Tuy Phơbach duy vật trong tự nhiên nhưng ông lại rơi vào duy tâm và siêu hình khi phân tích bản chất xã hội của con người, không đặt con người trong các mối liên hệ nhất định trong hoàn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
********
LÊ PHƯƠNG MAI
SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀO VIỆC XÂY DƯNG CON NGƯỜI MỚI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết Học
Người hướng dẫn khoa học :
TS VI THÁI LANG
HÀ N I - 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN!
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất tới thầy giáo - tiến sĩ
Vi Thái Lang, người thầy đã tận tình chỉ bảo, sửa chữa cho khóa luận của em trong suốt quá trình tiến hành
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị cùng các thầy cô trường đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp của bản thân
Con xin cảm ơn bố mẹ, các anh chị và em gái đã động viên và giúp sức cho con thực hiện khóa luận trong một thời gian dài
Vì điều kiện thời gian có hạn, khóa luận còn nhiều thiếu sót, kính mong quý thầy cô và mọi người chỉ bảo thêm và cho ý kiến đóng góp !
Xin chân thành cảm ơn!
Hà nội ngày…tháng…năm…
Sinh viên thực hiện
Lê Phương Mai
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn
tận tình của thầy giáo – tiến sĩ Vi Thái Lang
Những số liệu trong khóa luận được lấy từ nguồn tin chính xác
Nếu sai, tôi xin chịu mọi trách nhiệm
Sinh viên
Lê Phương Mai
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu 1
Phần nội dung 6
Chương 1: Một số vấn đề lí luận về quan điểm toàn diện và về con người 6
1.1 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật 6
1.1.1 Phép biện chứng duy vật 6
1.1.2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến 8
1.2 Quan điểm toàn diện trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người 12
1.3 Một số vấn đề lí luận chung về con người 13
1.3.1 Con người trong triết học trước Mác 13
1.3.2 Quan điểm triết học Mác – Lênin về con người 17
Chương 2: Xây dựng con người mới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (1986 – nay) 25
2.1 Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn hiện nay (1986 - nay) 25
2.1.1 Sự cần thiết trong xây dựng con người ở Việt Nam hiện nay 25
2.1.2 Kinh tế xã hội Việt Nam sau hơn 30 năm đổi mới 35
Trang 52.2 Thực trạng việc xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay 41
Chương 3: Một số giải pháp cho sự vận dụng quan điểm toàn diện vào việc xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay 53
3.1 Những định hướng chung 53
3.2 Một số giải pháp cụ thể 60
Kết luận 74
Danh mục tài liệu tham khảo 76
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người không phải là một đề tài mới lạ và việc nghiên cứu con người diễn ra thường xuyên trong tất cả các giai đoạn lịch sử, ở tất cả các quốc gia nếu như trong giai đoạn đó, trong quốc gia đó có sự phát triển đất nước, phát triển xã hội Vì vậy việc nghiên cứu con người mang tính thời sự Trong lịch sử, rất nhiều nhà triết học đã nghiên cứu vấn đề này Con người là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học nếu không muốn nói là của tất cả các ngành khoa học Tới thế kỉ XIX, con người được nâng tầm lên một bậc cao hơn thông qua các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin Vấn
đề con người là nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và triết học Mac nói riêng Con người trong triết học Mác vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển xã hội
Với một xuất phát điểm thấp, từ một nước nông nghiệp lạc hậu bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội như nứơc ta thì vấn đề con người càng cần được quan tâm đặt lên hàng đầu Con người chính là lực lượng sản xuất hàng đầu, là nhân tố thành công của mọi cuộc cách mạng, và trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam, đó là cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật-công nghệ, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Thấm nhuần tư tưởng của chủ nghĩa Mac - Lênnin vào hoàn cảnh cụ thể nước ta, Đảng và Nhà nước ta
đã khẳng định: “sự nghiệp phát triển kinh tế phải đặt con người vào trung tâm” [18, tr.153] và “nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [13, tr.21]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trong vấn đề xây dựng con người mới, vì đây là động lực quyết định hướng đi lên của xã hội Việt Nam Người
Trang 7từng dạy; “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa” [29, tr.310] Để xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, chủ tịch
Hồ Chí Minh đòi hỏi phải có chiến lược “trồng người”, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho thế hệ sau là những vấn đề đặc biệt quan trọng và có quan hệ gắn
bó với nhau Việc chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau sẽ tạo ra những con người mới kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng Đối với Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng xã hội cũng đồng thời với cách mạng con người Cho nên ngay sau khi tìm được chân lí cách mạng, Người đặt tất cả tâm huyết của mình vào việc xây dựng con người mới Muốn con người trở thành động lực chính của cách mạng, cần bồi dưỡng tạo điều liện cho họ phát triển toàn diện: phát huy mặt tốt đẹp, tích cực thực hiện công bằng xã hội, tạo môi trường dân chủ để con người phát triển hết những năng lực tiềm ẩn của mình
Đó là: “ Con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong quan hệ gia đình, cộng đồng và xã hội” [12, tr.114]
Trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, việc xây dựng con người, phát huy nhân tố con người và vì con người còn nhiều bất cập Do đó, chúng ta cần quan tâm hơn nữa đến việc chăm sóc, xây dựng con người đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng hiện nay
Từ những nguyên do trên, tác giả chọn đề tài: “Sự vận dụng quan điểm toàn diện vào việc xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho bản thân
2 Lịch sử nghiên cứu
Con người là một phạm trù rất rộng có tính lịch sử - xã hội Đã có rất nhiều bài viết, sách báo bàn về con người ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau như:
Trang 8+ “Con người với tư cách là một thực thể sinh học - xã hội”- Vũ Thiện Vương, tạp chí Triết học số 5, tháng 10-1998
+ “Những vấn đề phương pháp luận nghiên cứu con người trong triết học Macxit” - Nguyễn Quang Uẩn
Đặc biệt một số công trình như: “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001) của GS Phạm Minh Hạc PGS, TS Nguyễn Văn Huyên với "Mấy vấn
đề triết học xã hội và phát triển con người" (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002) đã xem xét họat động sáng tạo của con người và con người sáng tạo từ các tiền đề tâm lí, xã hội, dân chủ chính trị, văn học nghệ thuật Đó là những công trình có giá trị định hướng phương pháp luận cụ thể về nghiên cứu con người ở nước ta
Tuy nhiên việc xây dựng con người trong mỗi thời kì, mỗi giai đoạn cách mạng có tính chất phức tạp, cần được quan tâm một cách toàn diện, cần vận dụng quan điểm toàn diện trong triết học Mác - Lênin để xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa vào giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu những thành tựu và những thuận lợi cũng như những hạn chế, thiếu sót trong việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam hiện nay
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
+ Mục đích: trên cơ sở quán triệt quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mac – Lênin đã nêu, khóa luận đưa ra những giải pháp tối ưu để xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa đáp ứng yêu cầu của thời đại
+ Nhiệm vụ: khoá luận lần lượt giải quyết những vấn đề sau
- Tìm hiểu những vấn đề lí luận chung về quan điểm toàn diện, về vấn
đề con người
Trang 9- Nghiên cứu, phân tích những thành tựu đạt được trong việc xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp tối ưu cho việc xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay
5 Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề con người là một vấn đề rộng lớn Trong phạm vi khoá luận này, tác giả tập trung vào việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa nhìn
từ quan điểm toàn diện (1986-nay)
6 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và giải quyết những nhiệm vụ đã nêu, tác giả sử dụng những phương pháp cơ bản sau:
- Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac - Lênin Ngoài ra khóa luận còn sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
+ Phương pháp logic, lich sử, phương pháp tổng hợp, so sánh
+ Phương pháp diễn dịch, quy nạp, đối chiếu, so sánh…
7 Đóng góp của khóa luận
Đã có nhiều bài viết, sách, báo bàn về vấn đề con người Trong khóa luận này, tác giả đã chỉ ra được cái nhìn tổng quan về con người nói chung Mặt khác, khóa luận đã nêu lên được những giải pháp tối ưu cho việc xây dựng con người trong giai đoạn hiện nay như phát triển giáo dục vì mục tiêu phát triển con người Trong giáo dục, tác giả đã đề cập được những vấn đề bức thiết về chất lượng hiệu quả giáo dục, về quy mô giáo dục và về công bằng xã hội trong giáo dục Bên cạnh đó là chăm sóc sức khỏe cho người dân
để con người có thể phát triển toàn diện cả trí lực và thể lực
8 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 10Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM
TOÀN DIỆN VÀ VỀ CON NGƯỜI
1.1 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật
1.1.1 Phép biện chứng duy vật
Trong tác phẩm “Bút kí triết học”, hơn ba lần Lênin đưa ra định nghĩa
về phép biện chứng và Ăngghen đã có định nghĩa vô cùng chính xác về phép biện chứng như sau: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” [2, tr.201] Như vậy, phép biện chứng có một quá trình hình thành lâu dài Phép biện chứng ra đời từ khi triết học ra đời với
ba hình thức cơ bản là phép biện chứng chất phác thời cổ đại, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật Trong đó phép biện chứng duy vật là hoàn bị và trở thành phương pháp luận đúng đắn nhất, khoa học nhất
Với câu nói nổi tiếng của mình “Không ai tắm hai lần trên một dòng cùng một dòng sông”, Hêraclit trở thành nhà tư tưởng biện chứng tiêu biểu thời Hy Lạp cổ đại Ngoài ra còn phải kể đến tư tưởng biện chứng trong thuyết Âm Dương ngũ hành của triết học Trung Hoa cổ đại Phép biện chứng
cổ đại, kể cả trong triết học phương Đông và phương Tây đều xem xét mọi sự vật hiện tượng trong sự sinh thành, biến hóa và trong những mối liên hệ vô cùng vô tận Tuy còn mang tính chất phác ngây thơ, mới chủ yếu dựa trên những phỏng đoán, những trực kiến thiên tài chứ chưa phải chủ yếu dựa trên kết quả khoa học nhưng về căn bản là đúng Phép biện chứng thời cổ đại đã phác hoạ ra được bức tranh chung về thế giới trong tác động qua lại chằng
Trang 11chịt lẫn nhau giữa các bộ phận, các yếu tố của chúng Nó đã dặt nền móng cho sự hình thành phát triển của các quan niệm biện chứng về thế giới trong nhiều thế kỉ sau
Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức là hình thức thứ hai trong lịch sử phép biện chứng, khởi đầu là I.Kant và người hoàn thiện là Hêghen Hêghen là nhà triết học duy tâm khách quan, tư tưởng biện chứng của ông thể hiện ở chỗ ông là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình, nghĩa là trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng Tuy nhiên ông lại duy tâm khi coi “Ý niệm tuyệt đối” tha hoá thành vận động của giới tự nhiên và xã hội cuối cùng trở về với chính mình trong tinh thần thế giới Thực chất của phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen là phép biện chứng của ý niệm sản sinh ra biện chứng của sự vật Phép biện chứng cổ điển Đức có những đóng góp to lớn vào
sự phát triển của tư duy biện chứng nhân loại, thúc đẩy tư duy biện chứng lên một trình độ cao Nhưng với hạn chế duy tâm, nó chưa thể trở thành cơ sở lí luận của một thế giới quan khoa học
Tới thế kỉ XIX, khoa học tự nhiên phát triển mạnh mẽ, nhiều phát minh khoa học ra đời trở thành cơ sở cho sự ra đời triết học Mác Triết học Mác là triết học hoàn bị nhất với thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng Đây là hình thức cao nhất của phép biện chứng Phép biện chứng được C.Mác va Ph.Ăngghen xây dựng, sau đó được V.I.Lênin phát triển Các ông
đã gạt bỏ tính chất duy tâm, thần bí, kế thừa hạt nhân hợp lí trong phép biện chứng cổ điển Đức (trực tiếp là phép biện chứng của Hêghen) Trên cơ sở những thành tựu lí luận, khoa học của nhân loại, trên cơ sở đúc kết từ thực tiễn xã hội, các ông đã sáng lập ra phép biện chứng duy vật, hình thức cao nhất của phép biện chứng
Trang 12Trong triết học Mác-Lênin, thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật thống nhất hữu cơ với nhau Phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất Nó bao gồm một hệ thống các nguyên lí và quy luật, phạm trù Đó là nguyên lí về sự phát triển và nguyên lí về mối liên hệ phổ biến Nó đồng thời là lí luận nhận thức và logic học của chủ nghĩa Mác,
có sự thống nhất trong nó giữa tính cách mạng, tính khoa học, tính thực tiễn, trở thành phương pháp lí luận chung nhất cho mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn cải tạo tự nhiên, xã hội của con người
1.1.2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
a/ Nội dung của nguyên lí
Thế giới khách quan bao gồm muôn vàn sự vật hiện tượng khác nhau Những sự vật hiện tượng đó tồn tại biệt lập hay liên hệ qua lại, tác động lẫn nhau? Và nếu chúng có mối liên hệ với nhau thì cái gì quy định những mối liên hệ đó?
Với câu hỏi thứ nhất, những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia, giữa chúng không có mối liên hệ ràng buộc nào, nếu có chỉ là tính ngẫu nhiên, bên ngoài Hạn chế này có nguồn gốc bởi phương pháp tư duy siêu hình, nghiên cứu tách rời các lĩnh vực, bộ phận riêng rẽ của thế giới gắn với trình độ tư duy khoa học còn ở giai đoạn sưu tập tài liệu Phương pháp đó không có khả năng phát hiện ra được cái chung, cái bản chất, quy luật của sự tồn tại vận động và phát triển của các sự vật hiện tượng trong thế giới
Đối lập với quan điểm siêu hình, những người theo quan điểm biện chứng lại cho rằng các sự vật hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau Thế giới như
Trang 13một chỉnh thể thống nhất trong đó sự vật hiện tượng tồn tại trong những mối liên hệ phổ biến
Với câu hỏi thứ hai, những người theo chủ nghĩa duy tâm ( duy tâm chủ quan và duy tâm khách quan) cho rằng cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hoá lẫn nhau giưa các sự vật hiện tượng là một lực lượng tinh thân siêu nhiên hoặc cảm giác, ý thức của con người Đại diện là Đ.Hium và G.Becơly khi các ông cho rằng: vật là phức hợp của cảm giác Còn Platon với “Ý niệm” và Hêghen với “Ý niệm tuyêt đối” lại cho rằng thế giới ý niệm sản sinh ra hiện thực, hiện thực chỉ là cái bóng của ý niệm
Còn quan diểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khi khẳng định cơ sở của những mối liên hệ phổ biến là đúng đắn khoa học vì nó đã dựa trên sự đúc kết những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên thế kỉ XIX và kế thừa một cách xuất sắc các giá trị tư tưởng, lí luận trong tư duy triết học biện chứng của nhân loại Cơ bản hơn, nó đã phản ánh đúng bản chất của sự tồn tại thế giới Các sự vật hiện tượng được tạo thành trong thế giới dù có đa dạng phong phú, khác nhau bao nhiêu đi nữa thì tất cả đều thống nhất ở tính vật chất Chính vì thế, chúng không thể tồn tại biệt lập tách rời nhau mà luôn có
sự qua lại, chuyển hoá lẫn nhau theo những quan hệ xác định Trên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng : “liên hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng hay giữa các mặt của cùng một sự vật hiện tượng trong thế giới” [1, tr.183]
Nội dung cơ bản của nguyên lí về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật thể hiện ở các luận điểm cơ bản sau:
- Một là: mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới hay giữa các mặt, các bộ phận, yếu tố trong cùng một sự vật hiện tượng luôn tồn tại trong sự quy định,
Trang 14tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau Bản chất, tính quy luật của sự vật hiện tượng chỉ bộc lộ qua sự tác động qua lại lẫn nhau của chúng
- Hai là: mối liên hệ của các sự vật hiện tượng là khách quan, vốn có vì
nó bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của thế giới, biểu hiện trong tất cả các quá trình tự nhiên, xã hội, tư duy Sự vật hiện tượng nào cũng là thể thống nhất của các mặt đối lập và sự vật hiện tuợng nào cũng tồn tại trong mối liên
hệ với các sự vật hiện tượng khác
- Ba là: mối liên hệ của các sự vật hiện tượng không chỉ mang tính khách quan mà còn mang tính phổ biến Thể hiện: bất cứ sự vật hiện tượng nào trong tự nhiên, xã hội, tư duy đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật hiện tượng khác Không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoài những mối liên
hệ Các mối liên hệ biểu hiện dưới các hình thức riêng biệt, đa dạng, phong phú tuỳ theo điều kiện nhất định Song dù dưới hình thức nào thì chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến
- Bốn là: mối liên hệ của các sự vật hiện tượng trong thế giới là đa dạng nhiều vẻ Có thể phân chia các mối liên hệ đa dang đó thành từng loại tuỳ theo tính chất phức tạp hay đơn giản, phạm vi rộng hay hẹp, trình độ nông hay sâu, vai trò trực tiếp hay gián tiếp… mà có thể khái quát thành những mối liên hệ khác nhau
b/ Các tính chất của mối liên hệ
Quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng cho rằng mối liên hệ
có ba tính chất cơ bản: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú
- Tính khách quan: sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau của các mặt trong sự vật hiện tượng và giữa các sự vật hiện tượng với nhau là cái vốn có của chúng Điều này không phụ thuộc vào ý thức con người Vấn đề là con người phải hiểu biết các mối liên hệ, vận dụng chúng vào hoạt động của mình
Trang 15giải quyết các mối liên hệ sao cho phù hợp với nhu cầu, lợi ích của xã hội và của bản thân con người
- Tính phổ biến: bất kì một sự vật hiện tượng nào, ở bất kì không gian
và thời gian nào cũng có mối liên hệ phổ biến với những sự vật hiện tượng khác Đó chính là tính phổ biến của mối liên hệ Thậm chí ngay trong cùng một sự vật hiện tượng thì bất kì thành phần nào, một yếu tố nào cũng có mối liên hệ với thành phần, yếu tố khác Nghiên cứu về sự phổ biến của những mối liên hệ trong thế giới khách quan còn cho ta thấy tính đa dạng nhiều vẻ của nó
- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ biểu hiện: sự vật khác nhau, không gian khác nhau, thời gian khác nhau thì các mối liên hệ biểu hiện khác nhau Có thể chia các mối liên hệ thành nhiều loại: liên hệ bên trong, liên hệ bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu hay thứ yếu… tuỳ theo tính chất phức tạp hay đơn giản, phạm vi rộng hay hẹp, trình độ nông hay sâu, vai trò trực tiếp hay gián tiếp đối với sự tồn tại và vận động của sự vật hiện tượng
Các mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng trong thế giới được khái quát trong các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng Đó là:
+ Mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng
+ Mối liên hệ giữa cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên
+ Mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả
+ Mối liên hệ giữa bản chất và hiện tượng
+ Mối liên hệ giữa nội dung và hình thức
+ Mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực
Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ mang tính chất tương đối vì mỗi loại mối liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt xích của mối liên
hệ phổ biến Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hoá lẫn nhau tuỳ theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động của
Trang 16chính các sự vật hiện tượng Chẳng hạn khi xem xét nguyên nhân của trình độ dân trí thấp là do kinh tế kém phát triển, ít đầu tư cho giáo dục Nhưng ngược lại, kinh tế chậm phát triển, việc áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất chưa phổ biến lại là do trình độ dân trí thấp
Tuy sự phân chia các loại mối liên hệ chỉ mang tính tương đối nhưng
sự phân chia đó lại rất cần thiết, bởi vì mỗi loại mối liên hệ có vị trí, vai trò xác định trong sự vận động và phát triển của sự vật Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để có cách tác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình
1.2 Quan điểm toàn diện trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người
Mối liên hệ phổ biến là sự tác động qua lại chuyển hoá, quy định lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng và các mối liên hệ mang tính khách quan, tính phổ biến nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện, tránh cách xem xét phiến diện Trên cơ sở quán triệt quan điểm toàn diện trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn, quan điểm toàn diện đặt ra các yêu cầu sau:
+ Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa các sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp Lênin đã từng nói: muốn thực sự hiểu được sự vật cần nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và quan hệ gián tiếp của sự vât đó
+ Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên, và lưu ý đến sự chuyển hoá lẫn nhau
Trang 17giữa các mối liên hệ để hiểu rõ bản chất của sự vật để có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân
Theo quan điểm toàn diện, trong hoạt động thực tế, chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà còn phải chú ý tới những mối liên hệ giữa sự vật ấy với sự vật khác Đồng thời chúng ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Chẳng hạn, để thực hiện mục tiêu “dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh” thì một mặt, chúng ta phải phát huy cao độ nội lực của đất nước, mặt khác phải tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
1.3 Một số vấn đề lí luận chung về con người
1.3.1 Con người trong Triết học trước Mác
Vấn đề con người là một vấn đề triết học có ý nghĩa đặc biệt, được đề cập nhiều trong lịch sử tư tưởng nhân loại và việc nhìn nhận, đánh giá vai trò
và vị trí con người luôn là một vấn đề cấp thiết của mọi thời đại
Ở phương Đông, cả Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo đều rất chú trọng đến việc giải thích bản chất con người, bởi các tôn giáo này đặt ra nhiệm vụ chủ yếu là giải quyết các vấn đề chính trị - xã hội, các vấn đề liên quan trực tiếp đến con người Ngay trong một trường phái cũng có nhiều quan điểm đa dạng, như: trong Nho giáo, Khổng Tử đề cao tính thiện của con người Theo Khổng Tử, ngay từ khi con người sinh ra đã có sẵn tính thiện (thiên tính) nhưng do trong quá trình sống ảnh hưởng bởi những thói hư tật xấu trong xã hội mà tính thiện đó bị mai một, “tính thì gần nhau, nhưng do tập nhiễm mà
xa nhau” Mạnh tử đề xuất giải pháp để con người giữ được tính thiện của mình thì con người phải trau dồi đạo đức, từ đó hai ông khẳng định tầm quan trọng của cải cách quản lí đất nước bằng đức trị và lễ trị Tuân tử lại có tư
Trang 18tưởng ngược lại khi cho rằng con người bản tính vốn ác vì thế phải ngăn chặn cái ác bằng pháp trị, quan điểm này được Hàn Phi Tử đề cao
Khác với triết học Trung Hoa, các nhà tư tưởng của của các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại mà tiêu biểu là đạo Phật lại tiếp cận từ giác độ khác, giác độ suy tư về con người và về đời người ở tầm chiều sâu triết lí siêu hình (siêu hình học) đối với những vấn đề nhân sinh quan Kết luận về bản tính Vô ngã, Vô thường và tính hướng thiện của con người trên con đường đi tìm sự Giác Ngộ là một trong ngưỡng kết luận độc đáo của triết học Phật Giáo
Ở Phương Tây, thực tế lịch sử đã cho thấy giác độ tiếp cận giải quyết các vấn đề triết học về con người có nhiều điểm khác biệt với nền triết học phương Đông
+ Quan điểm duy vật tôn giáo: quy bản chất con người vào lĩnh vực ý thức tư tưởng hoặc được quy định sẵn từ những lực lượng siêu nhiên sinh ra (thần thánh, chúa trời, thượng đế…) Kitô giáo cho rằng con người có phần thể xác và phần linh hồn, trong đó phần thể xác là phần thấp hèn vì gần với súc vật là phần đáng khinh miệt, khi con người có những ham muốn thể xác là
có tội, cần rửa tội hoặc sám hối; còn linh hồn đó là phần cao quý, bất tử nên con người phải chăm sóc chu đáo hằng ngày Cơ đốc giáo khẳng định con người ngay từ khi sinh ra đã mang tội tổ tông nên cả cuộc đời phải cầu đến sự cứu vớt của Chúa
+ Quan điểm duy tâm khách quan của Hêghen: tuy không giải thích nguồn gốc con người từ thần thánh nhưng lại cho rằng con người do “ý niệm tuyệt đối” tha hoá mà thành Quan điểm này không kém phần bí hiểm so với các quan điểm trước và thực chất ý niệm tuyệt đối như một sức mạnh siêu thế gian Mác và Ăngghen đã phê phán quan điểm tư duy tự biện của Hêghen Mác cho rằng: “ở Hêghen, những phạm trù đó mang lại linh hồn khi thì cho lĩnh vực này, khi thì cho lĩnh vực khác Toàn bộ công việc chung quy lại là
Trang 19tìm cho những quy định cụ thể riêng lẻ, những quy định trừu tượng thích hợp chúng” [3, tr.317] Hêghen đi tới quan niệm rằng không phải con người hiện thực đi tới nhà nước mà nhà nước phải đi tới con người hiện thực, và “con người kinh nghiệm” là hiện thực cao nhất của nhà nước Ông đã “bắt bản chất con người, tự bản thân nó, với tư cách là một tính đơn nhất tưởng tượng nào đó, phải hoạt động, chứ không phải bắt con người phải hoạt động trong sự tồn tại của con người hiện thực của nó” [3, tr.364] Chính lối tư duy tự biện
đó không cho phép ông tìm ra bản chất đích thực của con người
Với những đặc trưng trong cách tiêp cận, vấn đề xã hội và con người như vậy nên Hêghen không thể đi đến bản chất con người một cách đúng đắn khoa học Mặc dầu vậy, ông đã đưa ra được nhiều kiến giải có giá trị về vấn
đề con người Ông là người đầu tiên thông qua việc xem xét cơ chế hoạt động của đời sống tinh thần mà phát hiện ra quy luật về sự phát triển của đời sống
cá nhân
Nếu như Hêghen duy tâm khách quan thì tới thế kỉ XVII - XVIII, quan điểm duy vật của Phơbach là cách nhìn hoàn toàn đối lập Phơbach phản đối quan điểm duy tâm của Hêghen, chỉ ra nguồn gốc phi thần thánh của con người đồng thời nêu bật lên bản chất của tôn giáo: không phải Chúa đã tạo ra con người theo hình ảnh của Chúa mà chính con người đã tạo ra Chúa theo hình ảnh của con người Con người theo quan điểm của Phơbach, là một sinh vật có hình thể vật chất, ở trong không gian và thời gian, là “cái gương của vũ trụ” để thông qua đó, giới tự nhiên ý thức và nhận thức chính bản thân mình Theo ông, bản chất con nguời là tổng thể những khát vọng, khả năng, nhu cầu, ham muốn… nên ngoài việc đem lại một quan niệm mới về con người, triết học còn có nhiệm vụ tiến hành cuộc đấu tranh lí luận cho việc giải phóng con người, đem lại cho con người một cuộc sống thực sự hạnh phúc, loại trừ những học thuyết duy tâm tôn giáo ra khỏi cuộc sống tinh thần con người Theo ông, tôn giáo chỉ hướng con người vào cái thiện giới, khuyến khích con
Trang 20người hạn chế tối đa những nhu cầu tối thiểu, bóp nghẹt phần con người tự nhiên, đó là điều trái ngược hoàn toàn với bản chất con người
Được coi là nhà triết học vô thần nhưng chính Phơbach lại là người đề xướng ra một thứ “tôn giáo mới” - tôn giáo tình yêu Thứ tôn giáo này được giải phóng những thiên kiến, coi “con người là thượng đế đối với con người”,
có nhiệm vụ bảo vệ con người cùng khổ, “khai sáng” cho con người, cổ vũ con người trong cuộc đấu tranh để thực hiện những ý tưởng trần tục mang tính hiện thực Ông chỉ rõ con người là sản phẩm của khí quan vật chất, đó là
bộ óc người Con người khác con vật không chỉ ở tư duy mà còn ở cả cảm xúc, và sứ mệnh của lí tính không phải là ở việc lấn át bản tính của con người
mà là ở chỗ phát triển nó vì đời sống con người trước hết là đời sống cảm tính Tuy Phơbach duy vật trong tự nhiên nhưng ông lại rơi vào duy tâm và siêu hình khi phân tích bản chất xã hội của con người, không đặt con người trong các mối liên hệ nhất định trong hoàn cảnh điều kiện cụ thể mà đó là con người chung chung, con người trừu tượng, con người là “ đối tượng cảm tính” chứ không phải là “hoạt động cảm tính” Ông lí tưởng hoá tình bạn, tình yêu của con người, quy bản chất con người vào tính tộc loại, đó là tình cảm đạo đức Phê phán quan điểm này, Mác viết: “Phơbach hoà tan bản chất tôn giáo vào bản chất con người Nhưng bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội” [4, tr.11]
Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng về con người của Phơbach
có thể được coi là quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa nhân đạo cách mạng - dân chủ, ban đầu còn mang tính chất trừu tượng Sau cách mạng
1848, ông có cơ sở để khẳng định rõ ràng hơn Ông hoàn toàn đồng tình với tinh thần giải phóng con người của chủ nghĩa cộng sản, tự nhận mình là
Trang 21“người cộng sản” Tuy nhiên, quan điểm này của ông vẫn còn mang tính chất dân chủ tư sản
Bên cạnh những quan điểm của Phơbach, Hêghen, … còn có quan điểm của các nhà duy vật Pháp và Anh thế kỉ XVIII Họ thấy được sự phụ thuộc con người vào hoàn cảnh nhưng vẫn cho rằng những biểu hiện của tính chất con người trong cuộc sống hiện thực, như tính ích kỉ, tham lam… là bản chất
tự nhiên của con người
Nhìn chung các quan điểm siêu hình trước Mác về con người đều coi bản chất con người là cái vốn có, trừu tượng, đặc trưng, bản chất con người được quy về bản tính tự nhiên, do đó trở nên bất biến, không thấy được sự hình thành và biến đổi của nó một cách biện chứng
1.3.2 Quan điểm triết học Mác - Lênin về con người
Như vậy, trong lịch sử triết học từ cổ chí kim, từ đông sang tây, người
ta đã cố gắng tìm hiểu và giải thích con người là gì Tới giữa thế kỉ XIX, triết học Mác ra đời Triết học Mác đã kế thừa những quan niệm về con người trong lịch sử triết học đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội
a/ Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh học với mặt xã hội
Trước hết, con người chỉ tồn tại, phát triển khi thoả mãn các nhu cầu thiết yếu về sinh học Các yếu tố để thoả mãn nhu cầu đó chỉ có thể có được thông qua hoạt động lao động – hoạt động vật chất xã hội cơ bản của con người, chính lao động là yếu tố trực tiếp hình thành nên tất cả các quan hệ hiện thực của đời sống con người Sự thống nhất ấy được biểu hiện trên ba mặt của đời sống hiện thực là đời sống sinh vật, đời sống tinh thần (tâm lí) và đời sống xã hội, do ba loại mối quan hệ (tự nhiên - ý thức - xã hội) trên ba hệ thống quy luật: quy luật sinh học, quy luật tâm lí và quy luật xã hội tạo thành
Trang 22Trước hết về mặt sinh vật: con người có nguồn gốc từ giới tự nhiên, con người là sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài từ giới tự nhiên Trong các tác phẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đều khẳng định: “thế giới tự nhiên sinh ra con người, con người đã bước từ thế giới động vật sang thế giới con người Bản thân con người từ động vật mà sinh ra, do đó không thoát li khỏi những thuộc tính vốn có của động vật, vấn đề là thuộc tính đó ít hay nhiều, trình độ khác nhau về thú tính và nhân tính ít hay nhiều mà thôi” [10, tr.25] Chính vì thế, con người có mối quan hệ sống còn với giới tự nhiên, con người sinh thành phải tuân theo những quy luật phổ biến của giới tự nhiên như các quy luật trao đổi, quy luật biến dị di truyền, quy luật tái sản xuất giống nòi, quy luật tiến hoá, quy luật sinh, lão, bệnh, tử…
Thứ hai: đời sống tự nhiên thể hiện ra bên ngoài qua các nhu cầu ăn, mặc, ở, nhu cầu sản xuất, tái sản xuất, nhu cầu tình cảm… mối liên hệ với tự nhiên và hệ thống các quy luật tự nhiên trực tiếp hình thành nên bản chất sinh vật của con người làm nền tảng vật chất cho đời sống tâm lí và đời sống xã hội Mac và Ăngghen nêu rõ: “có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu bằng tự phân biệt với súc vật, ngay khi con người sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể con người quy định” [4, tr.29] Để sự so sánh được rõ hơn, Mác phân tích: “cố nhiên, con vật cũng sản xuất Nó xây dựng tổ, chỗ ở của nó như con ong, con hải li, con kiến…nhưng con vật chỉ sản xuất cái mà bản thân nó hoặc con nó trực tiếp cần đến, nó sản xuất một cách phiến diện trong khi con người sản xuất một cách toàn diện; con vật chỉ sản xuất vì bị chi phối bởi nhu cầu thể xác trực tiếp, còn con người thì sản xuất ngay cả khi không bị nhu cầu thể xác ràng buộc.”(…) [ 5, tr.137] “ súc vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên” [5, tr.137]
Trang 23Thứ ba: về mặt đời sống tinh thần, tâm lí Trên nền tảng sinh vật, hệ thống các quy luật tâm lí (tình cảm, tư tưởng, khát vọng, niềm tin, lí tưởng, ý chí…) tạo nên đời sống tinh thần cho con người Điều đó có nghĩa là con người là một chủ thể có ý thức, con người có năng lực tự giác và sáng tạo
Thứ tư: về mặt đời sống xã hội Con người vừa là sản phẩm của các quan hệ với tự nhiên, lại vừa là sản phẩm của các quan hệ xã hội Các quy luật
xã hội, quy luật sản xuất, quy luật quan hệ cơ sở hạ tầng – kiến trúc thượng tầng, quy luật tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội trực tiếp tác động hình thành nên đời sống xã hội của con người, vừa tác động chi phối đến các quan
hệ tự nhiên, quan hệ tâm lí con người
Nhiều nhà tư tưởng đã đề cập tới mặt xã hội của con người như phần
ưu tú nhất với nhiều hình thức khác nhau: Frankin chỉ ra rằng con người khác con vật ở chỗ con người biết sử dụng công cụ lao động; Arixtốt khẳng định con người là một động vật có tính xã hội; Pascan thì ví von hình ảnh: con người là một cây sậy biết suy nghĩ C.Mác cho rằng cái quyết định trong con người là cái xã hội Con người và xã hội không tách rời nhau và chỉ có trong
xã hội, trong khuôn khổ của hoàn cảnh xã hội cụ thể, con người mới tồn tại với tư cách con người Ý thức, tư duy con người xuất hiện như là sản phẩm xã hội và do đó, là tính thứ 2 trong mối quan hệ với tồn tại xã hội của con người Phê phán quan điểm của L Phơbach về bản chất con người, Mác khẳng định:
“Bản chất con người không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan
hệ xã hội” [4, tr.11]
Sản xuất của con người là sản xuất mang tính chất xã hội, thể hiện ở hoạt động giao tiếp xã hội, con người có lao động và có ngôn ngữ, là hành động mang tính sáng tạo Nếu như “con vật chỉ xây dựng theo kích thước và nhu cầu loài của nó thì con người có thể sản xuất theo kích thước của bất kì
Trang 24loài nào và ở đâu cũng biết vận dụng bản chất cố hữu của mình vào đối tượng,
do đó con người cũng xây dựng theo quy luật của cái đẹp” [5, tr.137]
Con người khác con vật ở cả ba mặt: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với
xã hội và quan hệ với chính bản thân con người Cả ba mặt quan hệ đó đều mang tính xã hội, trong đó, quan hệ với xã hội là quan hệ bản chất nhất, chi phối các quan hệ còn lại
Tính xã hội của con người cũng phát triển biện chứng từ thấp đến cao,
từ hoạt động đến bản năng, đến hoạt động ý thức Bên cạnh bản năng sinh học, con người còn có bản năng xã hội và bản năng này bao trùm từng bước bản năng sinh học “là một trong những đòn bẩy quan trọng nhất để con người phát triển từ loài khỉ” [6, tr.243]
Trong khi xác định bản chất xã hội của con người, nhấn mạnh ý nghĩa của những mối liên hệ, những đặc tính xã hội của con người, chủ nghĩa Mác tuyệt đối không cào bằng những đặc thù của những cá nhân riêng biệt, không
hạ thấp những phẩm chất đặc thù của chúng như nhân cách - cái được biểu hiện bằng ý chí, khả năng, khát vọng của mỗi cá nhân, mà chỉ giải thích những phẩm chất riêng biệt của cá nhân một cách khoa học Con người hòa mình vào tự nhiên bằng bản chất sinh học của nó Nhưng không dừng lại ở
đó, mà từ thể xác con người nâng lên thành “con người” với đầy đủ ý nghĩa của từ này
Như vậy, tương ứng với luận điểm mà C.Mác đã nêu ra về bản chất của con người với tư cách là tổng hoà các mối quan hệ xã hội thì con người chính
là một thực thể xã hội Cùng với điều đó, cũng cần phải khẳng định rằng, con người là một bộ phận của tự nhiên, là một thực thể sinh học Tổ chức sinh học của thực thể người là một cái gì đó có giá trị tự thân Việc nhìn nhận, đánh giá con người trong mối liên hệ hiện thực giữa các yếu tố sinh học và các yếu tố
xã hội sẽ cho phép chúng ta có chiến lược đúng đắn trong việc đào tạo, giáo dục và xây dựng con người mới vì sự phồn vinh của đất nước
Trang 25b/ Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
Nếu không có giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người Bởi vậy con người là sản phẩm của lịch sử, sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài của giới hữu sinh Song điều quan trọng hơn cả là con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử, xã hội C.Mác đã khẳng định : “cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục… cái học thuyết ấy quên rằng chính con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục” [4, tr.10] Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen cũng cho rằng: “thú vật cũng
có một lịch sử, chính là lịch sử nguồn gốc của chúng, và lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng tạo ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do ý muốn của chúng Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu” [2, tr.476]
Con người là sản phẩm của quá trình phát triển, tiến hoá về cả ba mặt: sinh học, tâm lí, và xã hội ở mỗi thời đại lịch sử, do đó bản chất con người mang tính lịch sử cụ thể Chính trong sự hình thành của mình, bản chất con người vừa là sản phẩm của cả ba mối quan hệ, ba mặt tác động (tự nhiên - tâm
lí - xã hội) đồng thời con người vừa là chủ thể trong các mối quan hệ đó, vừa
là sáng tạo và hoàn thiện không ngừng các quan hệ đó Sáng tạo về văn hoá, tinh thần, sáng tạo xã hội Hầu như tất cả công trình mĩ thuật, công trình văn hóa nhân loại tồn tại cho đến ngày nay những sáng tạo của con người như vườn treo BaBiLon, những tòa nhà chọc trời, những ca khúc bất hủ… và sáng tạo chính bản thân con người
Trang 26Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội Khi giải thích sự vận động của lịch sử nhân loại, Mác va Ăngghen muốn nhấn mạnh rằng, đó là lịch sử của con người, do con người làm ra “Lịch sử xã hội của con người luôn chỉ là lịch sử của sự phát triển
cá nhân của mỗi con người” [7, tr.658], “chính con người làm thay đổi hoàn cảnh của mình” [4,tr.10] và “xã hội , cho dù nó có hình thức gì đi nữa – là cái gì?
Là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người” [7, tr.657]
Trong quá trình tạo ra lịch sử, con người sản xuất ra của cải vật chất, đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội “hành vi lịch sử đầu tiên hay phương diện cơ bản đầu tiên của hoạt động xã hội của con người là sản xuất ra những tư liệu để thoả mãn những nhu cầu của họ “sản xuất ra bản thân đời sống vật chất” [4, tr40]
Bên cạnh đó, con người tạo ra các giá trị tinh thần cho xã hội… con người tạo ra các quan hệ xã hội, các quy định, chuẩn mực, các giá trị xã hội, giữ xã hội trong ổn định tương đối
Mặt khác, con người là động lực của mọi cuộc cách mạng xã hội, thay thế một phương thức sản xuất này bằng một phương thức sản xuất khác cao hơn, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện
có
Nói con người là chủ thể sáng tạo không phải là để lập dị, không phải
là để khác người một cách vô căn cứ và cũng phải là không có cơ sở đề xuất Xét về bản chất, con người là chủ thể sáng tạo Con người phải sáng tạo vì hiện thực khách quan, đối tượng hoạt động của con người luôn trong quá trình hoạt động, luôn chuyển từ cái này sang cái khác, đòi hỏi nhận thức và hành động của con người phải theo kịp C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đã từng nói: nhiều mục đích của con người không thể đạt được do sự vật bên ngoài vô
Trang 27cùng phức tạp và chứa đầy mâu thuẫn mà con người trong điều kiện của mình không thể nào biết hết trước được Do đó con người phải luôn điều chỉnh nhận thức và hành động của mình cho phù hợp
Vấn đề sáng tạo không còn là vấn đề lí thuyết mà đã là vấn đề thực tiễn trong lich sử và đã được thực tiễn chứng minh Trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, khi có nạn ngoại xâm, người Việt Nam không những
có tinh thần dũng cảm hi sinh mà còn có cả tinh thần sáng tạo Nhờ tinh thần này mà ít có thể địch được nhiều, yếu có thể chống được mạnh Hay như Nhật Bản, Đức bị kiệt quệ sau chiến tranh thế giới thứ II vậy nhưng chỉ 3, 4 thập kỉ sau, các nước này đã đứng vào hàng đầu của các nước công nghiệp phát triển Singapo là một thuộc địa, diện tích nhỏ bé thế mà cũng vươn lên con rồng nhỏ của châu Á… mỗi nước đó đều tìm cho mình một cơ sở để động viên tinh thần sáng tạo của nhân dân mình
Muốn tiến lên được bằng người, người Việt Nam phải sáng tạo Muốn thế, họ không thể không có một ý chí quật cường, một nỗ lực phi thường mà còn phải biết tạo ra cho một hoàn cảnh bức bách để khơi gợi tinh thần sáng tạo Về vấn đề này, thuyết tiến hóa xã hội đến nay vẫn còn ý nghĩa
Như vậy con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá lâu dài của giới hữu sinh Mặt khác, con người thông qua hoạt động thực tiễn, tác động vào giới tự nhiên, cải tạo giới tự nhiên để phục vụ cho hoạt động sống của con người Trong quá trình cải tạo tự nhiên, cụ thể là hoạt động lao động sản xuất, con người lấy đó làm cơ sở tồn tại đồng thời thông qua hoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, không có hoạt động của con người thì cũng không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người
Bản chất con người là tổng hoà của các quan hệ xã hội, về đời sống sinh học và tâm lí của nó trong những giai đoạn phát triển lịch sử cụ thể, một chủ thể sáng tạo, là quá trình không ngừng hoàn thiện Do đó muốn thay đổi
Trang 28bản chất con người thì phải thay đổi các quan hệ hiện thực của nó mà cơ bản
là các quan hệ xã hội con người đang sống Muốn xây dựng một xã hội tiến
bộ vì con người thì phải xoá bỏ tất cả các quan hệ làm tha hoá con người, phải xây dựng con người một cách toàn diện từ giác độ, phải giải phóng con người khỏi mọi sự tha hoá, trả lại vị trí làm chủ và sáng tạo cho con người, là mục đích cao cả về con người của học thuyết Mác – Lênin
Trên cơ sở những lí luận chung về con người, đặc biệt là con người trong triết học Mác - Lênin, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm tới việc xây dựng con người, xác định: con người Việt Nam không những là động lực
mà còn là mục tiêu của sự phát triển kinh tế xã hội, góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thực tiễn xã hội luôn luôn thay đổi, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, việc xây dựng con người cũng cần có chiến lược phù hợp với thực tiễn Trong tình hình hiện nay, vấn đề này được giải quyết như thế nào?
Trang 29Chương 2 XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
2.1 Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn hiện nay (1986 - đến nay)
2.1.1 Sự cần thiết trong việc xây dựng con người ở Việt Nam hiện nay
Có thể nói, ngay từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới vào giữa thập niên 80 của thế kỷ trước, Đảng ta đã chú trọng đến nhân tố con người, xem vấn đề xây dựng con người Việt Nam mới vừa là mục tiêu, vừa là chủ thể của
sự nghiệp xây dựng đất nước
Một trong số các nguồn lực cần thiết cho sự thành công của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định
Tuy nhiên, vai trò quyết định của nguồn nhân lực chất lượng cao chỉ trở thành hiện thực khi người lao động được đào tạo để có năng lực và phẩm chất cần thiết đáp ứng được những yêu cầu mà quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đặt ra hiện nay và cả tương lai Nghị quyết Đại hội lần thứ 10 của Đảng
nhấn mạnh: Đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao, đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Bác Hồ từng dạy: con người nếu chỉ có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, mà thiếu tri thức, kiến thức khoa học, tức có đức mà không có tài, thì cũng chẳng khác gì ông Bụt ngồi trên toà sen, không làm điều gì xấu nhưng cũng chẳng làm được việc gì có ích cho đời Tri thức, trí
tuệ thực sự là yếu tố thiết yếu của mỗi con người, bởi vì, tất cả những gì thúc
Trang 30đẩy con người hành động đều phải thông qua đầu óc của họ - tức là phải thông qua trí tuệ Sự yếu kém về trí tuệ sẽ là lực cản nguy hại nhất dẫn đến sự thất bại trong hoạt động của con người
Năng lực trí tuệ của con người hiện nay biểu hiện ở khả năng áp dụng những thành tựu khoa học để sáng chế ra những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến,
sự nhạy bén, thích nghi nhanh và làm chủ được những kỹ thuật - công nghệ hiện đại; khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghề nghiệp, nghĩa là,
kỹ năng lao động giỏi thể hiện qua trình độ tay nghề, mức độ thành thạo chuyên môn nghề nghiệp Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng đi vào chiều sâu càng đòi hỏi trình độ chuyên môn hoá cao của đội ngũ lao động nhằm đạt được năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh lớn hơn nhiều lần
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, người lao động còn phải biết chủ động hội nhập quốc tế Khác với toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế là hành động chủ quan, có chủ đích của con người nhằm khai thác nguồn lực bên ngoài để tăng cường sức mạnh của đất nước mình Hội nhập quốc tế cũng
có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên ngoài; hội nhập nhưng không hoà tan, vẫn bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc mình và nhất là bảo vệ được nền độc lập dân tộc Trong điều kiện như vậy, người lao động ngoài bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức dân tộc cao, còn phải có trình độ trí tuệ ngang tầm ít nhất so với khu vực Đông Nam Á Điều này đòi hỏi phải cơ cấu lại đội ngũ lao động theo hướng có lực lượng nòng cốt, lực lượng dẫn đầu và nhân tài
Lực lượng nòng cốt của đội ngũ lao động là những công nhân lành nghề - những người trực tiếp sản xuất hàng hoá và cung ứng dịch vụ cho người tiêu dùng cả ở trong nước và nước ngoài Do đó, họ phải có một trình
độ trí tuệ nhất định để tiếp thu và làm chủ được công nghệ tiên tiến Hơn thế nữa, với những tri thức khoa học và những kinh nghiệm tích luỹ được trong
Trang 31quá trình sản xuất trực tiếp, người công nhân không những sử dụng các công
cụ lao động hiện có, mà còn có thể sáng chế ra những tư liệu lao động mới, hoàn thiện kỹ thuật và phương pháp sản xuất Lực lượng lao động dẫn đầu là đội ngũ trí thức
Với cơ cấu đồng bộ trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ, quản lý kinh tế - xã hội, văn hoá - văn nghệ, họ phải thành thạo chuyên môn, nghề nghiệp, có năng lực tiếp thu, chọn lọc và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại, những tinh hoa của văn hoá, văn minh thế giới, những di sản văn hoá dân tộc và văn hoá phương Đông vào thực tiễn Việt Nam Đồng thời, họ phải có năng lực sáng tạo về lí thuyết cũng như thực hành, nhằm giải quyết những vấn đề trước mắt cũng như lâu dài của đất nước
Đội ngũ trí thức phải thực hiện có hiệu quả các chức năng: nghiên cứu, thiết kế, tham mưu, sáng tác; thực hiện, thi hành, ứng dụng, phát triển; giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện; quản lí, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo Bộ phận nhân tài có vai trò thực sự quan trọng trong đội ngũ lao động Bộ phận này là hạt nhân có chất lượng cao, có năng lực khai phá những con đường mới
mẻ trong nghiên cứu khoa học để đạt được những thành tựu mới, phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá Số lượng của đội ngũ này không nhất thiết phải đông, nhưng thực sự là đội ngũ các nhà khoa học đầu đàn, tiêu biểu cho tinh thần trí tuệ của dân tộc
Một yếu tố không thể thiếu đối với nguồn nhân lực chất lượng cao là sức khoẻ Sức khoẻ ngày nay không chỉ được hiểu là tình trạng không có bệnh tật, mà còn là sự hoàn thiện về mặt thể chất lẫn tinh thần Mọi người lao động,
dù lao động cơ bắp hay lao động trí óc đều cần có sức vóc thể chất tốt để duy trì và phát triển trí tuệ, để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, biến tri thức thành sức mạnh vật chất Hơn nữa cần phải có sự dẻo dai của hoạt động
Trang 32thần kinh, niềm tin và ý chí, khả năng vận động của trí lực trong những điều kiện khác nhau hết sức khó khăn và khắc nghiệt
Nền sản xuất công nghiệp còn đòi hỏi ở người lao động hàng loạt năng lực cần thiết như: có kỷ luật tự giác, biết tiết kiệm nguyên vật liệu và thời gian, có tinh thần trách nhiệm trong việc bảo dưỡng thiết bị máy móc, phương tiện sản xuất, có tinh thần hợp tác và tác phong lao động công nghiệp, lương
tâm nghề nghiệp, , nghĩa là phải có văn hoá lao động công nghiệp Một trong
những phẩm chất quan trọng nhất của văn hoá lao động công nghiệp là tinh thần trách nhiệm cao đối với chất lượng sản phẩm
Giờ đây, nền kinh tế hàng hoá với cơ chế thị trường đòi hỏi phải thay đổi kiểu quan hệ đó, tức là người tiêu dùng, chứ không phải người sản xuất, qui định mặt hàng và chất lượng hàng hoá, còn người sản xuất phải đáp ứng nhu cầu đó Trong nền kinh tế thị trường, việc sản xuất hàng hoá chất lượng cao với giá cả hợp lí cũng đáp ứng lợi ích của chính người sản xuất Tuy nhiên cũng chính trong nền kinh tế thị trường, dưới áp lực của lợi nhuận, của động cơ kiếm tiền bằng mọi cách, đã xuất hiện một hiện tượng tiêu cực mới,
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn đụng chạm đến các vấn đề phức tạp trong quan hệ giữa con người với thiên nhiên Nó đòi hỏi con người
Trang 33phải có hiểu biết và trách nhiệm cao trong việc bảo vệ, cải thiện môi trường
sinh thái vì sự phát triển bền vững, nói một cách ngắn gọn là phải có văn hoá sinh thái Đây là vấn đề cấp bách, sống còn không chỉ đối với mỗi quốc gia -
dân tộc mà còn đối với nền văn minh nhân loại Vì vậy, bảo vệ môi trường là
sự nghiệp của toàn dân, bao gồm mọi lứa tuổi, song đối với người lao động trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phải được nâng lên thành văn hoá sinh thái Khái niệm "văn hoá sinh thái" bao gồm cả quan điểm, nhận thức, thái độ, hành vi, lối sống, cách ứng xử đúng đắn của người lao động đối với tự nhiên; cả việc phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hậu quả của sản xuất công nghiệp gây ra; cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên, thích nghi với tự nhiên và đấu tranh chống lại việc tàn phá tự nhiên
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá, người lao động còn phải có năng lực xử lí mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và thời đại Truyền thống được hiểu là: phức hợp những tư tưởng, tình cảm, những tập quán, thói quen, những phong tục, lối sống, cách ứng xử, ý chí của một cộng đồng người đã hình thành trong lịch sử, đã trở nên ổn định và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Như vậy, truyền thống có cả mặt tích cực và tiêu cực dù muốn hay không vẫn để lại dấu ấn vào hiện tại, và ở mức độ nhất định, có thể còn ảnh hưởng đến sự vận động của tương lai Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi người lao động vừa biết kế thừa những giá trị truyền thống, vừa biết phát triển những giá trị
đó lên tầm cao hơn, đồng thời tiếp thu những tinh hoá quý giá của văn hoá nhân loại Nếu không biết kết hợp truyền thống với cách tân để vượt lên, để hội nhập, để tìm mọi cách bước vào xã hội hiện đại thì tương lai chỉ là sự tụt hậu
Nguồn nhân lực chất lượng cao của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải là những con người “bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và
Trang 34trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó…” [26, tr.323] Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”, đó là “người lao động
có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại” [19, tr.11]
Việc xác lập các chuẩn mực, định hướng các giá trị xã hội để xây dựng
và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là hết sức cần thiết Chìa khóa vạn năng để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chính là phải nâng cao giáo dục toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lí, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện "chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa", chấn hưng nền giáo dục Việt Nam
Cũng ngay từ đầu công cuộc đổi mới, Đảng ta đã đề ra tư tưởng về chiến lược con người, xem tư tưởng văn hóa là một mặt trận, giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, quan tâm xây dựng sự nghiệp văn học nghệ thuật, khoa học công nghệ nhằm phát huy nguồn lực con người, xem đó là nguồn tài nguyên quý giá nhất của đất nước Qua các kỳ đại hội, nghị quyết của Đảng đều chú trọng đến vấn đề này, nhất là chủ trương quan trọng của Bộ Chính trị
về “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được mở rộng từ trong Đảng ra ngoài nhân dân và thu được nhiều thành quả bước đầu
Tuy nhiên, về vấn đề có tầm chiến lược này, từ nhận thức lý luận đến thực tế thực hiện còn một khoảng cách rất xa Sức ép của cuộc sống làm cho Đảng, nhân dân ta phải tập trung sức lực và trí tuệ vào công cuộc đổi mới về
Trang 35kinh tế nhằm giải phóng sức sản xuất xã hội, tăng thêm của cải, hàng hóa, thúc đẩy và duy trì tăng trưởng kinh tế, đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của đất nước và của nhân dân về đời sống vật chất Khó khăn và khủng hoảng kinh tế
ở hai thập niên cuối thế kỷ XX có tác động mạnh về tâm lí và tinh thần trong Đảng và trong nhân dân Nỗi lo đói nghèo và tụt hậu về kinh tế thường xuyên
ám ảnh chúng ta Cộng thêm vào đó, thiên tai hàng năm cùng với mối đe dọa
về biến đổi khí hậu, về tàn phá môi trường làm cho chúng ta luôn luôn cảm thấy lo lắng, nhức nhối Do đó, nhiệm vụ phát triển kinh tế trở thành nhiệm vụ trọng tâm, luôn luôn choán hết lo toan của chúng ta từ trong Đảng đến ngoài dân Vì vậy, tuy nêu vấn đề con người thành vấn đề chiến lược, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt; song mọi sự đầu tư, quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân chưa phải ở mức cao nhất, quyết liệt nhất Giữa phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề đời sống vật chất với chăm lo xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng con người Việt Nam tiên tiến, tốt đẹp, trên thực tế còn một sự chênh lệch rất lớn Trong các cuộc sinh hoạt Đảng, đã có các vị cách mạng lão thành lên tiếng cảnh báo: Đảng ta chỉ lo phát triển kinh
tế mà không lo cải tạo xã hội và xây dựng con người? Đến một lúc nào đó, sự mất cân đối đó sẽ gây tai họa
Có thể thấy, sự lo lắng trên đây rất có cơ sở Sự suy thoái về đạo đức, lối sống từ trong Đảng, Nhà nước đến ngoài xã hội, nhân dân, các tệ nạn xấu trở thành thường xuyên Tuy đời sống vật chất trong các tầng lớp nhân dân đều có cải thiện song niềm phấn khởi, niềm tin tưởng trong nhân dân có phần giảm sút Kinh tế dĩ nhiên không thể phát triển bằng đạo đức Song dưới chế
độ chúng ta, khủng hoảng về đạo đức có thể gây ra khủng hoảng về kinh tế, ví
dụ từ khủng hoảng của Vinashin Tình trạng đổ vỡ ở đây là do xây dựng Đảng, xây dựng con người ở đây thất bại Tai họa này cũng đang tiềm ẩn ở khắp nơi, trong các lĩnh vực xây dựng đất nước của chúng ta, từ kinh tế đến
Trang 36chính trị, đến văn hóa Ngay các lĩnh vực hoạt động thường có sứ mệnh cao quý là chăm lo cho đời sống tinh thần đạo đức của con người như văn học - nghệ thuật, giáo dục - đào tạo, tư tưởng - văn hóa, những cái tiêu cực vẫn chiếm thượng phong so với những cái tích cực, người xấu, việc xấu đâu đó vẫn lấn át người tốt, việc tốt
Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và bao cuộc vận động khác về xây dựng đời sống, nếp sống văn hóa, văn minh từ cơ sở đến các ngành các cấp vẫn gặp nhiều khó khăn, trở ngại khi niềm tin của con người vào sức mạnh của những điều tốt đẹp có phần suy giảm Tệ hại nhất, đáng lo nhất là điều này lại diễn ra trong nhà trường, trong
hệ thống giáo dục quốc dân vốn là những nơi được xem là các lò luyện nhân cách cao quý, tốt đẹp của con người từ tuổi ấu thơ cho đến lúc trưởng thành Những cái xấu của xã hội truyền vào nhà trường, của người lớn nhiễm vào con trẻ
Nhìn lại thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, qua hai nhiệm kỳ Đại hội Đảng thứ IX và X, sự phát triển kinh tế của chúng ta tuy đạt được những bước tiến đầy ấn tượng, kể cả đối với sự quan sát từ nước ngoài, song đi đôi với sự phát triển kinh tế đó, cuộc khủng hoảng về xã hội và văn hóa, tức là cuộc khủng hoảng về con người Việt Nam trong bối cảnh thiên nhiên và lịch sử hiện tại, còn tồn tại nhiều thách thức bên cạnh rất ít thời cơ
Đại hội Đảng lần thứ XI cùng với cương lĩnh mới của Đảng trong thế
kỷ XXI đã chỉ ra được các thành tựu lớn lao và các vấn đề gay gắt của đất nước khi bước vào thập niên 2011- 2020 Đảng đã đề ra được chiến lược mới cho sự phát triển của đất nước trong đó nhất định phải thực hiện cho được sự cân đối giữa phát triển kinh tế với công bằng và an sinh xã hội, giữa phát triển kinh tế - xã hội với phát triển tư tưởng văn hóa, đặc biệt chiến lược xây dựng con người Việt Nam thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiến tới một nước
Trang 37Việt Nam phát triển toàn diện vào năm 2020, ở đó “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người” [8, tr.628] như trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (1848) đã nêu lên Không có sự phát triển đó của con người Việt Nam, sẽ không có cái gì gọi là chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản Nghĩa là Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ không thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình, lí tưởng cao cả của mình, mặc dù nó được một con người cao cả và tốt đẹp nhất của dân tộc và của thời đại sáng lập ra Đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư tưởng của Người, giản dị như chân lí: “Muốn có chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa” [28, tr.310] Đó là con người sống có lí tưởng cao đẹp và có năng lực hoạt động, biến lí tưởng thành hiện thực Có những phẩm chất nhân cách đó, con người chúng ta vẫn vững vàng, tự chủ thực hiện thành công nhiệm vụ trung tâm công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
mà không bị tác động bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường và không bị biến chất bởi kẻ thù thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình
Chủ tịch Hồ chí minh kính yêu của chúng ta thường gắn khái niệm con người, nhiệm vụ phát triển con người toàn diện với nhiệm vụ xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Con người mới xã hội chủ nghĩa là con người có
cả đức lẫn tài, vừa “hồng” vừa “chuyên” theo định hướng lí tưởng chủ nghĩa
xã hội Trong quan niệm của Người, con người phát triển toàn diện không phải là một khái niệm nhất thành bất biến mà có thể biến đổi theo từng giai đoạn cụ thể của cách mạng Quan điểm này rất có ý nghĩa trong giai đoạn có
nhiều biến động như hiện nay
Nghị quyết đại hội đảng VIII và nghị quyết đại hội IX của Đảng đã khẳng định: nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, là yếu tố cơ bản
Trang 38để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh Phát triển con người Việt Nam đó là động lực, là mục tiêu nhân văn, là nền tảng, cơ sở lâu bền, tạo
đà cho bước phát triển tiếp theo của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa xã hội mà Đảng lãnh đạo nhân dân ta từng bước thực hiện
Sau hơn ba mươi năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa được đề ra từ đại hội VI của Đảng, giờ đây chúng ta đang bước vào thời kì phát triển mới – thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Định hướng phát triển như văn kiện đại hội IX của Đảng một lần nữa nhấn mạnh nhằm xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lí, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh có hiệu quả Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng… ngày càng được tăng cường, tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế văn hoá với tăng cường quốc phòng an ninh; thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh Về thực chất là phát triển con người vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho quần chúng nhân dân lao động Mọi sự phát tiển của xã hội trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội đều do con người quyết định và đều hướng về con người, hướng về một cuộc sống tốt đệp hơn của mỗi người, mỗi dân tộc trong cộng đồng việt nam Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu con người, sự phát tiển của con người làm thước đo chung
Trang 39Tóm lại, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nước ta phải hội nhập với thế giới Để có thể thành công trong hội nhập và bắt kịp sự phát triển, chất lượng người lao động phải được nâng cao và dần dần đạt chuẩn mực quốc tế Trong hầu hết các lĩnh vực, lao động ngày càng trở thành lao động trí tuệ và do vậy người lao động cũng đang trở thành người lao động có trí tuệ Chúng ta cần tiến hành các nghiên cứu về người lao động nước ta để xây dựng chiến lược phát triển con người và nguồn nhân lực tận dụng thế mạnh của con người Việt Nam, nhanh chóng đào tạo và phát triển họ theo các chuẩn mực quốc tế
2.1.2 Kinh tế - xã hội Việt Nam sau hơn 30 năm đổi mới
Trong một vài thập niên vừa qua, Việt Nam đã trải qua một thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng Sau khi thống nhất năm 1975, Việt Nam đã chuyển sang tập trung tái thiết và phát triển đất nước Tuy nhiên, do
sự tàn phá khốc liệt của nhiều năm chiến tranh, do những yếu kém về chính sách và môi trường quốc tế có nhiều khó khăn, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua một thời kì khủng hoảng kéo dài trong những năm 70 và 80 Để vượt qua những khó khăn đó, quá trình đổi mới đã được khởi xướng năm 1986 với những nội dung chính sau đây:
- Chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung dựa trên sở hữu nhà nước sang một nền kinh tế nhiều thành phần dựa trên thị trường;
- Dân chủ hoá đời sống xã hội thông qua việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân;
- Tăng cường hợp tác quốc tế với các quốc gia khác trên thế giới.Nhờ đó hơn ba mươi năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử, thay đổi đời sống mọi mặt của người dân: kinh tế tăng trưởng ở mức tương đối cao, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, tình hình chính trị và xã hội ổn định, quan hệ đối ngoại được
mở rộng và vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế
Trang 40Thành tựu nổi bật nhất là Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao trong nhiều năm liên tục (đứng thứ hai châu Á) Trong vòng 10 năm từ 1991 đến 2000, GDP của Việt Nam đã tăng gấp đôi, với tỉ lệ tăng bình quân hàng năm là 7,5% Từ năm 2001 đến nay, GDP tăng trưởng trung bình trên 7%/năm Riêng năm 2004, GDP tăng 7,6% so với năm 2003 Cơ cấu kinh
tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng dần, tỉ trọng nông nghiệp giảm dần
Môi trường đầu tư nước ngoài của Việt Nam ngày càng thông thoáng Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cùng hàng loạt các văn bản pháp luật khác từng bước tạo lập một hệ thống pháp luật minh bạch và hấp dẫn đối với các doanh nghiệp nước ngoài Tính đến hết tháng 11 năm 2004, có hơn 5.100
dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng kí trên 45,5 tỉ USD, trên 50% số dự án đã đi vào hoạt động với số vốn thực hiện trên 26 tỉ USD Riêng năm 2004, Việt Nam thu hút được 4,1 tỷ USD FDI trong đó 2,3
tỉ USD là dự án mới còn 1,8 tỉ là vốn bổ sung Doanh nghiệp FDI đóng góp gần 15% GDP, chiếm trên 30% tổng kim ngạch xuất khẩu, đóng góp 4,9% tổng thu ngân sách Nhà nước và tạo ra hàng vạn công ăn việc làm
Xuất khẩu Việt Nam cũng tăng liên tục trong nhiều năm, đạt 26 tỉ USD năm 2004, tăng 30% so với 2003 Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về một số mặt hàng nông sản như gạo, cà phê, hồ tiêu… Những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 2 tỉ USD là dầu thô, hàng dệt may, giày dép Có hai mặt hàng mới của Việt Nam đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD là đồ gỗ và hàng điện tử máy tính Kim ngạch nhập khẩu năm 2004 đạt khoảng 31,5 tỉ USD tăng 25% so với 2003 Nhập siêu ước đạt 5,5 tỉ USD, bằng 21,2% kim ngạch xuất khẩu Riêng trong lĩnh vực kinh
tế, kể từ khi Luật Doanh nghiệp 4 năm trước đây, hơn 75 nghìn doanh nghiệp