1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề gìn giữ và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay

72 519 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 554,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những vấn đề cấp thiết trên, một yêu cầu đặt ra là phải nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của những giá trị văn hoá truyền thống trong quá trình phát triển đất nước- đặc biệt là Việt

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Khoá luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của giảng viên Lê Thị Minh Thảo Tôi xin cam đoan rằng:

Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Sinh viên thực hiện:

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Người hướng dẫn khoa học :

GV LÊ THI MINH THẢO

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

cô trong tổ Chủ nghĩa xã hội đã giảng dạy em trong suốt thời gian qua

Em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia gia đình, bạn bè và Trung tâm văn hoá- thông tin tỉnh Bắc Ninh đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn thành khoá luận

Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân, nên khoá luận khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự chỉ bảo của các thầy, cô cũng như của các bạn sinh viên

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội tháng 05 năm 2011 TÁC GIẢ KHOÁ LUẬN

Nguyễn Thị Lan

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……….1

CHƯƠNG 1 : LÍ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HOÁ………7

1.1 Sơ lược các quan điểm về văn hoá 7

1.2 Định nghĩa văn hoá và văn hoá truyền thống 13

1.3 Cấu trúc và chức năng của văn hoá 18

1.4 Cơ sở hình thành giá trị văn hoá truyền thống của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay 23

CHƯƠNG 2 : VẤN ĐỀ GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG CỦA TỈNH BẮC NINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 31

2.1 Những giá trị văn hoá truyền thống của tỉnh Bắc Ninh 31

2.2 Những hoạt động bảo tồn và quảng bá văn hoá truyền thống của tỉnh Bắc Ninh hiện nay 44

2.3 Một số giải pháp nhằm gìn giữ và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay 61

KẾT LUẬN 66

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trải qua hàng chục thế kỉ, Việt Nam đã tạo được một cốt cách, tâm hồn, một dáng vẻ độc đáo rất riêng Đó là một đất nước có nền văn hiến lâu đời với những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp Những giá trị đó tồn tại lâu đời và xuyên suốt quá trình hình thành, phát triển của dân tộc Lịch sử dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều bước thăng trầm với bao biến cố Song đó cũng là minh chứng cho sức mạnh hùng hồn và tác dụng to lớn của giá trị văn hoá truyền thống Chính nó đã được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành hệ quy chiếu trong lối sống, cách nghĩ, cách ứng xử, trong mối quan

hệ của con người Ngoài ra, giá trị văn hoá truyền thống còn ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành, phát triển nhân cách của con người

Xã hội ngày càng phát triển và muốn phát triển vững mạnh thì con người lại càng phải hiểu biết sâu sắc về giá trị truyền thống của dân tộc mình Đất nước ta đang bước vào giai đoạn cách mạng mới với nhiệm vụ mới- thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tham gia hội nhập và toàn cầu hoá tạo tiền đề và động lực cho sự phát triển đất nước Trong xu thế đó, bên cạnh những thời cơ thuận lợi do các trào lưu mới mang lại thì con người không ít chịu những ảnh hưởng tiêu cực đến từ các lĩnh vực của đời sống xã hội mà nhất là phong cách lối sống, mối quan hệ giữa con người với con người

Ngày nay, sự phát triển của mỗi quốc gia không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào mức độ tăng trưởng kinh tế, sự phát triển khoa học- kĩ thuật mà còn phụ thuộc vào chất lượng cuộc sống, vào sự giàu có cả về vật chất lẫn tinh thần Do đó, văn hoá nói chung và giá trị văn hoá truyền thống nói riêng

Trang 5

không thể thiếu trong chiến lược phát triển lâu bền của mỗi quốc gia Điều này đã được khẳng định ở các kì Đại hội IV, VII, VIII, IX, X của Đảng, ở Đại hôị X khẳng định: “ Xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội”

Như vậy, để tồn tại và phát triển, đất nước ta phải biết kết hợp giữa truyền thống và hiện đại và tạo được mạch nguồn, sức mạnh dân tộc làm động lực và là chỗ dựa vững chắc Từ những vấn đề cấp thiết trên, một yêu cầu đặt

ra là phải nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của những giá trị văn hoá truyền thống trong quá trình phát triển đất nước- đặc biệt là Việt Nam đang trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì vấn đề này phải được quan tâm

và nghiên cứu, từ đó đưa ra những phương hướng và giải pháp cho việc gìn giữ và phát huy những giá trị truyền thống đó Cần phải nghiên cứu thực trạng

ở từng cơ sở địa phương để đưa ra phương hướng, giải pháp phù hợp với văn hoá truyền thống ở địa phương đó

Bắc Ninh là một vùng quê rất giàu văn hoá, đậm đà bản sắc dân tộc Đến bất cứ nơi đâu mảnh đất Bắc Ninh- miền quê “địa linh nhân kiệt”, nơi đây nghìn đời xưa cho đến hiện nay luôn là phên dậu phía Bắc của Kinh thành Thăng Long- Đống Đa- Hà Nội, cũng đầy ắp những kỉ niệm lịch sử được kết tinh trong những di sản văn hoá tiêu biểu ở khắp các làng quê của vùng đất này Đặc biệt Bắc Ninh còn được mệnh danh là vương quốc của lễ hội, quê hương của sinh hoạt văn hoá dân gian đặc sắc và phát triển tới đỉnh cao Hầu như làng nào cũng có lễ hội, trong đó có nhiều lễ hội, trong đó có nhiều lễ hội tiêu biểu cả vùng, cả nước Người Bắc Ninh: thông minh, cần cù, tài khéo, năng động và tinh xảo trong hoạt động kinh tế, sáng tạo trong hoạt động văn hoá văn nghệ và bao trùm là hoạt động sống “uống nước nhớ nguồn”, quý trọng cái tình cái nghĩa, sự chung thuỷ trong quan hệ ứng xử giữa người với người “bốn biển một nhà”, “tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm”, tôn

Trang 6

vinh tình yêu thương con người và sự say mê các hoạt động văn hoá nghệ thuật Vì vậy, về với Bắc Ninh là về với quê hương của thi ca, nhạc hoạ, về với cội nguồn dân tộc và văn hoá Việt Nam Nhưng do những thay đổi về sự vận hành kinh tế, văn hoá Bắc Ninh nói chung và đặc biệt là giá trị văn hoá của tỉnh đang phải đối diện với những giá trị của nền văn minh thế giới hiện đại, đã thấy sự cần thiết phải tiếp thu, nhưng vẫn còn lúng túng, đối diện với những giá trị mới nhưng vẫn còn ngỡ ngàng, chưa tìm được vị trí thích đáng Tình hình đó đòi hỏi phải có sự nhìn nhận, lựa chọn và vận dụng sao cho phù hợp Xuất phát từ những lí do trên tôi đã chọn đề tài: Vấn đề gìn giữ và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nói về văn hoá nói chung và văn hoá truyền thống ở tỉnh Bắc Ninh nói riêng đã có rất nhiều tài liệu bàn tới vấn đề này cụ thể:

Trong cuốn “Hà Bắc văn hiến” tập 1, của tác giả Thanh Hương và Phương Anh viết đầy đủ chi tiết về nghệ thụât, kiến trúc của các di tích lịch sử Bắc Ninh Đây là một trong những nét nổi bật của văn hoá truyền thống Bắc Ninh “đây là những mái đình Việt Nam, những mái đình Hà Bắc với triết lí “ phép vua thua lệ làng” Đây là những ngôi chùa ẩn trong luỹ tre xanh, biểu hiện lòng nhân ái của con người Bắc Ninh Tất cả nổi bật thành những công trình hoành tráng giữa non sông gấm vóc, hoà với thần thoại, truyền thuyết, tiếng nói, giàu và đẹp cốt cách làm ăn, phong tục tập quán,lề lối ứng xử xã hội- tạo thành văn hoá Bắc Ninh” [14, tr.7]

Trần Đình Luyện với cuốn “văn hiến Kinh Bắc” tập 1 giới thiệu một số

di tích lịch sử văn hoá, làng quê, và những danh nhân khoa bảng tiêu biểu trên nền tảng tinh thần- xã hội tạo dựng “văn hiến Kinh Bắc” là mối liên kết đặc biệt giữa con người và cộng đồng

Trang 7

Trong quyển “Hà Bắc ngàn năm văn hiến” tập 3, các tác giả đã trình bày những suy nghĩ về văn hoá Lí- Trần trên đất Kinh Bắc xưa, đặc biệt cuốn sách viết khá rõ về văn hoá sinh hoạt của người dân Kinh Bắc tiêu biểu là sinh hoạt hát Quan họ với 49 làng quê

Cuốn “Lịch sử Hà Bắc” tập 1- hội đồng lịch sử Hà Bắc xuất bản năm

1986, đã trình bày về quá trình hình thành và phát triển của thành Luy Lâu, ngoài ra tác giả có đề cập về một số lễ hội tiêu biểu của Bắc Ninh, cũng như những làng nghề truyền thống, đặc biệt là làng tranh Đông Hồ

Cuốn “Địa chí Hà Bắc” thư viện tỉnh Hà Bắc xuất bản 1982 Đây là cuốn sách tổng hợp nhất khi viết về văn hoá truyền thống Bắc Ninh trên rất nhiều mặt Có thể nói là cuốn sách cổ ghi chép khá chi tiết về phong tục tập quán, lễ hội, các di tích lịch sử, sinh hoạt văn hoá của người dân Kinh Bắc xưa

Ngoài ra, một số bài nghiên cứu về từng khía cạnh nào đó của văn hoá trưyền thống Bắc Ninh đăng trên các tạp chí nghiên cứu lịch sử như:

- “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” của Giáo sư Trần Văn Giàu (nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội)

- “Tìm hiểu tính cách dân tộc” của Giáo sư Nguyễn Hồng Phong (nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 1963)

- “Giá trị truyền thống- nhân lõi và sức sống bên trong của sự phát triển đất nước, dân tộc” của PGS PTS Nguyễn Văn Huyên (tạp chí triết học số 4 năm 2006)

- “Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển” của Giáo sư Nguyễn Trọng Chuẩn (tạp chí triết học số 6 năm 2002)

Đồng thời vấn đề giá trị văn hoá truyền thống cũng là một lĩnh vực nhận được sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước Do đó, nó cũng nhận

Trang 8

được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu cũng như quần chúng nhân dân, đặc biệt là đội ngũ trí thức ở nước ta hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận chung về văn hoá, về vai trò của nó, khoá luận làm rõ hơn vấn đề gìn giữ và phát huy một số giá trị văn hoá truyển thống cơ bản của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay, và đề xuất một số giải pháp có tính định hướng trong việc gìn giữ và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay

* Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên khoá luận phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Nêu một số quan niệm về văn hoá, xác định khái niệm, cấu trúc, chức năng của văn hoá, nêu lên cơ sở hình thành nền văn hoá truyền thống Bắc Ninh

- Tìm hiểu về một số giá trị văn hoá truyền thống cơ bản của tỉnh Bắc Ninh từ truyền thống đến hiện đại, thực trạng và vai trò của văn hoá truyền thống của tỉnh Băc Ninh trong giai đoạn hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng chiến lược phát triển văn hoá hướng tới sự phát triển bền vững của tỉnh Bắc Ninh nói riêng và của đất nước nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

- Khoá luận nghiên cứu đề tài: Vấn đề gìn giữ và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay

* Phạm vi nghiên cứu

- Khoá luận đi sâu vào tìm hiểu các vấn đề: Văn hoá, cơ sở hình thành văn hoá, thực trạng và vai trò của văn hoá đối với sự phát triển lâu bền của

Trang 9

Bắc Ninh Do hạn chế về thời gian và kiến thức nên khoá luận chỉ tập trung đi sâu vào một số giá trị văn hoá truyền thống cơ bản của tỉnh Bắc Ninh

- Khoá luận lí giải dưới góc độ chủ nghĩa xã hội vấn đề: Vấn đề gìn giữ

và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nêu trên, khoá luận đã dựa vào một

số cơ sở lí luận; phương pháp luận của chủ nghĩa xã hội khoa học; phân tích- tổng hợp; phương pháp lịch sử; hệ thống hoá; khái quát hoá;…

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Khoá luận làm rõ hơn cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài: Vấn đề gìn giữ và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay

- Khoá luận có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên trong việc tìm hiểu và nghiên cứu giá trị văn hoá truyền thống của tỉnh Bắc Ninh nói riêng

và của dân tộc Việt Nam nói chung

7 Kết cấu của khoá luận

- Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo còn có phần nội dung Phần nội dung thì bao gồm 3 chương cụ thể như sau:

+ Chương 1 : Lí luận chung về văn hoá

+ Chương 2 : Vấn đề gìn giữ và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay

Trang 10

CHUƠNG 1

LÍ LUẬN CHUNG VĂN HOÁ

1.1 Sơ luợc các quan điểm về văn hoá

Văn hóa là sản phẩm do con nguời sáng tạo, từ thủa bình minh của xã hội loài người Văn hoá là khái niệm mở, có tính xã hội và tính lịch sử Cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm văn hoá luôn đuợc bổ sung và mở rộng Vì vậy, từ lâu văn hoá đã đuợc các nhà nghiên cứu cả phương Tây lẫn phương Đông quan tâm

* Quan niệm của phương Tây

Ở phương Tây, thuật ngữ văn hoá bắt nguồn từ tiếng Latinh là Cultus (Cultusagri) có nghĩa là trồng trọt vun xới ngoài đồng, sau đuợc chuyển thành trồng trọt tinh thần (Cultusanimi)

Vào thế kỉ XVIII, khái niệm văn hoá đuợc tiếp cận như một thuật ngữ khoa học Pu-phen-đoóc (Pufendorf)- nhà nghiên cứu pháp luật nguời Đức là nguời đầu tiên đưa thuật ngữ văn hoá vào khoa học Ông cho văn hoá là tất cả những gì đối lập với tự nhiên Quan điểm này hiểu văn hoá quá rộng sau Pu-phen-đoóc, Hécđe (Hender) cho rằng: “Văn hoá là sự hình thành lần thứ hai của con người”, ông nói: lần thứ nhất con người xuất hiện như một thực thể tự nhiên, lần thứ hai con người hình thành như một thực thể xã hội, tức là văn hoá theo nghĩa toàn vẹn của từ này

Đây là quan niệm tiêu biểu nhất của thế kỉ này, nó có ý nghĩa to lớn đánh dấu việc con người bằng văn hoá đã vạch ra đường ranh giới tách mình

ra khỏi các hình thức tồn tại khác của vật chất, tách con người ra khỏi giới động vật Nó đánh dấu việc chuyển từ tư duy tôn giáo sang tư duy trí tuệ, khắc phục những hạn chế trong quan niệm trung cổ về con người

Trang 11

Đến thế kỉ XIX, thuật ngữ văn hoá được những nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính Những học giả này cho rằng văn hoá(văn minh) thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp nhất đến trình độ cao nhất và văn hoá của họ chiếm vị trí cao nhất Bởi vậy, họ cho cho rằng, bản chất của văn hoá hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh, đại biểu là E.B Taylo (E.B Taylor) theo ông, văn hoá là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội

Học thuyết văn hoá giữ một địa vị khá quan trọng trong hệ thống triết học của Kantơ (E.Kant); Hêgghen (Hêgel)… Các nhà triết học Đức đều có quan điểm duy tâm về văn hoá coi nhẹ cơ sở vật chất về văn hoá Kantơ quan niệm về văn hoá là sự phát triển, sự bộc lộ khả năng, sức mạnh, các năng lực thiên bẩm ở người ở Hêghen lại đồng nhất văn hóa với giáo dục

Các nhà khai sáng Pháp cũng rất quan tâm đến văn hoá Vôn-te cho văn hoá là văn minh, là sự phát triển các ngành nghề Rút-xô quan niệm văn hoá

là một hiện tượng xã hội và chỉ ra rằng tư hữu tư sản là nguồn gốc của sự đồi bại về đạo đức

Trong xã hội phương Tây hiện đại, khái niệm văn hoá được phát triển ngày càng đa dạng và phong phú Dựa trên các quan niệm khác nhau về văn hoá mà các nhà nghiên cứu xếp thành những nhóm định nghĩa nhất định như:

- Định nghĩa mang tính chất miêu tả

- Định nghĩa mang tính chất lịch sử, nhấn mạnh vào sự kế thừa di sản

xã hội

- Định nghĩa nhấn mạnh vào nếp sống xã hội

- Định nghĩa nhấn mạnh vào tính thích ứng con người

Trang 12

- Định nghĩa nhấn mạnh vào tính chất di truyền xã hội, tức khả năng học tập của con người

- Định nghĩa nhấn mạnh vào phương thức ứng xử

- Định nghĩa nhấn mạnh vào khía cạnh tư tưởng của văn hoá

- Định nghĩa nhấn mạnh vào phương diện giá trị của văn hoá

- Định nghĩa nhấn mạnh vào hoạt động sạng tạo lịch sử, nhằm hình thành nên hệ thống giá trị xã hội

- Định nghĩa nhấn mạnh vào mô hình các thể chế xã hội

- Định nghĩa mang tính chất điều khiển học, nhấn mạnh vào phương diện thông tin của văn hoá

Đặc điểm chung của các nhóm định nghĩa văn hoá trên đây là các nhà nghiên cứu thường nhấn mạnh vào một khía cạnh nào đó của văn hoá, phù hợp với cách tiếp cận của họ

Sang thế kỉ XX, khái niệm văn hoá thay đổi, theo F.Bao(F.Boas) ý nghĩa văn hoá được quy định do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêu như “trí lực”, vì thế sự khác nhau về mặt văn hoá từng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí lực Đó cũng là “tương đối luận” của văn hoá Văn hoá không xét theo ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt Như vậy, trong lịch sử phương Tây từ cổ đại đến hiện đại đã tồn tại rất nhiều các quan niệm khác nhau về văn hoá

* Quan niệm của phương Đông

Ở phương Đông khái niệm văn hoá cũng đựơc xác định và bổ sung theo tiến trình lịch sử Ở Trung Quốc khái niệm văn hoá xuất hiện khá sớm Trong Chu Dịch quẻ Bi đã có từ văn và hoá: xem dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hoá thiên hạ Về sau văn hoá được dùng với nghĩa “văn trị giáo hoá” nghĩa là dùng thi, thư, lễ, nhạc để cai trị thiên hạ Văn là cái đẹp, hoá là hoá thành cái đẹp, giáo là giáo dục “văn trị giáo hoá” là dùng cái đẹp để giáo dục thiên hạ,

Trang 13

để họ cảm nhận được chân lí và tuân theo Văn hoá với hàm nghĩa “văn tự giáo hoá” được dùng tới thế kỉ XIX

Như vậy, từ thời cổ đại quan niệm về văn hoá ở phương Đông và phương Tây đều có điểm giống nhau: coi văn hoá gắn với giáo dục Nhưng ở phương Đông quan niệm văn hoá chịu ảnh hưởng khá rõ nét của tư tưởng Nho giáo

Quan niệm về văn hoá của các nhà nghiên cứu Việt Nam trong dòng chảy chung của nhân loại cũng dần hình thành Tiêu biểu là của Đào Duy Anh- một nhà nghiên cứu văn hoá Trong “Việt Nam văn hoá sử cương”(1938) ông quan niệm: văn hoá là sinh hoạt Điều kiện của mỗi dân tộc khác nhau do đó đời sống tinh thần của họ khác nhau, sinh hoạt là tiêu chí để thấy sự khác nhau giữa các dân tộc

Phạm Văn Đồng- nhà chính trị, nhà văn hoá Việt Nam, trong tác phẩm

“văn hoá và đổi mới” đưa ra định nghĩa: “Nói một cách đơn giản và theo nghĩa rộng thì văn hoá là tất cả những gì không phải của thiên nhiên mà là tất

cả những gì ở trong con người do con người làm ra”

Trường Chinh trong “chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam”(1949): văn hoá là một vấn đề rất lớn bao gồm cả văn hoá, văn nghệ, khoa học, triết học, phong tục, tập quán, tôn giáo…

Căn cứ vào nghĩa gốc của Culute trong tiếng Latinh, giáo sư Vũ Khiêu- nhà văn hoá học Việt Nam cho rằng: “văn hoá thể hiện trình độ được vun trồng của con người, của xã hội… văn hoá là trạng thái của con người ngày càng tách ra khỏi giới động vật, ngày càng xoá bỏ những đặc tính của động vật, để khẳng định những đặc tính cuả con người” [13, tr.21]

* Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực nghiên cứu này sẽ cung cấp một cái nhìn toàn diện hơn về văn hoá

Trang 14

Quan điểm về văn hoá trong học thuyết Mác tiếp nhận các yếu tố hợp lí trong quan điểm văn hoá của loài người Các ông xem xét sự vận động cuả giá trị văn hoá gắn với sự vận động của phương thức sản xuất và của đấu tranh giai cấp Tìm nguyên nhân kinh tế- xã hội làm cho con người bị tha hoá, giải phóng và phát triển những năng lực, bản chất của con người

Nói về sự sáng tạo các giá trị văn hoá, C Mác và Ăngghen bàn về các “ lực lượng bản chất người” Trong “ bản thảo kinh tế triết học”, C Mác viết:

“chúng ta nhận thấy lịch sử công nghiệp và sự tồn tại của nền công nghiệp là quyển sách mở của lực lượng sản xuất người” Trong một tác phẩm khác, C Mác và Ăngghen viết: “của cải là gì nếu không phải là sự biểu hiện tuyệt đối của những tài năng sáng tạo của con người không cần đến tiền đề nào khác ngoài sự phát triển đã có, sự phát triển vốn lấy cái chỉnh thể của sự phát triển làm mục đích tự thân, tức là mọi lực lượng bản chất người, bất chấp mọi quy luật đã định trước Căn cứ vào mức độ tự nhiên được con người biến thành bản chất người Tức là mức độ tự nhiên được con người khai thác, cải tạo thì

có thể xét được trình độ văn hoá chung của con người” [2, tr.39]

Như vậy, C Mác và Ăngghen lần đầu tiên chứng minh tính chất xã hội của các lực lượng bản chất người Một trong các lực lượng bản chất ấy là sức lao động, là tài năng sáng tạo cuả con người Đó không phải là lực lượng bẩm sinh, xuất hiện một cách tự nhiên mà chúng biến đổi do tác động của các quan

hệ sản xuất, do trình độ phát triển văn hoá Các lực lượng ấy được khách thể hoá thông qua hoạt động cải tạo thế giới của con người, chính hoạt động này

là phương thức tồn tại và tái sản xuất ra đời sống xã hội

Vậy là, xuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử, C.Mác và Ăngghen đã đưa ra khái niệm về văn hoá Theo đó cách tiếp cận này, văn hoá

là sản phẩm sáng tạo của con người Nó bao gồm hai lĩnh vực là văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần Hai lĩnh vực này quan hệ biện chứng với nhau Sự

Trang 15

phân chia như vậy chỉ có ý nghĩa tương đối Văn hoá là sản phẩm của một quá trình lịch sử - xã hội, do đó là một hiện tượng lịch sử và xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ cách mạng Việt Nam, danh nhân văn hoá thế giới thế kỉ XX tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, đặc biệt là tinh thần chủ nghĩa Mác, suy ngẫm về văn hoá, Người viết “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương tiện sử dụng Toàn bộ những sáng tạo phát minh đó, tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với bỉểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn” [12, tr.413]

Để xây dựng nền văn hoá mới sau khi giành được độc lập phải có nguồn lực con người Con người có học vấn, có đời sống vật chất đảm bảo và sống trong hoà bình ổn định và yếu tố quan trọng nhất trong sự nghiệp đó Vì vậy, Người đã phát động phong trào ba chống: chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm Ngay từ những năm đầu cách mạng tháng Tám, Người cho rằng: “văn hoá phải gắn liền với lao động sản xuất”

Tóm lại, điểm thống nhất giữa quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh và

tư tưởng của các nhà sáng lập ra học thuyết mácxít ở chỗ: các ông đều xem xét lao động là sáng tạo, là cội nguồn của văn hoá

Tại hội nghị quốc tế Mêhicô, do UNESCO chủ trì từ ngày 26/7 đến ngày 6/8/1983 người ta đã đưa ra 200 định nghĩa Đến ngày 21/1/1988, khi phát động “thập kỉ thế giới phát triển văn hoá”; ông tổng giám đốc UNESCO khi ấy là Federico Mayor cũng đưa ra một định nghĩa như sau: “văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ và cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua

Trang 16

hàng bao thế kỉ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị truyền thống, thẩm mĩ và lối sống mà dựa trên điều kiện từng dân tộc để tự khẳng định bản sắc riêng của mình” [4, tr 18]

Ngày nay các định nghĩa về văn hoá tiếp tục tăng lên Theo thống kê của hai nhà văn hoá học người Mĩ là Cô- rô- bơ và Cơ- lác- khôn, tính đến năm 1950 đã có 164 định nghĩa văn hoá Theo nhà xã hội học người Pháp là Moles, đến năm 1967 có 250 định nghĩa, và đến năm 1994 theo Phan Ngọc- nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam, tổng kết có khoảng 400 định nghĩa văn hoá

1.2 Định nghĩa văn hoá và văn hoá truyền thống

* Định nghĩa văn hoá

Tiếp thu tinh thần chung của các quan niệm văn hoá chúng ta có thể hiểu “văn hoá là tổng thể những giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người vời môi trường tự nhiên và xã hội” (2, tr,102)

Khi nói đến văn hoá là nói đến những giá trị, đó là những giá trị tốt đẹp Nói đến giá trị là nói đến cái tốt, cái hay con người cần phải có để cuộc sống con người thực sự có tính người Đó là chuẩn mực của chân- thiện- mĩ Các hành vi tham nhũng, ăn hối lộ, chiến tranh phá hoại… đều là những hành

vi phản giá trị bị xã hội lên án, bài trừ lí tưởng mà mọi xã hội đều hướng tới là công bằng, bình đẳng, không có áp bức bóc lột, mọi người được sống tự do, hạnh phúc, cùng đoàn kết đưa xã hội phát triển Nói đến văn hoá không chỉ đề cập đến những giá trị văn hoá riêng lẻ mà là nói đến tổng thể các giá trị vật chất và giá trị tinh thần Trong đó mọi giá trị văn hoá đều quan hệ với nhau và cùng phát triển theo sự phát triển của xã hội Nói văn hoá là một tổng thể vì chúng có mặt trong mọi hoạt động sống của con người: văn hoá, giáo dục, văn hoá đạo đức, văn hoá chính trị, văn hoá pháp luật… đặc biệt văn hoá trong

Trang 17

sản xuất vật chất thuộc quan hệ xã hội nói chung Bản thân các lĩnh vực này xét một cách thuần tuý thì chưa gọi là văn hoá, chỉ khi nào bản thân các lĩnh vực đó phù hợp cuộc sống con người, đáp ứng các mục tiêu nhân bản vì sự phát triển của con người thì nó mới có văn hoá Ví dụ: khi sản xuất công cụ phục vụ lao động là văn hoá, nhưng sản xuất những vũ khí nhằm phục vụ chiến tranh phá hoại lại là phi văn hoá

Nói đến văn hoá là nói đến những gì con người sáng tạo ra Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo nên Nói cách khác, là cái tự nhiên thứ hai do con người nhận thức thế giới và tự ý thức về mình, nó tạo nên một thế giới tối

ưu cho mình Sự sáng tạo không phải là bừa bãi mà theo quy luật của tự nhiên, của xã hội Văn hoá là kết quả của một quá trình hoạt động thực tiễn,

từ thực tiễn con người nhào nặn tự nhiên tạo ra cái mới Chính quá trình đó và thành quả của nó mới là văn hoá Tư liệu sinh hoạt như: cơm ăn, áo mặc hàng ngày đến các tư liệu sản xuất đều là thành quả của lao động Nhờ lao động mà con người có được các công trình kiến trúc như: Vạn Lí Trường Thành, Kim

Tự Tháp, các công trình công cộng, viện bảo tàng… ngày nay vẫn còn tồn tại

Những công cụ sinh hoạt ngày càng tinh vi, hiện đaị là điều kiện cho con người khám phá thế giới tự nhiên và hiểu sâu sắc chính bản thân mình

Có thể nóí văn hoá là sản phẩm, là kết quả những sáng tạo mà con người có được từ hoạt động thực tiễn Và nói đến văn hoá là nói đến một hiện tượng mang tính lịch sử Theo dòng lịch sử, những gì tốt đẹp đều được loài người lưu giữ, tích luỹ và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Kho tàng giá trị văn hoá không ngừng được chắt lọc bổ sung thêm phong phú và giàu có Văn hoá

là tổng thể những giá trị tốt đẹp của một cộng đồng người trong quá trình lịch

sử lâu dài Nó thể hiện sức sống và bản lĩnh của một dân tộc

* Giá trị truyền thống

Trang 18

Theo nghĩa tổng quát nhất, truyền thống đó là những yếu tố của di tồn văn hoá, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, phong tục tập quán, thói quen, lối sống và cách ứng xử của cộng đồng người được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài Lịch sử cho thấy rằng truyền thống mang trong bản thân nó tính hai mặt rõ rệt:

Một là, truyền thống góp phần suy tôn, giữ gìn những gì là quý giá, là

cốt cách, là nền tảng cho sự phát triển, cho sự vận động đi lên của cộng đồng dân tộc Xét từ mặt này thì truyền thống mang ý nghĩa tích cực, là cái góp phần tạo nên sức mạnh, là chỗ dựa không thể thiếu của dân tộc trên đường đi

tới tương lai

Hai là, truyền thống đồng thời cũng còn là mảnh đất hết sức thuận lợi

cho sự dung dưỡng, duy trì và làm sống lại mặt bảo thủ, lạc hậu, lỗi thời khi

mà điều kiện và hoàn cảnh lịch sử đã thay đổi Mặt thứ hai này có tác dụng không nhỏ trong việc kìm hãm, níu kéo, làm chậm sự phát triển của một quốc gia, dân tộc này hạn chế giao lưu hoặc thi hành chính sách đóng cửa với thế giới bên ngoài vì các lí do khác nhau Nói cách khác, khi nói đến giá trị truyền thống là nói đến những truyền thống nào đã có sự đánh giá, đã được thẩm định nghiêm ngặt của thời gian, đã có sự chọn lọc, sự phân định và khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộng đồng trong những giai đoạn lịch

sử nhất định Mỗi dân tộc trên khắp hành tinh này, dù ở trình độ văn minh cao hay thấp, dù đã phát triển hay đang phát triển thì cũng đều có những truyền thống đặc trưng của riêng mình Hệ thống giá trị đó chính là sự kết tinh tất cả những gì tốt đẹp nhất qua các thời đại lịch sử khác nhau của dân tộc để làm nên bản sắc riêng Nó được truyền lại cho thế hệ sau và cùng với thời gian, cùng với sự tiến triển của lịch sử sẽ được bổ sung bằng các giá trị mới Trong

hệ thống các giá trị truyền thống Việt Nam có không ít những giá trị mà

Trang 19

chúng ta có thể bắt gặp ở các dân tộc khác Điều đó cũng thật dễ hiểu bởi vì trong cái dân tộc không bao giờ nằm ngoài cái nhân loại

* Khái niệm văn hoá truyền thống

Truyền thống là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, không thể nói đến

sự phát triển nếu không có sự kế thừa và phát huy những gì tốt đẹp có trong quá khứ

Thuật ngữ truyền thống xuất phát từ tiếng Latinh ( Traditio) có nghĩa là lưu truyền, luân chuyển, mang lại, trao lại Bách khoa toàn thư Liên Xô định nghĩa “truyền thống là tục lệ, trật tự, quy tắc cư xử truyền từ đời này qua đời khác” Từ điển tiếng Việt giải thích “truyền thống là đức tính, tập quán, tư tưởng, lối sống được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác”

Giáo sư Phan Ngọc Liên cho rằng: “truyền thống là những hoạt động mang tính chất xã hội được lặp đi lặp lại nhiều lần và cố định ở một thời điểm lịch sử nào đó Truyền thống ăn sâu vào tư tưởng, tình cảm và tính cách của con người trong môi trường phổ biến của nó Truyền thống không phải là hành động ngẫu nhiên, bất kì khi đã hình thành, truyền thống được tư tưởng gìn giữ, bảo vệ, phát triển, nhưng cũng có thể bị loại trừ khi nó không còn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội mới” [38,13]

Theo giáo sư Phan Trọng Luân “ truyền thống bao gồm những lĩnh vực tinh thần và vật chất Đó là những định chế, những khế ước xã hội, là những chuẩn mực đạo lí, hoặc những cái đẹp hơn, nhiều khi chỉ là một thứ tục lệ, một thói quen thuộc thang giá trị lâu đời…nhưng tất cả đã ăn sâu vào đời sống tâm linh của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng xã hội và mỗi cá thể trong cộng đồng như một thứ bản lĩnh, bản năng tri phối hàng ngày, hàng giờ từng hành vi ứng xử của mỗi con người” [26, tr.10] Giáo sư Hà Văn Tấn nêu rõ đặc điểm cơ bản của truyền thống là: tính ổn định, tính bền vững, “tương đối”, tính chuyển biến

Trang 20

Truyền thống là cái trong lịch sử, trong những điều kiện lịch sử nào đó, nhưng có khi những điều kiện đó không còn nữa, mà truyền thống vẫn còn

Đó là biểu hiện tính bền vững của truyền thống Tính bền vững tương đối của truyền thống là truyền thống có thể bị suy thoái hoặc mất đi Truyền thống thường mất đi khi các điều kiện làm nảy sinh nó hay đã nuôi dưỡng nó không được duy trì Lúc đó nảy sinh ra hiện tượng “đứt gãy truyền thống” [25, tr.23] Mặt khác trong những điều kiện xã hội mới của xã hội, các truyền thống mới lại nảy sinh, cùng với thời gian sẽ cố định trở lại thành bền vững Truyền thống tốt và truyền thống xấu lại là hai mặt đối lập trong truyền thống dân tộc cùng hình thành trong lịch sử cộng đồng dân tộc, từ những điều kiện lịch sử tự nhiên, xã hội nhất định chịu tác động của tính cộng đồng và tính giai cấp của dân tộc Điều này được Hồ Chí Minh khẳng định “thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to, nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ, chúng ta lại không thể trấn áp nó, mà phải cải tạo nó một cách rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài [24, 14]

Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu “truyền thống là những yếu tố sinh hoạt văn hoá, tư tưởng, tình cảm,… hình thành trong quá trình lịch

sử của mỗi dân tộc, của mỗi giai cấp, một địa phương, một đơn vị nào đó, truyền từ đời này sang đời khác, thế hệ trước sang thế hệ sau Truyền thống có phần tích cực giúp vào sự tồn tại và phát triển, như truyền thống yêu nước, lao động (truyền thống tốt đẹp) cũng có phần tiêu cực xoá bỏ” [28, 127]

Như vậy, truyền thống không phải là một cái gì có sẵn nảy sinh trong một thời gian và bất biến mà là chuẩn mực, quy tắc ứng xử xã hội của một cộng đồng lớn hay nhỏ được lặp đi lặp lại qua nhiều thế hệ trong một không gian ít thay đổi lớn và ăn sâu vào tiềm thức, tình cảm của con người trong đời sống hàng ngày của mỗi cộng đồng xã hội Vì thế nhận thức được đặc điểm

Trang 21

và bản chất của truyền thống giúp chúng ta biết trân trọng gìn giữ và phát huy truyền thống tốt đẹp, đồng thời biết cải tạo truyền thống xấu

Điều này đối lập với những quan điểm sai lầm của các học giả và tiến sĩ khi cho rằng: truyền thống là vĩnh cửu bất biến, chỉ có truyền thống tốt, không

có truyền thống xấu, chỉ cần kế thừa phát huy mà không cần phải thay đổi hoặc bổ sung Nhưng truyền thống chỉ trở thành sức mạnh vật chất khi được vun xới chăm chút một cách công phu, lâu dài bằng những biện pháp, hình thức có tầm cỡ chiến lược xã hội cho đến hành vi cụ thể hàng ngày trong sinh hoạt gia đình, học đường của mỗi con người cụ thể [16, tr.10]

Từ những định nghĩa của truyền thống nêu trên sẽ là cơ sở để xác định những thành tố của truyền thống để dạy cho thế hệ sau Truyền thống bao gồm những thành tố cơ bản sau:

- Một là: Tập hợp những tư tưởng tình cảm, những tập quán, thói quen của một cộng đồng (khi nghiên cứu từng truyền thống để tăng tính cụ thể và

để xác định rõ hơn nội dung của truyền thống, nên cụ thể hoá truyền thống thành quan niệm, tình cảm, thái độ)

- Hai là: Được hình thành trong lịch sử và đã trở thành ổn định

- Ba là: Được lưu truyền từ đời này qua đời khác

- Bốn là: Được biểu hiện trong tâm lí, lối sống của cộng đồng (với ý nghĩa lối sống là toàn bộ hoạt động sống của con người)

Vậy truyền thống chính là một bộ phận của văn hoá nó thể hiện tính liên tục của văn hoá, đánh dấu trình độ phát triển và tương đối ổn định của văn hoá trên các lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, biểu hiện mối quan hệ giữa người với người, ổn định mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội thoả mãn những nhu cầu tiến bộ và hạnh phúc của cá nhân

1.3 Cấu trúc và chức năng của văn hoá

* Cấu trúc văn hoá

Trang 22

Do nhiếu cách tiếp cận trong việc nghiên cứu văn hoá vì vậy có nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc của văn hoá Một số tác giả chia văn hoá thành: văn hoá vật chất; văn hóa xã hội; văn hóa tinh thần hay văn hoá tư tưởng… song cách chia phổ biến và thường được nhiều người thừa nhận hơn

cả là cách tiếp cận chia văn hoá thành hai lĩnh vực: văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần Con người có hai nhu cầu cơ bản là: nhu cầu vật chất và nhu cầu về mặt tinh thần Từ đó các dạng tồn tại của văn hoá (văn hoá vật thể và

văn hoá phi vật thể) chính là cơ sở của cách phân chia này

Văn hoá vật chất là toàn bộ những giá trị sáng tạo của con người được thể hiện trong các sản phẩm vật chất do xã hội tạo ra, kể cả các tư liệu sản xuất cho đến các tư liệu tiêu dùng của xã hội Trong các giai đoạn khác nhau của xã hội, các sản phẩm do xã hội tạo ra cũng khác nhau, phản ánh các giai đoạn khác nhau của xã hội Những sản phẩm vật chất do con người tạo ra như

đồ ăn, đồ mặc, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, phương tiện đi lại… là các giá trị văn hoá vật chất Cùng với quá trình lao động sản xuất, hoạt động khoa học, con người không ngừng chinh phục tự nhiên, tôn tạo thêm những cảnh đẹp thiên nhiên để chúng trở thành những danh lam thắng cảnh, những kì quan phục vụ chính con người, đó là: vịnh Hạ Long, Hội An, rừng Cúc Phương,… Những giá trị văn hoá vật chất, vì thế mà ngày càng phong phú thêm theo sự phát triển của lịch sử xã hội

Văn hoá tinh thần là toàn bộ những giá trị của đời sống tinh thần, bao gồm cả khoa học và nghiên cứu để áp dụng những thành tựu khoa học vào sản xuất và sinh hoạt, trình độ học vấn, giáo dục y tế, nghệ thuật, chuẩn mực đạo đức trong hành vi của các thành viên trong xã hội, trình độ phát triển nhu cầu của con người,… văn hoá tinh thần còn thể hiện trong những phong tục, tập quán, trong những phương thức giao tiếp và ngôn ngữ

Trang 23

Việc phân chia văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần chỉ là tương đối, không thể quá tách bạch giữa các lĩnh vực Bởi lẽ, ngay trong văn hoá vật thể lại có văn hoá phi vật thể và ngược lại Những giá trị văn hoá thường gắn với

cá nhân nhưng trong các cá nhân đó đã thể hiện tính xã hội, cá nhân tạo ra sản phẩm văn hoá dựa trên cơ sở xã hội nhất định Giá trị văn hoá của cá nhân cũng mang tính xã hội, có tính xã hội khi được xã hội công nhận Cho nên văn hoá mang tính xã hội cùng với lịch sử các giá trị văn hoá được lưu truyền qua các thế hệ, tạo nên bản sắc văn hoá của các dân tộc và khẳng định sự tồn tại của dân tộc ấy

Chủ nghĩa Mác- Lê coi văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần có quan

hệ biện chứng với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển Khi xã hội phát triển, nhu cầu vật chất tăng lên Sự sáng tạo các giá trị vật chất phát triển đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên đó Nhu cầu vật chất phát triển kéo theo nhu cầu tinh thần cũng phát triển Nhu cầu tinh thần phát triển đến một mức độ nhất định sẽ tác động trở lại làm cho nhu cầu vật chất phát triển cao hơn Do đó, những sáng tạo vật chất và tinh thần tác động thúc đẩy nhau cùng phát triển

* Chức năng của văn hoá

Văn hoá thực hiện chức năng cơ bản sau:

- Chức năng tổ chức xã hội

Đây là chức năng quan trọng của văn hoá Cơ sở xuất phát hình thành chức năng nay là đặc trưng tính hệ thống của văn hoá Văn hoá có tính hệ thống, hệ thống đó bao gồm những giá trị vật chất và những giá trị tinh thần

có quan hệ hữu cơ với nhau bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nhờ

đó văn hoá thực hiện được chức năng tổ chức xã hội Xã hội loài người được

tổ chức theo những cách thức đặc biệt thành những làng xã, quốc gia, đô thị,

tổ nhóm… mà giới động vật chưa hề biết tới- đó là nhờ văn hoá Làng xã, quốc gia, đô thị của mỗi dân tộc lại cũng khác nhau, do đó văn hoá khác nhau, mỗi dân tộc lai có bản sắc văn hoá riêng

Trang 24

Hệ thống văn hoá bao trùm lên mọi hoạt động của đời sống xã hội Thực hiện chức năng tổ chức xã hội, văn hoá là yếu tố thường xuyên làm tăng

sự ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội những phương cách ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình

- Chức năng điều chỉnh xã hội

Cơ sở của chức năng điều chỉnh xã hội là tính giá trị của văn hoá Văn hoá gắn liền với những giá trị của nó Đó là những cái tốt đẹp đối lập với những cái phi giá trị và xấu xa Văn hoá vì vậy là thước đo giá trị nhân bản của xã hội và con người

Nhờ việc thường xuyên sàng lọc, tích luỹ và tạo nên giá trị mà văn hoá thực hiện được chức năng điều chỉnh xã hội Trong những điều kiện lịch sử nhất định, hệ giá trị cũng được thay đổi để nâng cao hiệu quả điều chỉnh của văn hóa Văn hoá là căn cứ để đánh giá đúng, sai của hoạt động con người Mọi sinh hoạt đều có khả năng thích nghi với môi trường xung quanh bằng cách tự biến đổi mình sao cho phù hợp với môi trường tự nhiên qua cơ chế di truyền và chọn lọc tự nhiên Con người thì hành xử theo một cách thức hoàn toàn khác, đó là dùng văn hoá để biến đổi tự nhiên phục vụ cho mình bằng cách tạo ra đồ ăn, quần áo, nhà cửa, vũ khí máy móc, thuốc men [20, tr 35] Những hành động phản giá trị sẽ bị lên án, trừng trị theo pháp luật Trong bối cảnh đầy phức tạp và biến động của xã hội hiện đại thì những giá trị văn hoá ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh sự cân bằng và định hướng phát triển của xã hội Nó duy trì xã hội trong trạng thái cân bằng động

Nó giúp xã hội tự hoàn thiện thích ứng với những biến đổi của môi trường Nhờ chức năng điều chỉnh mà văn hoá trở thành chuẩn mực, mục tiêu và động lực của sự phát triển trong xã hội loài người

- Chức năng giáo dục

Trang 25

Đây là chức năng bao trùm nhất của văn hoá Nói cách khác, chức năng tập trung của văn hoá là bồi dưỡng con người, hướng lí tưởng, đạo đức và hành vi con người vào “điều hay lẽ phải, điều khôn lẽ thiệt”,… theo những khuôn mẫu, chuẩn mực mà xã hội quy định [26, tr.102]

Văn hoá bao giờ cũng hình thành trong mọi quá trình và được tích luỹ qua nhiều thế hệ, mang tính lịch sử và tạo ra cho xã hội một bề dầy, bề sâu Tính lịch sử tạo nên truyền thống văn hoá, đó là những giá trị tương đối ổn định được tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, được đúc kết thành khuôn mẫu xã hội và cố định hoá dưới dạng ngôn ngữ, phong tục tập quán, nghi lễ, pháp luật, dư luận

Văn hoá giáo dục các thế hệ kế tiếp gìn giữ những giá trị văn hoá truyền thống: tinh thần yêu nước, đoàn kết, tính tự lực, tự cường,… những phong tục tập quán tốt đẹp… Văn hoá làm hình thành nhân cách con người, dưỡng dục nhân cách con người, tạo nên nền tảng tinh thần của xã hội

Trong mỗi chế độ khác nhau tồn tại những hệ giá trị khác nhau Trong

xã hội phong kiến phương Đông, việc giáo dục con người chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các chuẩn mực giá trị của Nho giáo tạo ra mẫu người thụ động luôn tuân theo khuôn phép nghiêm ngặt Ngày nay, hệ giá trị mới sẽ tạo ra những nhân cách mới, năng động, nhanh nhạy, sáng tạo,… đáp ứng yêu cầu của xã hội Văn hoá thực hiện nhiệm vụ này thông qua chức năng giáo dục

- Chức năng giao tiếp

Văn hoá mang tính nhân bản Mọi giá trị văn hoá đều do con người sáng tạo ra, đều mang dấu ấn của con người Nhờ tính nhân bản, văn hoá trở thành sợi dây nối liền con người với con người Văn hoá thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết các thế hệ với nhau Qua các sản phẩm văn hoá, chúng ta có thể hiểu văn hoá của cha ông, đánh giá được trình độ phát triển xã hội qua từng giai đoạn lịch sử xã hội Văn hoá là trung gian để thế hệ

Trang 26

hiện tại chuyển dòng chảy văn hoá chung tạo ra môi trường cho con người ngày càng hoàn thiện mình Như vậy, nhờ tính nhân bản, văn hoá thực hiện chức năng giao tiếp của văn hoá

- Chức năng nhận thức

Đây là chức năng tồn tại của mọi hoạt động văn hoá

- Ngoài những chức năng cơ bản trên, văn hoá con các chức năng khác như: chức năng thẩm mĩ, chức năng giải trí… thể hiện vai trò của văn hoá trong đời sống xã hội

1.4 Cơ sở hình thành giá trị văn hoá truyền thống của tỉnh Bắc Ninh

* Điều kiện tự nhiên

Bắc Ninh là vùng đất châu thổ Bắc Bộ, giữa lưu vực sông Hồng và sông Thái Bình Đất đai cao thoáng, màu mỡ, giữ nguồn nước, tiện lợi cho con người cư trú, làm ăn, nhất là canh tác nông nghiệp “Đất tỉnh này nhiều ruộng mùa, mà ít ruộng chiêm” cư dân ở đây hầu như không lâm vào cảnh

“sống ngâm ra, chết ngâm xương”, canh tác không bị “chiêm khô, mùa thối”.Ngày nay Bắc Ninh thuộc phía Bắc vùng đồng bằng sông Hồng và tiếp giáp với trung du Bắc Bộ tại tỉnh Bắc Giang Bắc Ninh là cửa ngõ phía Bắc- Đông Bắc của thủ đô, cách trung tâm Hà Nội 31 km về phía Đông Bắc, phía Tây và Tây Nam, giáp thủ đô Hà Nội, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên

Về lĩnh vực giao thông thì từ xưa, xứ Bắc đã là nơi gặp gỡ, giao hội của các mạch giao thông thuỷ bộ Nam- Bắc, Đông- Tây, nhất là hệ thống đường thuỷ sông Hồng, sông Cầu, sông Đuống… tạo cho nơi đây sớm trở thành trung tâm giao thương, tiếp xúc kinh tế, văn hoá giữa nước ta với các nước trong khu vực Đông Nam Á, với Trung Quốc, Ấn Độ và các nước ở vùng Trung Á

Trang 27

Sông suối bao quanh, núi đồi rải rác là nét cảnh quan sinh thái đắc sắc của tỉnh Bắc Ninh Núi đồi tập trung phía Đông Bắc và Đông Nam của tỉnh

Đó là ngọn núi Dinh, núi Kho, núi Trấn, núi Tháo Thủ, núi Phúc Sơn, núi Vũ Ninh Sơn, núi Ba Huyện… Và xưa kia, nơi đây là rừng cây phủ kín, tạo nên màu xanh dịu mát và cảnh sắc “sơn thuỷ hữu tình” Núi đồi, sông suối là bức hào thành tự nhiên hùng vĩ bảo vệ vùng đất thành phố khiến nơi đấy có vị thế trọng yếu trong chiến lược quân sự, nhưng lại rất thuận lợi cho việc làm ăn phát triển kinh tế Hệ thống các mạch giao thông thuỷ bộ nối kinh thành Thăng Long với ải Bắc Lạng Sơn, với miền cửa biển Đông Bắc đều chạy qua tỉnh Chính vì vậy, Nguyễn Trãi đã khẳng định Kinh Bắc là trấn thứ tư trong bốn kinh trấn và là đứng đầu phên dậu phía Bắc

* Điều kiện kinh tế- xã hội

Kinh Bắc là vùng đất kế cận kinh thành Thăng Long, là một trong những tứ trấn kinh thành Kinh Bắc xưa là vùng đất rộng lớn bao gồm hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, một số huyện của Hà Nội, Hưng Yên, Lạng Sơn Với diện tích trải rộng như vậy, Bắc Ninh là vùng đất được con người tụ cư và định cư khai thác kinh tế nông nghiệp lúa nước từ khá sớm Điều đó được khẳng định qua nghiên cứu khảo cổ ở những di chỉ: Quả Cảm, Nội Gầm (huyện Yên Phong), Phù Lưu, Xuân Ổ, Đình Bảng (huyện Từ Sơn), Lãng Ngâm (Gia Lương)… Qua những di chỉ khảo cổ này đã khẳng định ở vùng đất Bắc Ninh nay là Hà Bắc xưa đã có những làng Việt cổ, có sự phát triển phong phú về đời sống, kinh tế xã hội như chế tác công cụ sản xuất nông nghiệp, trồng lúa nước, các nghề thủ công nghiệp như: dệt vải, làm gốm, đúc đồng, làm tranh,…;đánh bắt, trao đổi hàng hóa phát triển

Sách “Giao Châu kí” có ghi: “huyện Phong Khê có đê phòng lụt”, sách

“Di vật chỉ” có ghi: “ Ở Giao Châu lúa chín hai mùa”, đó là những chứng cứ

Trang 28

khẳng định cư dân Việt ở nơi đây sớm lập làng, định cư, khai thác trông trọt, chăn nuôi, trị thủy phục vụ nông nghiệp

Từ mấy ngàn năm trước, người Việt cổ đã cư trú lập làng ở ven sông Cầu, sông Dâu, sông Đuống… nay còn lại hệ thống các di chỉ khảo cổ thuộc các nền văn hoá Phùng Nguyên, Gò Mun và Đông Sơn, phân bố rộng khắp với các loại hình phong phú: di chỉ cư trú xưởng thủ công, mộ táng… Đó là những dấu tích những làng xóm của cư dân Việt cổ, sống chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp, đánh cá, làm các nghề thủ công Đã có một vùng cư dân chuyên trồng dâu, chăn tằm được mang tên vùng Dâu- tức trung tâm Luy Lâu, nay thuộc huyện Thuận Thành ở bờ Nam sông Đuống

Cùng với canh tác nông nghiệp, cư dân Bắc Ninh đã biết kết hợp làm các nghề thủ công Đã tìm thấy ở chân núi Tiêu (Từ Sơn) di chỉ xưởng chế tác

đồ trang sức bằng đá lớn nhất tìm thấy ở nước ta thuộc văn hoá Phùng Nguyên Đặc biệt, ngay trong thành cổ Luy Lâu- trung tâm của vùng Dâu, đã tìm thấy mảnh khuôn đúc trống đồng và hàng loạt di vật đồng với văn hoa đẹp, độc đáo tìm thấy ở các di tích Lũng Ngâm; Đại Trạch, Quả Cảm, Đại Lai… cho biết người xứ Bắc đã tinh xảo trong nghề đúc đồng, chế tác đồ trang sức, làm gốm…

Những chứng tích khảo cổ và lịch sử, văn hoá ở Bắc Ninh ngày nay đã cho thấy, nơi đây thuộc địa bàn sinh tụ chủ yếu của người Việt cổ ở đồng bằng Bắc Bộ, trở thành nôi sinh của dân tộc Việt, bộ phận trọng yếu của quốc gia Văn Lang- Âu Lạc, đồng thời là nơi hình thành tảng nền của văn hoá, văn minh Việt Nam

Các ngành nghề thủ công nghiệp ở đây rất phát triển: làm gốm, dệt, đúc đồng, rèn sắt, làm tranh với các làng nghề tiêu biểu như: đúc đồng ở Đại Bái, rèn sắt ở Đa Hội, thủ công mĩ nghệ truyền thống ở Đồng Kị đã xuất khẩu đi rất nhiều nơi như: Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Công và một số thi trường

Trang 29

khác hiện nay, nghề làm tranh dân gian Đông Hồ với những yên liệu vẽ tranh

làm từ tự nhiên trên giấy gió phát triển

Nhiều làng nghề truyền thống còn tồn tại và phát triển cho tới ngày nay

và trở thành một thành phố kinh tế mũi nhọn của địa phương như: trạm khắc

gỗ Đồng Kị, giấy Phong Khê, đúc đồng Đại Bái, rèn sắt Đa Hội, đem lại cuộc sông sung túc cho người dân nơi đây

Bên cạnh thủ công nghiệp thì nền thương nghiệp ở đây cũng khá phát triển Việc giao lưu, thông thương buôn bán đã khá phát triển với các trung tâm buôn bán lớn: Luy Lâu, Long Biên với các loại hàng hóa phong phú và đa dạng Khách buôn trong cả nước và nước ngoài: Trung Quốc, Thiên Trúc (Ấn Độ); Chà Và, Chà Oa (Đông Nam Á)

Đặc biệt sang thế kỉ X, nền kinh tế nông nghiệp của cư dân Bắc Ninh phản ánh rõ thông qua các chợ vùng nông thôn Chợ là nơi tụ họp, phản ánh

rõ nhất sự phát triển của vùng đó Hàng hóa đem ra chợ bán chủ yếu là lúa gạo, thực phẩm, nông, lâm sản và hàng thủ công do dân địa phương và các vùng sản xuất mang tới trao đổi, mua bán Có nhiều chợ lớn như: chợ Giàu (huyện Tiên Sơn), chợ Bắc Ninh, chợ Chờ (huyện Yên Phong), chợ Đáp Cầu (Bắc Ninh), chợ Song Hồ (Thuận Thành)…

Chợ không chỉ sự phản ánh sự phát triển kinh tế mà còn mang ý nghĩa tôn giáo, tín ngưỡng Chợ đình tuy không nhiều nhưng gắn liền với phong tục, tập quán của địa phương và đặc điểm thờ Thành Hoàng làng như ở chợ Ó ở Tiên Sơn, chợ Đình Kim ở Thị Cầu,… được gọi là chợ âm- dương, chợ không chỉ họp vào lúc chạng vạng tối (18 giờ) Người ta cho rằng đây là thời gian người và ma hoặc quỷ gặp gỡ, trao đổi thông qua viêc mua bán

Có thể thấy ngoài hoạt động kinh tế ở chợ thì chợ còn phản ánh đậm nét văn hóa của người Việt ở vùng đất này

Trang 30

Như vậy có thể nói kinh tế của người Việt ở Bắc Ninh sớm phát triển trên cả ba phương diện: sản xuất nông nghiệp lúa nước- trồng trọt- chăn nuôi; phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và buôn bán chợ búa- nội, ngoại thương Đây là ba đặc điểm chính về kinh tế, đồng thời nó còn là nền tảng, là

cơ sở cho sự phát triển văn hóa xã hội cũng như phong tục, tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, văn hóa nghệ thuật trên vung đất truyền thống của cư dân Việt

* Quá trình giao lưu tiếp biến và hội nhập văn hoá của Bắc Ninh

Xứ Bắc- Bắc Ninh giữ vai trò trung tâm của quá trình tiếp xúc, giao lưu, hội nhập liên tục trong suốt thời Bắc thuộc trên cả hai lĩnh vực kinh tế và văn hoá

Trị sở Luy Lâu- Long Biên- trung tâm chính trị, đồng thời là một trung tâm kinh tế thương mại lớn nhất Các di tích thành luỹ, các khu cư trú cho thấy bao gồm kho tàng, bến bãi, phố chợ, khu cư trú của quan lại, nơi ỏ của dân, khu vực sản xuất thủ công, nơi buôn bán trên bến, dưới thuyền Các hoạt động buôn bán, trao đổi ở Luy Lâu thời Bắc thuộc rất nhộn nhịp và sầm uất Theo các nguồn sử liệu, các nước phương Tây và phương Nam muốn buôn bán giao lưu với Trung Quốc đều phải theo con đường Giao Chỉ

Quá trình giao lưu, tiếp xúc hội nhập kinh tế diễn ra tại trung tâm Luy Lâu và trên đất Bắc Ninh xưa đã tạo những hội cho làm ăn, phát triển kinh tế Những tiến bộ, những kinh nghiệm trong sản xuất: làm nông nghiệp, làm các nghề thủ công, đặc biệt là tài năng kĩ xảo giao thương, buôn bán của người Hoa, người Ấn, người Trung Á… được người Việt tiếp thu, vận dụng để làm

ăn, mở mang phát triển kinh tế trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của vùng đất, con người xứ Bắc Hoạt động kinh tế của vùng quê sôi động và đa dạng, không thuần tuý nông nghiệp mà kết hợp làm thủ công, giao thương buôn bán Phố xá, chợ bến, nhất là chợ làng, chợ chùa mọc lên ở khắp các làng quê Người dân xứ Bắc ngày càng làm ăn thành thạo, vừa giỏi nghề nông, vừa giỏi

Trang 31

nghề thợ, lại tài khéo buôn bán với các mối quan hệ ngày càng mở rộng, tiếp xúc với người Hoa, người Ấn… Những yếu tố đó đã bổ sung và làm giàu thêm cá tính con người xứ Bắc- Bắc Ninh

Cùng với quá trình giao lưu, hội nhập, trao đổi kinh tế là quá trình tiếp xúc hội nhập văn hoá, tín ngưỡng tôn giáo giữa nước ta với các nước trong khu vực, mà trung tâm vẫn là Luy Lâu Tại đây, tư tưởng Nho giáo và văn hoá Hán- Đường đã được truyền bá liên tục vào nước ta chủ yếu thông qua hoạt động của bộ máy thống trị và tầng lớp quan lại Có thể nói Băc Ninh với trung tâm Luy Lâu là nơi đầu tiên có trường dạy chữ và văn hoá Hán ở nước ta Việc truyền bá này có hệ thống và quy củ, khiến người Vịêt được tiếp xúc với nền văn hoá Hán, qua đó học tập, tiếp thu những gì là tiến bộ, những tinh hoa của nền văn minh cổ đại Trung Hoa, làm phong phú nội dung và bản sắc văn hoá Việt Nam Trên vùng quê xứ Bắc, tầng lớp nho sĩ người Việt được hình thành và ngày càng đông đảo Đây là lực lượng giữ vai trò quan trọng trong việc tiếp xúc, thu nhận các thành tựu, tinh hoa văn hoá Trung Quốc và Ấn Độ

cổ đại, góp phần tích cực trong việc bảo tồn và phát triểm văn hoá dân tộc, hình thành và phát triển bản sắc văn hoá xứ Bắc- Bắc Ninh: hiếu học, trọng nhân nghĩa, biết tổ chức cuộc sống cá nhân, gia đình và cộng đồng có kỉ cương, nền nếp chặt chẽ…

Quá trình hội nhập, giao lưu, tiếp xúc giữa các nền văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng bản địa và ngoại nhập diễn ra ở Luy Lâu đã chứng tỏ sức sống mạnh mẽ của văn hoá Việt cổ, sự bao dung, cởi mở của dân tộc ta trong quá trình đón nhận các yếu tố ngoại sinh Nhờ đó, trong cuộc đấu tranh chống xâm lược và chính sách đồng hoá của chúng, nhân dân ta không những không tồn tại nền văn hoá không bị tiêu diệt, mà ngược lại bồi trúc thêm nguồn sinh lực mới làm tăng cường bản lĩnh của một dân tộc vốn có nền văn minh sông Hồng rực rỡ, trong cuộc đấu tranh trường kì gian khổ để tiến tới giành lại nền độc lập dân tộc vào đầu thế kỉ X Quá trình tiếp biến văn hoá diễn ra hàng

Trang 32

nghìn năm đã tích tụ thành nguồn nội lực mạnh mẽ để sang thời Đại Việt kết tinh và phát triển thành văn hoá Kinh Bắc, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hiến và nhân cách Việt Nam

* Tinh thần hiếu học của người dân Kinh Bắc

Nhiều làng quê xứ Kinh Bắc lấy nghề, nghề thợ làm nguồn sống chính thức như: Phù Lưu, Đình Bảng, Mai Động, Lũng Khê, Đại Tự, Lũng Giang…

Số làng quê này ngày một thêm đông, làm cho lang quê xứ Bắc không mang tính thuần nông mà phổ bíên là kết hợp làm ruộng, làm thợ và buôn bán Chính vì vậy, làng quê Bắc Ninh không tĩnh lặng mà luôn nhộn nhịp sầm uất, sôi động với các hoạt động kinh tế đa dạng, tạo môi trường cho các cá tính và phẩm chất con người xứ Bắc phát triển Đó là sự năng động, hoạt bát trong làm ăn, tinh tế, văn nhã, khôn khéo trong giao tiếp ứng xử, thông minh trong học tập và thành đạt trong khoa cử

Người Kinh Bắc nổi tiếng hiếu học Với trung tâm Luy Lâu, nơi đây xuất hiện trường dạy chữ đầu tiên ở nước ta Tầng lớp nho sĩ, sư tăng đông đảo, với hệ thống trường học và nhà chùa rộng khắp các làng xã, với nền kinh

tế phát triển, đã tạo thuận lợi cho người xứ Kinh Bắc ăn học và thành đạt trên lĩnh vực khoa cử Trong hơn 800 năm khoa cử phong kiến Việt Nam, Kinh Bắc- Bắc Ninh đứng đầu các địa phương trong nước về số người đỗ đại khoa: trên 600 tiến sĩ, 17 trạng nguyên, chiếm 1/3 tiến sĩ và trạng nguyên cả nước Hầu hết các bậc danh nhân khoa bảng Kinh Bắc đều ra làm quan và có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng đất nước, phát triển văn hoá Việt Nam, trở thành những danh nhân lịch sử văn hoá tiêu biểu Thống kê bước đầu, trong số tiến sĩ Kinh Bắc thời phong kiến có 77 người là xứ giả của triều đình, 20 người là thi sĩ và tác giả văn học, trong đó có 9 người là thành viên “Tao đàn nhị thập bát tú” do vua Thánh Tông sáng lập

Trang 33

Hà Bắc xưa, Bắc Ninh nay là vùng đất khởi sắc nhiều nhân tài Vì vậy,

đã có câu: “một giỏ sinh đồ, một bồ ông cống, một đống trạng nguyên, một thuyền bảng nhãn” để miêu tả truyền thống khoa bảng của vùng đất này

Như vậy, trong tiến trình hình thành và phát triển nền văn hoá Việt Nam, đã hình thành, tồn tại và phát triển vùng văn hoá Kinh Bắc Vùng đất ấy với những đặc trưng và sắc thái văn hoá Kinh Bắc được hình thành bởi những điều kiện tự nhiên, vị thế lịch sử và điều kiện xã hội của vùng đất này quy định, đã được nhiều thế hệ các học giả nghiên cứu, đánh giá và phản ánh trong các công trình khảo cứu về lịch sử và văn hoá Việt

Trang 34

CHƯƠNG 2 VẤN ĐẾ GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG CỦA TỈNH BẮC NINH TRONG

GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.1 Những giá trị văn hoá truyền thống của tỉnh Bắc Ninh

Kinh Bắc xưa, Bắc Ninh nay được mệnh danh là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, là cái nôi văn hóa của người Việt Vì thế, giáo sư Trần Quốc Vượng đã có nhận xét: “Hà Bắc- Kinh Bắc là cái nôi cốt lõi, là hạt nhân của người Kinh- Việt, là vùng đất chính và chủ yếu của xứ Bắc nằm trong không gian hình bình hành với giới hạn đôi bờ sông Cà Lồ phía Bắc, đôi bờ sông Dâu- sông Đuống ở phía Nam, đôi bờ Nhị Hà ở phía Tây, và quá lên là đôi bờ sông Phú Lương- Nguyệt Đức, phía Đông là không gian Tày nước cổ hòa trộn

với không gian Mã Lai cổ ” [23, tr.6- 9]

Với vị thế và đặc điểm lịch sử- xã hội đặc biệt đó đã khiến xứ Bắc- Kinh Bắc trở thành một trong những vùng đất tiêu biểu của nền văn hiến và nhân cách Việt Nam, với những sắc thái đặc trưng riêng, phản ánh trong truyền thống của con người vùng Kinh Bắc: Tinh thần đoàn kết cộng đồng được hình thành sớm và bền chặt, có lòng yêu nước và tinh thần cách mạng, tính cần cù, năng động, tài khéo trong làm ăn buôn bán, truyền thông hiếu học

và khoa bảng, lòng say mê và sáng tạo trong các hoạt động văn hoá nghệ

thuật, tinh thần thân ái và nghĩa tình trong quan hệ ứng xử “tứ hải giao tình”,

“tình chung một khắc nghĩa dài trăm năm”,…

2.1.1 Lễ hội truyền thống

Bắc Ninh là nơi có sự giao hòa Việt- Hán từ rất sớm với sự giao hòa ấy,

ở thời kì ngàn năm Bắc thuộc, sinh hoạt văn hóa công đồng làng xã được

Trang 35

phản ánh chủ yếu ở lễ hội đền chùa Mỗi dịp mở hội là cư dân Việt biểu lộ sự sùng bái và diễn lại sự tích các anh hùng dân tộc như: Lạc Long Quân, Thánh Gióng… Các vị này đã trở thành thần Thành Hoàng của nhiều xóm Không chỉ thế, sinh hoạt lễ hội ở làng xã của người Việt nơi đây còn phản ánh đậm nét tín ngưỡng phồn thực của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, còn thể hiện tinh thần ý nghĩa Phật giáo được Việt hóa như Phật Mẫu Man Nương ở lễ hội chùa Dâu

Sinh hoạt phật giáo nơi chùa tháp gắn chặt, hoà nhập với lễ hội và sinh hoạt văn hoá dân gian Vì vậy, Bắc Ninh là xứ sở hay còn được mệnh danh là vương quốc của lễ hội, chủ yếu là hội chùa, hội đền:

“Mồng bẩy hội Khám Mồng tám hội Dâu Mồng chín hội Gióng Mồng mười hội Bưởi đâu đâu cũng về”

Hầu như làng quê nào cũng có lễ hội được tổ chức váo suốt mùa xuân; trong đó có những lễ hội lớn nổi tiếng cả vùng, cả nước như hội Gióng, hội Dâu, hội Đền Đô, hội Lim, hội Phật Tích, hội Bút Tháp… Hội do làng tổ chức; nhưng cũng có hội lớn do cả xã, cả tổng, cả vùng cùng phối hợp tổ chức như hội Dâu do 12 làng tổ chức, hội Lim do cả tổng Nội Duệ tổ chức… Lễ hội thể hiện trình độ tổ chức cao, sự kết hợp chặt chẽ giữa các làng xã và ý thức trách nhiệm của mỗi thành viên đối với cộng đồng làng xã

Nhờ vậy mà lễ hội được tổ chức chu đáo, quy mô to lớn, với các nghi thức uy nghiêm trang trọng, các hoạt động văn hoá nghệ thuật hết sức phong phú, hấp dẫn, đậm đà bản sắc mỗi làng quê Kinh Bắc Mỗi hội một nét riêng, mỗi làng một vẻ, làm nên sự phong phú, hấp dẫn, đậm đà bản sắc mỗi làng quê Kinh Bắc Mỗi hội một nét riêng, mỗi làng một vẻ, làm nên sự phong phú, đa dạng và sự hoành tráng của lễ hội dân gian xứ Bắc bởi màu sắc rực

Trang 36

rỡ, âm thanh nhạc điệu uy nghiêm, rộn rã với sự tham gia diễn xướng của hàng nghìn người Lễ hội là lúc người Bắc Ninh thể hiện tập trung tiêu biểu tiêu biểu sự tài hoa, tinh tế và lịch lãm trong giao tiếp, ứng xử với bạn bè, quý khách

Kinh Bắc xưa nổi tiếng là vùng đất của những câu truyện cổ, những sự tích văn hoá Vì truyền thống này mà nơi đây sở hữu nhiều lễ hội dân gian Lễ hội được nhiều người quan tâm nhất là Hội Lim tại thị trấn Lim, Tiên Du, Bắc Ninh

Hội Lim là một sinh hoạt văn hoá - nghệ thuật đặc sắc của nền văn hoá truyền thống lâu đời ở xứ Bắc và dân ca Quan họ trở thành tài sản văn hoá chung của dân tộc Việt, tiêu biểu cho loại hình dân ca trữ tình Bắc Bộ

Hội Lim chính là hội chùa làng lim và đôi bờ sông Tiêu Tương Hội Lim trở thành hội hàng tổng (hội vùng) vào thế kỷ 18 Khi quan trấn thủ xứ Thanh Hóa Nguyễn Đình Diễn là người thôn Đình Cả, Nội Duệ, xứ Kinh Bắc,

có nhiều công lao với triều đình, được phong thưởng nhiều bổng lộc, đã tự hiến nhiều ruộng vườn và tiền của cho tổng Nội Duệ trùng tu đình chùa, mở mang hội hè, gìn giữ thuần phong mỹ tục Ông còn cho xây dựng trước phần lăng mộ của mình đặt tên là lăng Hồng Vân trên núi Lim Do có nhiều công lao với hàng tổng và việc ông đặt hậu ở chùa Hồng ân, nên khi ông mất nhân dân tổng Nội Duệ đã tôn thờ làm hậu thần, hậu Phật hàng tổng 8h ngày 13/1

Âm lịch, Hội Lim được mở đầu bằng lễ rước Đoàn rước với đông đảo người dân tham gia trong những bộ lễ phục ngày xưa, sặc sỡ sắc màu và cũng vô cùng cầu kì, đẹp mắt kéo dài tới cả gần km Trong ngày lễ, có nhiều nghi lễ và tục trò dân gian nổi tiếng, trong đó có tục hát thờ hậu Toàn thể quan viên, hương lão, nam đinh của các làng xã thuộc tổng Nội Duệ phải tề tựu đầy đủ tại lăng Hồng Vân để tế lễ hậu thần Trong khi tế có nghi thức hát quan họ thờ thần

Ngày đăng: 17/07/2015, 06:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w