1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học môn giáo dục công dân trong trường THPT ở Việt Nam hiện nay

71 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 545,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các yếu tố cơ bản của QTDH có mối quan hệ gắn bó mật thiết tạo thành một vòng tròn khép kín, vòng này là tiền đề, cơ sở cho vòng khác tiếp tục việc thực hiện liên tiếp các vòng đó của ng

Trang 1

KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

********

NGUYỄN THỊ HÀ

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỔI MỚI PPDH MÔN GDCD TRONG TRƯỜNG THPT Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học môn GDCD

Người hướng dẫn khoa học :

GV NGUYỄN QUANG THUẬN

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngoài sự cố gắng của bản thân,

em còn nhận được sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè Em xin bày tỏ lòng biết

ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy Nguyễn Quang Thuận – người đã tận

tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này

Em xin được chân thành cảm ơn các thầy cô trong trường Đại học Sư

phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Giáo dục chính trị đã

giảng dạy, chỉ bảo em trong suốt thời gian qua

Tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên đã góp ý và ủng hộ tôi hoàn thành khóa luận này

Do điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, tháng 5 năm 2011

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Hà

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới

sự hướng dẫn của thầy giáo Nguyễn Quang Thuận

Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 5 năm 2011

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Hà

Trang 4

NCKH : Nghiên cứu khoa học

NDDH : Nội dung dạy học

PPDH : Phương pháp dạy học

PPGD : Phương pháp giảng dạy

PTDH : Phương tiện dạy học

QTDH : Quá trình dạy học

THCS : Trung học cơ sở

THPT : Trung học phổ thông

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 6

Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung về phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân 6

1.1 Phương pháp dạy học và phương pháp dạy học môn GDCD 6

1.2 Đặc điểm cơ bản của môn GDCD ở trường THPT 15

1.3 Hệ thống các PPDH môn GDCD ở trường THPT hiện nay 21

Chương 2: Đổi mới PPDH môn GDCD trong trường THPT ở Việt Nam hiện nay 25

2.1 Quan niệm về đổi mới PPDH môn GDCD 25

2.2.Thực trạng việc thực hiện đổi mới PPDH môn GDCD trong trường THPT ở Việt Nam hiện nay 28

2.3 Định hướng đổi mới PPDH môn GDCD 39

2.4 Một số biện pháp đổi mới PPDH môn GDCD trong trường THPT ở Việt Nam hiện nay 48

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Lịch sử nhân loại đã bước sang một kỉ nguyên mới – kỉ nguyên của thông tin tri thức Thông tin và tri thức được coi là tài sản vô giá, là quyền lực tối ưu của mỗi quốc gia Sự phát triển như vũ bão của khoa học – kĩ thuật và công nghệ đã dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng khối lượng tri thức của nhân loại cũng như tốc độ ứng dụng chúng vào đời sống xã hội tạo nên sự đa dạng của thế giới Tình hình đó đã làm thay đổi những quan niệm về giáo dục Ngày nay giáo dục được xem là chìa khóa vàng để mỗi người, mỗi quốc gia tiến bước vào tương lai, là ngành sản xuất mà lợi nhuận của nó khó có thể đong đếm được Giáo dục không chỉ có chức năng truyền tải những kinh nghiệm lịch sử xã hội của thế hệ trước cho thế hệ sau, mà quan trọng hơn là trang bị cho mỗi người phương pháp học tập, tìm cách phát triển năng lực nội sinh, phát triển tư duy nội tại, thích ứng với một xã hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời Để giúp người học đáp ứng được những yêu cầu đó, việc cải cách, đổi mới giáo dục là một việc làm hết sức cần thiết và cấp bách, trong đó đổi mới PPDH là khâu then chốt nhất trong quá trình đạt đến mục tiêu đổi mới giáo dục

Nhận thức được việc đổi mới phương pháp giảng dạy và phương pháp học tập là một trong những vấn đề bức thiết hiện nay ở nước ta, Đảng và Nhà nước cũng như Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra nhiều Nghị quyết, Chỉ thị như: Nghị quyết Trung Ương 4 khóa VII, Nghị quyết Trung Ương 2 khóa VIII, Chỉ thị số 15/1999/CT-BGD&ĐT Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 (Điều 5) đã ghi: “Phương pháp giảng dạy phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học;

Trang 7

bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”[16, tr.7]

Ở cấp học phổ thông, môn GDCD là một trong những môn học cơ bản góp phần tạo nên nội dung dạy học, giáo dục toàn diện Việc hình thành và giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học cho học sinh do tất cả các môn học, các hình thức giáo dục của nhà trường thực hiện Song chỉ có môn GDCD mới có thể trực tiếp giáo dục cho học sinh những tri thức theo một hệ thống xác định toàn diện về thế giới quan và nhân sinh quan, mới có thể cho học sinh hiểu được quy luật phát triển tất yếu khách quan của

xã hội loài người, giúp cho học sinh nhận thức đúng đắn, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có ý thức trách nhiệm cao đối với Tổ quốc, đối với nhân dân, đối với gia đình và đối với chính bản thân mình Đồng thời đây cũng là môn học kích thích mạnh mẽ sự phát triển năng lực trí tuệ chung như:

tư duy trừu tượng, tư duy logic, biện chứng… và rèn luyện thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát… cũng như những phẩm chất của

tư duy: linh hoạt, độc lập, sáng tạo

Nhưng thực tế dạy học môn GDCD hiện nay cho thấy: PPDH vẫn chủ yếu là lối truyền thụ một chiều, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học Với PPDH như vậy sẽ không đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của môn học và làm giảm sút vị trí của môn học, không đáp ứng được đòi hỏi về đào tạo con người lao động mới phát triển toàn diện, phù hợp với yêu cầu của xã hội và thời đại

Từ những yêu cầu bức thiết trên, với mong muốn góp một phần sức lực nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng học tập môn GDCD ở trường

THPT hiện nay, tôi mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số vấn đề về

đổi mới PPDH môn GDCD trong trường THPT ở Việt Nam hiện nay”

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Đổi mới PPDH đã và đang trở thành vấn đề cấp thiết, là mối quan tâm không chỉ của ngành Giáo dục và Đào tạo mà còn là mối quan tâm chung của toàn xã hội

Đến nay đã có nhiều hội thảo mang tầm cỡ cấp quốc gia đã diễn ra như: Hội thảo khoa học “Đổi mới PPDH và phương pháp đánh giá đối với giáo dục phổ thông, Cao đẳng và Đại học Sư phạm” được tổ chức tại Hội trường lớn trường Đại học Sư phạm Hà Nội tháng 11 năm 2006,

Hội thảo chuyên đề “Đổi mới PPDH” diễn ra ngày 17/3/2009 do trường Đại học Sài Gòn tổ chức,

Hội thảo chuyên đề “Đổi mới PPDH theo hướng tích cực” diễn ra ngày 8/10/2010 do trường Đại học Quảng Nam tổ chức…

Đã có nhiều cuốn sách có giá trị lí luận và giá trị thực tiễn được xuất bản như:

“Đổi mới PPDH, chương trình và sách giáo khoa” của Trần Bá Hoành, Nxb Đại học Sư phạm 2007

“Đổi mới PPDH trong các trường Đại học, Cao đẳng, đào tạo giáo viên THCS” – Tài liệu nâng cao năng lực PPDH cho giáo viên cốt cán các trường ĐHSP, CĐSP – Dự án đào tạo giáo viên THCS – 2007

Ngoài ra còn hàng loạt các bài nghiên cứu, tham luận, báo cáo khoa học đăng trên các báo, các Kỉ yếu khoa học như:

Bài “Bản chất của việc dạy học lấy HS làm trung tâm” của Trần Bá Hoành, Kỉ yếu hội thảo khoa học, “Đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hóa người học” – Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 1995, trang 147

Bài “Đổi mới PPDH nhằm phát huy khả năng tự học” của tác giả Dương Thị Trúc Bạch đăng trên Tạp chí Dạy và học ngày nay, Số 12/2004

Trang 9

Bài “Đổi mới PPDH ở trường THPT và những yêu cầu đặt ra đối với việc đào tạo giáo viên trong các trường ĐHSP” của Tiến sĩ Phạm Thị Kim Anh đăng trên tạp chí Dạy và học ngày nay, Số 12/2006, trang 9

Bài “Bàn về cái “khó” của việc đổi mới PPDH theo quan điểm hướng vào người học” của Phạm Thị Kim Anh đăng trên Tạp chí Dạy và học ngày nay, Số 6/2010, trang 22

Bài “Đổi mới PPDH hay thay đổi triết lí dạy học?” của tác giả Kỳ Hoa đăng trên Tạp chí Dạy và học ngày nay số 7/201, trang 9, 10

Như vậy, vấn đề đổi mới PPDH đã được nghiên cứu ở nhiều cấp độ, nhiều phương diện, song đến nay chưa có cuốn sách, đề tài nghiên cứu nào đề cập đến việc đổi mới PPDH môn GDCD ở bậc học THPT một cách hệ thống

và hoàn chỉnh Do đó, tôi đã chọn đề tài: “Một số vấn đề về đổi mới PPDH

môn GDCD trong trường THPT ở Việt Nam hiện nay” làm khóa luận tốt

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

- Tìm hiểu cơ sở lí luận chung về PPDH GDCD, quan niệm về đổi mới PPDH môn GDCD

- Tìm hiểu thực trạng việc đổi mới PPDH môn GDCD ở trường THPT hiện nay, vạch rõ nguyên nhân của vấn đề tồn tại trong quá trình thực hiện đổi

Trang 10

mới PPDH môn GDCD ở trường THPT, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng trên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng

- Vấn đề đổi mới PPDH môn GDCD ở trường THPT hiện nay

- Hoạt động dạy và học môn GDCD ở trường THPT

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Do thời gian có hạn nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu thực trạng việc đổi mới PPDH ở trường THPT Phả Lại (Hải Dương), THPT Nguyễn Du (Hải Dương), THPT Xuân Hòa (Vĩnh Phúc)

5 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận lấy phương pháp nghiên cứu của CNDVBC, CNDVLS và một số phương pháp khác như phân tích – tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa, so sánh, điều tra để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa bao gồm:

Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung về PPDH môn GDCD

Chương 2: Đổi mới PPDH môn GDCD trong trường THPT ở Việt Nam hiện nay

Trang 11

CHƯƠNG1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG

PHÁP DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

1.1 Phương pháp dạy học và phương pháp dạy học môn GDCD

1.1.1 Quan niệm về PPDH

Thuật ngữ “phương pháp” xuất phát từ tiếng Hi Lạp cổ “Methodos” có nghĩa là con đường, cách thức đạt tới mục đích nhất định Phương pháp là hình thức vận động bên trong của nội dung, do nội dung quy định, nó gắn liền với hoạt động của con người, giúp con người hoàn thành được những nhiệm

vụ phù hợp với mục đích đề ra Do vậy, phương pháp bao giờ cũng có tính mục đích, tính cấu trúc và luôn gắn liền với nội dung

Như vậy, chúng ta có thể hiểu phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới mục đích nhất định, là hoạt động được sắp xếp theo một trật tự nhất định để giải quyết những nhiệm vụ nhất định trong nhận thức

và trong thực tiễn

Phương pháp là phạm trù gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, giúp con người nhận thức được hiện thực khách quan, nhận thức được thực tiễn, mà hiện thực khách quan và thực tiễn được vận động theo những quy luật khách quan của bản thân và chịu sự tác động hợp quy luật của thế giới xung quanh Do đó, phương pháp là một trong những yếu tố quyết định thành công hay thất bại trong hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn của con người Không có phương pháp, con người sẽ hành động không có kết quả thậm chí phạm sai lầm, thất bại, đúng như R Đêcac – nhà triết học duy vật Pháp thế kỷ XVIII khẳng định “Thiếu phương pháp thì người tài cũng không thể đạt kết quả, có phương pháp thì người tầm thường cũng làm được việc phi thường”

Trang 12

Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phương pháp có vai trò rất quan trọng Trong giáo dục nói chung và dạy học nói riêng, phương pháp là đặc biệt cần thiết vì phải giúp cho người học bằng sự nỗ lực cố gắng của bản thân, dưới sự hướng dẫn của giáo viên chiếm lĩnh được kiến thức bằng con đường ngắn nhất Vì thế kết quả giáo dục cũng như dạy học trong nhà không chỉ được đánh giá ở mặt nội dung mà ở cả phương pháp Để có phương pháp đúng, con người không thể chỉ tích lũy kinh nghiệm thực tiễn mà trên cơ sở kinh nghiệm con người cần lựa chọn, phân tích, rút ra những cơ sở lí luận để chỉ đạo hoạt động thực tiễn Do đó, việc dạy học không thể chỉ tiến hành bằng kinh nghiệm, bằng cách truyền nghề một cách đơn giản mà phải dựa vào cơ

sở lí luận khoa học về phương pháp được đúc kết từ thực tiễn, có như vậy quá trình dạy học mới đạt kết quả cao hơn, vững chắc hơn

Trong nhà trường, QTDH bao gồm rất nhiều yếu tố tác động qua lại với nhau Trong phạm vi hoạt động trên lớp của người dạy và người học, QTDH gồm ba yếu tố cơ bản là nội dung môn học, người dạy, người học Các yếu tố cơ bản nằm trong một chỉnh thể thống nhất, ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau, có quan hệ rất chặt chẽ với nhau

Quan hệ giữa nội dung môn học và người dạy là quan hệ xử lí thông tin khoa học của người dạy Thông tin khoa học là nội dung tri thức đã được xác định trong sách giáo khoa và mang tính pháp lệnh Người dạy phải nắm vững thông tin đó, tìm ra thông tin khoa học cơ bản nhất chi phối những thông tin khác để chuyển giao cho người học, để người học có thể tiếp nhận và xử lí chúng

Quan hệ giữa người dạy và người học là quan hệ tiếp nhận thông tin của người học Sau khi xử lí đầy đủ, chính xác các thông tin người dạy tìm ra phương thức chuyển giao thông tin phù hợp với khả năng tiếp nhận thông tin của người học Để phương thức chuyển giao thông tin của người dạy và khả

Trang 13

năng tiếp nhận thông tin của người học đạt hiệu quả cao, một mặt người dạy phải có PPDH tốt, luôn luôn có những thay đổi đáp ứng nhu cầu và năng lực nhận thức của người học nhằm kích thích hứng thú nhận thức của họ Mặt khác, người học phải tích cực, chủ động tiếp nhận thông tin, phải luôn tạo ra nhu cầu khao khát tri thức khoa học mới

Quan hệ giữa người học và nội dung môn học là quan hệ xử lí thông tin

đã thu nhận được của người học Sau khi đã tiếp nhận thông tin do giáo viên chuyển giao, học sinh phải xử lí thông tin đó, biến tri thức khoa học thu nhận được thành tri thức của bản thân mình Muốn tiếp nhận thông tin tốt, chính xác thì người học phải có hứng thú đối với thông tin, phải có phương pháp nhận thức khoa học do người dạy trang bị thông qua việc chuyển giao thông tin và phải tập vận dụng thông tin vào việc giải quyết những vấn đề của thực tiễn từ đơn giản đến phức tạp

Các yếu tố cơ bản của QTDH có mối quan hệ gắn bó mật thiết tạo thành một vòng tròn khép kín, vòng này là tiền đề, cơ sở cho vòng khác tiếp tục việc thực hiện liên tiếp các vòng đó của người dạy và người học sẽ giúp người dạy hình thành và xây dựng PPDH bộ môn với tư cách là khoa học nâng cao nhận thức khoa học và có thái độ học tập đúng đắn

Bản chất của QTDH là quá trình xử lí, chuyển giao thông tin tri thức của người dạy và quá trình thu nhận, xử lí thông tin đó của người học Tính hiệu quả của quá trình này không những phụ thuộc vào chất lượng của thông tin mà quan trọng hơn là phụ thuộc vào phương pháp thực hiện hoạt động đó

Vì vậy, để dạy học đạt kết quả người dạy cần có những PPDH thích hợp Trong thực tiễn, căn cứ vào các cấp độ của QTDH, khái niệm PPDH là khái niệm đa cấp độ Cấp độ rộng nhất, PPDH là quan điểm, tư tưởng về tổ chức dạy học, là cách thức triển khai một hệ thống dạy học đa tầng, đa diện cho một cấp học, ngành học, phương thức học

Trang 14

Cấp độ hai, PPDH là chiến lược và mô hình dạy học, là cách thức triển khai một QTDH cụ thể, diễn ra theo một quy trình, trong một thời gian, không gian nhất định và được cấu trúc bởi mục tiêu, nội dung dạy học, các hoạt động dạy - học và kết quả dạy học Tức là cách thức hình thành mục tiêu dạy học, cách thức soạn thảo và triển khai nội dung dạy học, cách thức tổ chức hoạt động dạy và hoạt động học, cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả của QTDH nhằm hiện thực hóa mục tiêu, nội dung dạy học

Cấp độ ba, PPDH là những PPDH cụ thể là cách thức tiến hành các hoạt động của người dạy và người học nhằm thực hiện một nội dung dạy học

đã được xác định

Những cấp độ đó cho thấy PPDH không phải là một thực thể độc lập, tồn tại vì mục đích tự thân mà PPDH là hình thức vận động của một hoạt động đặc thù – hoạt động dạy học Do đó trong lí luận dạy học có khá nhiều định nghĩa về PPDH, có thể nêu một vài định nghĩa về PPDH:

Trong cuốn sách: Lí luận dạy học – sách dịch 1978, các nhà giáo dục

học Kazanky và Nazarova định nghĩa: “Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động làm việc của giáo viên và học sinh để học sinh lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo” [32, tr.174]

Trong cuốn sách: Lí luận dạy học đại cương của tác giả Nguyễn Ngọc

Quang, nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội năm 1989, phương pháp dạy học được định nghĩa như sau: “Phương pháp dạy học là con đường chính yếu, cách thức làm việc phối hợp thống nhất của thầy và trò, trong đó thầy truyền đạt nội dung trí dục để trên cơ sở đó và thông qua đó chỉ đạo sự học của trò; còn trò lĩnh hội và tự chỉ đạo sự học tập của bản thân để cuối cùng đạt tới mục đích dạy học” [27, tr.47]

Cho đến nay, vẫn chưa có định nghĩa tuyệt đối chính xác về PPDH Tuy nhiên, các quan điểm về PPDH đều thừa nhận PPDH có những đặc trưng:

Trang 15

PPDH phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của người học nhằm đạt mục đích học tập; PPDH phản ánh cách thức hoạt động, tương tác, sự trao đổi thông tin (truyền đạt và lĩnh hội) giữa người dạy và người học; PPDH phản ánh cách thức tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người dạy như: kích thích và xây dựng động cơ, tổ chức các hoạt động nhận thức và kiểm tra đánh giá kết quả nhận thức của người học…; PPDH còn phản ánh cách thức

tự tổ chức, tự điều khiển, tự kiểm tra đánh giá của người học Như vậy, PPDH được hiểu là cách thức hoạt động phối hợp, thống nhất của người học và người dạy nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và nhiệm vụ dạy học ở nhà trường

1.1.2 Cấu trúc của PPDH

Mỗi PPDH có cấu trúc nhiều tầng bao gồm bốn nhân tố có quan hệ mật thiết với nhau:

- Tầng phương pháp luận (Hướng tiếp cận đối tượng)

- Tầng lí luận (Nội dung lí luận của phương pháp)

- Tầng kĩ thuật (Hệ thống biện pháp kĩ thuật)

- Tầng nghệ thuật (Các thủ pháp nghệ thuật có tính sáng tạo)

 Tầng phương pháp luận

Trước khi triển khai một hoạt động dạy học nào đó, cả người dạy và người học đều phải xác định hướng tiếp cận đối tượng của mình Đó là việc xác định mục đích của hoạt động dạy học là gì? Dạy học để hướng đến hình thành kĩ năng, hành động (hành vi), cung cấp tri thức cho người học hoặc hướng phát triển nhân cách của họ Đó là cơ sở để xây dựng các nguyên tắc hoạt động Quan điểm hướng tiếp cận đối tượng có vai trò quyết định việc lựa chọn PPDH cụ thể và các PTDH phù hợp

 Tầng lí luận

Nội dung của PPDH bao gồm sự mô tả toàn bộ nội dung của PPDH, từ

cơ sở lí luận đến các biện pháp tiến hành, từ mục đích chức năng, tính chất,

Trang 16

nguyên tắc, cách thức triển khai các biện pháp cho đến những gợi ý có tính chất linh hoạt khi sử dụng các PPDH Nội dung lí luận của PPDH cũng đề cập đến việc đánh giá ưu điểm và hạn chế của PPDH, phạm vi sử dụng, hiệu quả, những yêu cầu về phía người dạy và người học Khi tiến hành các PPDH cần hiểu sâu sắc và thấu đáo nội dung lí luận của phương pháp sẽ giúp người dạy

và người học có cơ sở lí luận vững chắc để triển khai các biện pháp dạy và học trong thực tiễn Ví dụ: Phương pháp thảo luận có nguyên tắc then chốt là

sự tiếp xúc trực diện giữa người học và người dạy, giữa người học với nhau,

và có sự tự do trao đổi ý tưởng hay quan điểm giữa các bên; phương pháp tìm tòi thực nghiệm có nguyên tắc là sự biến đổi của đối tượng học tập để phát hiện và tích lũy các sự kiện thực chứng, khái quát hóa chúng để tiến đến hình thành khái niệm chứ không chỉ tri giác và ghi nhận thông tin có sẵn và đã được tổ chức từ trước Phương pháp tìm tòi nghiên cứu có nguyên tắc cốt lõi

là sự lĩnh hội độc lập nội dung học vấn của cá nhân người học

 Tầng kĩ thuật

Nội dung lí luận của phương pháp dù đầy đủ, sâu sắc đến đâu cũng mới chỉ là hình thái lí luận chứ chưa phải là PPDH trong thực tiễn Điều quyết định cho sự tồn tại trong hiện thực và hiệu quả của PPDH là hệ thống các biện pháp dạy học Đó là toàn bộ cách thức tác động cụ thể của người dạy và người học vào đối tượng dạy học, qua đó để thực hiện được nhiệm vụ dạy học Toàn bộ cách thức tác động này gắn liền với hệ thống các công cụ kĩ thuật (sơ đồ, bản đồ, mô hình và các phương tiện kĩ thuật khác) và được phân thành các tiểu hệ thống, trong đó các biện pháp cụ thể kết hợp với nhau theo một logic, tạo thành quy trình chặt chẽ Vì vậy, trong thực tiễn dạy học, một mặt phải xác định đầy đủ các bình diện thao tác đồng thời phải thiết lập được quy trình các thao tác trong từng bình diện đó Ví dụ: Phương pháp thảo luận nhóm được tiến hành nhờ kĩ thuật sử dụng các kiểu và các loại câu hỏi, kĩ

Trang 17

năng hội thoại, kĩ năng quản lí hành vi nhóm và lớp học, kĩ năng lãnh đạo và

xử lí các tình huống dạy học – giáo dục… với những yêu cầu về cách đặt ra mỗi câu hỏi đúng lúc, đúng chỗ, về những hành vi khuyến khích và những hành vi cần hạn chế ở người học, về các hình thức tổ chức quan hệ và hoạt động theo nhóm…

 Tầng nghệ thuật

Hệ thống các biện pháp dạy học là cơ cấu kĩ thuật của PPDH, là điều kiện để hoạt động dạy học đạt kết quả Tuy nhiên, biện pháp kĩ thuật dễ dẫn đến việc thực hiện PPDH một cách máy móc Trong khi đó, dạy học là một hoạt động vừa mang tính chất khoa học – công nghệ vừa mang tính sáng tạo nghệ thuật Vì vậy người giáo viên giỏi không chỉ tổ chức các biện pháp dạy học mà phải nâng những biện pháp đó lên mức nghệ thuật dạy học Đó chính

là các thủ pháp nghệ thuật dạy học: thủ pháp ngôn ngữ, thủ pháp hành vi, thủ pháp tương tác… Đây chính là cơ sở để nâng dạy học lên trình độ mới với hiệu quả cao

Như vậy, có thể thấy PPDH là một khoa học và cũng là một nghệ thuật Tính khoa học của PPDH đòi hỏi người giáo viên phải nắm vững bản chất của QTDH, tính nghệ thuật của PPDH thể hiện ở năng lực của giáo viên khi trong QTDH giáo viên khơi dậy được tiềm năng tiếp thu, phát triển sáng tạo của học sinh Do đó, việc giáo viên nắm vững chuyên môn là điều kiện tiên quyết

để dạy học đạt chất lượng, nghiệp vụ và nghệ thuật sư phạm là yếu tố quan trọng làm cho dạy học có chất lượng và hiệu quả

1.1.3 Phân loại PPDH

Trên cơ sở xác định mục đích, chức năng, nội dung thực hiện tác động đến đối tượng dạy học để phân loại các PPDH Dựa trên các tiêu chí nhất định việc phân loại các PPDH có giá trị lí luận rất lớn trong việc giúp người dạy thấy được đặc trưng của từng phương pháp và phản ánh yêu cầu tất yếu của

Trang 18

việc tìm tòi các phương pháp, PTDH hiệu quả hơn đáp ứng xu thế phát triển của dạy học hiện đại

Hiện nay có rất nhiều cách phân loại PPDH, nguyên nhân là do cách tiếp cận và tiêu chí phân loại có sự khác nhau

 Căn cứ vào thời gian xuất hiện có:

 Phương pháp cổ truyền: khách thể tái hiện; thầy giữ vai trò gợi mở đối với HS; trò được định hướng

 Phương pháp tích cực: khách thể sáng tạo; thầy giữ vai trò trọng tài; trò chủ động vào cuộc

 Phương pháp không gò bó: khách thể được sáng tạo, thầy mờ nhạt, trò được giải phóng

 Căn cứ vào mức độ tham gia và tính chất của hoạt động nhận thức của người dạy và người học trong QTDH thì chia các nhóm phương pháp sau:

 Nhóm phương pháp chủ yếu dùng lời

 Nhóm phương pháp trao đổi

 Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động của người học

 Nhóm phương pháp làm việc độc lập của người học có sự trợ giúp của giáo viên

 Nhóm phương pháp kích thích động cơ học tập của người học

Trang 19

 Cũng có cách chia PPDH thành 5 kiểu phân biệt với nhau về lí luận:

 Nhóm PPDH thông báo – thu nhận

 Nhóm PPDH làm mẫu – tái tạo

 Nhóm PPDH khuyến khích – tham gia

 Nhóm PPDH kiến tạo – tìm tòi

 Nhóm PPDH tình huống – nghiên cứu

Như vậy, PPDH rất đa dạng và phong phú, mỗi phương pháp đều có những điểm mạnh, yếu và tác dụng của mỗi phương pháp cũng khác nhau Do

đó, không có một phương pháp nào là vạn năng và cũng không nên loại trừ bất kỳ PPDH nào Việc lựa chọn và sử dụng PPDH nào tùy thuộc vào nội dung dạy học, đối tượng, tình huống dạy học cụ thể và trình độ năng lực của người sử dụng PPDH đó

*PPDH môn GDCD

Giống như các bộ môn khác, hoạt động dạy học môn GDCD cũng tuân thủ những quy luật chung của QTDH ở trường THPT, đồng thời lại có quy luật đặc thù của dạy học bộ môn

Dạy học môn GDCD là quá trình chuyển giao thông tin khoa học của

bộ môn giữa thầy giáo và học sinh Nó bao gồm hai quá trình: quá trình xử lí

và chuyển giao thông tin khoa học của thầy và quá trình tiếp nhận và xử lí thông tin đó của học sinh Hai quá trình này tác động qua lại với nhau, bổ sung cho nhau, tạo điều kiện tốt cho nhau để hoàn thành toàn bộ QTDH Trong sự tác động đó bộc lộ những quy luật, QTDH môn GDCD Do đó những giáo viên dạy môn GDCD phải đạt đến trình độ khái quát những kinh nghiệm phong phú của thực tiễn dạy học môn GDCD, phải phát hiện những quy luật của QTDH làm cơ sở khoa học cho việc xác định PPDH có hiệu quả, phù hợp với nội dung đặc thù tri thức bộ môn, tâm lí lứa tuổi và mục tiêu của nhà trường THPT Từ đó cho thấy: PPDH môn GDCD là cách thức hoạt động

Trang 20

phối hợp thống nhất của GV và HS nhằm phát hiện những quy luật của QTDH môn GDCD, xây dựng hệ thống các nguyên tắc, hình thức và PPDH

để tổ chức thành công hoạt động dạy học môn GDCD ở trường THPT

1.2 Đặc điểm cơ bản của môn GDCD ở trường THPT

1.2.1 Đặc thù tri thức của môn GDCD ở trường THPT

Môn GDCD là môn học thuộc khoa học xã hội nhân văn, có vị trí quan trọng trong trường THPT Các tri thức của môn GDCD được truyền thụ cho

HS có thể mang nhiều nội dung khác nhau nhưng đều là tri thức lí luận chính trị Những tri thức đó được xây dựng trên các môn khoa học cơ bản như: Triết học, Đạo đức học, Kinh tế chính trị học, CNXH khoa học, Pháp luật học và các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước Việt Nam ta hiện nay Tri thức của môn GDCD được sắp xếp hợp lí, kết cấu chặt chẽ, logic, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí HS, thể hiện rõ tính đặc thù, riêng biệt, đồng thời khuynh hướng tư tưởng cũng rất rõ ràng và nổi trội so với các môn học khác

Nội dung tri thức môn GDCD bao gồm phạm vi tri thức rộng lớn, bao quát toàn bộ đời sống xã hội Những tri thức này được khát quát từ những vấn

đề gần gũi, thiết thực trong đời sống thường nhật của cá nhân công dân, gia đình và xã hội đến những vấn đề lớn lao hơn của quốc gia, dân tộc, nhân loại Các tri thức của môn GDCD mang tính khái quát cao, tính trừu tượng, tính quy luật, tính logic chặt chẽ Đây là những tri thức mang tính định hướng chính trị sâu sắc nó trực tiếp đề cập đến những vấn đề chính trị tư tưởng của giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp xác lập củng cố định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa cho HS Toàn bộ nội dung môn GDCD

ở THPT tập trung vào việc xây dựng thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, phương pháp luận đúng đắn với những biện pháp và hình thức khác nhau

Trang 21

Tri thức môn GDCD mang tính tích hợp, có quan hệ chặt chẽ với nhiều môn khoa học, nhiều lĩnh vực khoa học Đặc điểm này đòi hỏi môn GDCD không chỉ xác lập phương pháp đặc thù cho cả môn học mà còn phải xác lập phương pháp riêng cho từng học phần, từng bài cụ thể

Tri thức môn GDCD gắn bó mật thiết với hiện thực, phản ánh một cách sinh động cuộc sống hiện thực Dạy học môn GDCD là dạy để HS trở thành người công dân có tinh thần trách nhiệm của một thành viên hữu ích cho đất nước, có những kiến thức và kỹ năng cần thiết để tham gia vào một thế giới đang thay đổi nhanh chóng

Như vậy, với đặc thù tri thức, môn GDCD đã trực tiếp hình thành cho

HS thế giới quan khoa học, nhân sinh quan tiên tiến và đạo đức trong sáng, trực tiếp hình thành niềm tin, lí tưởng và ý thức pháp luật cho các thế hệ công dân của đất nước Việt Nam Điều đó cho thấy đây là môn học giữ vai trò chủ chốt trong việc giáo dục cho HS ý thức và hành vi, góp phần hình thành, phát triển ở HS những phẩm chất và năng lực cần thiết của người công dân trong một xã hội công bằng dân chủ văn minh

1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của môn GDCD ở trường THPT

Là môn khoa học xã hội - nhân văn với đặc thù tri thức môn học, môn GDCD trong trường THPT có nhiệm vụ góp phần đào tạo những người học sinh trở thành những người lao động mới Điều đó thể hiện ở việc trực tiếp giáo dục cho HS những tri thức cần thiết để trên cơ sở đó HS hiểu đúng đắn những quy luật phát triển tất yếu của tự nhiên, xã hội và tư duy; nhận thức đúng đắn cuộc sống của cá nhân và cộng đồng phải phù hợp với những quy luật khách quan của lịch sử xã hội; biết cách sống trong điều kiện cụ thể, có ý thức vươn tới những chuẩn mực xã hội tốt đẹp Từ nhiệm vụ đó môn GDCD

có chức năng cơ bản là:

Trang 22

Trang bị cho HS một cách tương đối có hệ thống những tri thức phổ thông cơ bản, thiết thực của các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật của nhà nước Việt Nam

Bước đầu giáo dục cho HS những quan điểm khoa học và cách mạng,

tư duy mới về thế giới và thời đại về con người và cộng đồng, về các quá trình xã hội diễn ra trên thế giới và trên đất nước ta, về cuộc đấu tranh trên tất các lĩnh vực của đời sống xã hội giữa cái tiến bộ và cái bảo thủ lạc hậu Trên

cơ sở đó hình thành niềm tin có cơ sở khoa học về chế độ xã hội chủ nghĩa - lí tưởng cao đẹp mà con người luôn mong ước

Bước đầu phát triển ở HS phương pháp tư duy biện chứng trong nhận thức và hành động, biết phân tích đánh giá các hiện tượng xã hội theo quan điểm khoa học và tiến bộ, kế thừa những giá trị tốt đẹp của dân tộc và nhân loại, biết ủng hộ cái mới đúng đắn và tích cực đấu tranh chống cái lỗi thời, lạc hậu Từng bước hình thành ở HS thói quen và kĩ năng vận dụng những tri thức khoa học vào cuộc sống, có định hướng đúng đắn về chính trị, tư tưởng, đạo đức trong các hoạt động xã hội, trong cuộc sống hiện tại và sau này Nhận thức đúng đắn và thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, chức năng của môn GDCD sẽ giúp GV tránh được những sai lầm có thể phạm phải như đơn giản hóa, tầm thường hóa những tri thức khoa học của môn GDCD, thiếu tự tin, sáng tạo trong dạy học bộ môn này

1.2.3 Mục tiêu của môn GDCD

Mục tiêu của toàn bộ nội dung và phương pháp dạy học môn GDCD là nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông: Phát triển nhận thức, tâm hồn, ý thức của học sinh nhằm thực hiện tốt phát triển cả về trí tuệ, tâm hồn và nhân cách của học sinh Mục tiêu cụ thể của môn GDCD ở trường THPT là:

Trang 23

Về kiến thức: Cung cấp cho HS những hiểu biết ban đầu về thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng; hiểu giá trị đạo đức, pháp luật

cơ bản của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; biết được bản chất của Nhà nước XHCN Việt Nam; vai trò của Nhà nước trong việc đảm bảo thực hiện pháp luật, hoạch định chính sách và quản lí kinh tế; hiểu đường lối quan điểm của Đảng; các chính sách quan trọng của Nhà nước về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay; hiểu trách nhiệm của công dân trong việc thực hiện đường lối quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước

Về kĩ năng: Trên cơ sở những kiến thức được cung cấp, HS biết vận dụng những kiến thức đó vào phân tích, đánh giá các hiện tượng, các sự kiện, các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống phù hợp với lứa tuổi; biết lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với các giá trị xã hội; biết bảo vệ cái tốt; đấu tranh, phê phán với các hành vi hiện tượng tiêu cực trong cuộc sống phù hợp với khả năng bản thân

Về thái độ: HS biết yêu cái tốt, cái đúng, cái đẹp; không đồng tình với các hành vi, việc làm tiêu cực, biết yêu quê hương đất nước, biết trân trọng phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc; tin tưởng vào đường lối chủ trương của Đảng, tôn trọng các chính sách pháp luật của Nhà nước và các quy định của cộng đồng, có ước mơ và mục đích sống cao đẹp

Việc nhận thức và thực hiện đúng mục tiêu môn học trong mục tiêu xây dựng chương trình và đổi mới PPDH là rất quan trọng

1.2.4 Mối quan hệ giữa PPDH và mục tiêu, nội dung

Mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Việc xác định mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung và PPDH

có ý nghĩa quyết định đến việc xây dựng và sử dụng cũng như đổi mới PPDH Trong mối quan hệ này người ta thường bắt đầu từ mục tiêu để xem xét các yếu tố nội dung và PPDH sau đó sẽ điều chỉnh cả ba yếu tố cho phù hợp

Trang 24

Mục tiêu của quá trình dạy học cụ thể thường rất đa dạng và phong phú nhưng tập trung chủ yếu ở cả ba lĩnh vực: Cung cấp cho học sinh các tri thức khoa học và phương pháp nhận thức các khoa học đó; hình thành và phát triển

kĩ năng hoạt động trí óc và thực tiễn cho HS; khơi dậy và phát triển các nhu cầu tiềm năng của HS giúp các em làm chủ đời sống của mình Trên cơ sở các mục tiêu dạy học đã được xác định sẽ hình thành NDDH và PPDH phù hợp Trước đây quan niệm phổ biến cho rằng quan hệ giữa mục tiêu, nội dung và PPDH là quan hệ tuyến tính theo sơ đồ sau:

Mục tiêu dạy học Nội dung dạy học Phương pháp dạy học Trong mối quan hệ đó, GV thường dựa vào mục tiêu để cấu trúc NDDH, sau đó căn cứ vào NDDH để soạn thảo và sử dụng PPDH thích hợp Trong trường hợp NDDH của môn học ổn định và tường minh thì sơ đồ trên tạo thuận lợi nhất cho GV và HS lựa chọn phương pháp dạy và học

Hiện nay, do mục tiêu và NDDH thường xuyên thay đổi và có tính độc lập nhất định nên việc lựa chọn PPDH không chỉ căn cứ trực tiếp vào nội dung môn học mà còn trực tiếp từ mục tiêu môn học Đây là trường hợp mà nội dung khá mới mẻ khi đó GV thường căn cứ vào mục tiêu và thực trạng của HS để chọn PPDH phù hợp Trong trường hợp này sự tương tác chặt chẽ giữa mục tiêu, nội dung và PPDH theo sơ đồ sau:

Trang 25

Mô hình trên có khả năng đáp ứng được nhu cầu dạy học hiện đại theo quan điểm tích cực lấy người học làm trung tâm Như vậy, xu hướng lựa chọn PPDH trực tiếp từ mục tiêu đào tạo, nhất là khi nội dung mang tính chủ thể, vấn đề, tình huống… khi đó rất cần chú ý đến đặc điểm của HS, nhất là năng lực tự học, tự thể hiện, khả năng tư duy sáng tạo của người học trong QTDH NDDH là yếu tố trực tiếp quy định PPDH Hoạt động dạy học chỉ diễn

ra trên nền tảng của NDDH, mọi phương pháp dạy và học đều phụ thuộc vào

nó theo nguyên lí: PPDH phải phù hợp với NDDH Bởi lẽ, mỗi môn học trong nhà trường phản ánh một lĩnh vực khoa học, nó có phương pháp nhận thức đặc trưng để truyền thụ chúng Môn GDCD ở trường THPT với đặc thù tri thức của mình cũng có những đặc trưng để dạy những tri thức đó Vì thế trong thực tiễn học bộ môn này, muốn sử dụng có hiệu quả các PPDH giáo viên phải căn cứ vào nội dung của từng phần, từng bài, từng đơn vị kiến thức

để lựa chọn được những phương pháp thích hợp Mặt khác tri thức khoa học của con người có tính lịch sử hình thành lâu dài và trải qua các giai đoạn với các trình độ khác nhau Ứng với mỗi loại tri thức có PPDH đặc trưng Ví dụ: với những tri thức mang tính biểu tượng thần thoại sẽ có phương pháp đặc trưng là thuyết trình giảng giải, kể chuyện; với những tri thức mang tính phán đoán, suy luận chủ quan, phương pháp thích hợp là thảo luận (tranh luận) trao đổi; với những tri thức mang tính trừu tượng có phương pháp trình bày, giới thiệu, trực quan; với tri thức là các khái niệm biện chứng về sự vật thì phương pháp thích hợp là thực nghiệm, tương tác với sự vật (thực hành )… Môn GDCD ở trường THPT là môn học có nội dung tri thức khoa học bao quát toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội, nội dung của môn học này có sự đan xen tri thức của các môn Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Pháp luật học, Đạo đức học… Vì vậy việc lựa chọn những PPDH

Trang 26

tương ứng với nội dung là yêu cầu khách quan không thể thiếu trong việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

1.3 Hệ thống các PPDH môn GDCD ở trường THPT hiện nay

- Phương pháp thuyết trình

Phương pháp thuyết trình là PPDH trong đó giáo viên sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để cung cấp cho học sinh hệ thống thông tin về nội dung học tập học sinh tiếp nhận hệ thống thông tin đó từ giáo viên và xử lí chúng tùy theo tính chủ thể của người học và yêu cầu của người dạy

Thuyết trình là PPDH lâu đời nhất và hiện nay vẫn là một trong những PPDH được sử dụng khá phổ biến PPDH này được sử dụng ở hầu hết các bộ môn khoa học trong trường THPT, nhất là các bộ môn khoa học xã hội Đối với môn GDCD, nó giữ vai trò rất quan trọng Trong dạy học, giáo viên chỉ cung cấp và trang bị cho học sinh những tri thức cơ bản và thiết thực, song để học sinh có thể lĩnh hội được những tri thức trừu tượng của môn học này một cách có hệ thống, một mặt giáo viên phải giảng dạy những nội dung cơ bản trong sách giáo khoa, mặt khác còn phải mở rộng có giới hạn tri thức sao cho học sinh tiếp thu tri thức liên tục Tri thức trước là tiền đề, cơ sở để tiếp thu tri thức sau Tri thức sau bổ sung, củng cố tri thức trước và cuối cùng học sinh lĩnh hội đầy đủ, có hệ thống tri thức của bộ môn Như vậy, trong thời gian ngắn với PPDH thuyết trình giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một khối lượng tri thức lớn và học sinh có thể lĩnh hội khối lượng tri thức đó một cách

có hệ thống theo một logic chặt chẽ

- Phương pháp đàm thoại

PPDH đàm thoại là quá trình tương tác giữa giáo viên và học sinh, được thực hiện thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời tương ứng về một nội dung dạy học Kết quả là dưới sự dẫn dắt của giáo viên, học sinh thể hiện

Trang 27

được suy nghĩ, ý tưởng của mình, khám phá và lĩnh hội được nội dung bài học

Đối với môn GDCD, PPDH đàm thoại sẽ giúp cho học sinh tiếp cận, hiểu và từng bước nắm vững kiến thức mang tính phổ biến, khái quát và trừu tượng cao, nhưng lại rất thiết thực và gắn bó với cuộc sống hiện tại và tương lai của học sinh Đồng thời, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ hình thành, phát triển năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, tư duy logic Bởi vì,

để trả lời được câu hỏi, diễn đạt được tư tưởng của mình, học sinh phải biết vận dụng các tri thức đã có, biết khái quát, lập luận một cách logic trên cơ sở của các phương pháp nhận thức, tư duy khoa học, biết sử dụng ngôn ngữ khoa học… Thông qua đàm thoại, giáo viên có thể kiểm tra, đánh giá kết quả giảng dạy của mình, kết quả thu nhận tri thức của học sinh, từ đó sửa chữa những khuyết điểm của bản thân, của học sinh trong quá trình giảng dạy

- Phương pháp trực quan

Trực quan là PPDH trong đó giáo viên sử dụng các phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật dạy học tác động trực tiếp vào các cơ quan cảm giác của học sinh nhằm tổ chức cho học sinh tri giác một cách có chủ đích, có

kế hoạch, tạo khả năng cho học sinh theo dõi tiến trình và sự biến đổi diễn ra trong đối tượng quan sát trên cơ sở đó nâng cao chất lượng của bài học

Đối với tri thức khoa học phổ biến và trừu tượng như tri thức của môn GDCD, khi năng lực tư duy của học sinh phổ thông còn bị hạn chế lớn thì việc sử dụng PTDH trực quan đóng vai trò rất quan trọng PTDH trực quan càng gần gũi với cuộc sống học sinh, càng gắn bó với kiến thức đã thu nhận được của họ sẽ càng tăng thêm tác dụng tích cực của các phương tiện đó

- Phương pháp nêu vấn đề

PPDH nêu vấn đề là PPDH, trong đó giáo viên tạo ra các tình huống mâu thuẫn, đưa học sinh vào trạng thái tâm lí phải tìm tòi, phám phá, từ đó

Trang 28

hướng dẫn, khích lệ học sinh tìm cách giải quyết để nắm được kiến thức, phát triển trí tuệ và thái độ học tập

- Phương pháp thảo luận nhóm

Phương pháp thảo luận nhóm là PPDH trong đó lớp học được chia thành các nhóm nhỏ để tất cả các thành viên trong lớp đều được làm việc, được bàn bạc, trao đổi về một chủ đề cụ thể và đưa ra ý kiến chung của nhóm mình về vấn đề đó Mục đích của thảo luận nhóm là làm tăng tối đa cơ hội để học sinh được làm việc và thể hiện khả năng của mình, được chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến nội dung bài học

- Phương pháp động não

Phương pháp động não là PPDH, trong đó NDDH không được cấu trúc thành bài dạy chặt chẽ cho trước mà tất cả học sinh trong lớp trong một thời gian ngắn phải đưa ra ý kiến, ý tưởng, giả định của mình về một vấn đề nào

đó Kết quả là học sinh thu nhận được các ý tưởng, giải pháp chung sau khi đã sàng lọc các ý tưởng được đưa ra Đây là một phương pháp có ích để “lôi ra” một danh sách các thông tin

- Phương pháp đóng vai

Phương pháp đóng vai là phương pháp tổ chức cho người học thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là PPDH nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được

- Phương pháp dự án

Phương pháp dự án là PPDH trong đó người học thực hiện một nhiệm

vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp với lí thuyết thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm hoạt động có thể giới thiệu

Trang 29

được Đặc điểm của PPDH này là định hướng hành động cho học sinh (học sinh tham gia vào giai đoạn dạy học, cả việc lựa chọn nhiệm vụ)

Như vậy, PPDH môn GDCD là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và học sinh nhằm phát hiện những quy luật của QTDH môn GDCD, xây dựng hệ thống các nguyên tắc, hình thức và PPDH để tổ chức thành công hoạt động dạy học môn GDCD ở trường THPT Hệ thống các PPDH môn GDCD rất phong phú và đa dạng Mỗi phương pháp có ưu điểm, hạn chế và tác dụng khác nhau Việc lựa chọn và sử dụng PPDH nào tùy thuộc vào nội dung dạy học, mục tiêu dạy học, cơ sở vật chất của nhà trường, đối tượng, tình huống dạy học cụ thể cũng như trình độ, năng lực của giáo viên và đặc điểm học sinh

Trang 30

CHƯƠNG 2: ĐỔI MỚI PPDH MÔN GDCD

TRONG TRƯỜNG THPT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Quan niệm về đổi mới PPDH môn GDCD

Đổi mới PPDH là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của ngành Giáo dục, là một trong những biện pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường Việt Nam hiện nay

Trong mấy năm gần đây, chúng ta đã tổ chức nhiều hội thảo nêu lên những suy nghĩ, những nguyện vọng của các cán bộ quản lí, các nhà nghiên cứu, các thầy giáo cũng như phụ huynh học sinh nhằm cải tạo tình trạng dạy học nhồi nhét, nặng nề và kém sáng tạo Hiện tượng này phản ánh sự thay đổi trong nhận thức đối với thực trạng dạy học hiện nay, mở ra khả năng đổi mới PPDH trong thực tiễn nhà trường trong thời gian tới

Bàn về PPDH và đổi mới PPDH trong khoảng hơn mười năm gần đây, chúng ta tốn không ít thời gian và giấy mực Song trong thực tế, PPDH đã thực sự trở thành một chìa khóa, một công cụ để giúp các thầy cô giáo trong giảng dạy hay vẫn nằm trong chữ nghĩa giấy tờ? Đây là một câu hỏi khiến những người quan tâm đến vấn đề này không khỏi băn khoăn

Khi bàn đến thực trạng PPDH những năm gần đây, chúng ta không tránh khỏi một nhận xét chung là: chúng ta đã sử dụng những PPDH lạc hậu, trì trệ Tuy nhiên, cũng không thể nói thực tế ngày nay phương pháp truyền thống vẫn được coi là ưu việt, bởi thực chất của PPDH những năm vừa qua chủ yếu vẫn xoay quanh việc “thầy truyền đạt – trò tiếp nhận, ghi nhớ” thậm chí ở một số bộ môn do thúc bách của quỹ thời gian với dung lượng kiến thức trong một tiết học dẫn đến việc “thầy đọc – trò chép” Nói như vậy cũng không phủ nhận ở một số không ít các thầy cô giáo có ý thức và tri thức nghề

Trang 31

nghiệp vững vàng vẫn có nhiều giờ dạy tốt, phản ánh được tinh thần của một

xu thế mới Vậy vấn đề đổi mới PPDH hiện nay được quan niệm như thế nào? Phương pháp dạy học là một vấn đề có tính lịch sử, phải đổi mới trước hết ở ý thức

Trong một thời gian dài, người thầy được trang bị phương pháp để cung cấp kiến thức cho HS theo quan hệ một chiều: “Thầy truyền đạt, trò tiếp nhận” Ở một phương diện nào đó, khi sử dụng phương pháp này thì các em học sinh – một chủ thể của giờ dạy đã “bị bỏ rơi”, GV là người sốt sắng và nỗ lực đi tìm chiếc chìa khóa mở cái kho đựng kiến thức theo phạm vi và khả năng của mình Còn học sinh là người thụ động, cố gắng nhớ những điều thầy

đã truyền đạt Để chiếm được vị trí số một trong lớp, HS phải có được không phải một tính ham hiểu biết khôn cùng của một trí tuệ sắc sảo mà phải có một trí nhớ tốt Ngoài ra, phải chăm lo sao cho quan điểm của chính mình phải hợp với quan điểm của giáo viên nữa

Trong PPDH truyền thống, khoa sư phạm chú ý đến người GV và ít quan tâm tới HS, coi HS như “cái lọ” mà người GV phải nhét đầy “lọ” này như thế nào? Tính thụ động của HS được bộc lộ rõ ràng Học sinh phải nhớ những gì mà người ta cung cấp cho ở trạng thái hoàn thành Trong PPDH cũ, tính thụ động biểu hiện ở hình ảnh người GV đứng riêng biệt trên bục cao trong lớp và cung cấp (cái mẫu), còn phía dưới là hình ảnh các HS ngồi thành hàng trên ghế, cùng làm một công việc giống nhau là sao lại cái mẫu mà thầy đang cung cấp cho họ

Nếu quan niệm nghệ thuật dạy học là nghệ thuật thức tỉnh trong tâm hồn các em HS tính ham hiểu biết, dạy các em biết suy nghĩ và hành động tích cực, mà tính ham hiểu biết đúng đắn và sinh động chỉ có trong đầu óc sảng khoái Nếu nhồi nhét kiến thức một cách cưỡng bức thì hiệu quả giáo dục khó

Trang 32

có thể như mong muốn Để HS chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập thì tất yếu phải đổi mới PPDH

Đổi mới PPDH không phải là tạo ra một phương pháp khác với cái cũ,

để loại trừ cái cũ Sự phát triển của cuộc cách mạng trong khoa học giáo dục thực chất là tạo được một tiền đề cho những nhân tố tích cực của cái cũ vẫn

có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn Đồng thời tạo ra cái mới tiến bộ hơn, tốt hơn cái đã có Nói như vậy, không phải chúng ta dung hòa để làm ra cái “hơi khang khác hay tương tự cái đã có”, mà phải có cái mới thực sự để đáp ứng được đòi hỏi của sự tiến bộ Nếu như PPDH cũ có một ưu điểm lớn là phát huy trí nhớ, tập cho HS làm theo một điều nào đó, thì PPDH mới vẫn cần những ưu điểm trên Song cái khác căn bản ở đây là PPDH cũ đã phần nhiều

“bỏ quên” HS, nên bình thường HS bị động trong tiếp nhận, còn PPDH mới phải phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS

Phát huy tính tích cực của HS thông qua hàng loạt các tác động của GV

là bản chất của PPDH mới Khi nói đến tính tích cực chúng ta quan niệm là sự mong muốn hành động được nảy sinh từ phía HS, được biểu hiện ra bên ngoài hay bên trong của sự hoạt động Học sinh trở thành các cá nhân trong một tập thể mang khát vọng được khám phá, hiểu biết Muốn vậy trong QTDH, GV phải sử dụng các PPDH làm sao kích thích được hứng thú học tập, cũng như tính chủ động sáng tạo của HS

Như vậy, đổi mới PPDH không phải là phủ nhận hoàn toàn các phương pháp cũ mà thay vào đó những phương pháp hoàn toàn khác trước nhưng cũng không phải là việc tạo ra các phương pháp hơi khang khác, tương tự mà

là việc kế thừa những yếu tố tích cực của các phương pháp cũ, gạt bỏ, khắc phục những hạn chế của các phương pháp đó tạo nên PPDH mới nhằm đạt được hiệu quả cao trong QTDH

Trang 33

2.2 Thực trạng việc thực hiện đổi mới PPDH môn GDCD trong trường THPT ở Việt Nam hiện nay

2.2.1 Sự cần thiết phải thực hiện đổi mới PPDH môn GDCD ở trường THPT hiện nay

Môn GDCD có vai trò quan trọng trong việc phát triển tâm lực – một thành tố cơ bản của nhân cách và là nội lực của sự phát triển nhân cách của

HS Do vậy, môn học này góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo HS thành những người lao động mới đáp ứng được những đòi hỏi của nhà trường thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại

Ngày nay, đứng trước yêu cầu của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật

và công nghệ của thời đại “bùng nổ thông tin”, của nền kinh tế tri thức mà nhân loại đang bước tới, của một thế giới toàn cầu hóa, đang đặt ra mâu thuẫn giữa một bên yêu cầu, đòi hỏi tất cả các hệ thống giáo dục và đào tạo phải tăng cường hơn nữa số lượng môn học và khối lượng kiến thức của từng môn

và một bên là nội dung chương trình và quỹ thời gian cho từng môn học không thể tăng lên vô hạn, thậm chí còn phải rút ngắn lại Để giải quyết mâu thuẫn này cần áp dụng những PPDH tích cực Những phương pháp này không những kích thích học sinh năng động, sáng tạo tìm hiểu nhận thức những tri thức trong bài giảng mà còn hình thành nên ở HS những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết để có thể “học tập suốt đời” nhằm không ngừng nâng cao phẩm chất và năng lực để đứng vững, phát triển trong một thời đại phức tạp và đầy biến động, một thời đại mở ra trước mắt nhiều cơ hội nhưng cũng đầy cam go, thách thức

Trong phong trào đổi mới PPDH đang diễn ra, GV dạy môn GDCD ở trường THPT đã có nhiều nỗ lực, cố gắng nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới PPDH Kết quả nghiên

Trang 34

cứu thực tiễn cho thấy ở một số trường THPT đặc biệt là các trường điểm, trường chuẩn quốc gia, các trường ở khu vực kinh tế phát triển như ở các thành phố, các trung tâm trong mấy năm gần đây đã đạt được những tiến bộ trong việc đổi mới PPDH Ở những trường đã bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên về đổi mới PPDH và trang bị thiết bị PTDH mới thì việc sử dụng các PPDH đã được cải thiện Mặc dù thuyết trình vẫn còn là PPDH được sử dụng thường xuyên nhất nhưng đã có sự kết hợp với các PPDH khác, tăng cường làm việc nhóm, sử dụng các PPDH tích cực Tuy nhiên, hình thức thuyết trình theo kiểu thông báo thầy đọc trò chép vẫn còn Dưới tác động của yêu cầu đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS được chú trọng nhưng

do không nắm được thấu đáo bản chất của dạy học tích cực và kĩ năng vận dụng các PPDH tích cực nên hình thức thuyết trình theo kiểu thông báo đọc chép biến tướng thành chiếu - chép (sử dụng các loại máy chiếu để học sinh chép), hay có nêu câu hỏi, có dùng dụng cụ trực quan nhưng chủ yếu vẫn là đọc chép Kiểu dạy học này rất tai hại vì về căn bản nó vẫn không thay đổi được hạn chế của PPDH theo kiểu thông báo, không đáp ứng được yêu cầu giảng dạy nội dung môn GDCD vừa mới được biên soạn PPDH này còn kéo theo kiểu thi cử trả lời câu hỏi theo lối học thuộc lòng cứng nhắc, ức chế tâm

lí học trò Điều tai hại là các GV không ít người cho rằng giáo cụ được đem ra

sử dụng, giờ giảng được tiến hành bằng sử dụng CNNT là đã thực hiện đổi mới PPDH mà không hiểu rằng đó chỉ là phương tiện công nghệ hỗ trợ việc

sử dụng PPDH tích cực Sự nhầm lẫn này kéo theo hướng dạy học một cách tiêu cực vì các GV cứ tưởng như vậy là đổi mới rồi nhưng thực chất về căn bản sự đổi mới vẫn chưa được thực hiện

Xét về mặt lịch sử, phương pháp thuyết trình theo kiểu thông báo – tái hiện là một PPDH truyền thống đã được sử dụng từ lâu ở trường THPT và các cấp học khác, GV đã có thói quen sử dụng phương pháp này Về ưu điểm:

Trang 35

Phương pháp thuyết trình cho phép GV truyền đạt hiệu quả những nội dung lí luận tương đối khó, phức tạp, chứa đựng nhiều thông tin mà HS không dễ dàng tìm hiểu được Thông qua nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ khi giảng bài,

GV có khả năng lôi cuốn HS, truyền cho HS cảm hứng học tập, giáo dục niềm tin và tình cảm cho các em trong quá trình lĩnh hội tri thức Phương pháp thuyết trình còn cho phép trong một thời gian hạn chế GV có thể truyền đạt một lượng thông tin lớn cùng một lúc cho nhiều HS Chính vì vậy mà phương pháp thuyết trình còn cần phải được duy trì trong dạy học ở nhà trường đối với tất cả các môn học nói chung và môn GDCD nói riêng Đổi mới phương pháp không có nghĩa là phủ định sạch trơn những phương pháp truyền thống

mà phải biết kế thừa những ưu điểm và gạt bỏ những yếu tố gây ra sự trì trệ, thụ động trong tâm lí người học, thui chột tinh thần sáng tạo cho học sinh

Để hoàn thành tốt yêu cầu dạy học bộ sách giáo khoa GDCD không thể duy trì cách sử dụng PPDH thuyết trình như cũ, mà cần phải đổi mới PPDH cải tiến các phương pháp truyền thống, kết hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học, sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, sử dụng có hiệu quả các phương tiện, thiết bị dạy học…

Trong bối cảnh hiện nay, khi thế giới đang có những biến đổi nhanh chóng, mọi mặt của đời sống xã hội trong quá trình quốc tế hóa mạnh mẽ, khi trên đất nước ta đang có những thay đổi toàn diện sâu sắc thì việc đào tạo được những thế hệ công dân có lập trường giai cấp vững vàng, có ý thức tự tôn dân tộc, có lí tưởng cách mạng, tự trọng, giỏi giang là hết sức cần thiết Điều đó một lần nữa khẳng định vị trí, vai trò của môn GDCD và sự cần thiết phải đổi mới PPDH bộ môn này trong nhà trường THPT

Xuất phát từ thực tiễn trên, việc thực hiện đổi mới PPDH môn GDCD ở trường THPT là yêu cầu cấp thiết nhằm đạt mục tiêu giáo dục phổ thông

Ngày đăng: 17/07/2015, 06:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thi Kim Anh (2006), “Đổi mới PPDH ở trường THPT và những yêu cầu đặt ra đối với việc đào tạo giáo viên trong các trường ĐHSP”, Dạy và học ngày nay, Số 12/2006, trang 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới PPDH ở trường THPT và những yêu cầu đặt ra đối với việc đào tạo giáo viên trong các trường ĐHSP”," Dạy và học ngày nay
Tác giả: Phạm Thi Kim Anh
Năm: 2006
2. Phạm Thị Kim Anh (2010), “Bàn về cái “khó” của việc đổi mới PPDH theo quan điểm hướng vào người học”, Dạy và học ngày nay, Số 6/2010, trang 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cái “khó” của việc đổi mới PPDH theo quan điểm hướng vào người học”, "Dạy và học ngày nay
Tác giả: Phạm Thị Kim Anh
Năm: 2010
3. Dương Thị Trúc Bạch (2004), “Đổi mới PPDH nhằm phát huy khả năng tự học”, Dạy và học ngày nay, Số 12/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới PPDH nhằm phát huy khả năng tự học”, "Dạy và học ngày nay
Tác giả: Dương Thị Trúc Bạch
Năm: 2004
4. Vũ Đình Bảy (chủ biên), (2001), Phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT
Tác giả: Vũ Đình Bảy (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2001
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (Dự án Việt – Bỉ),(2000), Dạy và học tích cực – một số phương pháp và kĩ thuật dạy học, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực – một số phương pháp và kĩ thuật dạy học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, (Dự án Việt – Bỉ)
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2000
10. Phùng Văn Bộ (1991), Phương pháp dạy học GDCD dùng cho THPT, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học GDCD dùng cho THPT
Tác giả: Phùng Văn Bộ
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 1991
11. Phùng Văn Bộ (1999), Lí luận dạy học môn GDCD ở trường PTTH, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học môn GDCD ở trường PTTH
Tác giả: Phùng Văn Bộ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
13. ĐCSVN (1996), Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII
Tác giả: ĐCSVN
Năm: 1996
14. Vương Tất Đạt (1994), Phương pháp giảng dạy môn GDCD, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy môn GDCD
Tác giả: Vương Tất Đạt
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 1994
15. Nguyễn Đình Đức - Dương Thùy Nga (2009), PPDH môn GDCD ở trường THPT, Nxb Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: PPDH môn GDCD ở trường THPT
Tác giả: Nguyễn Đình Đức - Dương Thùy Nga
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2009
17. Lê Văn Giang (2001), Những vấn đề cơ bản của khoa học giáo dục, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của khoa học giáo dục
Tác giả: Lê Văn Giang
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
19. Đặng Thành Hưng (2002), “Bản chất của khái niệm PPDH”, Dạy và học ngày nay, Số 1 (25) 2002, trang 18 – 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất của khái niệm PPDH”, "Dạy và học ngày nay
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Năm: 2002
20. Trần Bá Hoành (1995) “Bản chất của việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm”, Kỉ yếu hội thảo khoa học, “Đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hóa người học” – Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 1995, trang 147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Bản chất của việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm”, "Kỉ yếu hội thảo khoa học, “Đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hóa người học”
21. Trần Bá Hoành (2007), Đổi mới PPDH, chương trình và sách giáo khoa, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới PPDH, chương trình và sách giáo khoa
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
22. Nguyễn Sinh Huy (1996), Giáo dục học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Tác giả: Nguyễn Sinh Huy
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
23. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và PPDH trong nhà trường, Nxb Đại học Sự phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và PPDH trong nhà trường
Tác giả: Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: Nxb Đại học Sự phạm
Năm: 2005
24. Nguyễn Thị Minh Ngọc (2011), “Đổi mới PPDH – Giáo viên được gì? Mất gì?”, Giáo dục và thời đại chủ nhật, số 11 (13/5/2011), trang 5, 19-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới PPDH – Giáo viên được gì? Mất gì?”, "Giáo dục và thời đại chủ nhật
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Ngọc
Năm: 2011
25. Hà Thế Ngữ (2001), Giáo dục – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn
Tác giả: Hà Thế Ngữ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
26. Trần Tuyết Oanh (2004), Đánh giá trong giáo dục, Nxb Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trong giáo dục
Tác giả: Trần Tuyết Oanh
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm
Năm: 2004
27. Nguyễn Ngọc Quang (1989), Lý luận dạy học đại cương, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại cương
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1989

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w