1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở tỉnh Lào Cai trong giai đoạn hiện nay

65 920 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 551,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình trạng này làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, làm tổn hại kinh tế gia đình và sự phát triển của xã hội Xuất phát từ những thực trạng trên, tôi chọn đề tài: “Vấn đề bạo lực gia đình đối v

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

********

LÝ VĂN SỸ

VẤN ĐỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ Ở TỈNH LÀO CAI

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Người hướng dẫn khoa học :

GV LÊ THỊ MINH THẢO

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới Giảng viên Lê Thị Minh Thảo, Cô đã hướng dẫn tôi tận tình trong suốt thời gian xây dựng và

hoàn thiện đề tài

Đồng thời tôi cũng bày tỏ lòng cảm ơn tới các Thầy, Cô trong tổ Chủ nghĩa xã hội khoa học, các Thầy, Cô trong khoa Giáo dục Chính trị, các cán

bộ thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và các bạn sinh viên đã có những sự giúp đỡ đóng góp quý báu giúp tôi hoàn thành khoá luận này

Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới Hội Liên Hiệp Phụ nữ, Tòa án nhân dân, tỉnh uỷ Lào Cai đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này

Trong khuôn khổ nghiên cứu đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của Thầy cô và các bạn sinh viên

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2011 Người thực hịên

Lý Văn Sỹ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi khẳng định đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, chính thực lực tôi nghiên cứu và hoàn thanh trên cơ sở những kiến thức đã học về môn Chủ nghĩa xã hội khoa học và sử dụng tài liệu tham khảo Nó không trùng khớp với bất kì kết quả của tác giả nào khác

Hà Nội, tháng 5 năm 2011 Người thực hiện

Lý Văn Sỹ

Trang 4

MỤC LỤC

Trang MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ BẠO LỰC ĐỐI VỚI PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH 6

1.1 Một số khái niệm 6

1.2 Quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng 15

Chương 2 BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ Ở LÀO CAI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 24

2.1 Thực trạng bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình 24

2.2 Nguyên nhân của tình trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở tỉnh Lào Cai 39

2.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm xoá bỏ tình trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở tình Lào Cai 47

KẾT LUẬN 58

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

MỞ ĐẦU

Trang 5

1 Lí do chọn đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình có vững thì xã hội mới mạnh Nhưng tình trạng bạo lực trong gia đình vẫn ngày càng gia tăng, tình trạng bạo lực gia đình chống lại phụ nữ đang xảy ra ở khắp nơi với nhiều hình thức tinh vi không phân biệt dân tộc, màu da, tầng lớp, địa vị, trình độ văn hoá và phổ biến ở các nước có nền kinh tế kém phát triển như Tây Phi, Thái Lan, Việt Nam…, kể cả ở một số nước châu Âu, châu Mĩ có trình độ phát triển kinh tế cao, chị em phụ nữ vẫn còn bị tình trạng ngược đãi

Nước ta đang trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vấn đề gia

đình rất được Đảng coi trọng: “Nêu cao trách nhiệm của gia đình trong việc

xây dựng và bồi dưỡng các thành viên trong gia đình có lối sống văn hoá, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của

xã hội” [5, tr.414] Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm vấn đề bình đẳng

nam nữ Quyền bình đẳng của công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội được khẳng định ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam

dân chủ cộng hòa: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang nhau quyền về mọi

phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa” Và được tiếp tục ghi nhận trong

các bản Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 [33, tr.32] Các chính sách, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước được cụ thể hóa trong các bản Hiến pháp, luật pháp, văn bản luật… nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người phụ nữ trong gia đình

Tuy nhiên ở nước ta, gần đây nhất, tại Hội thảo công bố nghiên cứu Quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ Việt Nam tổ chức ngày 25 tháng 11 năm 2010, cho biết có 58% số phụ nữ Việt Nam đã từng là nạn nhân của bạo lực gia đình Ngân hàng thế giới tại Việt Nam (1999) khi nghiên cứu vấn đề này đã công bố tình trạng phụ nữ là nạn nhân của bạo lực

Trang 6

gia đình dưới nhiều hình thức khác nhau chiếm 40% đến 80% Bạo lực gia đình để lại nhiều hậu quả nặng nề về thể chất và tinh thần cho nạn nhân

Ở tỉnh Lào Cai trong mấy năm gần đây, tình trạng bạo lực gia đình ngày càng tăng và xảy ra phổ biến ở các vùng nông thôn, nhất là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu

số sinh sống Tình trạng này làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, làm tổn hại kinh

tế gia đình và sự phát triển của xã hội

Xuất phát từ những thực trạng trên, tôi chọn đề tài: “Vấn đề bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở tỉnh Lào Cai trong giai đoạn hiện nay” làm

khoá luận tốt nghiệp Với mong muốn nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân

và giải pháp của tình trạng bạo lực gia đình ở địa phương Lào Cai Qua đây góp phần công sức nhỏ bé vào nỗ lực của toàn xã hội nói chung, tỉnh Lào Cai nói riêng với vấn đề giải phóng phụ nữ về mặt lí luận cũng như thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề về gia đình được C.Mác- Ph.Ăngghen nghiên cứu rất sớm

trong các tác phẩm của mình Điển hình là tác phẩm “Nguồn gốc của gia

đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” Trong tác phẩm này, Ăngghen đã

đề cập rất rõ đến nguyên nhân xuất hiện gia đình, các loại hình gia đình trong lịch sử, nguyên nhân của tình trạng bất bình đẳng giới, đồng thời chỉ

ra phương hướng, giải pháp nhằm khắc phục tình trạng này

Vận dụng những lí luận của chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện của nước ta, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có nhiều chủ trương, đường lối, chính sách nhằm giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ Nhất là trong Hiến pháp, luật pháp và nhiều văn kiện của Đảng rất nhiều quy định liên quan đến vấn đề này

Trang 7

Một số năm gần đây, nhiều Hội thảo đã đi vào nhiều góc độ, khía

cạnh khác nhau về luật dành cho chị em phụ nữ Tại Hội thảo “Đại biểu hội

đồng nhân dân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long với công tác phòng chống bạo lực gia đình” tổ chức tại Vĩnh Long vào ngày 10/3/2008 đã bàn

về thực trạng và giải pháp nhằm xoả bỏ tình trạng bạo lực đối với phụ nữ và đưa ra được 44 điều khoản trình Quốc hội

Và còn rất nhiều công trình nghiên cứu có liến quan đến phụ nữ như:

- Công trình “Đánh giá sự tiến bộ của phụ nữ từ 1985- 1995” (1995)

của PGS.TS Lê Thị Quý

- Đánh giá những biến đổi trong gia đình ở Việt Nam trong giai đoạn

hiện nay “Gia đình Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước và vấn đề

xây dựng con người” (2005) của PGS.TS Lê Thị Quý

Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở các cấp nhà nước, luận án, luận văn khác bước đầu nghiên cứu phụ nữ và gia đình theo nhiều phương pháp đem lại hiệu quả

Tuy nhiên ở nước ta hiện nay, một vấn đề đang được quan tâm là tình trạng bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình, vấn đề này có tính chất phức tạp

ở chỗ: Vì mỗi vùng miền, địa phương có sự khác nhau Những nghiên cứu mang tính chất địa phương còn ít, nghiên cứu chưa sâu, chưa mang tính khả thi Ở tỉnh Lào Cai Hội Liên Hiệp Phụ nữ cũng đã đưa ra được nguyên nhân

và giải pháp ngăn chăn bạo lực gia đình Nhưng tình trạng bạo lực gia đình vẫn còn xảy ra và ngày càng tăng gây ra nhiều đau khổ cho người phụ nữ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở những quan điểm lý luận về vấn đề giải phóng phụ nữ của Chủ nghĩa xã hội khoa học làm rõ thực trạng và đưa ra được giải pháp khắc phục tình trạng bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình nhằm giải phóng phụ

Trang 8

nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ, xây dựng Lào Cai nói riêng, Việt Nam nói chung thêm giàu đẹp, văn minh

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích, khoá luận tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Trình bày hệ thống cơ sở lý luận về bình đẳng, bạo lực, giải phóng phụ nữ

- Làm rõ thực trạng vấn đề bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình ở địa bàn tỉnh Lào Cai

- Phân tích những giải pháp chủ yếu nhằm xoá bỏ tình trạng bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình ở địa bàn Lào Cai, thực hiện bình đẳng nam

nữ

4 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu

Đề tài tiến hành nghiên cứu trong giai đoạn từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, nhưng tập trung chủ yếu từ năm 2005 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử Ngoài ra còn sử dụng phương pháp cụ thể như: phân tích - tổng hợp, khảo sát thực tế, điều tra, so sánh, phỏng vấn

6 Đóng góp của khóa luận

Khoá luận tốt nghiệp góp phần làm rõ thực trạng bạo lực đối với phụ

nữ ở Lào Cai trong giai đoạn hiện nay Từ đó đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm khắc phục, xoá bỏ tình trạng này

Ngoài ra khoá luận còn là tài liệu dùng cho các sinh viên tham khảo cho việc nghiên cứu

Trang 9

7 Kết cấu khoá luận

Ngoài phần mở đầu kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận

Trang 10

Chương 1 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ BẠO LỰC ĐỐI

VỚI PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH

Quan hệ gia đình là quan hệ giữa chồng với vợ, cha mẹ và con cái, anh chị em với nhau, đó là tình cảm thiêng liêng, ấm áp, che chở cho nhau Gia đình là tổ ấm, là nơi thoả mãn những nhu cầu tình cảm và vật chất của các thành viên, bảo vệ họ trước căng thẳng của cuộc sống Gia đình trở

thành “thiên đường trong thế giới không tim” (Chữ dùng theo nhan đề của

một số cuốn sách của tác giả Mĩ Ch.Lash) Thế nhưng có phải gia đình nào cũng là thiên đường khi mà bạo lực gia đình đang là vấn đề mang tính toàn cầu, nó xảy ra ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Bạo lực gia đình tác động rất xấu tới đạo đức xã hội, cản trở sự phát triển xã hội Tình trạng này còn tồn tại ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Bình đẳng

Quan điểm về gia đình nói chung hay phụ nữ nói riêng được các nhà

tư tưởng trước Mác nghiên cứu và đề cập rất sớm Tomat Morơ là nhà xã hội không tưởng đã đề cập đến sự bình đẳng giữa nam và nữ, đặc biệt là

trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Ông quy định: “Tuổi thành hôn của

nam là 20, của nữ là 18, hôn nhân tự do mọi người đều có quyền lợi chọn vợ hoặc chồng” [35, tr.76] Đây là tư tưởng rất tiến bộ trong việc củng cố tình

yêu vợ chồng, bảo vệ phụ nữ

Vào thế kỷ XVII, XVIII nhiều nhà tư tưởng cho rằng phụ nữ là nô lệ của đàn ông, phụ nữ không có quyền tham gia hoạt động chính trị, xã hội, phụ nữ sinh ra là để phục vụ đàn ông Điều này cho thấy đây là sự xem phụ

nữ có giá trị thấp kém so với đàn ông Các nhà khai sáng như Điđơrô và sau

này được Phuriê phê phán gay gắt “chế định hôn nhân tư sản bị biến dạng

thành giao kèo buôn bán hợp thức hóa sự sa đọa làm cho phụ nữ bị vô

Trang 11

quyền” [35, tr.176] và ông coi “giải phóng phụ nữ là thước đo mức độ tự

do trong mọi xã hội” [35, tr.176] Theo các nhà tư tưởng thì chính sự chuyên

quyền độc đoán bạc nhược của giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản, cùng với những hủ tục xã hội là nguyên nhân đẩy phụ nữ vào vị trí thấp hèn trong xã hội Và các ông cho rằng cần phải xóa bỏ hay cải biến xã hội bằng một xã hội mới tốt hơn Phụ nữ được giải phóng, được bình đẳng, tuy nhiên ông mới chỉ đặt vấn đề, chưa có phương pháp rõ ràng làm gì, như thế nào để giải phóng phụ nữ

Như vậy là quan điểm về bình đẳng nam nữ đã được các nhà tư tưởng trước Mác nghiên cứu và đưa ra được giải pháp không tưởng cho việc giải phóng phụ nữ

Theo từ điển Hán Việt định nghĩa: “Bình đẳng là ngang hàng nhau

địa vị cũng như về quyền lợi” [11, tr.61]

Theo từ điển Tiếng Việt: “Bình đẳng là sự ngang nhau về quyền lợi

và địa vị” [23, tr.65]

Theo Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học: “Bình đẳng là những

điều kiện và những khả năng như nhau đối với việc tự do phát triển năng lực

và thỏa mãn các nhu cầu của tất cả các thành viên trong xã hội, địa vị như nhau của mọi người trong xã hội Bình đẳng được hiểu khác nhau trong các thời đại lịch sử khác nhau” [1, tr.10]

Các nghĩa bình đẳng theo trên hay nói hơn là sự bình đẳng nam nữ, đó chính là mục tiêu của mọi quốc gia trong quá trình phát triển Trong lịch sử đấu tranh của các dân tộc, họ đã đấu tranh cho sự bình đẳng của họ, góp phần vào độc lập của dân tộc, quê hương, đất nước Tuy nhiên, trong lịch sử phụ nữ bị giới hạn về quyền bình đẳng rất nhiều và họ đã đứng dậy đấu tranh, hi sinh thân mình vì độc lập, tự do của tổ quốc Lịch sử dân tộc Việt Nam có rất nhiều phụ nữ đấu tranh chống lại giặc ngoại xâm, đấu tranh cho

Trang 12

quyền và lợi ích của chị em phụ nữ Tiêu biểu như: hai Bà Trưng, Bà Triệu, chị Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai Còn trong gia đình, họ luôn luôn

là người vợ, người mẹ đảm đang, chịu thương, chịu khó, yêu thương chồng con, đem lại hạnh phúc lớn lao đến gia đình, góp công sức vào sự phát triển của xã hội

Hiện nay, đất nước đang bước vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đất nước đã được đổi mới, cuộc sống của đại bộ phận nhân dân được

ấm no, hạnh phúc Mặc dù vậy, trên thực tế, phụ nữ chưa được thực sự hoàn toàn bình đẳng, chị em phải chịu nhiều thiệt thòi so với nam giới, và nhiều nơi, chị em phụ nữ vẫn bị áp bức bóc lột nặng nề về mặt thể chất và tinh thần, thậm chí kéo dài cả cuộc đời Tình trạng này xảy ra ở mọi miền đất nước dù thành thị hay nông thôn Đặc biệt là chị em phụ nữ dân tộc thiểu số

ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa chịu nhiều hủ tục lạc hậu, suốt đời phải chịu khổ cực Giải phóng phụ nữ, thực hiện được sự bình đẳng với phụ nữ đó là ước mơ, là ước vọng, là mục tiêu đấu tranh của bao thế hệ chị em phụ nữ

Để thực hiện nguyện vọng đó, ngày 10-12-1948, Liên hợp quốc đưa ra Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người và đã khẳng định cái quyền cơ bản, phẩm giá của con người và hàng loạt văn bản điều khoản quy định quyền bình đẳng của con người Đánh dấu mốc son trong lịch sử con người

của cộng đồng nhân loại về quyền con người như sau: “Quyền của con

người là quyền cơ bản của mỗi cá nhân đương nhiên có được ngay từ khi mới sinh cho đến trọn đời mình mà mỗi Nhà nước đều phải ghi nhận và bảo đảm Đó là cái quyền cơ bản đối với con người như: quyền được sống, quyền tự do cơ bản, quyền bình đẳng, quyền lao động, quyền có cuộc sống

ấm no và hạnh phúc…” [33, tr.113]

Trang 13

Khi nói tới bình đẳng ta thường nhắc tới khái niệm bất bình đẳng Bất

bình đẳng là: “Không ngang hàng nhau, không được đối xử như nhau” [11,

tr 42]

Bất bình đẳng có nguồn gốc sâu trong lịch sử xã hội loài người, bắt đầu từ khi chế độ mẫu hệ chuyển sang phụ hệ và sau khi quyền tư hữu ra đời Chế độ tư hữu ra đời với sự xác lập quyền lực con người, do đó bất bình đẳng cứ thế diễn ra chị em phụ nữ không phản kháng được và chịu nhiều khổ đau Khi chúng ta nói tới bất bình đẳng thì cũng nói tới tình trạng bất bình đẳng giới, vì khi chế độ tư hữu sản sinh, có sự phân công lao động, trước hết là sự phân chia lao động giữa nam và nữ Sự phân chia về cả vật chất và tinh thần giữa nam nữ trong xã hội và quan hệ quyền lực thường thể hiện trong quan hệ giữa các nhân với cá nhân, trong sinh hoạt xã hội, trong sinh hoạt gia đình, cộng đồng xã hội Những quan hệ này ảnh hưởng tới mọi thời đại lịch sử tuỳ theo điều kiện lịch sử và đặc điểm của dân cư, quốc gia, khu vực, tôn giáo, nền văn hoá, giai cấp, đặc điểm lứa tuổi…

Rôbert Owen là người nêu lên được tư tưởng xóa bỏ chế độ tư hữu để thực hiện sự bình đẳng trong hôn nhân và gia đình Ông phê phán chế độ

hôn nhân tư sản và tổ chức giáo hội: “Hôn nhân tư bản dựa trên sự tính toán

theo lối trục lợi kinh tế và mang tính chất đồ trụy về đạo đức” [35, tr.191]

Ông xem chế độ tư hữu, hôn nhân tư sản và tôn giáo là ba ác nhân biến thế giới trở thành sân khấu cạnh tranh nhằm chiếm đoạt của cải và quyền lực

Đó là “ba trở lực” mà ông tuyên bố cần gạt bỏ trên con đường thực hiện lý

tưởng về mặt xã hội mới Theo ông để thực hiện bình đẳng, cần xây dựng

một xã hội mới, nghĩa là: “Phải thay thế chế độ tư hữu bằng chế độ công

hữu” [35, tr.192]

Như vậy bình đẳng và tình trạng bất bình đẳng đều bắt nguồn từ xã hội Những quan điểm, quan niệm này ở từng quốc gia, dân tộc có sự khác

Trang 14

nhau và hàng ngày, hàng giờ đều thay đổi trong nền kinh tế thị trường mang tính toàn cầu hoá

1.1.2 Bạo lực

Theo từ điển Tiếng Việt: “Bạo lực là một giai cấp (một nhóm chính

trị xã hội) nào đó áp dụng những hình thức cưỡng bức và tước đoạt” [23,

tr.41]

Theo từ điển Hán Việt thì: “Bạo lực là dùng sức mạnh để trấn áp kẻ

địch hoặc để lật đổ chính quyền” [11, tr.42]

Còn theo từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học: “Bạo lực là một giai

cấp (các nhóm chính trị xã hội) nào đó áp dụng những hình thức cưỡng bức khác nhau, kể cả sự tác động bằng vũ trang đối với các giai cấp khác (các nhóm chính trị xã hội) nhau nhằm mục đích giành lấy hoặc duy trì sự thống trị về kinh tế, chính trị, những quyền hay đặc quyền, đặc lợi khác nhau ” [1,

tr.8]

Bạo lực theo lăng kính Tâm lí học Phật giáo, trong mỗi người vốn sẵn

có hạt giống nghiệp thiện (thiện nghiệp chủng tử) và hạt giống nghiệp ác (ác nghiệp chủng tử) Những hạt giống này được huân tập (gieo trồng, xông ướp, tưới tẩm vào tâm thức) và được lưu trữ trong tàng thức (Alaya) từ vô lượng kiếp trước cho đến nay Nghiệp thiện là những suy nghĩ, hành động, lời nói và thói quen tốt Ngược lại nghiệp ác là những suy nghĩ, hành động, lời nói và thói quen xấu ác có hại cho mình và mọi người Sở dĩ gọi là chủng

tử nghiệp vì nghiệp thiện ác này làm nhân, làm duyên đưa đến kết quả, cũng giống như hạt giống có khả năng sinh ra cây trái

Như vậy có thể nói bạo lực là việc dùng sức mạnh để làm hại người khác Bạo lực là việc xấu cần phải đấu tranh chống lại Vì bạo lực tước đoạt quyền và lợi ích của người khác

Trang 15

1.1.3 Baọ lực gia đình

* Khái niệm

Trước khi nhắc tới khái niệm bạo lực gia đình thì ta xét khái niệm gia

đình: “Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình

thành, duy trì và củng cố chủ yếu dựa trên cơ sở hôn nhân và huyết thống”

[5, tr.415] Như vậy, gia đình là một tập hợp người nhỏ, là tế bào của xã hội Gia đình là nơi mọi người yêu thương và chia sẻ những yêu thương với nhau, cùng làm ăn chung sống suốt đời mình

Vậy thì bạo lực gia đình là gì? Bạo lực gia đình có tính chất như thế nào?

Theo luật phòng, chống bạo lực gia đình: “Bạo lực gia đình là hành vi

cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình” [25, điều

d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ chồng; anh, chị, em với nhau

đ) Cưỡng ép tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân

tự nguyện tiến bộ

e) Cưỡng ép quan hệ tình dục

Trang 16

f) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình

g) Cưỡng ép các thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ, kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính

h) Có hành vi trái pháp luật bảo thành viên gia đình rời khỏi chỗ ở”

[25, điều 2 khoản 1]

Như vậy, bạo lực gia đình là tất cả các hành vi gây hại đến mặt thể chất và tinh thần của các thành viên khác

Theo tạp chí khoa học về phụ nữ: “Bạo lực trong gia đình là tệ nạn

ngược đãi phụ nữ và trẻ em, là hiện tượng có tính phổ biến trong mọi tầng lớp dân cư, xảy ra trên mọi vùng miền” [15, tr.3]

Theo tạp chí gia đình: “Bạo lực gia đình là các hành vi bạo lực xảy ra

trong phạm vi gia đình, bao gồm sự xâm phạm và ngược đãi về thân thể hay tình cảm giữa các thành viên trong gia đình Bạo lực gia đình là sự lạm dụng quyền lực, một hành động sử dụng vũ lực nhằm hăm doạ hoặc đánh đập những người thân trong gia đình để điều khiển hay kiểm soát người đó”

[8, tr.5] Cần lưu ý rằng bạo lực gia đình dựa trên cơ sở giới là một khái niệm hẹp, khái niệm bạo lực chống lại phụ nữ Theo định nghĩa được nêu trong Tuyên ngôn về loại trừ nạn bạo lực chống lại phụ nữ do Đại hội đồng

Liên hợp quốc thông qua 1993: “Bạo lực chống lại phụ nữ là bất kì hành

động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến tổn thất về thân thể, về tình dục hay tâm lý hoặc những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe doạ, có những hành động như vây, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tuỳ tiện sự tự do, dù nó xảy ra ở nơi cộng đồng hay trong cuộc sống riêng tư (bạo lực gia đình)” [15, tr.3] Một đặc điểm trong bạo

Trang 17

lực gia đình là bạo lực giới, có nghĩa là bạo lực được thực hiện bởi phần lớn

là do nam giới đối với phụ nữ (bao gồm cả các em gái)

Như vậy bạo lực gia đình là một trở ngại đặc biệt quan trọng của hạnh phúc gia đình, nó không chỉ gây tổn thương đến sức khoẻ, đến cuộc sống cũng như danh dự của các thành viên trong gia đình mà còn vi phạm tới các chuẩn mực đạo đức xã hội, tiếp tay cho sự gia tăng của các tệ nạn xã hội như: mại dâm, ma tuý, người lang thang cơ nhỡ, buôn bán, bắt cóc trẻ em Qua đó, cho thấy bạo lực không còn là việc nội bộ tự giải quyết của mỗi gia đình mà đã trở thành một tệ nạn cần có sự quan tâm của toàn xã hội

Bạo lực gia đình xảy ra ở mọi quốc gia, không phân biệt màu da, trình

độ văn hoá, tôn giáo nào Theo Famili Violence Frevetion Fund 2004 điều tra tại Mỹ (2001) thì nửa triệu phụ nữ bị bạo hành bởi nam giới Đó là những nước có nền kinh tế phát triển cao, được coi là văn minh vậy mà tình trạng phụ nữ bị ngược đãi đánh đập vẫn còn Vậy thì nước ta đang trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lại hội nhập kinh tế toàn cầu, sự biến đổi trong gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại gây ra sự xung đột, bạo lực gia đình làm tan vỡ hạnh phúc gia đình là điều không tránh khỏi

* Các hình thức của bạo lực gia đình

Nạn bạo lực gia đình đang lan rộng và ngày càng gia tăng trong xã hội, trở thành một vấn đề xã hội vô cùng quan tâm Theo các nhà nghiên cứu thì có hai dạng: bạo lực nhìn thấy được và bạo lực không nhìn thấy được (hay còn gọi là bạo lực trực tiếp và bạo lực gián tiếp)

- Bạo lực nhìn thấy được hay còn gọi là bạo lực thể xác như: tát, đấm, cấu, véo, giật tóc, bóp cổ, ném đồ vật vào người, nhốt trong phòng hoặc trói, lột quần áo, xô đẩy, đánh đấm, dùng roi đe doạ, tấn công bằng vũ khí hoặc vật khác, thậm chí có tính hành hung hoặc gây thương tích cho các nạn nhân Đây là hình thức bạo lực chủ yếu dùng bằng sức mạnh của cơ bắp để

Trang 18

dạy bảo các thành viên trong gia đình Hình thức này là do nam giới sử dụng

là chủ yếu

- Bạo lực không nhìn thấy được hay còn gọi là bạo lực tinh thần, diễn

ra một cách âm thầm, chủ yếu dùng ngôn ngữ thậm tệ dày vò tinh thần, sỉ nhục chửi bới, thờ ơ, lãnh đạm Đây là hình thức bạo lực gây ra sự sa sút nghiêm trọng về tinh thần cho chị em phụ nữ, đây là hình thức bạo lực tinh

vi nhất hiện nay và đặc biệt loại bạo lực này có xu hướng ngày càng gia tăng trong những năm gần đây

Ngoài ra còn có nhiều kiểu phân chia bạo lực gia đình khác như: bạo lực thể xác, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục hay các dạng bạo lực tình cảm, lời nói, tâm lý đến ngược đãi thân thể Thường thì trong bạo lực gia đình thì người chồng gây ra là chủ yếu đối với vợ mình Nhiều khi cả gia đình nhà chồng, họ hàng nhà chồng đều có thể tham gia cùng hành hạ người

vợ đến đau khổ Dù bạo lực theo cách nào, hình thức nào, đến mức độ nào đều gây hậu quả nghiêm trọng đến người phụ nữ như tăng nguy cơ tự tử, gây thương tích, tàn tật, lạm dụng rượu, trầm cảm

Như vậy có thể thấy rằng tệ nạn bạo lực gia đình là một hiện tượng xấu, không hay, không phù hợp cho sự phát triển của xã hội, nhất là lứa tuổi trẻ thơ, làm trẻ không còn tâm hồn trong sáng mà bị hăm dọa hay bị bỏ rơi

vì bố mẹ cãi nhau Bạo lực là do sự suy thoái về đạo đức ở rất nhiều người nên dù có luật phòng, chống bạo lực gia đình nhưng tình trạng này ngày nay vẫn gia tăng Một lý do lớn là mọi tầng lớp nhân dân đều chưa nhận thức được vấn đề này, vì cho rằng đó là sự cần thiết duy trì nề nếp gia phong

Trang 19

1.2 Quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

về bình đẳng

1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin

Thực tế cho thấy gia đình lần lượt biến đổi tương ứng với những giai đoạn phát triển của xã hội khác nhau Theo Ăngghen trong xã hội công xã nguyên thủy, trình độ lực lượng sản xuất rất thấp, cá nhân không tách rời tập thể, cuộc sống cộng đồng nhiều mặt đã tạo nên hình thức gia đình tập thể

Đây là giai đoạn đầu của xã hội cộng đồng nguyên thủy “Có gia đình cùng

dòng máu” [5, tr.416], “Các tập đoàn hôn nhân đều theo thế hệ, cuối giai đoạn này thì bước sang chế độ nô lệ, trong xã hội nảy sinh hình thức gia đình cá thể một vợ một chồng, đó là kết quả trực tiếp của việc hình thành chế độ sở hữu tư nhân và sự phân hóa giai cấp” [, tr.417] Ăngghen chỉ ra

rằng nguồn gốc của gia đình và chế độ tư hữu tư nhân làm xuất hiện hôn nhân cá thể và đã tạo ra sự áp bức phụ nữ trong gia đình Gia đình một vợ

chồng: “Chế độ một vợ một chồng là hình thức gia đình đầu tiên không dựa

trên những điều kiện tự nhiên, mà dựa trên những điều kiện kinh tế- tức là dựa trên thắng lợi của sở hữu tư nhân đối với sở hữu công cộng” [14,

tr.104] Đây là hình thức gia đình đầu tiên được hình thành do sự chi phối của các điều kiện kinh tế và đồng thời là sự nô dịch kinh tế của người nam

giới với nữ giới: “Chế độ hôn nhân cá thể xuất hiện trong lịch sử không

phải là sự hòa giải giữa đàn ông với đàn bà mà trái lại, nó hiện ra là sự nô dịch của giới này với giới kia Là việc tuyên bố xung đột giữa hai giới, sự xung đột mà người ta chưa từng thấy có trong suốt thời kì tiền sử” [14,

tr.104] Như vậy, Ông cho rằng người phụ nữ bị tách ra khỏi sản xuất trở thành người phụ nữ phục vụ trong gia đình, người đàn ông dần dần kiểm

soát người vợ với nguồn của cải trong tay mình C.Mác viết: “Sự phân công

lao động đầu tiên là sự phân công lao động giữa đàn ông và đàn bà trong

Trang 20

việc sinh con đẻ cái Sự đối lập giai cấp đầu tiên trong lịch sử là trùng với phát triển của sự đối kháng giữa chồng và vợ trong hôn nhân cá thể và sự

áp bức giai cấp đầu tiên là trùng với sự nô dịch của đàn ông với đàn bà”

[14, tr.104] Theo đó Ăngghen cho rằng đây là một bước tiến trong lịch sử, song vì hôn nhân lại có hạn chế là sự nô dịch của đàn ông với đàn bà vì:

“Người vợ bị phụ thuộc về kinh tế nên người vợ buộc phải phục tùng quyền

lực tuyệt đối của người chồng, nên người chồng có quyền giết vợ chăng nữa cũng chỉ là thực hiện quyền của mình” [14, tr.95] Chủ nghĩa Mác không chỉ

đi tìm nguồn gốc, nguyên nhân của tình trạng áp bức đối với phụ nữ trong gia đình mà còn có bước tiến căn bản so với các nhà lý luận trước là đề ra cách giải phóng phụ nữ khỏi tình trạng áp bức Theo các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác- Lênin cần làm một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa xóa bỏ chế

độ tư hữu, như vậy sự bình đẳng của phụ nữ được thực hiện, khi đó phụ nữ được giải phóng Vì sự bất bình đẳng nam nữ này sinh ra từ chế độ tư hữu

về tư liệu sản xuất, cần có cách mạng xã hội chủ nghĩa vì chủ nghĩa tư bản

sẽ không giải phóng được phụ nữ mà còn tăng thêm sự bóc lột và sự tha hóa

họ Do đó muốn giải phóng phụ nữ thì: “Điều kiện tiên quyết để giải phóng

phụ nữ là làm cho toàn bộ nữ giới trở lại tham gia vào nền sản xuất xã hội”

[14, tr.116]

Chủ nghĩa Mác đã đưa ra được luận điểm quan trọng là đã tìm ra được nguyên nhân của sự áp bức phụ nữ và tìm được giải pháp đó là: giải phóng phụ nữ ra khỏi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và giải phóng họ ra khỏi sự ràng buộc vào việc nội trợ trong gia đình, quan trọng hơn là phải thủ tiêu chế độ tư hữu tư liệu sản xuất, xác lập sự bình đẳng về tư liệu sản xuất, cần xây dựng chủ nghĩa xã hội vì đó là điều kiện cần thiết tạo ra gia đình mới Việc thủ tiêu chế độ bóc lột, từng bước cải tạo chủ nghĩa xã hội nền kinh tế quốc dân là yếu tố quan trọng để xóa bỏ mục đích hôn nhân cũ và cơ sở tình

Trang 21

trạng bất bình đẳng trong gia đình Nên “Xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật

của chủ nghĩa xã hội quyết định sự nghiệp giải phóng phụ nữ, nâng cao đời sống vật chất giữ gìn hạnh phúc gia đình” [5, tr.428]

Từ lý luận về sự áp bức và nguồn gốc của sự áp bức phụ nữ của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác Lênin đã thực hiện quá trình giải phóng phụ

nữ thông qua hàng loạt chính sách cụ thể được ban hành sau khi thành lập chính quyền Xô Viết tại Nga Lênin cho rằng các chế độ trước chỉ đấu tranh cho sự bình đẳng, chưa thực sự đưa ra các đạo luật nhằm thực hiện bình

đẳng nam nữ: “Nó chỉ đụng đến những đạo luật cũ đã đặt phụ nữ vào địa vị

không bình đẳng với nam giới” [12, tr.227] Nhũng đạo luật lỗi thời đó, đòi

nam nữ bình đẳng trước pháp luật nhưng chưa có một nhà nước dân chủ nào

ở châu Âu, chưa có một nước nào trong những số nước cộng hòa tiến bộ

nhất lại thực hiện được điều đó vì: “Ở đâu còn chủ nghĩa tư bản, còn chế độ

tư hữu ruộng đất, chế độ công xưởng và nhà máy, ở đâu còn chủ nghĩa tư bản thì nam giới vẫn có đặc quyền” [12, tr.228] Chúng ta thấy rằng các

nước cộng hòa dân chủ tiến bộ nhất đã tuyên bố quyền bình đẳng, nhưng trong dân luật, trong các đạo luật quy định quyền lợi của phụ nữ trong gia

đình và quyền li hôn của phụ nữ, thì ở nơi nào phụ nữ cũng có “vào địa vị

bất bình đẳng, ở vào địa vị bị khinh miệt” [12, tr 230] Cho nên chính quyền

Xô Viết đã thực hiện triệt để hơn tất cả các nước khác, tiến bộ nhất: “Trong

các đạo luật chính quyền Xô Viết người ta không thấy một chút dấu vết gì phụ nữ bị đỗi đãi một cách bình đẳng” [12, tr.230] Để thực hiện được bình

đẳng Lênin đưa ra ba giải pháp:

- Một là, xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật mới đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ

- Hai là, đưa phụ nữ tham gia vào quản lí chính quyền, xây dựng chính quyền

Trang 22

- Ba là, giảm nhẹ gánh nặng của phụ nữ bằng việc: “Thành lập một số

cơ quan kiểu mẫu như nhà ăn, nhà giữ trẻ, để giúp cho phụ nữ thoát khỏi công việc gia đình, do phụ nữ đảm nhiệm” [12, tr.231]

Dựa vào thực tiễn xã hội ở nước Nga, Lênin đã đưa ra những luận điểm quan trọng trong quá trình giải phóng phụ nữ, và làm thế nào để giải

phóng phụ nữ Ông cho rằng: “Hễ phụ nữ còn bận việc gia đình thì địa vị

của họ không khỏi bị hạn chế Muốn triệt để giải phóng phụ nữ, muốn làm cho họ thực sự bình đẳng với nam giới thì phải có kinh tế chung của xã hội, phải để phụ nữ tham gia lao động sản xuất chung” [12, tr.230] Lênin phân

tích thêm, phụ nữ bị tách ra khỏi sản xuất xã hội và phải làm nội trợ nhiều

nên phụ nữ bị cản trở việc phát triển sự tiến bộ của phụ nữ: “Công việc gia

đình do phụ nữ gánh vác, loại lao động hết sức không sản xuất, là thứ lao động nguyên thủy, nặng nhọc nhất Đó là thứ lao động hết sức vụn vặt mà lại không giúp ích gì cho sự tiến bộ của phụ nữ” [12, tr.231] Lênin khẳng

định: “Ngay trong điều kiện hoàn toàn bình đẳng thì sự thật phụ nữ vẫn bị

trói buộc, vì toàn bộ công việc gia đình đều trút hết lên vai phụ nữ” [12,

tr.231] Vì vậy để thực sự giải phóng phụ nữ thì cần giảm nhẹ công việc gia đình, đưa phụ nữ vào tham gia sản xuất

Chủ nghĩa Mác- Lênin cho chúng ta thấy rằng để thực hiện sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ đòi hỏi phải có biện pháp đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực, phải xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất là cơ sở, là điều kiện xóa bỏ tình trạng bạo lực giải phóng phụ nữ Đó là xây dựng hệ thống pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ, đưa người phụ nữ tham gia vào sản xuất và quản lí xã hội và các giải pháp hỗ trợ nhằm giảm gánh nặng công việc gia đình

1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng đối với phụ nữ

Vận dụng những lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, vấn đề giải phóng

Trang 23

dân tộc cũng như giải phóng phụ nữ được Đảng ta chú trọng ngay từ đầu thành lập Trong các văn kiện thành lập Đảng tháng 2- 1930, tại Hội nghị

Trung ương lần thứ nhất đã nêu: “Nam, nữ bình đẳng” [17, tr.433] là một

trong những nhiệm vụ của cách mạng Đông Dương Đây là một trong bốn điểm chính cương đề ra Điều đó chứng tỏ, ngay từ đầu thành lập Đảng, vấn

đề giải phóng phụ nữ được Bác Hồ và Đảng ta hết sức coi trọng trong xây dựng đường lối cách mạng, một nội dung trong cách mạng giải phóng dân tộc

Xuyên suốt quan điểm của Đảng là tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phụ nữ như về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của phụ nữ trong cách mạng Việt Nam và các biện pháp tiến tới làm cho phụ nữ được giải phóng, nam nữ được bình đẳng Người là nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam rất quan tâm

đến sự bình đẳng Người khẳng định: “Phụ nữ Việt Nam dân chủ cộng hòa

có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” [20, tr.225] Như vậy là từ rất sớm Người đã thấy vị trí vai

trò của phụ nữ thế giới nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng trong việc

bảo vệ và xây dựng đất nước Người nhận định rằng: “Non sông gấm vóc

Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp rực rỡ” [17, tr.432] Vậy là Người nhìn thấy phụ nữ là lực lượng lao động to

lớn để xây dựng chủ nghĩa xã hội Do đó Người khẳng định nhiệm vụ của

cách mạng Việt nam là giải phóng phụ nữ Người nhấn mạnh: “Phụ nữ

chiếm một nửa tổng số dân Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ Hiến pháp và pháp luật nước ta quy định điều đó” [20, tr.225] Theo Người muốn xây dựng chủ

nghĩa xã hội thành công thì việc giải phóng phụ nữ là việc quan trọng Bác

nói: “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài

người Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ được

Trang 24

một nửa” [18, tr.523] Và Bác nhấn mạnh đây là công việc khó khăn vì:

“Tập quán cũ đã ăn sâu lâu đời trong nhân dân” [18, tr.524]

Mục tiêu thực hiện nam nữ bình quyền, giải phóng phụ nữ đã được

Hồ Chí Minh đưa vào chương trình của Mặt trận Việt Minh Từ đó, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã nhiều lần tuyên bố với thế giới và quốc dân rằng Phụ nữ Việt Nam đã đứng lên ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung quyền

tự do của mỗi công dân

Đánh giá cao vai trò của phụ nữ khi nhìn nhận họ là một lực lượng lao động chiếm đông đảo trong xã hội, Người còn thấy rõ khả năng làm việc không thua kém nam giới của phụ nữ Người nêu những tấm gương tiêu biểu của phụ nữ như: Hai Bà Trưng, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu… Vì

vậy, theo Người “phải kính trọng phụ nữ, phải thật sự đảm bảo quyền lợi

của phụ nữ” [16, tr.6] Người không chỉ quan tâm vấn đề bình đẳng nam nữ

mà còn có những biện pháp xây dựng các mối quan hệ bình đẳng nam nữ

trong gia đình và xã hội Người còn nhấn mạnh: “Để xây dựng được chủ

nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền làm chủ của phụ nữ” [20, tr.225] Người còn chỉ rõ rằng: “Chúng ta làm cách mạng

để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái được ngang quyền như nhau” [16,

tr.6] Quan tâm tới vị trí của phụ nữ trong xã hội, đồng thời Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, Đảng viên rằng một trong những nhiệm vụ của phụ

nữ dưới chế độ ta là phải hăng hái tham gia chính quyền Người còn nói nếu cán bộ lãnh đạo là nữ mà ít, đấy cũng là một thiếu sót của Đảng Về nguyên nhân của tình trạng phụ nữ ít được tham gia lãnh đạo quản lí, theo Hồ Chí

Minh đó là vì: “Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ,

hay thành kiến, hẹp hòi, như vậy là rất sai lầm” [21, tr.195]

Thực hiện nam, nữ bình quyền, theo Hồ Chí Minh: “Đó là một cuộc

cách mạng khá to và khó” [17, tr.435], “nhiều người còn lầm tưởng đó là

Trang 25

một việc dễ, chỉ hôm nay anh nấu cơm, rửa bát quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát, thế là bình đẳng, bình quyền Lầm to! Vì trọng nam, khinh nữ là một thói quen mấy nghìn năm để lại, vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội” [17, tr.433] Để thực hiện

100% bình quyền, bình đẳng nam nữ, Hồ Chí Minh nhắc nhở “chị em phải

nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu, phải xóa bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti, phải có phương pháp đào tạo và giúp đỡ để nâng cao hơn nữa địa vị của phụ nữ” [18, tr.259] Theo Bác, đấu tranh giành quyền

bình quyền, bình đẳng cho phụ nữ trước hết phải đấu tranh về nhận thức, đấu tranh chống lại những thói quen xấu lâu đời Người nêu đối tượng đấu

tranh là: “ Phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản trong người

đàn ông” [18, tr.523]

Quan tâm đến quyền bình đẳng của nữ giới trong quan hệ gia đình, xã hội mà Bác Hồ còn lo cho hạnh phúc của nữ giới trong quan hệ vợ chồng Bác khuyên chị em ý thức được quyền lợi và trách nhiệm cuả mình để tự

đấu tranh giải phóng mình khỏi những ràng buộc phi lý kiểu “chồng chúa vợ

tôi” Bác phê phán tình trạng chồng đánh vợ và khẳng định đây là tệ nạn xã

hội và vi phạm pháp luật vì: “Đàn ông là người công dân, đàn bà cũng là

người công dân, dù là vợ chồng, người công dân này đánh người công dân khác tức là vi phạm pháp luật” [19, tr.451]

Về phương pháp đấu tranh giành bình quyền, bình đẳng, theo Bác là

tránh tình trạng dùng vũ lực Bác nói: “Hội phụ nữ và đoàn thanh niên cần

phải phụ trách tuyên truyền và giáo dục một cách rộng khắp trên cả cho mỗi gia đình hiểu rõ pháp luật của Nhà nước và thấm nhuần đạo đức của chủ nghĩa xã hội; Bà con trong xóm làng trong hàng phố cần phải có trách nhiệm ngăn ngừa, không để những việc phạm pháp như vậy xảy ra” [20,

tr.226] Bác còn chỉ rõ chỉ khi nào nên dùng vũ lực: “Đối với những người

Trang 26

đã được giáo dục khuyên răn mà vẫn không sửa đổi thì chính quyền phải thi hành kỉ luật một cách nghiêm chỉnh” [20, tr.226]

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề bình đẳng không chỉ là nội dung lý luận quan trọng mà còn là những biện pháp nhằm xây dựng mối quan hệ bình đẳng trong gia đình và xã hội Theo Bác để đấu tranh về nhận thức, chống lại thói quen lâu đời trong gia đình và xã hội, Bác nhấn mạnh để

có thể giải phóng phụ nữ cần phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến và tư tưởng coi thường phụ nữ ở nam giới

Hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng đã được Đảng và Nhà nước ta vận dụng và phát triển một cách toàn diện trong công cuộc đổi mới

và sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Thực tế hiện nay Đảng

và Nhà nước ta đang đồng thời triển khai hai đạo luật về: bình đẳng giới và chống bạo lực gia đình Để thực hiện mục tiêu giải phóng phụ nữ, Đại hội

lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Đối với phụ nữ cần

phải nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất tinh thần, thực hiện bình đẳng giới, tạo điều kiện phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người vợ, người thầy đầu tiên của con người Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lí các cấp Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe

bà mẹ trẻ em Bổ sung và hoàn thành các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản, chế độ với lao động nữ Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo lực, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm danh dự phụ nữ” [3, tr.120] Đây chính là việc thực hiện tư tưởng của

Bác trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập, xây dựng một xã hội Việt Nam giàu mạnh, văn minh, xã hội công bằng, hạnh phúc

Trang 27

Tiểu kết chương 1

Như vậy vấn đề bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình là một hiện tượng xấu, không phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại Hiện tượng này xuất hiện từ khi chế độ xã hội xác lập chế độ tư hữu Nghiên cứu vấn đề này, các nhà khoa học chia thành hai: dạng bạo lực nhìn thấy được và bạo lực không nhìn thấy được

Chủ nghĩa Mác- Lênin với phương pháp duy vật biện chứng ta đưa ra những lí giải mang tính khoa học về nguồn gốc, nguyên nhân và đề xuất cách thức giải phóng phụ nữ, xoá bỏ tình trạng bạo lực gia đình và thực hiện

sự nghiệp giải phóng phụ nữ Các nhà kinh điển cho rằng cần xoá bỏ chế độ

tư hữu vì chế độ tư hữu là nguyên nhân của tình trạng bạo lực gia đình Ngoài ra phụ nữ phải làm nội trợ nhiều, không được tham gia lao động và sản xuất cũng là bị bó hẹp Cho nên phải tạo ra điều kiện cho phụ nữ tham gia hoạt động xã hội

Kế thừa lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã có những quan điểm về giải phóng phụ nữ là một nhiệm vụ của cách mạng Việt nam Đồng thời đưa ra nhiều phương hướng, giải pháp xoá

bỏ tình trạng bạo lực gia đình, thực hiện nam nữ bình đẳng, xây dựng gia đình hạnh phúc, góp phần xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tạo điều kiện đất nước phát triển đất nước ngày càng bền vững

Trang 28

Chương 2 BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ Ở TỈNH

LÀO CAI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.1 Thực trạng bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình

2.1.1 Khái quát về tỉnh Lào Cai

* Điều kiện tự nhiên

Lào Cai là một tỉnh biên giới phía bắc nằm ở chính giữa vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc của Việt Nam cách thủ đô Hà Nội 296km đường sắt

và 345km đường bộ, có diện tích tự nhiên là 6.383,89km2 [6, tr.1]

Phía bắc giáp tỉnh Vân Nam Trung Quốc với 198 km đường biên giới

có cửa khẩu quốc tế, quốc gia và nhiều lối mở, phía đông giáp tỉnh Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái, phía tây giáp tỉnh Lai Châu [6, tr.1] Địa hình nằm trong vùng lưu vực của hai sông lớn: sông Hồng và sông Chảy, có nhiều dãy núi cao, độ cao thay đổi từ 80- 3000m, điển hình có núi Phanxipăng cao 3.143m Khí hậu nhiều vùng với 7 kiểu và 12 loại khí hậu nhưng chủ yếu là khí hậu ôn đới và nhiệt đới [6, tr.1] Dân số năm 2008 là trên 60 vạn người, mật độ dân số là 90 người/km2 Có 25 nhóm dân tộc, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 60%, vì thế nên bản sắc dân tộc Lào Cai phong phú và đa dạng” [6, tr.1]

Lao động trong độ tuổi lao động chiếm 52% Đơn vị hành chính có 1 thành phố, 8 huyện, 163 xã phường, thị trấn trong đó có 125 xã vùng cao, 26

xã phường biên giới [6, tr.1]

Lào Cai là một vùng kinh tế phát triển ở khu vực Tây Bắc, có tiềm năng về khoáng sản (như mỏ Apatit, mỏ đồng, quặng sắt, cao lanh), thế mạnh về vị trí địa lý (nằm ở vùng có cửa khẩu quốc tế, có đường sông, có đường sắt, đường bộ xuyên qua), nhân tố con người để phát triển kinh tế xã hội Lào Cai là tỉnh có nhiều địa điểm danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử (Đền quan Ông Hoàng Bẩy, đền Mẫu, đền Thượng khu bãi đá cổ Sa Pa, vườn Quốc gia Hoàng liên ), du lịch, kết hợp với bản sắc văn hoá đa dạng

Trang 29

và phong phú (bao gồm nhiều lễ hội và phong tục dân tộc thiểu số) tạo nên thế mạnh về văn hoá, du lịch, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao Trong những năm gần đây với sự đổi mới và phát triển, Lào Cai đã đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực, góp phần vào sự phát triển kinh tế, xã hội của cả nước Đời sống nhân dân được nâng cao, đảm bảo đầy đủ về mặt vật chất cũng như tình thần với những kết quả đạt được như sau:

* Tình hình kinh tế- chính trị

- Kinh tế: Dưới sự lãnh đạo của Thường trực tỉnh uỷ Hội đồng nhân

dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, nền kinh tế bình quân đạt 12% năm 2009, tỷ lệ

hộ nghèo giảm mạnh từ 31,33% năm 2006 xuống còn 21,94% [6, tr.2]

+ Nông nghiệp: Hoạt động sản xuất nông- lâm nghiệp, thủy sản cơ bản thuận lợi đạt 27,9%, tiến độ thu hoạch cây trong vụ mùa nhanh hơn, năng suất, sản lượng đều tăng so với các năm trước Ước lượng tổng sản phẩm lương thực có hạt cả năm 2009 đạt 216 nghìn tấn, tăng 8,5% so với năm 2008 Tiến độ trồng chè, thuốc lá được đẩy mạnh Hoạt động lâm nghiệp tích cực được thực hiện [6, tr.2]

+ Công nghiệp và xây dựng cơ bản, thương mại và dịch vụ được tập

trung đẩy mạnh, kết quả đạt khá cao:

Giá trị sản xuất công nghiệp địa bàn tăng 27% so với các năm khác Công nghiệp Trung ương và địa phương, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được đẩy mạnh phát triển [6, tr.2]

Hoạt động đầu tư và phát triển các thành phần kinh tế khác: được đẩy mạnh, kết cấu hạ tầng, kinh tế xã hội được tăng cường, đô thị và thành phố được xây dựng ngày càng phát triển

- Chính trị: Quốc phòng an ninh được củng cố và giữ vững, an ninh

biên giới ổn định Hoạt động đối ngoại phát triển, tham dự Hội nghị hợp tác giữa Việt Nam và tỉnh Vân Nam Trung Quốc An ninh trật tự địa phương được đảm bảo, trật tự an toàn xã hội đạt nhiều kết quả

Trang 30

* Văn hoá, xã hội

+ Hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế đảm bảo kế hoạch Hoạt động giáo dục toàn diện trong nhà trường tiếp tục được tăng cường Chương trình kiên cố hoá trường lớp học, xây dựng nhà công vụ giáo viên được tích cực thực hiện, giải ngân vốn và xây dựng công trình nhà ở giáo viên

+ Công tác quản lí nhà nước về thông tin và truyền thông, xuất bản báo chí được tăng cường Công tác tuyên truyền tập trung vào các sự kiện chính trị nổi bật trong nước cũng như trong tỉnh, phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thông tin kinh tế đối ngoại Tổ chức nhiều hoạt động nhân ngày đại đoàn kết dân tộc, tổ chức xong đại hội thể dục thể thao các cấp cơ sở, các chương trình, các tổ chức ngày lễ lớn được thực hiện tốt

+ Công tác xoá đói giảm nghèo và các vấn đề chính sách xã hội được quan tâm chỉ đạo: thực hiện nghị quyết 30a/2008/NQ-KQ các huyện Bắc

Hà, Si Ma Cai, Mường Khương đã khởi công xây dựng 67 công trình Thực hiện nghị quyết 167/2008/QĐ-TTq các địa phương đã hỗ trợ khởi công làm nhà cho hộ nghèo, hỗ trợ vốn cho hộ nghèo phát triển kinh tế

+ Bên cạnh đó còn có những vấn đề bức xúc xã hội chưa được ngăn chặn giải quyết kịp thời: giáo dục và đào tạo ở vùng sâu, vùng xa còn hạn chế, đời sống nhân dân nhiều vùng còn gặp khó khăn, nguy cơ một số hộ tái nghèo tiếp diễn

Tóm lại, Lào Cai là một tỉnh có kinh tế phát triển trong khu vực Tây Bắc Chính vì thế đời sống đại bộ phận nhân dân là khá giả, đầy đủ về vật chất và tinh thần Tuy vậy, Lào Cai lại chịu nhiều hủ tục xấu, lạc hậu, còn nhiều xã vùng sâu, vùng xa, vùng cao khó khăn Nhiều tư tưởng như:

“Trọng nam khinh nữ”, “tam tòng tứ đức”, “gia trưởng”, của hệ tư tưởng

phong kiến vẫn còn tồn tại ở nhiều gia đình Do đó, phụ nữ còn phải chịu nhiều thiệt thòi về cả vật chất cũng như tình thần, vẫn phải chịu sự bất bình đẳng nam nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Trang 31

2.1.2 Thực trạng bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình

Tình trạng bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình đã là một vấn đề của toàn xã hội Ở Việt Nam nói chung và Lào Cai nói riêng, tình trạng ngược đãi phụ nữ và trẻ em không phải là một vấn đề mới xuất hiện Tuy nhiên, đến nay nó vẫn chưa bị xoá bỏ mà ngược lại có xu hướng gia tăng Mặc dù

đã có sự ngăn chặn khá cương quyết của pháp luật, chính quyền và các đoàn thể nhưng thực tế tại cộng đồng dân cư không phải gia đình nào cũng có thể sống hoàn toàn êm ấm, hạnh phúc Bạo lực gia đình lúc công khai, lúc lén lút, lúc ngấm ngầm đã và đang phá vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, nhất là các cặp vợ chồng trẻ Bạo lực gia đình làm mất đi sự lành mạnh của xã hội

Vì vậy đấu tranh nhằm ngăn chặn và tiến tới xoá bỏ hoàn toàn các hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ là điều mà toàn xã hội cần quan tâm giải quyết

* Bạo lực nhìn thấy được

Tại tỉnh Lào Cai 6 năm qua (2005- 2010) theo số liệu thống kê của Toà án nhân dân tỉnh đã giải quyết 3538 vụ án Trong đó vụ án về hôn nhân gia đình là 1438 vụ, chủ yếu là do mâu thuẫn gia đình, bị hành hạ và đánh đập, cụ thể như sau:

Nguyên đơn Năm

Có sự tham gia của của Viện kiểm sát nhân dân

Đơn Chung

(Báo cáo tổng kết của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai từ năm 2005- 2010)

Như vậy thực trạng bạo lực gia đình nói chung và bạo lực nhìn thấy nói riêng của toàn tỉnh ngày càng gia tăng Theo thống kê thì tất cả các án về

Trang 32

li hôn thì phụ nữ đứng nguyên đơn là đa số Gần đây nhất, “năm 2010, phụ

nữ đứng nguyên đơn 280 trong khi đó chồng là 25 vụ” [32, tr.4] Án hôn

nhân gia đình do bạo lực gia đình ngày càng có xu hướng tăng “Năm 2005

có 23 vụ li hôn do mâu thuẫn gia đình” [27, tr.5], bị đánh đập hành hạ và

ngược đãi, nhưng đến “năm 2010 là 330 vụ” (tăng 1,5 lần so với năm 2005)

[32, tr.4]

Thực trạng bạo lực gia đình xảy ra ở khắp các địa phương, mọi tầng lớp dân cư Các vụ án về hôn nhân gia đình gồm:

1 Li hôn

2 Do mâu thuẫn gia đình, bị đánh đập ngược đãi

3 Thay đổi người nuôi con

4 Do ngoại tình

5 Do bệnh tật không có con

6 Do nghiện ma túy, cờ bạc, rượu chè

7 Mâu thuẫn về kinh tế

8 Không hợp nhau

9 Do đi làm xa

10 Các tranh chấp khác, các nguyên nhân khác

Nhưng nguyên nhân cơ bản dẫn đến li hôn là do mâu thuẫn gia đình,

bị đánh đập ngược đãi “Năm 2008 có 213 vụ do mâu thuẫn gia đình, 5 vụ

đánh đập” [30, tr.3] Cũng qua số liệu thống kê sự đánh đập ngược đãi đều

xuất phát từ cả 2 phía chồng và vợ Tuy nhiên cho thấy chủ yếu là do nam giới gây ra, người vợ đứng nguyên đơn ra toài giải quyết là chủ yếu

Theo báo cáo của các cán bộ Công an xã ( huyện Bảo Yên, huyện Bảo

Thắng, huyện Sa Pa, huyện Bắc Hà) cho biết: “Bạo lực gia đình mà người

chồng đánh đập vợ chỉ xảy ra ở những gia đình lao động chân tay, gia đình nông dân có hoàn cảnh kinh tế khó khăn Còn ở những gia đình khá giả, gia

Ngày đăng: 17/07/2015, 06:00

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w