nặn dân chúng bằng đủ mọi cách, sự bất công và sự lộng
hành làm cho người ta rên siết hơn thời Tây Sơn, thuế khóa và lao dịch tăng
Trang 16gấp 3 lần” [35, tr.455] Đặc biệt là chế độ sưu dịch, một thứ thuế vô cùng
nặng nề Theo quy định mỗi năm dân đinh phải chịu 60 ngày lao dịch Tuy nhiên trong thực tế nhân dân phải làm khá nặng trong những năm nhà Nguyễn xây dựng kinh thành, cung điện dinh thự Các vua nhà Nguyễn nổi tiếng là sống xa xỉ hay xây dựng cung điện, và lăng tẩm Lúc sinh thời, Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức đều xây dựng lăng tẩm rất nguy nga đồ sộ và
ra lệnh dỡ cung điện của vua Lê còn sót lại ở Hà Nội lấy nguyên liệu trở về Huế xây dựng dinh thự Trong cuộc tuần du vào Bắc Kỳ của Thiệu Trị năm
1842 nhân dân dọc đường phải xây dựng 44 hành cung cho vua nghỉ
Cái khổ của người dân phải đi đào sông được ghi lại rất rõ nét trong ác bài hát giặm của nhân dân Nghệ An trích như sau:
“Bắt dân xã đào kênh
…….Đo đất đếm người Một xuất đinh hai thước Bắt đào cho được
Hạn trọng 20 ngày Cai phó tổng, cai thầy Khất xin đào một tháng Dân tình ngao ngán
….Vợ con thêm nheo nhóc Chồng lại phải phu phen Muốn vạch cả trời lên Kêu gào cho hả dạ…” [35, tr.456]
Không những thế nông dân còn phải chịu mọi tai họa của thiên nhiên, mất mùa thường xuyên xảy ra đe dọa cuộc sống của dân nghèo Sau mỗi lần
vỡ đê lụt lội, mùa màng hư hại nhân dân lại bỏ làng đi phiêu tán Năm 1883, theo lời tâu của Nguyễn Công Trứ, dân đói từ các tỉnh đến kiếm ăn ở Hải
Trang 17Dương là 27.000 người Trận bão năm 1842 làm tỉnh Nghệ An đổ sập 40.753 ngôi nhà, chết 5.240 người Bên cạnh đó dịch bệnh cũng là một tai họa đối với người nông dân
Sự bóc lột của địa chủ phong kiến, cùng với thiên tai hạn hán, lũ lụt làm cho đời sống người nông dân vô cùng cực khổ Hiện tượng nông dân lưu tán phải bỏ làng đi tha phương cầu thực là một hiện tượng phổ biến ở nông thôn Việt Nam dưới thời Nguyễn Đó là một trong những biểu hiện cho thấy sự sa sút của nền kinh tế nông nghiệp nước ta nửa đầu thế kỷ XIX Chỉ từ năm 1802 đến 1806, nông dân của 370 thôn, mấy trấn ngoài Bắc xiêu tán đi nơi khác Đến năm 1826 lại đến 108 xã thôn thuộc 13 huyện Hải Dương xiêu tán Đến
thời Tự Đức dân lưu tán càng trở lên phổ biến khắp cả nước “nhiều làng đến
5,6 phần 10 là việc phổ biến” [18, tr.85]
Vấn đề dân lưu tán, dân đói khát là một điểm phổ biến của xã hội nông dân Việt Nam dưới thời Nguyễn Chính đời sống khổ cực đã thúc đẩy người nông dân đứng lên đấu tranh chống lại chế độ phong kiến nhà Nguyễn Thời Gia Long có 73 cuộc, Thời Minh Mệnh 234 cuộc, thời Tự Đức 40 cuộc cuộc đấu tranh của nhân dân trong đó chủ yếu là nông dân Khởi nghĩa nông dân trước hết là sự phản ánh tình hình kinh tế xã hội thời kỳ này là phản ứng của nhân dân trước chính sách cai trị của Nhà nước Nhân dân lưu tán, đói khổ, nổi dậy đấu tranh có nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân lớn đó là chế
độ tô, thuế nặng nề
1.2 CHẾ ĐỘ TÔ, THUẾ NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM DƯỚI THỜI NGUYỄN THỐNG TRỊ
1.2.1 Địa tô thời Nguyễn
Ruộng đất với nghề trồng trọt đơn giản đã trở thành một thứ thực lợi Từ lâu đời, ruộng đất đã được người ta coi như một thứ tư liệu đẻ ra sản phẩm thừa, đẻ ra lợi tức Vì vậy, ruộng đất thường được đem phát canh thu tô, mức
Trang 18tô kể từ thời Lý thường là một nửa thu hoạch, nhưng người cày cấy gánh mọi thứ bất trắc chỉ còn 1/3 (hay 1/4 nếu gánh lấy thuế má)
Dưới thời Nguyễn, ruộng đất phần nhiều tập trung trong tay bọn quan lại địa chủ Ruộng đất được đem phát canh thu tô, nông dân tự cày cấy và sau khi thu hoạch nộp tô dưới dạng hiện vật Mức tô người lĩnh canh nộp cho địa chủ thường là 1/2 thu hoạch Cách thu tô như vậy điển hình cho quan hệ bóc lột truyền thống của họ Nguyễn từ thế kỷ trước ở xứ Quảng Hình thức phát canh cấy rẽ, thu tô là điển hình của giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam ở thế kỷ XIX thậm chí ở thế kỷ XX
Thời Nguyễn, về cơ bản là địa tô hiện vật, địa tô tiền thời Lê Mạt bị xóa
bỏ Điều đó trái ngược với xu thế lịch sử, đó là một chính sách lạc hậu, kìm hãm sự phát triển của kinh tế, duy trì sự nghèo nàn, thủ cựu không tiến triển
1.2.2 Thuế nông nghiệp thời Nguyễn
1.2.2.1 Thuế ruộng đất
Thời Nguyễn, Nhà nước đánh thuế hầu hết các loại ruộng đất, trừ ruộng công cộng đất ban thưởng cho gia đình quan lại, đất đình chùa và thờ tự
Về thuế ruộng, năm 1804 Gia Long định thuế lệ sau:
Các phủ Quảng Bình, Triệu Phong, Điện Bàn, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Hòa, Diên Khánh, ruộng công và ruộng tư điền mỗi năm nộp
Hạng nhất, 40 thăng thóc và 3 tiền
Hạng nhì, 30 thăng thóc và tiền
Hạng ba, 20 thăng thóc và 3 tiền
Các trấn Nghệ An, Thanh Hóa, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Nam thượng và phủ Phụng Thiên, mỗi năm nộp thóc
Công điền:
Hạng nhất, 120 bát đồng quan
Hạng nhì, 84 bát đồng quan
Trang 19Các phủ Yên Quảng, Hưng Hóa, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang
và Cao Bằng mỗi năm nộp thóc
Khu vực II: Gồm các tỉnh Bình Thuận đến lục tỉnh Nam Kỳ
Thuế ruộng đất được chuẩn định như sau: [2, tr.84]
Trang 20KHU VỰC I
KHU VỰC II
KHU VỰC III
[2, tr.84]
Còn về thuế đất có 12 hạng cao khác nhau tùy trồng trọt thứ gì đóng từ
14 quan 2 tiền một mẫu là cao nhất, 3 tiền là thấp nhất
Biểu thuế quy định bởi Minh Mạng không thay đổi gì mấy trong mấy năm thời Nguyễn Năm 1875, vua Tự Đức nhận định rằng nhà vua cho áp dụng một thức lệ đứng nhất cho toàn cả lãnh thổ, bất kỳ ruộng công hay tư mỗi mẫu nộp:
Nhất đẳng nộp 40 thăng lúa
Nhị đẳng nộp 30 thăng
Trang 21Tam đẳng nộp 20 thăng lúa
Thuế ruộng đất phải nộp bằng hiện vật, nhưng chính phủ cũng cho phép nộp tiền thay thóc vào những trường hợp như vận chuyển khó khăn và lâu, hay mất mùa không đủ thóc:
Ruộng hạng nhất đóng 7 quan 3 tiền một mẫu
Ruộng hạng nhì đóng 5 quan 6 tiền một mẫu
Ruộng hạng ba đóng 3 quan 6 tiền một mẫu [2, tr.85]
Như vậy, thuế ruộng triều Nguyễn không đồng nhất, tùy theo các vùng khác nhau và nhẹ nhất ở Nam Kỳ
Ở những vùng thừa người, thiếu đất, chính phủ không ngần ngại đánh thuế nặng các loại ruộng công điền Nhiều tác giả có thể nói rằng chính phủ
đã có chính sách nâng đỡ giai cấp địa chủ, khi đánh thuế nhẹ ruộng đất tư
“Toàn bộ chính sách thuế của triều Nguyễn đối với ruộng đất công chỉ nhằm mục đích duy nhất là bóc lột triệt để những nông dân không ruộng đất nhằm thu được của cái tối đa” [24, tr.48 - 49]
Mỗi lần đóng thuế cũng như mỗi lần phát lương, là một lần nhân dân bị sách nhiễu, dân đem thóc đến kho mà nạp Nhà nước trả lương cho quan lại bằng thóc, năm nào mất mùa Nhà nước có thể bán ra rẻ hơn giá thị trường hay cho vay mượn không lời
1.2.2.2 Thuế đinh (thuế thân)
Ngoài các thứ tô, thuế ruộng đát khá nặng nề đối với nông dân nghèo, thuế đinh cũng là một thứ thuế nặng, đồng thời cũng là một nguồn thu nhập lớn của nhà nước phong kiến
Dưới thời Nguyễn, thuế này chỉ đánh nội đinh tức là dân sở tại, có ít tài sản, có khả năng đóng thuế và ngược lại được hưởng một số đặc quyền đặc lợi như được chia ruộng, được tham gia các chức vụ trong chính quyền làng
xã hay phạm vị ngoài làng xã Những người ngoại đinh không được hưởng
Trang 22quyền lợi nói trên được miễn thuế Nhà nước dựa vào sổ đinh bạ làng xã để đánh thuế Trong các sổ đinh bạ, nội đinh được sắp hạng khá tỷ mỉ với những mức thuế khác nhau Sổ đinh bạ mỗi năm một lần tiểu tu và 5 năm một lần đại
tu để điều chỉnh đúng với thực tế dân cư trong xã
Thuế đinh được chia thành nhiều hạng Ban đầu sổ hạng được miễn thuế như: con quan, chức sắc, số còn lại phải nộp từ 5 tiền đến 1 quan tiền, 1 quan
4 tiền Từ năm 1832, loại tráng đinh, con quan, thường dân chia làm 2 loại: loại có ruộng công và loại không có ruộng công nộp từ 1 đến 2 quan tiền từng loại, từng khu vực
Nhà nước không trực tiếp thu mà tùy theo số hộ đinh mà định cho làng một tổng số, làng thu đem nộp quan, làng thất thu thì xã trưởng bị trừng phạt, Nhà nước chỉ lo cất giữ vào kho và xuất ra tiêu
Một số khá người không phải đóng thuế đinh: một số con quan, cai tổng, người đỗ đạt khi thi cử, người già, người tàn tật Có kẻ chỉ đóng nửa thôi: lính
lệ, kẻ giữ đình chùa, mồ mả Người dân đinh phải đóng thuế từ 26 đến 55 tuổi, còn từ 18 đến 19 và từ 56 đến 60 tuổi thì đóng phần nửa số đinh Hệ số dân đinh trong làng giảm xuống thì làng đem một số dân lân vào thay thế dù
họ chưa có tài sản
1.2.2.3 Thuế lao dịch (thuế nhân lực)
Thời Nguyễn, thuế lao dịch không có sự quy định số lượng ngày cụ thể trong năm, mà huy động số ngày tùy theo yêu cầu công việc Dân miền núi và dân ở xa các triền sông và xa các đầu mối giao thông thường không phải đi làm lao dịch Pháp luật Nhà nước cấm ngặt quan hệ huy động nhân công cho việc riêng hoặc trong khi đang có mùa màng mà không được phép của triều đình Triều đình quyết định việc huy động nhân công cho việc lớn như đắp đê điều, đào kênh, rạch
Trang 23Từ thời Minh Mạng, số ngày công đi sưu được dịch là 48 này Khi đi sưu người dân được nuôi ăn trong kho của địa phương và được lĩnh một quan tiền, một phương gạo Người dân không phải đi làm xa nơi họ cư trú quá 5km Như vậy, ngoài việc thực hiện nghĩa vụ đi lính, người dân còn được trả công Như vậy, qua việc tìm hiểu thuế nông nghiệp thời Nguyễn, chúng ta rút
ra một số nhận xét sau:
Một là, thuế nông nghiệp thời Nguyễn chủ yếu thu bằng hiện vật: thóc
gạo hoặc bằng sức lao động, chỉ có thuế thân được thu bằng tiền song vẫn giữ một phần hiện vật Thuế ruộng đất thời Nguyễn cũng cho phép nộp bằng tiền song giá trị đồng tiền bấp bênh, lại thay đổi tùy từng vùng, nên người nông dân chủ yếu nộp bằng thóc gạo Tình trạng trên phản ánh một nền kinh tế thấp kém, kinh tế hàng hóa chưa có vị trí quan trọng
Hai là, giá biểu các loại thuế trên mang tính đồng loạt thuế ruộng đất
được quy định theo đẳng hạng, nhưng sự phân chia đẳng hạng chỉ dựa vào cách phân chia truyền thống phần lớn vào khoảng cách gần hay xa chân đê làng, mà không dựa vào năng suất, cũng không có sự phân biệt giữa ruộng công và ruộng tư như các triều đại phong kiến cũ Về thuế thân, giá biểu được định nghĩa theo đầu người, không có sự phân biệt giàu nghèo Các định giá biểu thuế còn mang tính thuế cống nạp thời trung cổ mà chưa phát huy được chức năng điều hòa, kích thích sản xuất của hệ thống thuế mà đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội
Ba là, trong phương thức thu thuế nông nghiêp, Nhà nước lại gần như
giao hẳn cho đơn vị làng xã, mà không có biện pháp cần thiết để kiểm tra, phát hiện gian lận của chính quyền làng xã Do đó nguồn thu nhập tài chính của Nhà nước, chủ yếu thông qua thuế má, không ổn định, không mở rộng được, gây nên sự nghèo nàn ngân sách quốc gia và hạn chế khả năng tác động của Nhà nước đối với sự phát triển của sản xuất và đời sống của nhân dân
Trang 24Tuy nhiên, trong chính sách thuế má của nhà Nguyễn thấy có một số mặt
có thể coi là tích cực Sau khi thu thuế, Nhà nước thường trích ra một phần để lại một phần trong các kho dự trữ của địa phương để có thể kịp thời cứu trợ cho dân chúng ở đẩy vào những lúc thiên tai Ngoài ra nếu địa phương nào mất mùa, Nhà nước sau khi xem xét kỹ càng cho miễn hẳn hoặc cho khất đến
vụ sau Chính sách rõ ràng, tránh cho Nhà nước khỏi phải đứng trước tình huống căng thẳng với dân chúng Về thuế thân, triều Nguyễn chỉ đánh vào nội đinh, dân ngoại đinh vào thời Nguyễn chiếm 2/3 cư dân ở nông thôn được miễn hoàn toàn Còn những người không được phân phối ruộng công cũng được miễn hoàn toàn thuế thân Theo sự tính toán của người Pháp khi mới đến Việt Nam, gánh nặng thuế má tính theo đầu người dưới thời Nguyễn, bình quân 0đ25 (trong đó thuế thân là 0đ15, tương đương với khoảng 20kg gạo) Đó là mức thuế khá nhẹ so với thuế má của người dân phải chịu dưới thời Pháp thuộc Tình hình thuế má ấy của nhà Nguyễn phản ánh một nền sản xuất lạc hậu, một nền tài chính quốc gia quá nghèo
* Tiểu kế chương 1
Qua chế độ tô, thuế thời Nguyễn nổi lên một số vấn đề chủ yếu sau:
Tô, thuế triều Nguyễn về cơ bản theo nguyên tắc tô, thuế hiện vật Chính sách này có tính chất lạc hậu và kéo lùi lịch sử so với con đường phát triển tiến bộ nói chung Chính sách ấy vừa là kết quả vừa là điều kiện củng cố cho đường lối ức thương, bế quan tỏa cảng của triều đình nhà Nguyễn, có tác
dụng kìm hãm sự phát triển của kinh tế nông nghiệp “Thuế hiện vật ấy phản
ánh một trạng thái kinh tế kém phát triển và đồng thời bản thân nó cũng góp phần duy trì trình độ kinh tế lạc hậu” [36, tr.13] Chính sách tô, thuế triều
Nguyễn còn là chính sách có lợi cho bọn giàu có, trước hết là địa chủ, mặt khác ra sức bóc lột nông dân, làm cho đời sống của người nông dân vô cùng cực khổ
Trang 25So với triều đại trước tô, thuế nông nghiệp thời Nguyễn tăng thêm rất
nhiều so với thời Quang Trung ‘‘Tô, thuế mà mỗi mẫu ruộng đất công hạng
nhất tăng từ 1,6 đến 4 lần” [31, tr.88]
Do hậu quả của chiến tranh cộng với sự bóc lột ngày càng tăng của vua quan nhà Nguyễn, địa chủ cường hào, số nông dân phải bỏ ruộng bỏ làng ngày càng nhiều Họ không còn đường nào khác ngoài con đường nổi dậy đấu tranh Đó chính là biểu hiện của sự khủng hoảng và suy yếu của chế độ phong kiến Việt Nam, tạo điều kiện cho nước ta trở thành miếng mồi ngon của tư bản Pháp
Trang 26Chương 2: CHẾ ĐỘ TÔ THUẾ NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
THỜI PHÁP THUỘC (1858 - 1945) 2.1 QUÁ TRÌNH XÂM LƯỢC VÀ THỐNG TRỊ CỦA PHÁP- NHẬT 2.1.1 Quá trình thực dân Pháp tiến hành công cuộc xâm lược, bình định toàn bộ lãnh thổ Việt Nam
Ngày 1/9/1859, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng xâm lược cửa biển Đà Nẵng mở đầu cuộc xâm lược nước ta, tiếp đó thực dân Pháp đánh chiếm Gia Định Bọn phong kiến nhà Nguyễn đã phản bội quyền lợi nhân dân, quyền lợi tổ quốc ký hàng ước 5/6/1862 cắt đứt ba tỉnh miền Đông Nam
Kỳ cho giặc Kể từ sau Hiệp ước năm 1862, thực dân Pháp chính thức thống trị 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, tại đây bộ máy chính quyền mang nặng tính chất cường quyền độc tài đã manh nha hình thành Đứng đầu Nam Kỳ là một viên chức Pháp, mang chức danh Thống đốc Từ năm 1862 đến 1867, cùng với việc thôn tính nốt 3 tỉnh miền Tây, bộ máy chính quyền ở Nam kỳ cũng được củng cố và chia thành 6 cấp, từ trung ương đến xã
Đến năm 1873, thực dân Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất mở đầu cho công cuộc xâm lược Bắc Kỳ và Trung Kỳ Triều đình Nguyễn phải ký với Pháp Điều ước năm 1874, cắt thêm đất dâng cho Pháp và công nhận thêm nhiều đặc quyền đặc lợi của chúng ở Việt Nam Đặc biệt với Hiệp ước Hácmăng (1883) và Hiệp ước Patơnốt (1884) thực dân Pháp đã buộc triều Nguyễn phải đầu hàng, thừa nhận nền bảo hộ của chúng trên toàn bộ nước Việt Nam Do vấp phải sự kháng cự của nhân dân ta, nên phải đến năm 1897 khi tiếng súng cuối cùng của phong trào Cần Vương chấm dứt, thì giai đoạn
“bình định” bằng quân sự của Pháp mới kết thúc Thực dân Pháp, mới thực sự thiết lập ách đô hộ trên đất nước ta và bắt đầu tiến hành công cuộc khai thác
có quy mô, có tổ chức, có hệ thống ở Việt Nam
Trang 272.1.2 Quá trình tổ chức bộ máy cai trị của Pháp - Nhật
Từ năm 1897 công cuộc “bình định” quân sự của thực dan Pháp ở Việt Nam về căn bản đã hoàn thành Thực dân Pháp bắt tay vào tổ chức khai thác thuộc địa Đông Dương (trong đó có Việt Nam) Để có cơ sở thực khi các chính sách kinh tế - tài chính, thực dân Pháp chú trọng xây dựng tổ chức bộ máy cai trị và quản lý hành chính Ngay từ năm 1884, trong điều ước Patơnốt, thực dân Pháp cùng triều đình Huế phân chia định giới 3 “xứ” Bắc, Trung, Nam Chính sách “chia để trị” kiểu này đã gây cho chúng khó khăn trong việc chỉ đạo cai trị đối với một thuộc địa ở xa chính quốc Bởi vậy để tạo sự thống nhất trong khâu chỉ đạo việc cai trị thuộc hai thể chế chính trị khác nhau do chúng áp đặt như thuộc địa, bảo hộ Theo sắc lệnh 17/10/1887 chúng xóa tên nước Việt Nam để lập lại gọi là “Liên bang Đông Dương” mà đứng đầu là viên Toàn quyền Đông Dương dưới sự chỉ huy thống nhất của Bộ hải quân và thuộc địa Pháp Đến năm 1899, Tổng thống Pháp ra lệnh sát nhập thêm Lào vào Liên bang Đông Dương Trong Liên bang Đông Dương, Nam Kỳ là đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp nắm, Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Lào, Campuchia là xứ bảo hộ của Pháp, vẫn còn giữ chính quyền phong kiến về hình thức Với thủ đoạn này chúng nhằm xóa tên 3 nước Việt Nam, Lào, Cămpuchia trên bản
đồ thế giới
Trên nguyên tắc “muốn chấn chỉnh và tổ chức bộ máy thống trị thì phải
dựa trên một nền hành chính bao trùm toàn lãnh thổ” [12, tr.12] Vì vậy, với
việc phân chia địa giới hành chính và tổ chức bộ máy cai trị, thực dân Pháp tiến hành ổn định trật tự xã hội, thiết lập bộ máy thu thuế và thực hiện phân vùng đánh thuế Từ năm 1897, công cuộc “bình định” quân sự của thực dân Pháp ở Việt Nam về căn bản hoàn thành Đã đến lúc thực dân Pháp có thể bắt tay tổ chức khai thác thuộc địa Đông Dương (trong đó có Việt Nam) một cách
có quy mô Ngày 23/3/1897 Toàn quyền Đông Dương Pôn Đume gửi cho Bộ
Trang 28trưởng bộ thuộc địa Pháp “Dự án chương trình hành động” còn gọi là
“Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất” trong đó đặc biệt chú trọng
đến 3 điểm chính sau:
1 Tổ chức một chính phủ chung cho toàn Đông Dương và tổ chức bộ máy cai trị hành chính riêng cho từng “xứ” thuộc Liên bang Đông Dương
2 Sửa đổi lại chế độ tài chính, thiết lập hệ thống thuế khóa mới sao cho phù hợp với yêu cầu của ngân sách, nhưng phải dựa trên cơ sở xã hội
cụ thể và phải chú ý khai thác những phong tục tập quán của dân Đông Dương
3 Chú ý xây dựng thiết bị lớn cho Đông Dương như xây dựng hệ thống đường sắt, đường bộ, sông đào,… rất cần thiết cho công cuộc khai thác [32, tr.138]
Chương trình khai thác do Đume vạch ra và thực thi ở Đông Dương (chủ yếu ở Việt Nam) mục đích tối thượng là biến gấp Đông Dương thành một thuộc địa khai khẩn bậc nhất, đem lại siêu lợi nhuận cho đế quốc Pháp Đồng thời nhằm tạo ra ở Việt Nam cơ chế tài chính mới, tương đối hiện đại và hoàn chỉnh đặc biệt là chính sách thuế
Để thực hiện mục tiêu vạch ra thực dân Pháp chấn chỉnh, hoàn thiện lại
bộ máy cai trị thuộc địa nhằm ổn định tình hình và đồng thời sử dụng nó làm công cụ vơ vét bóc lột
Dựa trên bộ máy chính quyền chung được thiết lập sau khi hình thành Liên bang Đông Dương, thực dân Pháp đã kiện toàn bộ máy cai trị hành chính các cấp và phân chia khu vực hành chính cho phù hợp với hoàn cảnh mới Đứng đầu Đông Dương là Hội đồng tối cao Đông Dương, đến năm 1911 đổi thành Hội đồng chính phủ Đông Dương Hội đồng này có tính chất tư vấn, mọi việc đều do Toàn quyền Đông Dương quyết định Giúp việc cho Toàn
Trang 29quyền còn có thêm các hội đồng: Hội đồng phòng thủ Đông Dương, thành lập ngày 31/10/1902, Nha tổng giám đốc tài chính Đông Dương thành lập năn
1907, Hội đồng tư vấn học vấn chính Đông Dương thành lập ngày 21/12/1917 Đặc biệt đến năm 1928, Pháp lập ra Đại hội đồng kinh tế và tài chính Đông Dương với tư cách là cơ quan tư vấn các vấn đề kinh tế, tài chính trong toàn Liên bang
Ở các cấp: Kỳ, tỉnh, thành phố, phủ (huyện, châu), tổng về cơ bản vẫn như cũ Nam Kỳ là đất thuộc địa, Trung Kỳ, Bắc Kỳ là bảo hộ Ở các cấp xã thôn thực dân Pháp mới chỉ dừng lại ở cửa ngõ làng xã, chưa thâm nhập được vào hoạt động nội bộ của làng xã Nhằm khắc phục tình trạng trên và nhằm mục đích can thiệp trực tiếp vào làng xã, từ năm 1904 thực dân Pháp bắt đầu
quá trình “Cải lương hương chính’’ ở Nam Kỳ với ý đồ đưa tầng lớp tân học
lên cầm quyền, thay lớp cựu học trước kia
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp lâm vào tình trạng khủng hoảng Để khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, củng cố địa vị trên trường quốc tế.Chính phủ Pháp tìm mọi cách thúc đẩy sản xuất trong nước, mặt khác tăng cường đầu tư khai thác bóc lột thuộc địa Khu vực được chú trọng nhất là Châu Phi và Đông Dương Ở Đông Dương, thực dân Pháp
thực hiện “Chương trình khai thác thuộc địa lần hai” với nội dung chủ yếu là
đẩy mạnh khai thác kinh tế - tài chính trên cơ sở đầu tư vốn vào thuộc địa Đông Dương
Thực hiện chủ trương trên, thực dân Pháp đã tiến hành một số cải cách nhằm đối phó lại những biến động xã hội đang diễn ra ở Việt Nam Mục tiêu của cải cách này là mở rộng cơ sở xã thôn nhưng không làm ảnh hưởng lớn đến nền tảng thống trị ở Đông Dương Thực hiện mục tiêu đó, thực dân Pháp
tiếp tục thực hiện chính sách “Cải lương hương chính” Trên thực tế thực dân Pháp đã đưa ra 7 văn bản lập quy chính về vấn đề “Cải lương hương chính”:
Trang 303 văn bản đối với Nam Kỳ (1904, 1927, 1944), 3 văn bản đối với Bắc Kỳ (1921, 1927, 1941), 1 văn bản đối với Trung Kỳ (1942)
Thi hành chính sách “Cải lương hương chính”, thực dân Pháp không
còn dừng lại ở cửa ngõ làng xã mà xâm nhập sâu vào nội bộ thôn xã Với chính sách “Cải lương hương chính” dù các tổ chức đứng đầu làng xã có mang tên gọi khác nhau như: Hội đồng Kỳ mục, Hội đồng đại kỳ mục, Hội tề
… nhiệm vụ cơ bản của nó vẫn là giữ gìn an ninh trật tự trong làng xã và thu thuế đến từng người dân
Song song với việc cải cách hành chính, thực dân Pháp còn tăng cường biện pháp kinh tế nhằm khai thác triệt để thuộc Địa Đông Dương Một mặt chính quyền thuộc địa tạo điều kiện khuyến khích tư bản Pháp đầu tư vốn vào thuộc địa đặc biệt là Việt Nam Mặt khác để tăng nguồn thu từ thuộc địa, thực dân Pháp chú trọng điều chỉnh chính sách thuế thực thu đặc biệt là cải cách thuế thân, lập nhiều sắc thuế gián thu mới trên cơ sở sự tăng trưởng các ngành
có thuế, bao quát mọi nguồn thu để làm giàu cho các loại ngân sách
Đặc biệt là đại chiến thế giới thứ hai (1939 - 1945) nổ ra và việc phát xít Nhật vào Đông Dương (1940) đã làm thay đổi tình hình kinh tế, chính trị,
xã hội Việt Nam một cách sâu sắc Riêng với cơ chế tài chính thuộc địa thì không có sự thay đổi Trên thực tế, thực dân Pháp chỉ nhượng bộ cho Nhật một số quyền lợi về quân sự và kinh tế Để bù đắp cho những chi phí quân sự
ở chính quốc và ở Đông Dương, cộng với những khoản phải cung cấp cho quân đội Nhật, thực dân Pháp đã tăng cường bóc lột bằng thuế Nhật và Pháp
đã cấu kết với nhau áp bức bóc lột nhân dân ta, cũng từ đó nhân dân ta phải chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật Đây chính là động lực để thúc đẩy nhân dân ta vùng nên đánh đổ Pháp - Nhật, làm cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, chấm dứt ách đô hộ hơn 80 năm, của đế quốc Pháp ở nước ta, mở
ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc: kỷ nguyên dựng nước và giữ nước
Trang 312.2 CHÍNH SÁCH THUẾ KHÓA CỦA THỰC DÂN PHÁP
Chiếm được Việt Nam, một trong những việc đầu tiên của thực dân Pháp
là thu thuế để chi tiêu, các món thu đều được ghi vào ngân sách Ngân sách đầu tiên chúng lập ra là ngân sách Nam Kỳ Ngay sau khi chiếm được mấy tỉnh Nam Kỳ, thực dân Pháp dùng chế độ thuế má hà khắc để bóc lột nhân dân ta Để thu thêm thuế ruộng, chúng đã tăng con số diện tích ruộng đất thêm 2/5, do đó thu thêm được 1.701.725 phơrăng Năm 1880, xứ Nam Bộ đã nộp
số thuế là 20 triệu phơrăng Bảy năm sau con số đó đã tăng lên 35 triệu, kể cả các khoản thu địa phương
Sau hiệp ước Patơnốt (6/6/1884) thực dân Pháp đã lập ra một ngân sách chung cho cả Trung Kỳ và Bắc Kỳ, gọi là ngân sách Trung - Bắc Kỳ (hay gọi
là ngân sách bảo hộ) với nguồn thu được quy định là: tất cả các nguồn thu từ các loại thuế ở Bắc Kỳ, các khoản thu từ thuế gián thu và một nửa tổng thuế quan ở Trung Kỳ (còn tiền thuế trực thu ở Trung Kỳ và nửa tổng số thuế quan
sẽ thuộc ngân khố triều đình Huế - theo thỏa thuận của hàng ước 1884) Tiếp sau đó, theo nghị định ngày 7/5/1893 của Toàn quyền Đông Dương, ngân sách hàng tỉnh Bắc Kỳ cũng ra đời
Căn cứ vào nguồn thu được quy định, thực dân Pháp bắt tay vào tổ chức bóc lột Việt Nam Nhưng do chưa thiết lập ách đô hộ trên đất nước ta nên chính sách thuế của thực dân Pháp chưa có quy định cụ thể, rõ ràng Chủ yếu thực dân Pháp vẫn vận dụng các sắc thuế cũ của nhà Nguyễn (thuế thân, thuế ruộng đất, rượu, muối, thuốc phiện) và tập trung vào thuế thương chính (thuế quan và thuế nội thương) để tăng số thu
Sang năm 1898, chính sách thuế má được điều chỉnh với việc thành lập ngân sách toàn Đông Dương và ngân sách hàng “xứ” Trước kia ngân sách Nam Kỳ và ngân sách Trung Kỳ đều gồm mọi khoản thuế Bây giờ, lập ra ngân sách Đông Dương, ngân sách này được góp phần bằng các loại thuế gián
Trang 32thu chủ yếu là rượu, muối, thuốc phiện Mỗi xứ có một ngân sách góp bằng thuế đinh và thuế điền (thuế trực thu) để chi tiêu công việc trong “xứ” Số thu
về thuế má cho ngân sách Đông Dương tăng lên không ngừng
Sau đây là bảng thống kê về số thu của ngân sách Đông Dương:
1889 (lần)
Số thu tính theo giá đồng bạc năm
1930 (triệu đồng)
So sánh với năm
1889 (lần)
Số thu tính theo gạo (tấn)
So sánh với năm
1889 (lần)
Chính sách thuế má của thực dân Pháp là chính sách tăng thêm các thứ thuế cũ có sẵn ở Việt Nam từ thời phong kiến như thuế đinh, thuế điền, thuế rượu, thuế muối, thuế thuốc phiện, thực dân Pháp còn đặt rất nhiều thuế mới rồi tiến tới tăng thuế mới đặt ra Hễ nhân dân Việt Nam tiêu thụ thứ hàng gì là thứ hàng ấy phải đánh thuế mặc dù trước kia triều đình Nguyễn không đánh hoặc chỉ đánh tương đối nhẹ thôi Có những mặt hàng như xe đạp không
Trang 33những nhân dân ta khi đi mua đã phải gián tiếp đóng thuế nhập cảng và vận chuyển rồi đến khi dùng phải đóng thuế tiêu thụ Giấy tờ, văn tự, văn khế trước kia viết trên giấy tờ thường cũng được, nhưng thực dân Pháp khi sang nước ta phải mua giấy tín chỉ của Nhà nước để làm các thứ đó, và mua giấy tín chỉ tức là phải đóng thuế cho thực dân Pháp Ở thành phố nhiều thứ thuế kỳ dị được đặt ra: thuế cư trú, thuế chó, thuế mái hiên… Trước kia ruộng đất bỏ hoang, chưa làm nhà ở các thành phố Bắc Bộ vẫn không phải nộp thuế nhưng từ năm 1942 trở đi tất cả các đất đó cũng đều nhất luật phải nộp thuế cả
Đặc biệt hơn nữa là muốn thu được nhiều thuế, ngay từ năm 1861 vừa chân ướt chân ráo tới Nam Bộ thực dân Pháp đã cho mở đầy rẫy sòng bạc, thứ
mà ngay cả các triều vua trước kia nói chung vẫn cấm đoán ngặt Riêng năm
đó chúng đã thu thuế của 10 sòng bạc công khai Sau khi đánh chiếm miền Bắc, sòng bạc cũng theo gót chân Pháp lan ra Hàng năm thực dân Pháp đã thu rất nhiều thuế từ sòng bạc
Tóm lại, thực dân Pháp đặt thêm rất nhiều thứ thuế từ xưa chưa từng có
ở Việt Nam Thậm chí đến học sinh đi thi cũng phải nộp tiền cho chúng Thí
dụ năm 1933 mỗi học sinh thi bằng cao đẳng tiểu học phải nộp 3đ00 (trước 2đ00) và thi sơ học Pháp Việt mất 0đ50 (trước không mất) Tất cả những thứ thuế đó đè nặng lên nhân dân Việt Nam đến nỗi có những người Pháp cũng kêu lên ngay từ khi Pháp mới xâm chiếm Việt Nam Một văn sĩ Pháp đã phát
biểu: “Người An Nam cứ trả tiền và trên chiếc lưng cao su cả họ, nhà nước
tha hồ kéo dài mức thuế co dãn” [16, tr.254]
Trang 342.3 CHẾ ĐỘ TÔ, THUẾ NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC (1858-1945)
2.3.1 Thuế nông nghiệp của thực dân Pháp
Số tiền thuế của ngân sách Đông Dương không ngừng tăng là kết quả của những mánh khéo vô cùng dã man của thực dân Pháp Dưới thời phong kiến, nền kinh tế nước ta có tính chất tự cấp, tự túc, hầu hết mọi hoạt động đều quy tụ vào nông nghiệp Từ khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, để thu được nhiều tiền thuế từ nông nghiệp, thực dân Pháp duy trì tất cả các loại thuế có từ thời phong kiến mà chủ yếu là thuế đinh và thuế điền
2.3.1.1 Thuế ruộng đất
Trước năm 1897, ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ thực dân Pháp vẫn áp dụng cách thức thu thuế của nhà Nguyễn Ruộng đất đánh theo đẳng hạng và xếp theo độ phì truyền thống mà không theo năng suất Điều này dẫn đến nhiều điều vô lý bất công, tạo điều kiện cho chính quyền làng xã tùy tiện thay đổi đẳng hạng mỗi khi thấy cần thiết, như khi cần đền bù số thuế do Nhà nước ấn định hoặc có cần chi tiêu trong làng xã
Từ năm 1897, Nghị định ngày 2/6 của Toàn quyền Đông Dương đã quy định thuế đất áp dụng cho cả người Âu, người Á kiều và người dân bản xứ như sau:
Biểu thuế áp dụng đối với người bản xứ (An Nam)
Ruộng đất của người bản xứ được chia làm hai loại:
Loại 1: Là ruộng chỉ dùng trồng lúa
Loại 2: Là đất trồng các loại cây trồng khác, nhà ở, đất hoang, ao hồ Ruộng trồng lúa được chia làm ba hạng theo độ màu mỡ của đất, với các mức thuế sau:
Ruộng hạng 1: 1đ50/1mẫu/1năm
Ruộng hạng 2: 1đ10/1mẫu/1năm
Trang 35Hạng 3: 3đ30/1mẫu/1năm là đất trồng các loại cây: ngô, vừng, khoai,
đỗ, cói, rau các loại, cây ăn quả
Hạng 4: 0đ10/1mẫu/1 năm là các loại đất bỏ hoang, đầm hồ
[12, tr.142]
Nhà nước miễn thuế cho khu vực dùng làm nghĩa địa, đền, đình, nhà thờ, chùa chiền và công trình tôn giáo khác Đồng thời tạm miễn thuế cho vùng trồng cà phê và các loại cây được đưa từ nước ngoài về
Trong khi chưa tìm ra phương thức quản lý hữu hiệu, Nhà nước thực dân vẫn duy trì phương thức quản lý của triều Nguyễn, tự mỗi làng lập một sổ điền, trong đó kê khai số ruộng đất, đẳng hạng của từng hộ gia đình Chức dịch làng xã căn cứ vào sổ điền báo cáo ruộng đất của địa phương mình lên quan Công sứ Công sứ báo cáo lên quan Thống sứ Thống sứ sẽ “bài chỉ” về từng làng xã trước khi nộp sưu thuế (trước tháng 6 dương lịch hàng năm) Nhà nước không trực tiếp thu mà giao cho chính quyền làng xã, theo hình thức khoán thu Dân đinh sẽ phải nộp thuế ruộng đất cùng với thuế thân, toàn
bộ một lần vào tháng 6 hàng năm
Từ cuối thế kỷ XIX, người Âu (chủ yếu là người Pháp) và người Á kiều kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp đã xuất hiện tương đối nhiều Để chứng tỏ sự công bằng đối với dân bản địa, đồng thời cũng là tăng thu ngân sách, chính quyền thực dân cũng ban hành biểu thuế ruộng đất này đối với
Trang 36người Âu và người Á kiều Biểu thuế này được thực hiện đối với đất đai thuộc quyền sở hữu của người Âu và người Á kiều nằm trong các khu vực đô thị hoặc những vùng đai ở khu vực nông nghiệp được Nhà nước cấp nhượng, hàng năm phải đóng thuế ruộng đất Biểu thuế nhà nước ổn định như sau: Tất cả những bất động sản thuộc quyền sở hữu của người Âu và người Á kiều về phương diện thuế chia làm hai loại:
Loại thứ nhất: gồm những ruộng đất sở hữu, ở trung tâm thành phố
(Hà Nội, Hải Phòng…) và thị trấn của các tỉnh, được chia làm 4 hạng và với các mức thuế như sau:
Hạng 1: Đất có công trình xây dựng cao tầng 25đ00/ha/1năm
Hạng 2: Đất xây dựng công trình một tầng 15đ00/1ha/năm
Hạng 3: Đất có công trình xây dựng bằng gỗ hoặc nhà tranh 8đ00/ha/năm
Loại thứ 2: Gồm những ruộng đất sở hữu nằm ở khu vực nông thôn
(nhượng đất nông nghiệp đồn điền) Loại đất này sẽ thu một loại danh sách đặc biệt dưới sự giám sát chặt chẽ chỉ khi Thống sứ Bắc Kỳ, với các mức thuế như sau:
Nghị định 2/6/1897 chia đất nhượng cho người Pháp thành hai loại đánh thuế: Ruộng trồng lúa và các loại cây khác
- Ruộng trồng lúa được chia làm 3 hạng:
Hạng nhất: 1đ50/1mẫu/1năm
Hạng nhì: 1đ10/1mẫu/1năm
Hạng ba: 0đ80/1mẫu/1năm
- Các loại đất khác được chia làm 4 hạng:
Hạng 1: 2đ00/1mẫu/1năm gồm các loại đất trồng: thuốc lá, trầu, cau, dừa, mía
Trang 37Hạng 2: 0đ50/1mẫu/1năm áp dụng cho các loại đất trồng chè, dâu tằm, bông, đay bản xứ, gai, thầu dầu
Hạng 3: 0đ30/1mẫu/1năm áp dụng cho các loại đất trồng ngô, vừng, khoai lang, đậu, rau các loại và đất ở
Hạng 4: 0đ10/1mẫu/1năm gồm các loại đất hang đầm lầy, hồ ao, ruộng muối [37, tr.66 – 67]
Đối với đất trồng cà phê, điều 5 nghị định này quy định: Đất trồng cà phê và các loại cây mới nhập vào trồng sẽ được miễn thuế cho đến khi có quyết định mới
Năm 1913, Thống xứ Bắc Kỳ đã ban hành một chế độ đánh thuế chi tiết hơn đối với ruộng đất đồn điền Ở các tỉnh nhiều đồn điền của người Pháp như Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hải Dương, Bắc Giang… thuế ruộng đất đánh theo hạng và theo năng xuất của vụ thu, gồm các mức sau:
Hạng 1: 2đ00/ha/năm đối với các loại trồng lúa, có năng suất tối thiểu 2400kg/ha/năm và đều trồng các loại thuốc lá, trầu, cau, mía
Hạng 2: 1đ50/ha/năm đối với ruộng trồng lúa có năng suất trung bình 1000kg/ha/năm, những đất trồng các loại cây đặc biệt được miễn thuế
Hạng 3: 0đ80/ha/năm đối với các loại ruộng trồng lúa, có năng suất trung bình 800 đến 1000kg/ha/năm
Hạng 4: 0đ30/ha/năm đối với các loại ao, đầm, hồ, những phần đất tự nhiên làm bãi chăn thả gia súc, đất sình lầy… [36, tr.169]
Đất trồng cà phê được miễn thuế trong 6 năm đầu và chè được miễn thuế
4 năm đầu Sau hạn đó, đất trồng cà phê chịu 0đ60/ha/năm, chè 0đ40/ha/năm Đất trồng các loại cây mới được đưa vào thuộc địa vẫn được miễn thuế
Nếu so sánh mức thuế trên đối với thuế ruộng đất và điều kiện canh tác của người bản xứ thì ruộng trong các đồn điền được hưởng chính sách thuế đặc biệt ưu đãi Song trên thực tế các điền chủ yếu vẫn luôn tìm cách chốn
Trang 38thuế Còn chính quyền bảo hộ luôn tỏ ra và “rộng lượng” qua việc liên tục giảm nhẹ mức thuế, thậm chí còn tạo điều kiện cho việc trốn thuế Năm 1901,
De Lanesan Bộ trưởng hải quân đã nói trong một bức thư gửi nhân viên của
phòng Thương mại Hải Phòng ngày 18/6/1901 “Tôi luôn luôn cho rằng nghĩa
vụ về thuế khóa của người Âu ở các thuộc địa của chúng ta phải nhẹ ở mức
có thể bù đắp lại những hy sinh về vật chất và tinh thần mà họ bắt buộc phải chịu khi xa Tổ quốc” [12, tr.48]
Để hỗ trợ cho việc thực hiện chế độ thuế mới năm 1897, chính quyền thực dân đã đưa ra biện pháp thống nhất đơn vị đo lường và thực hiện “chính sách đạc điền” trên toàn Đông Dương Biện pháp này nhằm khắc phục tình trạng ẩn lậu ruộng đất Đơn vị đo lường mới được áp đặt là đơn vị đo lường
đo đạc
Trước kia triều Nguyễn thường căn cứ vào sổ điền ở các làng xã để ấn định số thuế phải thu, rồi giao cho xã tự do bổ bán Nhà nước không có biện pháp kiểm tra nên tình trạng ẩn lậu ruộng đất rất nhiều Để khắc phục tình trạng này, thực dân Pháp đã tiến hành đo đạc ruộng đất theo hệ thống đo lường mới Công việc này tiến hành tương đối thành công ở Nam Kỳ và căn bản hoàn thành vào cuối thế kỷ XIX Ở Bắc Kỳ và Trung kỳ việc đo đạc chậm chạp hơn, phải đến năm 1930 mới căn bản hoàn thành Tình trạng ẩn lậu ruộng đất vẫn còn Để đối phó với tình trạng này, các viên Công sứ khi duyệt diện tích đóng thuế thưởng ấn định một cách độc đoán diện tích đóng thuế cho từng xã Điều đó dẫn đến tình trạng phổ biến là các xã phải nộp thuế
ruộng đất vượt hơn diện tích có thật Ví dụ: “Làng Thanh Vân (Vĩnh Yên)
thực có 270 mẫu nhưng phải nộp thuế 305 mẫu, làng Vô Song (Thái Bình)
Trang 39thực có 501 mẫu phải nộp 637 mẫu, làng Quỳnh Đôi (Nghệ An) thực có 618 mẫu phải nộp cho 910 mẫu…” [11, tr.39]
Để mang lại cho chính quyền bảo hộ một nguồn vốn lớn để bù vào những chi phí ngày càng nặng Năm 1921, Toàn quyền Đông Dương đã đưa ra một thay đổi sửa đổi thuế ruộng đất với nghị định này quy định lại thuế đất nông nghiệp như sau:
Đất ruộng lúa: Được chia làm 5 hạng theo độ mầu mỡ của đất:
Biểu thuế ruộng đất áp dụng đối với người bản xứ người Á kiều như sau: Đất ruộng lúa: có 3 hạng
Hạng 1: 1đ90/1mẫu/1năm
Trang 40Hạng 4: 0đ17/1mẫu/1năm cho đất hoang, ao, đầm, ruộng
Hạng 5: 0đ02/1mẫu/1năm cho đất không trồng trọt hoặc không có khả năng phục hồi rừng thường xuyên
Miễn thuế cho các loại đất dành cho nghĩa trang, chùa, nhà thờ, các công trình tôn giáo khác
Đất trồng cà phê được miễn thuế 6 năm đầu, chè 4 năm đầu, sau thời hạn trên đóng thuế hạng 3 (0đ50) [33, tr.179]
Bên cạnh đó chính quyền bảo hộ có đặt ra một loại thuế phụ thu 4/1000 trên thuế ruộng đất chính ngạch của bản xứ, người Á kiều ở khu vực nông thôn Thuế này gọi là thuế phần trăm (%) lợi nhuận cho phòng canh nông Đến năm 1940, thuế phụ thu này tăng lên 6/1000 về sau tăng lên từ 8 - 10% tùy từng tỉnh Thuế ngoại phụ này do Công sứ quyết định, tỷ lệ thu hàng năm dựa trên nhu cầu chi tiêu cần thiết của ngân sách hàng tỉnh
Biểu thuế áp dụng đối với người Âu được chính quyền quy định: tất cả trong ruộng đất thuộc quyền sở hữu của người Âu được hưởng chế độ ưu đãi đặc biệt với biểu thuế sau:
Ruộng trồng lúa:
Loại ngoại hạng: 4đ00/1ha/năm cho ruộng thu lợi 4000kg/1năm