TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ ******** BÙI THỊ TRANG VẬN DỤNG QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH TRONG TRIẾ HỌC MÁC – LÊNIN VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở VIỆT
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
********
BÙI THỊ TRANG
VẬN DỤNG QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH TRONG TRIẾ HỌC MÁC – LÊNIN VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI GIÁO
DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Người hướng dẫn khoa học :
GV NGUYỄN THỊ THÙY LINH
HÀ NỘI - 2011
Trang 2Lời cảm ơn
Trong quá trình triển khai và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới cô Nguyễn Thị Thuỳ Linh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khoa luận này
Em xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị và các thầy cô giáo trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình giảng dạy em trong suốt khoá học để em có điều kiện tích luỹ kiến thức
Em xin cũng bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình cùng bạn bè đã động viện, giúp
đỡ em trong suốt thời gian em thực hiện khoá luận
Tuy nhiên, trong điều kiện thời gian có hạn cũng như kiến thức hạn chế của bản thân, nên khoá luận khó tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự góp ý của quý thầy cô cùng bạn bè
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Bùi Thị Trang
Trang 3Lời cam đoan
Khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Vận dụng quy luật phủ định của phủ
định trong triết học Mác – Lênnin vào sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay” là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của cô
Nguyễn Thị Thuỳ Linh Tôi cam đoan khoá luận tốt nghiệp của mình không trùng với kết quả của các công trình đã nghiên cứu trước đó
Sinh viên thực hiện
Bùi Thị Trang
Trang 4Mục lục
A - Mở đầu 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
7 Kết cấu khóa luận 5
B - Nội dung 6
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quy luật phủ định của phủ định và sự nghiệp giáo dục .6
1.1 Quy luật phủ định của phủ định 6
1.1.1 Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng 6
1.1.2 Nội dung quy luật phủ định của phủ định 7
1.1.3 Nguyên tắc phương pháp luận của quy luật phủ định của phủ định và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay 9
1.2 Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào sự nghiệp đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay 10
1.2.1 Khái niệm giáo dục 10
1.2.2 Vai trò, vị trí của giáo dục và đào tạo 11
1.2.3 Quán triệt nguyên tắc phủ định của phủ định vào sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay 13
Chương 2: Thực trạng nền giáo dục Việt Nam hiện nay 15
2.1 Những thành tựu của nền giáo dục Việt Nam 15
Trang 52.2 Những yếu kém, bất cập của nền giáo dục Việt Nam 19
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay .24
3.1 Bối cảnh quốc tề và trong nước những thập niên đầu thế kỷ 21 24
3.1.1 Bối cảnh quốc tế 24
3.1.2 Bối cảnh trong nước 25
3.1.3 Cơ hội và thách thức đối với nền giáo dục Việt Nam 26
3.2 Phương hướng đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay 28
3.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần thúc đẩy sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay 30
3.3.1 Các nguyên tắc chung của sự nghiệp đổi mới giáo dục Việt Nam ( Vận dụng quy luật phủ định của phủ định) 30
3.3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần thúc đẩy sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay 31
C - Kết luận 46
Danh mục tài liệu tham khảo 48
Trang 6Mở ĐầU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quy luật phủ định của phủ định là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật nói lên khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng, đó là khuynh hướng phát triển mang tính kế thừa những nhân tố tích cực, loại bỏ những nhân tố lạc hậu, lỗi thời của cái cũ, trên cơ sở đó tạo sự phát triển cho cái mới Với ý nghĩa đó, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng quy luật này để
đưa ra các chủ trương, chính sách cho công cuộc đổi mới đất nước trên tất cả các lĩnh vực Một trong những lĩnh vực được Đảng và Nhà nước quan tâm vận dụng không thể không nói tới lĩnh vực giáo dục
Sự nghiệp giáo dục Việt Nam trong những năm vừa qua đã đạt được những thành tựu đáng tự hào, góp phần đắc lực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Bên cạnh thành tựu đã đạt được, về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn giáo dục và đào tạo còn nhiều hạn chế và thiếu sót như: chưa nghiên cứu một cách có hệ thống để kế thừa các tư tưởng và di sản giáo dục của cha ông, chưa tiếp thu đẩy đủ và kịp thời thành những tựu của giáo dục của thế giới
Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, quá trình giao lưu quốc tế trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội
được tăng cường và phát triển với tốc độ nhanh Đa số các nước đều chú trọng giáo dục - đào tạo Để những chính sách đó không phải là sự sao chép, “lai căng”, không trở thành bóng mờ của người khác, đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc, vấn đề kế thưa và phát huy những giá trị tích cực của giáo dục truyền thống trong giáo dục đào tạo đang được nhiều nước quan tâm, đặc biệt là các quốc gia
đang phát triển Các nước này đang mày mò, trăn trở tìm lời giải trong việc đúng
đắn những giá trị tích cực của nền giáo dục truyền thống để kế thừa và phát huy Trong quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo, bên
cạnh những mặt tích cực thì sự nghiệp giáo dục - đào tạo ở Việt Nam còn có khuynh hướng lệch lạc Chưa khắc phục được những truyền thống xấu, lạc hậu của nền giáo dục cũ như chạy theo bằng cấp, nặng lý thuyết, nhẹ thực hành, có
Trang 7khuynh hướng thương mại hoá trong giáo dục, môi trường giáo dục có chỗ chưa lành mạnh, phương pháp giảng dạy và học tập còn lạc hậu Truyền thống tốt của giáo dục như truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, coi trọng giáo dục đạo đức chưa phát huy đúng mức, do vậy sản phẩm của giáo dục có khuynh hướng coi nhẹ hoặc phủ nhận những giá trị quý báu của truyền thống dân tộc được hun đúc trong hàng nghìn năm lịch sử và những thành quả của chủ nghĩa xã hội trước
và đào tạo của dân tộc với những tinh hoa giáo dục - đào tạo của nhân loại trong
sự nghiệp đổi mới giáo dục - đào tạo, nắm bắt tính quy luật, đánh giá đúng thực trạng của nền giáo dục Việt Nam, đề xuất những giải pháp để thúc đẩy sự nghiệp
đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay vừa có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, giúp cho việc lãnh đạo quản lý giáo dục - đào tạo được tốt hơn
Vì vậy, việc nghiên cứu “Vận dụng quy luật phủ định của phủ định
trong triết học Mác - Lênnin vào sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay” là cần thiết và cấp bách, nên tôi đã chọn đề tài này để làm khoá luận tốt
nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Giáo dục - đào tạo liên quan đến mọi gia đình, mọi ngành nghề Vì vậy, Nhiều nhà khoa học khi nghiên cứu chuyên môn của mình đều giành một phần nói về giáo dục - đáo tạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Viện nghiên cứu khoa học giáo dục, Báo Giáo dục và Thời đại đã đề cập nhiều đến nội dung ở từng mảng vấn đề với góc độ khác nhau như vai trò của giáo dục - đào tạo, đặc điểm của nền giáo dục - đào tạo, nội dung, chương trình,
Trang 8cơ cấu ngành nghề, tổ chức quản lý giáo dục - đào tạo Hầu như tất cả các báo, tạp chí ra hàng ngày, hàng tháng đều dành một tỷ lệ thích đáng đề cập đến giáo dục - đào tạo, mỗi tháng có 300 – 400 bài viết về giáo dục - đào tạo Với các Nghị quyết, bài viết và công trình nghiên cứu như:
Nghị quyết hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nghị quyết đã dành một phần đánh giá thực trạng và đề ra những nhiệm
vụ cụ thể nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo Việt Nam tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc
Bài viết “Một số ý kiến về tình hình giáo dục hiện nay” của Hoàng Tuỵ
(Phát triển giáo dục 1/ 1997) Thông qua bài viết đã giúp cho người đọc thấy rõ hơn về thực trạng của giáo dục Việt Nam
Các văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương (khoá VII),
Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII) ; Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa XXI của Phạm Minh Hạc, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1999; 50 năm phát triển giáo dục và đào tạo (1945 – 1995) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995; Vấn đề giáo dục và đào tạo của Phạm Văn Đồng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Giáo dục tại Việt Nam:
xu hướng phát triển và những khác biệt, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1996 Đặc biệt
là bộ sách Những vấn đề về chiến lược phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá
gồm 9 tập của Viện nghiên cứu Phát triển giáo dục, (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998) đã đánh giá chi tiết thực trạng của nền giáo dục Việt Nam trên hầu các lĩnh vực của giáo dục - đào tạo
Những kết quả nghiên cứu trên đã đề cập đến nền giáo dục - đào tạo trên nhiều phương diện khác nhau Song chưa có bài viết nào đề cập đến việc “Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay” Vì vậy tôi mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này để làm rõ thực trạng và
đưa ra phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới nền giáo dục Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 93.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nhằm nghiên cứu vai trò của quy luật phủ định của phủ định vào sự nghiệp đổi mới giáo dục Việt Nam và đề ra phương hướng, một
số giải pháp cơ bản để góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục nước ta trong giai
đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hoá một cách khái quát lại nội dung quy luật phủ định của phủ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là: quy luật phủ định của phủ
định trong triết học Mác - Lênin và vận dụng quy luật đó vào sự nghiệp đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là: quá trình giáo dục ở Việt Nam hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của khoá luận: chủ yếu là phương pháp biện chứng duy vật, phương pháp lôgíc – lịch sử, phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh,
đối chiếu
6 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài chỉ rõ tính khoa học của quy luật phủ định của phủ định và vận dụng tính khoa học đó vào sự nghiệp đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay Chỉ
Trang 10ra thực trạng của nền giáo dục Việt Nam và đóng góp một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần xây dựng nền giáo dục Việt Nam hiện nay
7 Kết cấu khoá luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận được chia làm 3 chương, 7 tiết
CHƯƠNG 1 một số vấn đề lý luận chung về quy luật phủ định của
phủ định và đổi mới giáo dục 1.1 Nội dung quy luật phủ định của phủ định
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về phủ định của phủ
định
Bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới đều trải qua quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong Sự vật cũ mất đi được thay thế bằng sự vật mới triết học gọi đó là phủ định
Phép biện chứng duy vật không đề cập đến sự phủ định chung mà chỉ nói
đến sự phủ định làm tiền đề tạo điều kiện cho sự phát triển, cho cái mới ra đời thay thế cái cũ Đó là sự phủ định biện chứng
Phủ định biện chứng là sự tự phủ định diễn ra do mâu thuẫn bên trong sự vật, hiện tượng quy định Sự phủ định này đã được các nhà triết học Hy Lạp cổ
Trang 11đại phát hiện ra và trình bày dưới dạng sơ khai, mộc mạc.Chúng ta không thể quên luẩn điểm “Con người không thể tắm hai lần trên cùng một dòng nước”,
“Mặt trời mỗi ngày một đổi mới, nó luôn luôn đổi mới và vĩnh viễn đổi mới” [2, tr.154] Mọi cái chỉ xảy ra có một lần, không lặp lại dù các sự vật có sự kế thừa nhất định Hay như Talet cho rằng mọi sự vật không ngừng biến đổi, sinh ra và chết đi Toàn bộ thế giới tồn tại như một vòng tuần hoàn biến đổi không ngừng Tuy nhiên, quan niệm của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại mới chỉ được thể hiện dưới hình thức ngây thơ và mang tính duy vật tự phát
Người đầu tiên trong lịch sử đã đưa ra những tư tưởng rõ ràng về phủ định biện chứng là Hêghen Cùng với quan niệm mâu thuẫn, ông đã đưa ra quan niệm
về phủ định Hêghen phân biệt phủ định trừu tượng với phủ định cụ thể Phủ định trừu tượng là phủ định sạch trơn không chỉ xoá bỏ cái cũ, mà còn xoá bỏ cả những yếu tố có khả năng tạo sự sống cho nó Trong khi đó phủ định cụ thể không chỉ đơn giản xoá bỏ cái cũ, mà còn giữ lại những yếu tố mầm mống, tạo khả năng sống cho nó, tức sự phủ định mang tính kế thừa, phủ định có chọn lọc Hêghen gọi sự phủ định như thế là sự vượt bỏ và cho rằng, sự phát triển tất yếu
đưa đến sự phủ định Sự phủ định không phải là sự gán ghép từ bên ngoài, mà là kết quả tất yếu từ chính quá trình phát triển của sự vật Chính sự phủ định là một nấc thang xác định trong quá trình phát triển cho nên sự phủ định ấy cũng phải chịu một sự phủ định bản thân nó trong tiến trình phát triển tiếp theo của sự vật
Đó chính là sự phủ định của phủ định, mà kết quả dường như quay trở lại cái cũ, khôi phục lại cái cũ, nhưng trên cơ sở mới Đến lượt cái này, trong tiến trình phát triển tiếp theo, sẽ lại chịu sự phủ định tiếp theo
Như vậy sự phủ định của phủ định trong triết học của Hêghen đã vạch ra khuynh hướng vận động và phát triển của sự vật, chỉ ra mối lien hệ lôgic – lịch
sử của sự phát triển, nhưng nó lại mang một “lớp vỏ thần bí” duy tâm khách quan, bởi nó chỉ mô tả sự vận động của tinh thần của khái niệm
Tuy hệ thống triết học của Hêghen là thần bí tự biện, trừu tượng, ông đã sử dụng phương pháp triết học có tính cách mạng của ông để xây dựng lên một hệ
Trang 12thống triết học bảo thủ, nhưng không ai có thể phủ nhận được Hêghen là nhà biện chứng thiên tài
Đúng như nhận định của C.Mác và PH.Ăngghen, chúng ta không nên dừng lại ở bộ khung và toà nhà triết học của Hêghen để chỉ thấy mặt hạn chế, bảo thủ, phản động mà phải đi sâu vào bên trong bộ khung đó để có thể thấy
được những đóng góp triết học to lớn của Hêghen
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa duy vật hiện đại, C.Mác và PH.Ăngghen đã cải tạo phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen
“dựng” nó lại và xây dựng một phép biện chứng mới (phép biện chứng duy vật)
và coi đó là nhiệm vụ triết học quan trọng của mình Các ông đã kế thừa, tiếp thu
có phê phán phép biện chứng duy tâm của Hêghen và tìm ra quy luật cơ bản chi phối sự vận động, phát triển của lịch sử
Theo C.Mác và PH.Ăngghen, phạm trù phủ định là sản phẩm của tư duy,
là kết quả nhận thức thế giới khách quan của con người Nội dung của phạm trù phủ định là sự phản ánh, là hình ảnh của sự phủ định diễn ra trong tự nhiên và trong lịch sử Không phải nội dung của sự phủ định trong tư duy quy định nội dung sự phủ định trong tự nhiên, trong lịch sử Trái lại, nội dung phủ định trong
tự nhiên và lịch sử sẽ quy định trong tư duy
Về phạm trù trong triết học duy vật biện chứng, trước hết chúng ta phải kể
đến luận điểm sau đây của Ăngghen: “phủ định, trong phép biện chứng, không phỉa có nghĩa giản đơn là nói: không hoặc giả là tuyên bố rằng một sự vật là không tồn tại, hay phá huỷ sự vật ấy theo một cách nào đó” [1, tr.15]
Về một phương diện nhất định, luận điểm trên là một định nghĩa của triết học duy vật biện chứng với tư cách là một phạm trù triết học PH.Ăngghen đã
định nghĩa phủ định “trong phép biện chứng” bằng cách đưa ra nội dung của một loại phủ định khác phủ định “trong phép biện chứng” Xét theo nội dung, đó chính là phủ định hoàn toàn, tuyệt đối một cách siêu hình Đó là loại phủ định không căn cứ vào quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng mà chỉ là một ý kiến
từ bên ngoài áp đặt vào quá trình đó, nên sự phủ định này không có khả năng dẫn
đến bất kỳ sự phủ định nào Từ đó PH.Ăngghen đã chỉ rõ những đặc điểm của
Trang 13phủ định “trong phép biện chứng” Đó là phủ định căn cứ vào quá trình phát triển hiện thực của sự vật, hiện tượng Ăngghen nói về phương thức phủ định như sau:
“Không những tôi phải phủ định, mà còn phải xoá bỏ sự phủ định ấy một lần nữa Cho nên phải thiết lập sự phủ định thư nhất như thế nào cho sự phủ định lần thứ hai vẫn sẽ còn hay có thể có được”[ 1, tr.239 – 240]
Như vậy, theo PH.Ăngghen, phương thức phủ đinh gồm hai bước là phủ
định và phủ định của phủ định đó Trong đó bước phủ định thứ hai (phủ định của phủ định) diễn ra trên cơ sở kết quả của bước phủ định thứ nhất Để cho bước phủ định thứ hai có thể diễn ra và để cho sự vật, hiện tượng có thể tiếp tục cho quá trình vận động của nó thì bước phủ định thứ nhất không thể là bước phủ định sạch trơn (phủ định hoàn toàn) mà là phủ định biện chứng, tức là phủ định có sự
kế thừa Chính sự kế thừa này sẽ khiến cho sự phủ định không dẫn đến sự diệt vong mà làm cho sự vật, hiện tượng phát triển PH.Ăngghen chia sự phủ định làm hai loại “sự phủ định chân chính” và “sự phủ định xấu, không có kết quả”,
“sự phủ định xấu, không có kết quả” chính là sự phủ định thuần tuý, chủ quan, cá nhân, là một ý kiến từ bên ngoài áp đặt vào quá trình phát triển Còn sự “phủ
định chân chính” là sự phủ định có tính tất yếu khách quan PH.Ăngghen viết:
“sự phủ định chân chính – phủ định tự nhiên, phủ định lịch sử và phủ định biện chứng, đúng là động lực (xét về mặt hình thức) của mọi sự phát triển: sự phân ra thành những mặt đối lập đó, đồng thời trên cơ sở kinh nghiệm đã thu được, lại đi tới một luận điểm xuất phát ban đầu, nhưng ở một trình độ cao hơn”[1, tr.883]
Tư tưởng về phủ định biện chứng cũng là vấn đề được Lênin rất quan tâm Trong “Bút ký triết học”, Lênin đã phân biệt rõ phủ định siêu hìnhn và phủ định biện chứng Lênin viết : “không phải sự phủ định thuần tuý, không phải sự phủ
định không suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài nghi, không phải sự do dự, cũng không phải sự nghi ngờ là cái đặc trưng và cái bản chất trong phép biện chứng, - dĩ nhiên phép biện chứng bao hàm trong đó nhân tố của sự phủ định, và thậm chí với tư cách là nhân tố quan trọng nhất của nó, - không, mà là sự phủ
định coi như là vòng khâu của liên hệ, vòng khâu của sự phát triển nó duy trì cái khẳng định, tức là, không có một sự do dự nào, không có một chủ nghĩa triết chung nào”[10, tr.251]
Trang 14Như vậy, từ một số luận điểm trên chúng ta có thể hiểu nội dung cơ bản của quy luật phủ định của phủ định như sau: Quy luật này nói lên mối liên hệ, sự
kế thừa giữa cái khẳng định và cái phủ định, nhờ đó phủ định biện chứng là điều kiện cho sự phát triển; nó bảo tồn nội dung tích cực của giai đoạn trước và bổ sung những thuộc tính mới làm cho sự phát triển đi theo đường “xoáy ốc”
Phủ định biện chứng có hai đặc trưng cơ bản là tính khách quan và tính kế thừa
Phủ định biện chứng mang tính khách quan vì nguyên nhân của sự phủ
định nằm trong ngay bản thân sự vật Đó chính là giải quyết những mâu thuẫn bên trong sự vật Nhờ việc giải quyết những mâu thuẫn mà sự vật luôn phát triển, vì thế phủ định biện chứng là tất yếu khách quan trong quá trình vận động và phát triển của sự vật Phủ định biện chứng không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, con nười chỉ có thể tác động làm cho sự phủ định ấy diễn ra nhanh hay chậm trên cơ sở nắm vững quy luật phát triển của sự vật
Phủ định biện chứng mang tính kế thừa là kết quả của sự phát triển tự thân của sự vật, nên nó không thể là sự thủ tiêu, sự phá huỷ hoàn toàn cái cũ Cái mới chỉ có thể ra đời trên nền tảng cái cũ, là sự phát triển tiếp tục của cái cũ trên cơ
sở gạt bỏ những mặt tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu của cái cũ và chọn lọc, giữ lại, cải tạo những mặt còn thích hợp, những mặt tích cực, bổ sung những mặt mới phù hợp với hiện thực
Trong quá trình phủ định biện chứng, sự vật khẳng định lại những mặt tốt, mặt tích cực và chỉ phủ định những cái lạc hậu, cái tiêu cực Do đó phủ định
đồng thời cũng là khẳng định
Mặt khác, phủ định biện chứng không chỉ là sự khắc phục cái cũ, mà còn
là sự liên kết giữa cái cũ và cái mới, sự vật cũ với sự vật mới, giữa khẳng định với phủ định, quá khứ và hiện thực Phủ định biện chứng mang tính tất
yếu của mỗi liên hệ và phát triển
1.1.2 Nguyên tắc phương pháp luận của quy luật phủ định của phủ định và
ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Trang 15Từ sự phân tích trên, có thể rút ra một số nguyên tắc của quy luật phủ định của phủ định là:
Một là, phủ định của phủ định là sự phủ định tự thân, là tiền đề cho sự phát triển tiếp theo, cho cái mới ra đời thay thế cái cũ
Hai là, phủ định của phủ định được thực hiện thông qua giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật Vì nguyên nhân phủ định của phủ định là do mâu thuẫn nội tại của sự vật, hiện tượng quy định
Ba là, phủ định của phủ định là sự phủ định mang tính khách quan Đó là
sự phủ định của sự vật, hiện tượng không phải do ý muốn chủ quan của con người, cũng không phải do thần linh, thượng đế, chúa trời điều khiển
Bốn là, phủ định của phủ định là phủ định có kế thừa Đó là kết quả của giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật, vì vậy, phủ định của phủ định không thủ tiêu hoàn toàn cái cũ mà giữ lại những nhân tố tích cực của cái cũ, loại bỏ những nhân tố lỗi thời, lạc hậu trên cơ sở đó chuyển sang cái mới tiến bộ hơn Qua đó, giữa cái cũ và cái mới luôn có mỗi quan hệ với nhau chứ không tách biệt nhau thông qua sự kế thừa Đây chính là sự phát triển của sự vật, hiện tượng
Sự phát triển của sự vật, hiện tượng không chỉ có sự phát triển đi lên, sự tiến bộ mà bao gồm cả bước thụt lùi, sự thoái bộ Sự phát triển là một con đường phức tạp tuy nhiên cuối cùng khuynh hướng chung là sự tiến lên, cái mới sẽ ra
đời trên cơ sở cái cũ, nhưng cái mới này có trình độ phát triển cao hơn cái cũ Quá trình cái mới phủ định cái cũ khẳng định sự tồn tại của nó là cả một quá trình lâu dài và phức tạp
Với sự phân tích trên, đòi hỏi chúng ta khi vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào sự nghiệp đổi mới giáo dụcViệt Nam cần biết lựa chọn khuynh hướng đổi mới đúng đắn, phù hợp với quy luật, nhưng đồng thời cũng phải thấy cái “mới” không phải là sự áp đặt từ đâu đó vào mà là kết quả của phủ định biện chứng Đồng thời trong quá trình đổi mới nền giáo dục, chúng ta phải chống lại
sự phủ định sạch trơn hoặc những tư tưởng bảo thủ, kế thừa một cách nguyên si nền giáo dục cũ, đổi mới giáo dục Việt Nam cần biết kế thừa có chọn lọc những
Trang 16thành tựu cuả nền giáo dục truyền thống, coi đó là tiền đề để xây dựng một nền giáo dục Việt Nam mới
1.2 Một số vấn đề lý luận về đổi mới giáo dục
1.2.1 Khái niệm giáo dục và đổi mới giáo dục
* Khái niệm giáo dục
Giáo dục luôn là một trong những vấn đề quan trọng đối với sự phát triển của mọi thời đại Vì vậy khái niệm giáo dục đã nhiều người bàn đến với nhiều góc độ khác nhau
Nhà bác học Mendelev (nước Nga) cho rằng:Giáo dục là cái vốn tự mình thu lượm được tương ứng tiêu phí thời gian và lao động và với việc tích luỹ trí tuệ
và kinh nghiệm của con người
Trong bảng phân loại giáo dục theo tiêu chuẩn quốc tế, thuật ngữ giáo dục
được định nghĩa là: “Sự giao lưu có tổ chức và được duy trì nhằm vào học tập”
Về cơ bản, các giáo trình về Giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày: Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người
Định nghĩa trên nhấn mạnh đến sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học
Theo J Dewey, cá nhân con người không bao giờ vượt qua được quy luật của sự chết, và cùng với sự chết thì những kiến thức, kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất Tuy nhiên, tồn tại xã hội lại đòi hỏi những kiến thức, kinh nghiệm của mỗi con người phải vượt qua được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội Giáo dục là “khả năng” của loài người để đảm bảo sự tồn tại của xã hội
Trong tiếng Anh từ “giáo dục” là “education” Đây là một từ gốc Latinh ghép bởi hai từ: “Ex” và “Ducere”, “Ex-Ducere” có nghĩa là dẫn con người vượt qua khỏi hiện tại của họ mà vươn tới những gì thiện hảo, tốt lành hơn, hạnh phúc hơn Trong định nghĩa này mục tiêu sâu xa của giáo dục là sự hoàn thiện của mỗi
Trang 17cá nhân Người giáo dục (thế hệ trước) có nghĩa vụ phải hướng dẫn, phải truyền lại cho thế hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế hệ sau phát triển hơn, hạnh phúc hơn
Theo quan niệm sơ khai của Đông phương và Tây phương định nghĩa rằng: chữ “Giáo” nghĩa là dạy, là sự rèn luyện về đường tinh thần nhằm phát triển tri thức và huấn luyện tình cảm đạo đức “Dục” nghĩa là nuôi nấng, săn sóc
về mặt thể chất Vậy giáo dục là một sự đào luyện con người về cả ba phương diện trí tuệ, tình cảm và thể chất
Từ điển Tiếng việt của Viện Ngôn ngữ học, trung tâm từ điển học, nxb Giáo dục, 1994 có ghi: “giáo dục 1 (động từ) Hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu
đề ra 2 (danh từ) Hệ thống các biện pháp và cơ quan giảng dạy giáo dục của một nước” [21, tr 379]
* Khái niệm đổi mới giáo dục
Đổi mới giáo dục là quá trình tạo ra giai đoạn phát triển mới về chất của một nền giáo dục Đó là sự thay đổi cơ bản, sâu sắc và toàn diện về mô hình phát
triển giáo dục bao gồm về thay đổi mục tiêu, nguyên lý hoạt động, về cơ cấu hệ
thống, về nội dung chương trình, phương pháp dạy và học, về cách thức đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ giáo viên về cách thức tổ chức và quản lý nhà trường
Đổi mới toàn diện giáo dục - đào tạo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cần bao hàm nội dung kế thừa những giá trị tích cực của nền giáo dục truyền thống, loại bỏ những nhân tố không còn phù hợp, đồng thời tiếp thu thành tựu nền giáo dục nhân loại vào sự nghiệp đổi mới giáo dục Việt Nam
1.2.2 Sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam qua các thời kỳ lich sử
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học và một nền giáo dục lâu
đời Từ khi cộng đồng người Việt xuất hiện đã lưu truyền việc giáo dục kiến thức
để làm ra của cải vật chất, mưu sinh, dạy nhau tổ chức đời sống xã hội và giáo
Trang 18dục đạo đức nhân sinh, tạo nên nhân cách con người Việt Nam Làm nên giá trị giáo dục truyền thống của dân tộc
*Giáo dục Việt Nam trước cách mạng tháng tám năm 1945
Năm 938, dân tộc Việt Nam khôi phục nền độc lập, thống nhất quốc gia, xây dựng nhà nước phong kiến Nền giáo dục phong kiến do Nhà nước chỉ đạo
được hình thành và phát triển qua 10 thế kỷ, cơ bản là giống nhau về cơ cấu, nội dung, cách tổ chức việc dạy và học, thi hành chế độ khoa cử Các triều đại thường chú trọng việc xây dựng một trường đại học ở kinh đô, đặt các giáo chức
ở các phủ, lộ để trông coi học hành Tại các trường lớp tư gia, do các ông đồ ngồi dạy trẻ Các ông đồ được người dân tôn kính, quý trọng bởi họ là những nhà nho, bậc hưi quan, các nhà khoa bảng Nội dung dạy và học từ lớp tư gia đến các trường lớp ở lộ, phủ, kinh đô đều lây Tứ thư, Ngũ kinh làm sách giáo khoa
Trải qua nghìn năm lịch sử, nền giáo dục phong kiến Việt Nam đã đào tạo nhiều thế hệ tri thức tinh hoa của dân tộc, đồng thời cung cấp lực lượng chủ yếu cho hệ thống quan chức quản lý nhà nước và xã hội Nền giáo dục ấy đã đào tạo nên nhiều nhà bác học, nhà văn, nhà viết sử, nhà giáo, thầy thuốc có danh tiếng cùng những thế hệ tri thức giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng, vun đắp nền văn hiến Việt Nam Một nền giáo dục phong kiến coi trọng luân lý, lễ nghĩa, góp phần cơ bản xây dựng nền tảng đạo đức xã hội Tuy nhiên, ý thức tồn cổ của Nho giáo đã cản trở những tư tưởng cải cách, kìm hãm sự phát triển của xã hội; phương pháp học khuôn sáo, giáo điều, nặng về tâm chương trích cú, lý thuyết suông là những hạn chế của nền giáo dục phong kiến Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX thực dân Pháp xâm chiếm nước ta Nền giáo dục phong kiến Việt Nam bị thay đổi toàn bộ, chữ Hán thay thế bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp Từ nội dung chương trình, sách giáo khoa đến cách học cách dạy, cách tổ chức các kỳ thi thay đổi, hệ thống các trường từ sơ cấp, tiêu học, trung học phổ thông đến các trường chuyên nghiệp, đại học dần dần được hình thành
Mặc dù đã thực hiện một số chính sách giáo dục nô dịch với thủ đoạn tinh
vi, xảo quyệt nhưng thực dân pháp vẫn không đạt được kết quả như mong muốn Phần lớn những người Việt Nam được Pháp đào tạo vẫn còn tinh thần dân tộc,
Trang 19một số không nhỏ có tinh thần yêu nước chống Pháp, trở thành chiến sĩ cách mạng
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân chống thực dân Pháp, giáo dục được coi là một bộ phận của cách mạng Việt Nam Hội truyền bá Quốc ngữ thành lập năm 1938, Đề cương văn hoá Việt Nam
ra đời năm 1943 là những mốc quan trọng trong đấu tranh của Đảng trên lĩnh vực văn hoá, giáo dục Tư tưởng dân tộc, khoa học đại chúng là những nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng nền giáo dục cách mạng Việt Nam
*Giáo dục Việt Nam từ cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay
- Giai đoạn xây dựng nền giáo dục dân tộc và dân chủ, giáo dục phục kháng chiến, kiến quốc (1945-1954)
Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, nền giáo dục mới được hình thành trên cơ sở tiếp quản và cải tổ nền giáo dục Pháp thuộc Nền giáo dục mới được tiến hành trên ba nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng với mục tiêu cao cả là: Tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng, đề cao tinh thần khoa học, học tập và giảng dạy bằng tiếng Việt từ các trường phổ thông
Khi thực dân Pháp quay lại xâm chiếm nước ta một lần nữa, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ Các trường học ở thành phố di chuyển về nông thôn và các khu an toàn Phong trào xoá mù chữ vẫn được duy trì
Năm 1950, Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định tiến hành cải cách giáo dục: Nền giáo dục của dân, do dân và vì dân được thiết kế trên ba nguyên
Trang 20tắc: dân tộc, khoa học và đại chúng Phương châm giáo dục là học đi đôi với hành, lý luận đi đôi với thực tiễn
- Giai đoạn giáo dục phục vụ sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và thống nhất đất nước (1954-1975)
Sau năm 1954, nền giáo dục dân chủ nhân dân được xây dựng trong kháng chiến, giáo dục chuyển hướng mạnh mẽ nhằm đáp ứng yêu cầu mới của nhiệm
vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai ở miền Bắc là bước đi quan trọng trong quá trình xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Hệ thống giáo dục mới này
được tiến hành không chỉ ở giáo dục phổ thông, mà còn ở giáo dục đại học và chuyên nghiệp Nội dung giáo dục mới mang tính chất toàn diện trên bốn mặt:
đức, trí, thể, mỹ Phương châm giáo dục là “liên hệ lý luận với thực tiễn, gắn nhà trường với đời sống xã hội”
Do cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, các trường học và các cơ sở giáo dục vừa tiến hành sơ tán, vừa tiếp tục duy trì việc dạy và học ở tất cả các lớp học, các ngành học Có thể nói, ngành giáo dục của nước ta trong thời kỳ này đã giữ vững được quy mô, chất lượng giáo dục và đạt được nhiều kỳ tích lớn
- Giai đoạn xây dựng hệ thống giáo dục thống nhất trong cả nước và đổi mới giáo dục Việt Nam
Năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng Nhiệm vụ cấp bách của ngành giáo dục là xây dựng một nền thống nhất theo định hướng xã hội chủ nghĩa Giáo dục miền Nam, được sự hỗ trợ sức người, sức của từ miền Bắc, nhanh chóng khôi phục và hoạt động trở lại bình thường Đến năm1976, việc đào tạo sau đại học
được triển khai, đến năm 1980 đã có 42 trường đại học và viện nghiên cứu khoa học được quyết định là cơ sở sau đại học
Tháng1-1979, cuộc cách mạng lần thứ ba được triển khai Hệ thống giáo dục mười hai năm được thiết kế thống nhất trong toàn quốc Các bộ sách giáo khoa mới theo tinh thần và nội dung cải cách được thực hiện mỗi năm một lớp, bắt đầu từ năm học1981-1982 Mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, các
Trang 21trường trung cấp chuyên nghiệp và ở trung ương và địa phương được cải cách, từ mục tiêu đào tạo đến nội dung chương trình, phương pháp giảng
dạy
Tuy nhiên, những khó khăn của nền kinh tế - xã hội nói chung và bản thân ngành giáo dục nói riêng đã tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển của ngành, làm cho hệ thống giáo dục ngày càng xuống cấp nghiêm trọng Trước tình hình đó, Bộ Giáo dục đã xây dựng và triển khai chương trình phát triển giáo dục ba năm (1987-1990) Sau ba năm đổi mới, ngành giáo dục đã dần tháo gỡ khó khăn, khắc phục tình trạng yếu kém và thu được những kết quả đáng khích
lệ
Năm 1991, Quốc hội thứ VIII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật phổ cập giáo dục tiểu học Trước đó Nhà nước đã quyết định phổ cập giáo dục tiểu học và xoã mù chữ là chương trình mục tiêu quốc gia
Hội nghi Trung ương Đảng lần thứ tư (khoá VII) đã đề ra về nghị quyết về
“tiếp tục sự nghiệp đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo” Nghị quyết nêu lên bốn quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục - đào tạo trong đó nhấn mạnh giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ được xem là quốc sách hàng đầu
Hơn nửa thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhân dân Việt Nam đã xây dựng một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, có tính nhân dân, tính dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng Đây là cơ sở cho việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Bước sang thế kỷ 21, Việt Nam trong điều kiện kinh tế – xã hội chuyển mạnh sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ xã hội truyền thống và khép kín sang xã hội chịu sự tác động của xu thế hiện đại và hội nhập,
đã và đang có những thang biến động và định hướng giá trị với những biểu hiện cả tiêu cực, cả tích cực trong đời sống xã hội cũng như trong hoạt động giáo dục Trong bối cảnh xu hướng toàn cầu hoá tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội
và con người ở mọi quốc gia thì giáo dục cần tận dụng tối đa mọi cơ hội để đáp ứng với những triển vọng và thách thức Bắt đầu từ những viên gạch, chất kết
Trang 22dính cùng nhiều vật liệu khác Giáo dục liên tiếp tạo ra sự vững trái, đẹp đẽ cho những ngôi nhà mới trên cái nền truyền thống Để đáp ứng yêu cầu của thời đại mới giáo dục Việt Nam cần phải tiến hành đổi mới toàn diện
1.2.3 Quán triệt nguyên tắc phủ định của phủ định vào sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay là kết quả tất yếu của sự phủ định của phủ định Phủ định trong đổi mới giáo dục không phải là phủ định sạch trơn, xoá bỏ hoàn toàn những thành tựu mà nền giáo dục đã đạt được Phủ định ở đây
là phủ định biện chứng đó là sự kế thừa những giá trị tích cực, loại bỏ những nhân tố không còn phù hợp nữa Không phải chỉ có đổi mới giáo dục mới thông qua sự phủ định biện chứng, mà sự phát triển biện chứng diễn ra trên tất cả các lĩnh vực
Thấm nhuần sâu sắc quan điểm phủ định của phủ định, Đảng và Nhà nước
ta trong quá trình đổi mới luôn luôn chú trọng và đánh giá cao việc khai thác những yếu tố tích cực của nền giáo dục truyền thống và đồng thời kịp thời phát hiện ra những yếu tố lạc hậu, tiêu cực gây cản trở đến sự phát triển Đấu tranh chống lại khuynh hướng bảo thủ, khư khư cho rằng nền giáo dục đó là hoàn hảo không cần phải thay đổi, hay thái độ phủ định sạch trơn cho rằng đã đổi mới phải xoá bỏ hoàn toàn nền giáo dục đã có, xây dựng một nền giáo dục mới khác hoàn toàn Đảng và Nhà nước ta luôn quán triệt quan điểm: “Cái gì xấu mà cũ thì bỏ Cái gì xấu mà không phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lí Cái gì cũ mà tốt thì phát hiện Cái gì mới mà hay thì làm” [15, tr.94] Vì vây, khi đổi mới nên giáo dục bên cạnh viêc kế thừa những thành tựu của nền giáo dục nước nhà, Đảng và Nhà nước ta đã biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại Điều quan trọng khi vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào lĩnh vực giáo dục – lĩnh vực tinh thần, văn hoá thì cần biết bóc tách những cái gì thuộc về bẩn chất cái gì thuộc về hiện tượng, những giá trị của nền giáo dục cũ và những yếu tố của nền giáo dục mới đang hình thành, từ đó có những chủ trương biện pháp phù hợp để làm cho
nó phát triển
Trang 23Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào sự nghiệp đổi mới giáo dục
là cần thiết Giúp Đảng và Nhà nước ta lựa chọn được khuynh hướng đúng đắn cho sự phát triển nền giáo dục nước nhà
Trang 24được nguồn nhân lực có trình độ cao
Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế vừa là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo vệ quyền lợi quốc gia Cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia ngày càng trở nên quyết liệt, đòi hỏi các nước phải đổi mới công nghệ để tăng năng xuất lao động, đặt ra vị trí mới của giáo dục Các nước đều xem sự phát triển của giáo dục là nhiệm vụ trọng tâm của sự phát triển kinh tế xã hội, dành cho giáo dục những ưu tiên, đầu tư,
đẩy mạnh cải cách giáo dục nhằm dành ưu thế cạnh tranh trên trường quốc tế Quá trình toàn cầu hoá cũng chứa đựng nguy cơ chảy máu chất xám ở các nước
đang nước đang phát triển khi mà các nhân lực ưu tú có nhiều khả năng bị thu hút sang các nước giàu có Giáo dục trong thế kỷ XXI phải thực hiện được sứ mệnh nhân văn hoá quá trình toàn cầu hoá, biến toàn cầu hóa thành điều có ý nghĩa đối với từng con người với tất cả các quốc gia Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng của mỗi đất nước và tạo cơ hội học tập cho mỗi người dân Giáo dục suốt đời trở thành đòi hỏi và cam kết của mỗi quốc gia tiếp tục được thay đổi nhằm xoá bỏ mọi ngăn cách trong nhà trường, cung cấp tri thức hiện đại, đáp ứng yêu cầu mới phát sinh của nền kinh
tế
Trang 25Thời đại cũng đang chứng kiến vị thế nổi bật của giáo dục đại học Hầu hết các trường đại học trên thế giới đang tiến hành những cuộc cải cách toàn diện
để trở thành những trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, sản xuất, chuyển giao công nghệ và xuất khẩu tri thức
Công nghệ thông tin và truyền thông được ứng dụng trên quy mô rộng lớn
ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong giáo dục Với việc kết nối mạng, các công nghệ, tri thức không chỉ tồn tại ở các địa điểm xa xôi, cách trở
và khó tiếp cận hoặc chỉ giới hạn với một số ít người Giáo dục từ xa đã trở thành một thế mạnh của thời đại, tạo nên một nền giáo dục mở, phi khoảng cách, thích ứng với nhu cầu của từng người học Đây là hình thức giáo dục ỏ mọi lúc, mọi nơi và cho mọi người, trở thành giải pháp hiệu quả nhất để đáp ứng các yêu cầu ngày càng tăng của giáo dục Sự phát triển của các phương tiện truyền thông, mạnh viễn thông, công nghệ tin học tạo thuận lợi cho giao lưu và hội nhập văn hoá, nhưng cũng tạo điều kiện cho sự du nhập những giá trị xa lạ, ở mỗi quốc gia
đang diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt để bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc, ngăn chặn những yếu tố ảnh hưởng đến an ninh mỗi nước
2.1.2 Bối cảnh trong nước
Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mạnh với vị thế và diện mạo mới Kinh tế Việt Nam liên tục phát triển; an ninh, quốc phòng được giữ vững Thu nhập bình quân theo đầu người trong 10 năm qua tăng liên tục từ 337 USD năm 1997 đã lên đến 823 USD năm 2007 Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng cường công nghiệp và dịch vụ Tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trong GDP ngày càng giảm; tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Tỷ lệ
hộ nghèo giảm đáng kể, còn khoảng 14% Việt Nam đang tích cực tham gia vào hội nhập quốc tế với nhịp độ tăng trưởng kinh tế khá cao, với môi trường chính trị ổn định và mức sống của tầng lớp nhân dân ngày càng được cải thiện Việc tích cực hội nhập quốc tế, và gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Trang 26Mặc dù có những bước tăng trưởng đáng kể nhưng nền kinh tế nước ta có mức thu nhập thấp Các chỉ số và kết cấu hạ tầng, phát triển con người vẫn ở thứ hạng dưới so với nhiều nước trên thế giới Năng xuất lao động còn thấp, Sản xuất chủ yếu dựa trên công nghệ lạc hậu, sản phẩm ở dạng thô, chi phí cao, giá trị tăng thấp Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch nhưng còn chậm: tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP còn thấp, tỷ trong nông nghiệp tuy có giảm nhưng vẫn ở mức khá cao kết câu kinh tế – xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển Hoạt động kinh tế đối ngoại còn hạn chế, Thiếu lộ trình hội nhập quốc tế Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều vướng mắc, chưa đồng bộ Hiệu lực quản lý nhà nước đối với nhiều kinh tế – xã hội còn thấp Trước tình hình thế giới và trong nước có nhiều thay đổi đã mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng đầy thách thức đối với sự nghiệp giáo dục nước nhà
2.1.3 Cơ hội và thách thức đối với nền giáo dục Việt Nam
Các cơ hội đối với nền giáo dục Việt Nam
Quá trình hội nhập với các trào lưu đổi mới mạnh mẽ trong giáo dục đang diễn ra ở quy mô toàn cầu tạo cơ hội thuận lợi cho nước ta có thể nhanh chóng tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục hiện đại, tận dụng các kinh nghiệm quốc tế để đổi mới và phát triển làm thu hẹp khoảng cách giữa nước ta với các nước khác Hợp tác quốc tế được mở rộng tạo điều kiện tăng
đầu tư của các nước, các tổ chức quốc tế và các doanh nghiệp nước ngoài, tăng nhu cầu tuyển dụng lao động đã qua đào tạo, tạo thời cơ để Việt Nam phát triển giáo dục
Sau hơn 20 năm đổi mới, những thành tựu trong phát triển kinh tế xã hội,
sự ổn định chính trị, đặc biệt là những thành tựu mà nền giáo dục đã đạt được làm cho thế và lực của nước ta lớn mạnh lên so vời nhiều nước Sự đóng góp về nguồn lực của nhà nước và nhân dân cho sự phát triển giáo dục ngày càng tăng cường
Những người Việt Nam ở nước ngoài với nhiều tiềm năng đang hướng về
tổ quốc và dân tộc, sẵn sàng đóng góp cho sự nghiệp giáo dục nước nhà
Trang 27Thách thức đối với nền giáo dục Việt Nam
Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ trên thế giới có thể làm cho khoang cách kinh tế và tri thức giữa Việt Nam và các nước ngày càng lớn hơn, nước ta có nguy cơ bị tụt hậu xa hơn Hội nhập quốc tế không chỉ tạo cho giáo dục cơ hội phát triển mà còn chứa đựng nhiều hiểm hoạ,
đặc biệt là nguy cơ xâm nhập của những giá trị văn hoá và lối sống xa lạ làm xói mòn bản sắc văn hoá dân tộc Khả năng xuất khẩu giáo dục kém chất lượng từ một số nước có thể gây nhiều rủi ro lớn đối với giáo dục Việt Nam, khi mà năng lực quản lý của ta đối với giáo dục xuyên quốc gia, thiếu nhiều chính sách và giải pháp thích hợp để định hướng và giám sát chặt chẽ các cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài
ở trong nước, sự phân hoá trong xã hội có chiều hướng gia tăng, Khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư, khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền ngày càng rõ rệt Điều này có thể làm tăng thêm tình trạng bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục giữa các vùng, miền và giữa các đối tượng người học
Yêu cầu phát triển kinh tế hội nhập trong thập niên tới không chỉ đòi hỏi
số lượng mà còn đòi hỏi chất lượng cao của nguồn nhân lực Để tiếp tục tăng trưởng và vượt qua các ngưỡng cửa các nước có thu nhập thập, Việt Nam phải cấu trúc lại nền kinh tế, phát triển các loại sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng
và hàm lượng công nghệ cao Quá trình này đòi hỏi đất nước phải có đủ nhân lực
có trình độ Mặc dù 62,% dân số nước ta trong độ tuổi lao động, nhưng trình độ của lực lượng lao động này còn thấp so với nhiều nước trong khu vực, cả về kiến thức lẫn kỹ năng nghề nghiệp Đất nước còn thiếu nhân lực trình độ cao ở nhiều lĩnh vực Cơ cấu đội ngũ lao động qua đào tạo chưa hợp lý Nhu cầu nhân lực qua đào tạo ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng với cơ cấu hợp lý tạo nên sức ép rất lớn đối với giáo dục
Sự nghiệp đổi mới giáo dục trong những năm qua, bên cạnh những thành tựu thì vẫn còn chứa đựng nhiều hạn chế, làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của đất nước Do chưa biết kế thưa có chọn lọc những nhân tố hợp lý trong nền giáo dục truyền thống và lọc bỏ những nhân tố lạc hậu không còn phù hợp
Trang 28với thời kỳ đổi mới Chính vì thế đã làm cho nền giáo dục Việt Nam lạc hậu so với nhiều nước trên thế giới
Với bối cảnh quốc tế và trong nước cũng như những cơ hội và thách thức
đó, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành công cuộc đổi mới giáo dục, đạt được những thành tựu to lớn
2.2 Thực trạng của sự nghiệp đổi mới giáo dục Việt Nam
2.2.1 Những thành tựu của sự nghiệp đổi mới giáo dục Việt Nam
Trước hết, Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục được phát triển,
đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của xã hôi
Năm học 2007 – 2008, cả nước có 23 triệu học sinh, sinh viên, tăng 2,86%
so với năm học 2000 – 2001; trong đó số học sinh học nghề tăng 2,14 lần; số học sinh trung cấp chuyên nghiệp tăng 2,41 lần; số sinh viên cao đẳng, đại học tăng 1,75 lần, nâng tỷ lệ sinh viên cao đẳng, đại học trên một vạn dân tăng 1,6 lần, số học viên cao học và nghiên cứu sinh tăng 2,5 lần
Tỷ lệ lao động qua đào tạo theo các trình độ khác nhau tăng 20% vào năm
2000 lên 31,5% vào năm 2007
Mạng lưới trường lớp được phát triển rộng khắp trong toàn quốc Về cơ bản đã xoá được “xã trắng” về giáo dục mầm non; trường tiểu học đã có ở tất cả các xã, trường trung học cơ sở ở xã hoặc cụm liên xã, trường trung học phổ thông có ở tất cả các huyện Các cơ sở đào tạo nghệ, cao đẳng và đại học được thành lập ở hết các địa bàn dân cư lớn, các vùng, các địa phương, đặc biệt như vùng chậm phát triển như Tây Bắc, Tây Nguyên, đồng băng sông Cửu Long Các tỉnh và nhiều huyện miền núi đã có trường nội trú cho con em các dân tộc thiểu
Trang 29tạo của một số ngành đào tạo khoa học và công nghệ đã được nâng cao một bước
Trong những năm gần đây công tác công tác quản lý chất lượng đặc biệt
được chú trọng Đã hình thành các tổ chức chuyên trách về đánh giá và kiểm
định chất lượng Ngoài Cục khảo thí và kiểm định chất lượng cấp Trung ương
được thành lập vào tháng 8/ 2008, phòng khảo thí và kiểm định chất lượng đã
được thành lập 55 trong số 63 Sở Giáo dục và Đào tạo, 55 đơn vị chuyên trách và
đảm bảo chất lượng được thành lập ở các trường đại học và cao đẳng
Các trường trung học phổ thông chất lượng cao được hình thành ở nhiều
địa phương Nhiều trường đại học đã tổ chức dạy học theo các chương trình tiên tiến quốc tế Tới tháng 7/ 2008 có 24 chương trình đào tạo tiên tiến quốc tế đang
được sử dụng ở 17 trường đại học giảng dạy trực tiếp bằng tiếng Anh Nước ta đã tăng cường sự gắn kết giữa hoạt động khoa học công nghệ với hoạt động đào tạo sau đại học, tập trung vào các lĩnh vực: công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu, khoa học nông – lâm – ngư và khoa học giáo dục Để đáp ứng tốt hơn yêu cầu cung cấp nhân lực cho các lĩnh vực kinh tế – xã hội, nâng cao hiệu quả đào tạo, trong hai năm gần đây ngành giáo dục và đào tạo đã tích cực đẩy mạnh việc thực hiện đào tạo gắn với nhu cầu xã hội
Đồng thời với sự đổi mới chương trình, sách giáo khoa và tài liệu dạy học theo Nghị quyết 40/ 2000/ QH, của Quốc hội, phương pháp giáo dục ở các trường đã bước đầu được đổi mới theo tinh thần phát huy tính năng động, chủ
động, tích cực của người học, đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trìng dạy và học Chuẩn nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên ở các cấp học và trình độ đào tạo đã và đang được xây dựng làm cơ sở cho việc đánh giá và bồi dưỡng giáo viên theo chuẩn
Thứ ba, Tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước đã được công nhận chuẩn quốc gia về xoã mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và đang thực hiện phổ cập trung học cơ sở đến tháng 12/ 2007 đến tháng 7/ 2008, đã có 42/ 63 tỉnh, thành phố (67%) cập giáo dục trung học cơ sở Tỷ lệ dân số 25 tuổi trở lên biết chữ của cả nước là 94%; số năm học trung bình của dân số từ 15 tuổi trở lên là 9,6 Sự
Trang 30khác biệt về trình độ học vấn giữa nam và nữ ngày càng được thu hẹp Về cơ bản nước ta đã đạt được sự bình đẳng nam nữ trong giáo dục cơ bản
Thứ tư, Công tác xã hội hoá giáo dục và việc huy động nguồn lực cho giáo dục đã đạt được những kết quả bước đầu Các lực lượng xã hội tham gia ngày càng tích cực vào việc huy động trẻ đến trường, giám sát, đánh giá và hiến kế cho giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất trường học, đầu tư mở trường, đóng góp kinh phí cho giáo dục dưới nhiều hình thức khác nhau Ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục tăng liên tục từ 15,5% năm 2001 lên 20% năm 2007 Trong năm
2007, khoảng 25% tổng chi phí của xã hội cho học tập là đóng góp của người dân Bên cạnh đó, ngành giáo dục đã huy động được sự đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức chính tri – xã hội và đầu tư nước ngoài
Các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày càng phát triển Vào năm học
2007 – 2008, cả nước có khoảng 6.000 cơ sở giáo dục mầm non, 95 trường tiểu học, 33 trường trung học cơ sở, 651 trường trung học phổ thông, 308 cơ sở dạy nghề, 72 trường trung cấp chuyên nghiệp và 64 trường đại học, cao đẳng và các cơ sở giáo dục ngoài công lập Số học sinh, sinh viên học tại các trường ngoài công lập ngày càng tăng Năm học 2007 – 2008, tỷ lệ học sinh, sinh viên ngoài công lập là 15,6%, trong đó tỷ lệ học sinh phổ thông là 9%; học sinh trung cấp chuyên nghiệp là 18,2%; học nghề là 31,2%; sinh viên cao đẳng, đại học là 11,8%
Thứ năm, Công bằng giáo dục trong xã hội đã được cải thiện, đặc biệt tăng cơ hội học tập cho trẻ em gái, trẻ em người dân tộc, con em các gia đình nghèo
và trẻ em khuyết tật Việc miễn, giảm học phí, cấp học bổng và các chính sách
hỗ trợ khác đã tạo điều kiện cho đại bộ phận con em các gia đình nghèo, diện chính sách được học tập, trước hết ở các cấp học phổ cập Từ năm hoc 2007 –
2008, học sinh học nghề, sinh viên cao đẳng, đại học có hoàn cảnh khó khăn
được vay vốn với số lượng lớn để học, 53% số học sinh, sinh viên cả nước được miễn giảm học phí
Trang 31Từ năm học 2007 – 2008, học sinh học nghề, sinh viên cao đẳng, đại học
có hoàn cảnh khó khăn được vay để chi trả cho việc học hành ( 752.000 người
được vay với mức tối đa 800.000 đồng/ tháng Giáo dục ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa có tiến bộ rõ rệt Đến năm học 2007 – 2008 có
278 trường dân tộc nội trú của trung ương, tỉnh, huyện, cụm xã, với khoảng 86.000 học sinh; các trường lớp hoà nhập và chuyên biệt đã thu hút hơn 250.000 trẻ khuyết tật đi học
Công tác quản lý giáo dục đã có nhiều chuyển biến Công tác quản lý chất lượng đã được chú trọng với việc tăng cường hệ thống đánh giá và kiểm định chất lượng, Năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hoàn thành việc xây dựng đề
án đổi mới cơ chế tài chính trong giáo dục đào tạo, trong đó có đề án học phí Việc phân cấp quản lý giáo dục cho các địa phương và sở giáo dục được đẩy mạnh, đặc biệt tăng quyền chủ động cho các cơ sở giáo dục trong tuyển dụng giáo viên, sử dụng ngân sách, tổ chức quy trình giáo dục, tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, thực hiện chương trình sách giáo khoa phù hợp với đặc điểm đối tượng học sinh và điều kiện cụ thể với từng vùng, miền Cải cách hành chính trong toàn ngành giáo dục được đẩy mạnh Cơ chế “một cửa” được triển khai thí
điểm tại các cơ quan Bộ 63/ 63 văn phòng của các Sở giáo dục Công nghệ thông tin được ứng dụng mạnh mẽ trong quản lý ngành
Những thành tựu của giáo dục nước ta đã khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Nhờ những thành tựu của giáo dục và các lĩnh vực khác mà chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta theo bảng xếp hạng của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc trong những năm gần đây có những tiến bộ đáng kể: 0,688 xếp thứ 109 trong số 174 quốc gia vào năm 2000 đã tăng lên 0,733 xếp thứ
105 trong số 177 quốc gia vào năm 2005 Những thành tựu của nền giáo dục đã
và đang đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh chính trị của đất nước trong 20 năm đổi mới
Nguyên nhân của những thành tựu