1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của quá trình hội nhập đến sự biến đổi các dân tộc Việt Nam

81 704 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 660,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chịu ảnh hưởng của quan điểm, nhận thức đó vào y năm 1945, Louis Nỉrth giáo sư trường đại học Chicago Mỹ đã đưa ra định nghĩa dân tộc thiểu số như sau: “Dân tộc thiểu số là nhóm người do

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Người hướng dẫn khoa học :

Th.S HOÀNG THANH SƠN

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Đóng góp và ý nghĩa của khóa luận

7 Kết cấu của khóa luận

B NỘI DUNG

CHƯƠNG I MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DÂN TỘC VÀ HỘI NHẬP

1.1 Những khái niệm cơ bản

1.2 Quan điểm của giai cấp tư sản, Chủ nghĩa Mác – Lênin

CHƯƠNG II TÌNH HÌNH DÂN TỘC Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA HỘI NHẬP ĐẾN CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM

2.1 Khái quát cộng đồng các dân tộc Việt Nam

2.2 Tình hình kinh tế xã hội của vùng dân tộc và miền núi trước đổi mới

1986

Trang 3

2.3 Ảnh hưởng của quá trình hội nhập đến sự biến đổi của các dân tộc Việt Nam

CHƯƠNG III GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP Ở VIỆT NAM

3.1 Giải quyết vấn đề dân tộc trong lịch sử đất nước ta

3.2 Chính sách và việc thực hiện chính sách dân tộc trong qua trình hội nhập

C KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện khóa luận cũng như học tập tại trường, em nhận được sự giúp đỡ, quan tâm và tạo điều kiện của các thầy, cô giáo trong khoa gióa Dục chính Trị, nhất là các thầy cô giáo trong tổ Chủ nghĩa xã hội, cùng với sự động viên, khích lệ của gia đình, người thân và bạn bè Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu này

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo Hoàng Thanh Sơn đã

tân tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong xuốt thời gian thực hiện khóa luận này

Trong quá trình nghiên cứu khóa luận này, do điều kiện hạn hẹp về thời gian

và sự hạn hẹp về kiến thức bản thân nên em không thể tránh khỏi những thiếu xót khi hoàn thành khóa luận này Vì vậy em rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp của thầy, cô giáo và của bạn bè để đề tài nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 03/05/2011

Sinh viên thực hiện

Hoàng Thị Dư

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiêp được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của thầy Hoàng Thanh Sơn Tôi xin cam đoan rằng:

Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi

Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả

Hoàng Thị Dư

Trang 6

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Dân tộc là một sản phẩm của lịch sử - xã hội, có quá trình ra đời và phát triển hết sức phong phú Vấn đề dân tộc từ lâu đã trở thành vấn đề nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia dân tộc Sự phát triển của dân tộc sẽ là động lực lớn cho mọi hoạt động của đất nước, quốc gia có điều kiện đẩy mạnh Hiện nay, trên phạm vi thế giới, vấn đề dân tộc đã và đang đặt ra các vấn đề mang tính toàn cầu, có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - văn hoá -

xã hội ở từng quốc gia

Công tác dân tộc ở nước ta đã trải qua gần 70 năm ( 1946- 2011) xây dựng và trưởng thành Dưới sự lãnh đạo của Đảng công tác dân tộc luôn chiếm vị trí quan trọng trong các thời kỳ cách mạng ở nước ta Thời kỳ giải phóng dân tộc giành độc lập tự do cho Tổ quốc, công tác vận động cách mạng trong vùng dân tộc thiểu số quan trọng bậc nhất; bước vào giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, công tác dân tộc chiếm vị trí hàng đầu trong các chính sách của Đảng và Nhà nước ta Đặc biệt Đảng ta cũng đã xác định rõ đến thời kỳ đổi mới, công tác dân tộc hướng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, trọng tâm là công tác vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh, vùng biên giới bằng các chương trình và dự án phát triển vùng dân tộc Đây cũng được coi là một trong những chủ chương chiến lược để thực hiện mục tiêu “

dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” phấn đấu cho sự

bình đẳng, đoàn kết tiến bộ của các gia đình trong đại dân tộc Việt Nam, sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Trang 7

Trong bối cảnh hiện nay, thế giới đang có những sự phát triển vượt bậc,

sự mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu khoa học công nghệ mang tính xã hội hoá cao… đã có tác động đến tất cả các nước Chính quá trình này đã hình thành lên một xu hướng mang tính khách quan đó là tăng cường giao lưu, hội nhập diễn ra trên tất cả lĩnh vực trên phạm vi toàn thế giới, Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó

Để thực hiện mục tiêu làm cho dân giàu, nước mạng, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, Việt Nam đã không ngừng tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu với các nước trong khu vực và thế giới mà còn không ngừng tiến hành giao lưu giữa các dân tộc trong nước trên tất cả các lĩnh vực từ kinh

tế, chính trị, văn hoá…để ngày càng tăng thêm tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc và thúc đẩy các dân tộc kém phát triển vươn lên phát triển cùng các dân tộc trong nước

Đây được coi là vấn đề hết sức nóng bổng mà Đảng và Nhà nước ta đang trong quá trình thực hiện Với mong muốn làm sáng tỏ những biến đổi của các dân tộc Việt Nam trong quá trình giao lưu, hội nhập để từ đó Đảng và Nhà nước ta có những chủ trương, chính sách phù hợp, hạn chế những tiêu

cực của quá trình này, tôi quyết định chọn đề tài “Ảnh hưởng của quá trình

hội nhập đến sự biến đổi các dân tộc Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu khoá

luận

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề dân tộc là một vấn đề hết sức rộng lớn, phong phú về nội dung cũng như góc độ nghiên cứu Tuy nhiên, vấn đề dân tộc cũng là một trong số những vấn đề hết sức nhạy cảm, đó là một trong những nội dung cơ bản của chủ Chủ nghĩa xã hội khoa học Do đó đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà lý luận chính trị - xã hội Tiêu biểu như:

Trang 8

 Lã Văn Cô : “ Bước đàu tìm hiểu các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong

sự nghiệp dựng nước và giữ nước”, Nxb Khoa học xã hội, H., 1973

 Bế Viết Đẳng ( chủ biên) : “ 50 năm các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (

1945 – 1995) , Nxb Khoa học xã hội, H, 1995

 Nguyễn Văn Huy ( chủ biên) : “ Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt

Nam”, Nxb Giáo dục, H, 1998

 Phùng Hữu Phúc (2005) : “ Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc trong tư

tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội

 Nguyễ Văn Mừng (2005) : “Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình

đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển,” Sinh hoạt lý luận

số 6

 Tòng Thị Phóng (2005) : “Thực hiện tốt hơn chính sách dân tộc của

Đảng – cơ sở phát huy khối đại đoàn kết dân tộc”, Tạp chí cộng sản số 10

 Như vậy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề dân tộc Tuy

nhiên chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập tới đề tài này Trên cơ sở kế thừa, phát huy những kết quả đã thu được của các công trình nghiên cứu trước, tôi mong muốn đi sâu tìm hiểu những biến đổi của các dân tộc Việt Nam trong quá trình giao lưu, hội nhập

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích:

Dựa trên cơ sở lý luận chung về vấn đề dân tộc, mục đích của đề tài này muốn

đi sâu nghiên cứu những biến đổi của các dân tộc Việt Nam khi tham gia giao lưu, hội nhập Từ đó nhận thấy những biến đổi trên các phương diện và những thành tựu đã đạt được thông qua quá trình này

Nhiệm vụ:

- Tổng quan có chọn lọc những nội dung cơ bản về dân tộc

Trang 9

-Hệ thống hoá và làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm rõ những biến đổi của các dân tộc thông qua quá tình giao lưu

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Khoá luận tập trung nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, những biến đổi của các dân tộc Việt Nam qua quá trình hội nhập

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Khoá luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng của Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản

- Trong quá trình thực hiện tác giả đã sử dụng một số phương pháp cụ thể sau: Phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp lịch sử- logic, phương pháp xã hội học, phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử…

6 Đóng góp và ý nghĩa của khoá luận

- Khoá luận góp phần làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Khoá luận làm rõquan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc

- Khoá luận làm rõ những biến đổi và một số chính sách để phát huy tinh thần đoàn kết các dân tộc

- Với kết quả đạt được, khoá luận có thể làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và học tập về vấn đề dân tộc

Trang 10

7 Kết cấu của khoá luận

- Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận được chia làm 3 chương

Chương I : Một số lý luận cơ bản về dân tộc và hội nhập

Chương II : Tình hình dân tộc ở Việt Nam và những ảnh hưởng của hội nhập đến các dân tộc Việt Nam

Chương III : Giải quyết vấn đề dân tộc trong quá trình hội nhập ở Việt Nam

Trang 11

B NỘI DUNG CHƯƠNG I MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DÂN TỘC VÀ HỘI NHẬP 1.1 Những khái niệm cơ bản

1.1.2 Khái niệm dân tộc

Dân tộc là một trong những hình thái cộng đồng người được hình thành

trong quá trình phát triển của lịch Thuật ngữ “dân tộc “(Nation) và thời điểm

xuất hiện dân tộc là vấn đề tranh luận khoa học kéo dài nhiều thập kỉ, cho mãi tới ngày nay Các trước tác của Mác, Ănghen, Lênin chưa từng đưa ra định nghĩa về dân tộc Còn định nghĩa mà các sách báo trước đây thường hay viện dẫn lại không phù hợp với Việt Nam và các nước phương Đông

Chúng ta đều biết rằng lực lượng sản xuất, phương thức sản xuất vật chất là cơ sở quyết định tới quá trình có liên quan tới sự xuất hiện và hình thành các tổ chức xã hội của con người, đến sự thay đổi đến các hình thái cộng đồng người Do lực lượng sản xuất phát triển, khoảng 5 vạn năm trước đây (có tài liệu nói sớm hơn) các thị tộc thay cho bầy người Nhiều thị tộc hợp lại tạo thành bộ lạc, cơ sở của chế độ thị tộc và bộ lạc là phương thức sản xuất công xã nguyên thủy, là chế độ sở hữu tập thể của công xã, sản phẩm lao động chia đều cho mọi người, chỉ có quần áo, đồ trang sức thuộc sở hữu của

cá nhân

Trang 12

Bên cạnh quan hệ sản xuất công xã nguyên thủy, còn cần kể đến quan

hệ huyết thống Do quan hệ sản xuất thấp kém, con người không tách khỏi quan hệ tự nhiên ấy, như bào thai không thể tách khỏi người mẹ thông qua cuống nhau vậy Mọi dân tộc trên thế giới đều phải trải qua giai đoạn phát triển ấy, lao động và cùng với nó là trao đổi sản phẩm phát triển, một cộng đồng ra đời cùng với sự xuất hiện của giai cấp và nhà nước, đó là dân tộc

Ngay từ thế kỉ thứ XVIII, trên thế giới hình thành một hình thức cộng đồng dân tộc mới, dân tộc tư bản chủ nghĩa Trong giới khoa học và chính trị, phát sinh nhiều cuộc tranh luận dai dẳng về hình thành con đường dân tộc kiểu mới này Ý kiến chủ đạo trong giới khoa học Macxit, Lênin nít được Stalin đúc kết trong cuốn sách “Chủ nghiã Mac và vấn đề dân tộc”(1913) Theo Stalin thì dân tộc là một khối cộng đồng người ổn định, được thành lập trong lịch sử dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt

và hình thức tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hóa

Mặc dù ý kiến đó có một số nhà khoa học không đồng tình nhưng nó là

ý kiến chủ đạo chi phối trong một thời gian dài, giới chính trị và giới khoa học của các nước xã hội chủ nghĩa và giới Macxit toàn thế giới

Ở Việt Nam, người phát biểu đầu tiên nêu lên một quan điểm độc lập,

xác định rõ ý kiến của Hồ Chí Minh coi “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt

Nam là một” Khác với Stalin, Người cho rằng: “Ở Việt Nam dân tộc được hình thành từ khi lập nước, chứ không phải chủ nghĩa tư bản nước ngoài xâm nhập vào Việt Nam” (1966) Ý kiến đó được nhiều nhà khoa học trong và

ngoài nước đồng tình Quan điểm đó được chính thức trong cuộc trao đổi ở Taskent năm 1982 giữa đoàn các nhà khoa học Liên Xô và đoàn các nhà khoa học Việt Nam Đưa ra lập luận khoa học căn cứ vào tính đặc thù của phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, phía Việt Nam nhấn mạnh khái niệm dân tộc là đã ra đời từ trước khi chủ nghĩa tư bản, nhưng cũng không phủ

Trang 13

nhận có một hình thức dân tộc tư bản chủ nghĩa Sau khi liên bang Xô viết tan

rã, khái niệm dân tộc của Stalin mới được nhìn nhận lại và được kết luận rõ ràng là không phù hợp với thực tế lịch sử

Trong Tuyên ngôn của đảng cộng sản, Mác và Ăngghen thừa nhận sự tồn tại của một loại dân tộc khác, có trước dân tộc tư sản: “Nhờ cải tiến mau

chóng công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn minh Gía rẻ của những sản phẩm của giai cấp ấy là trọng pháo bắn thủng tất cả những bức vạn lý trường thành và buộc những người dã man bài ngoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục Nó buộc tất cả các dân tộc phải tiến hành phương thức sản xuất tư bản, nếu không sẽ bị tiêu diệt; nó buộc tất cả các dân tộc phải du nhập cái gọi là văn minh, nghĩa là phải trở thành tư sản”

Về vấn đề dân tộc được hình thành từ lúc nào, trong tác phẩm “ Hệ tư

tưởng Đức”, Mác và Ănghen đã cho ta lời giải đáp: “Sự đối lập giữa thành thị

và nông thôn xuất hiện cùng với bước quá độ từ thời đại dã man lên thời đại văn minh, từ tổ chức bộ lạc lên nhà nước, từ tính địa phương lên dân tộc, và

cứ tồn tại mãi suốt toàn bộ lịch sử văn minh cho đến ngày nay”

C Mác và Ph.Ăngghen đặt dân tộc (Nation) đối lập với tính địa phương

là một cộng đồng hình thành sau bộ lạc, sự xuất hiện của nhà nước, quốc gia dân tộc Quan điểm đó được trình bày rõ ràng trong phép biện chứng của tự nhiên của Ph Ăngghen

“Từ thế hệ này sang thế hệ khác, chính ngay lao động cũng ngày càng đổi

khác, hoàn thiện hơn, có nhiều mặt hơn Ngoài nghề săn bắn và chăn nuôi thì còn có nhiều nghề và tiếp theo đó lại có thêm nghề kéo chỉ, dệt vải, nghề làm kim khí, nghề làm đồ gốm và hằng hải Cuối cùng nghệ thuật và khoa học ra

Trang 14

đời bên cạnh thương nghiệp và thủ công nghiệp, các bộ lạc biến thành những dân tộc và quốc gia”

Từ dân tộc ở đây chỉ một cộng đồng người cùng sinh sống trong một quốc gia, một nước như dân tộc Việt Nam, Mĩ, dân tộc Pháp… Ở góc độ này, dân tộc chính là một cộng đồng người xã hội trong lịch sử, một cộng đồng người ổn định đời sống kinh tế, có tiếng nói chung, có lãnh thổ chung và có nền văn hóa chung Trong những đặc trưng này thì cộng đồng về kinh tế và cộng đồng về văn hóa là những đặc trưng quan trọng nhất Chỉ có hội đủ bốn yêú tố này dân tộc mới hình thành hẳn Bởi vậy khái niệm dân tộc thường gắn với vấn đề hình thành và phát triển các quốc gia dân tộc Trong lịch sử, nhà nước, quốc gia xuất hiện và các yếu tố nói trên cũng hình thành, phát triển sớm muộn khác nhau, do vây các quốc gia dân tộc ở các nước cũng hình thành vào các thời điểm khác nhau

Còn dân tộc hiểu theo nghĩa thông thường để chỉ một cộng đồng người,

có tiếng nói chung, chung lịch sử, cùng nguồn gốc, cùng một đời sống văn hóa dân tộc, có ý thức tự giác dân tộc, và cùng cư trú trên một địa bàn đầu tiên Ở nước ta, thường gọi dân tộc Kinh, dân tộc Tày, dân tôc Mường, Thái, Chăm, Mông, Khơme… Trong một dân tộc lại có thể bao gồm nhiều nhóm địa phương có đôi chút khác biệt về tiếng nói, chữ viết, phong tục, tập quán, dòng họ… như dân tộc Dao có chín ngành như: Dao Đỏ, Dao tiền, Dao Thanh Y… dân tộc Mông có: Mông Hoa, Mông Trắng, Mông Đen, theo màu sắc trang phục, dân tộc Thái có Thái Đen ,Thái Trắng Các dân tộc có thể cư trú ở một quốc gia và cũng có thể cư trú ở nhiều quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc, Mianma, Lào, Thái Lan… Do vậy, khái niệm dân tộc thông thường này được dùng để chỉ hầu như tất cả các hình thái cộng đồng người

Trang 15

1.1.3 Khái niệm dân tộc thiểu số

Khái niệm dân tộc thiểu số (Ethnic minority) lại được dùng trong một

ngữ cảnh khác –dùng để phân biệt với dân tộc đa số Khái niệm này chỉ có ở những quốc gia đa dân tộc Ví dụ các quốc gia Đông Nam Á, có thành phần tộc người trong mỗi quốc gia rất đa dạng

Ở Indonexia, có hơn 300 nhóm tộc người sinh sống trên 13000 hòn đảo lớn nhỏ Trong đó có chừng 10 nhóm quan trọng, như Javanese chiếm 47-50% dân số, Sundannese chiếm quãng 14% và các nhóm Madurece,Bataks…

Ở các quốc gia hải đảo khác, bức tranh tộc người cũng đa dạng và phức tạp không kém Ví dụ ở Malaysia, người ta thường cho rằng có 3 nhóm tộc người chính: người Melayu, người Hoa, người Ấn Độ Song ở cấp độ nhỏ hơn, bức tranh tộc người ở đây phức tạp hơn với hàng trăm nhóm người bản địa sống rải rác ở trên rất nhiều hòn đảo khác nhau của đất nước Malaysia

Ở Đông Nam Á lục địa, Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia hay Việt Nam, bức tranh tộc người cũng phong phú không kém Ví dụ, ở Myanma, một đất nước chỉ có khoảng 40 triệu dân, nhưng theo các nhà dân tộc học có tới 70 đơn vị tộc người…

Trong bức tranh đa dạng và phong phú trên, ở mỗi quốc gia thường có một tộc người đa số đóng vai trò chủ thể Đó thường là các tộc người chiếm

đa số, như người Xiêm ở Thái Lan, người Miến ở Myanma Các tộc người đa

số, chủ yếu thường cư trú ở khu vực ở đồng bằng trung tâm hoặc các đô thị lớn, có mức độ phát triển cao và giữ địa vị chi phối cả về chính trị lẫn kinh tế Các dân tộc ít người cư trú ở vùng ngoại vi, vùng rừng núi hoặc vùng sâu, vùng xa, nhìn chung trình độ phát triển kinh tế còn thấp, cơ sở giáo dục, văn hóa còn lạc hậu Họ được coi là các dân tộc thiểu số Trong quá trình phát triển thông thường họ bị phụ thuộc vào dân tộc đa số Người ta cũng gọi các

Trang 16

dân tộc thiểu số, bằng các thuật nhữ khác như bộ tộc, bộ lạc, người bản xứ, đân tộc bản địa, dân tộc vùng cao

Khái niệm và vấn đề dân tộc thiểu số chính thức được phát sinh ở phương tây vào thế kỉ XIX, khi chủ nghĩa tư bản thực dân bành trướng sang các nước chậm phát triển để mở rộng thuộc địa, khiến một số dân tộc nhỏ ở nhiều nơi rơi vào tình trạng bị thống trị hay bị lệ thuộc Họ được chủ nghĩa thực dân định nghĩa như những nhóm người lạc hậu, chậm tiến có địa vị thấp, khác biệt nhau về nòi giống, nhân chủng, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo

Chịu ảnh hưởng của quan điểm, nhận thức đó vào y năm 1945, Louis Nỉrth giáo sư trường đại học Chicago (Mỹ) đã đưa ra định nghĩa dân tộc thiểu

số như sau: “Dân tộc thiểu số là nhóm người do có một số nét đặc thù về

ngoại hình, thể chất hay văn hóa, bị đối xử khác biệt, bất bình đẳng so với các thành viên khác của xã hội và coi đó tự coi mình là đối tượng của một sự

kì thị tập thể” (Louis nirth 1945)

Theo bách khoa từ điển Anh, xuất bản 1959 Dân tộc thiểu số là nhóm người kết hợp với nhau bởi những sợi dây liên lạc về nguồn gốc ngôn ngữ hay tôn giáo, tự cảm thấy khác biệt với đa số cư dân của một quốc gia

Sách bách khoa từ điển các dân tộc Mỹ, xuất bản năm 1962 định nghĩa dân tộc thiểu số là nhóm người có những đặc điểm riêng về nhân chủng, tôn giáo, xã hội và kinh tế khác biệt với nhóm chủ yếu trong xã hội

Trong khoảng vài thập niên lại đây xuất hiện trên thế giới thêm nhiều định nghĩa về dân tộc thiểu số Đặc điểm của những định nghĩa này là khắc phục được dần nhược điểm kì thị dân tộc của các định nghĩa trước đây

Năm 1982, nhằm giải quyết vấn đề dân tộc đang có nguy cơ bùng nổ trên thế giới Tiểu ban đặc biệt về phòng chống nạn phân biệt chủng tộc và bảo vệ các dân tộc của Liên Hợp Quốc đã đưa ra định nghĩa về dân tộc thiểu

số, theo đó dân tộc thiểu số là tập hợp những người có lịch sử và diện mạo

Trang 17

văn hóa riêng, tồn tại và phát triển trên vùng lãnh thổ thường cách biệt với các trung tâm cho đến trước khi bị xâm nhập bởi các hội từ bên ngoài Họ tồn tại như những bộ phận xã hội dễ bị tổn thương, dễ nằm ngoài lề sự phát triển (Dẫn theo UNDP 1999)

Không chỉ quốc tế và các quốc gia mà nhiều tổ chức tài trợ quốc tế lớn cũng cố gắng đưa ra định nghĩa riêng về dân tộc thiểu số như là công cụ làm việc Định nghĩa của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB); Ngân hàng Thế giới…

Ngân hàng Thế giới đề cập đến khái niệm dân tộc thiểu số trong rất nhiều tài liệu, theo đó dân tộc thiểu số là các cộng đồng người có những đặc điểm riêng liên quan đến tính gắn bó với đất đai của tổ tiên, với các thiết chế

xã hội truyền thống, sản xuất tự cấp, tự túc, có ngôn ngữ nhận dạng, lịch sử xã hội và văn hóa khác hẳn với những người đa số Sản xuất tự cấp, tự túc là đặc điểm kinh tế nổi bật Do những hạn chế riêng họ thường có địa vị xã hội và kinh tế thấp Tất cả những điều đó làm hạn chế khả năng bảo vệ các lợi ích và chủ quyền về đất đai và nguồn lực sản xuất, hạn chế khả năng tham gia và hưởng lợi từ quá trình phát triển Về mặt đời sống và thu nhập, các dân tộc thiểu số là bộ phận cư dân nghèo nhất trong xã hội Văn hóa, đất đai và các nguồn lực được kết hợp với nhau một cách độc đáo và dễ bị tổn thương bởi những sự thay đổi do các dự án phát triển gây ra (1 wb Dự thảo chính sách

về người dân tộc thiểu số 1999 2 wb So sánh chính sách của ngân hàng thế giới và chính sách của Việt Nam về dân tộc thiểu số 2000)

Như thế, theo Ngân hàng Thế giới, dân tộc thiểu số là các cộng đồng người có đặc trưng nổi bật sau :

- Gắn bó mật thiết với lãnh thổ của tổ tiên và các nguồn lực tài nguyên trong lãnh thổ đó

- Có thiết chế xã hội, ngôn ngữ và phong tục riêng

Trang 18

- Sản xuất tự cung, tự cấp

- Có trình độ phát triển kinh tế thấp, xã hội thấp, làm hạn chế khả năng bảo vệ nguồn lực đất đai và tài nguyên, khả năng tham gia và hưởng lợi

từ các dự án phát triển

- Là bộ phận nghèo nhất trong xã hội, chưa có đủ

điều kiện hưởng lợi từ các dự án phát triển gây ra Ở Việt Nam, tùy vào giác độ tiếp cận mà hiện có những định nghĩa đầy đủ hoặc không đầy đủ

về dân tộc thiểu số

Từ điển bách khoa ( Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam 1995) đầy đủ hơn : Dân tộc thiểu số là dân tộc có dân số ít cư trú trong một quốc gia thống nhất đa dân tộc, mỗi dân tộc thành viên có 2 ý thức : ý thức về

Tổ Quốc mình sinh sống và ý thức về dân tộc mình Các dân tộc thiểu số có thể cư trú tập trung hoặc rải rác, xen kẽ nhau, thường ở những vùng ngoại vi, vùng hẻo lánh, vùng điều kiện phát triển kinh tế xã hội còn khó khăn Vì vậy nhà nước tiến bộ thường thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc, nhằm xóa dần những chênh lệch trong sự phát triển kinh tế xã hội giữa các dân tộc đa số

và các dân tộc thiểu số

Từ điển tiếng Việt ( Viện ngôn ngữ 1988) đưa ra một định nghĩa chung nhất : Dân tộc thiểu số là dân tộc chiếm số dân ít so với dân tộc chiếm số dân đông nhất trong một nước nhiều dân tộc Hiểu như thế, ở Việt Nam, trừ người Kinh là dân tộc đa số, các dân tộc còn lại là dân tộc thiểu số

Như vậy có thể thấy rằng đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về dân tộc thiểu số Tuy nhiên có thể hiểu một cách dễ hiểu về dân tộc thiểu số : Dân tộc thiểu số là dân tộc chiếm số dân ít hơn so với dân tộc chiếm số dân đông nhất trong một nước nhiều dân tộc, dân tộc thiểu số là cộng đồng người có những đặc điểm riêng liên quan đến các thiết chế xã hội truyền thống, sản xuất tự

Trang 19

cấp tự túc, có ngôn ngữ nhận dạng, lịch sử xã hội và văn hóa khác hẳn với người đa số

1.2 Các quan điểm đánh giá về dân tộc

1.2.1 Quan điểm của hệ tưởng tư sản về dân tộc

Hệ tư tưởng tư sản đã có thời đóng vai trò chi phối giải quyết vấn đề dân tộc Đó là một thực tế khách quan có tính tất yếu lịch sử, khi mà phương Tây xuất hiện chủ nghĩa tư bản với sự chiến thắng của phương thức sản xuất

tư bản đối với phương thức sản xuất phong kiến đã làm chuyển biến các cộng đồng thị tộc địa phương cát cứ, khép kín thành cộng đồng dân tộc Dân tộc xuất hiện làm cho chủ nghĩa tư bản phát triển trên quy mô rộng lớn phù hợp với trình độ xã hội hóa mà lực lượng sản xuất đạt được Theo Lênin : Cộng

đồng dân tộc là “thông lệ của chủ nghĩa tư bản”

Khi mà giai cấp tư sản là giai cấp tiến bộ thì hệ tư tưởng của nó đóng vai trò tiêu biểu Bởi vì, khi đó nó chống lại hệ tư tưởng phong kiến chuyên chế, tàn bạo, chia cắt, phân tán, trì trệ, lạc hậu và cực kì phản động

Khi mà chủ nghĩa tư bản phát triển lại là lúc nó đẩy mạnh sự phân tán, giai cấp tư sản không còn đại diện cho lợi ích dân tộc mà đã phản bội lại lợi ích dân tộc, khi mà vấn đề dân tộc trở thành thuộc địa rộng lớn, khi mà giai cấp công nhân phát triển thành lực lượng xã hội và đòi hỏi phải trở thành dân tộc Giai cấp tư sản đã trở thành dân tôc Giai cấp tư sản đã lợi dụng vấn đề dân tộc phục vụ cho lợi ích ích kỷ của chúng đó là:

Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, giai cấp tư sản cho rằng nhân loại có loại người thượng đẳng là văn minh, cao sang và có loại người hạ đẳng là man rợ, hèn hạ Từ đó lý giải việc thống trị của dân tộc này đối với dân tộc khác như là một lẽ tự nhiên Vào thời kì Cổ đại ở đất nước Hy – lạp, nhà triết

học, “ nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ” Arít-tốt tán thành quan điểm trên

Trang 20

Chủ nghĩa dân tộc cũng thuộc sản phẩm của hệ tư tưởng tư sản, nó tuyên truyền cho chủ nghĩa sô vanh nước lớn chủ nghĩa phân biệt cho một dân tộc nào đó, sự miệt thị dân tộc, chủ nghĩa hệp hòi dân tộc…điều này được thể hiện rõ ở nước Đức, sau khi Hit-le lên nắm chính quyền

Chủ nghĩa tư bản hiện đại đang gieo rắc quan điểm ly khai, ly tâm, phân ly cho công đồng các dân tộc sống ở nhiều quốc gia để phục vụ cho lợi ích của chúng, chúng phá tan đi các cộng đồng đoàn kết của các dân tộc trong khối SNG, các khối nước Nam Tư cũ, ngay cả các nước ở Trung Đông, Châu phi, Đông Nam Á…chúng đang can thiệp thô bạo vào các quốc gia có chủ quyền thông qua vấn đề dân tộc, lợi dụng vấn đề dân tộc để rêu rao vì lợi ích của các dân tộc

Đây là sự cảnh tỉnh đối với các nước Đối với chúng ta, về vấn đề Tây Bắc, Tây Nam,Tây Nguyên đã và đang trong âm mưu thủ đoạn đó

1.2.2 Quan điểm của CN Mác- Lênin về vấn đề dân tộc

Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản ( Mác- Ăngghen) đã viết: “Hãy xóa bỏ

nạn người bóc lột người thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác bị xóa bỏ”

[26, tr 24) Đó là quan điểm giai cấp của vấn đề dân tộc, chính vì lẽ đó giai cấp vô sản khi giành được chính quyền, giải phóng vấn đề dân tộc trước hết phải giải quyết vấn đề áp bức giai cấp

Trong Hệ tư tưởng Đức ( Mác ) đã viết : “ Những quan hệ qua lại giữa

các dân tộc với nhau đều phụ thuộc vào những trình độ phát triển của mỗi dân tộc đó về mặt lực lượng sản xuất, phân công lao động và giao tiếp nội bộ Nguyên lý đó được mọi người thừa nhận Song không chỉ riêng quan hệ của dân tộc này với dân tộc khác, mà toàn bộ kết cấu bên trong và bên ngoài của dân tộc ấy Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của mỗi dân tộc biểu

lộ rõ nhất ở trình độ phát triển của phân công lao động Bất cứ sức sản xuất nào, trong chừng mực không phải chỉ là sự mở rộng đơn thuần về sản lượng

Trang 21

những lực lượng sản xuất mà người ta đó biết cho đến lỳc đú ( vớ dụ như khai phỏ đất đai mới) cũng đều mang lại kết quả là sự phỏt triển nữa của phõn cụng lao động” [1;tr30) Đú là quan điểm về sự đỏnh giỏ trỡnh độ phỏt triển

của cỏc dõn tộc, sự đồng đều, sự chờnh lệch, sự cao và thấp về từng dõn tộc về bản chất là trỡnh độ phỏt triển của lực lượng sản xuất và phõn cụng lao động

xó hội

Vượt qua trỡnh độ phỏt triển sức sản xuất thấp kộm đưa tới trỡnh độ phỏt triển cao của lực lượng sản xuất là cỏc con đường đưa cỏc dõn tộc lờn địa vị mới, tiến tới sự bỡnh đẳng dõn tộc

Theo Ăngghen: “Một dân tộc đi áp bức dân tộc khác thì dân tộc ấy

không có tự do” Tinh thần đó phản ánh rất rõ vào tư tưởng độc lập dân tộc và

cách mạng vô sản là giải phóng các dân tộc bị áp bức

Lênin cho rằng: “Cần phải phân biệt chủ nghĩa dân tộc của dân tộc đi

áp bức với chủ nghĩa dân tộc của dân tộc bị áp bức, chủ nghĩa dân tộc của một dân tộc lớn và chủ nghĩa dân tộc của một dân tộc nhỏ” [2,tr45] Đó là

quan điểm giải phóng dân tộc bị áp bức và thực hiện bình đẳng dân tộc

Với Lênin về vấn đề dân tộc chúng ta không thể không kể tới Cương lĩnh dân tộc được công bố ngay sau khi cách mạng tháng Mười Nga thành công Đây là văn kiện quan trọng nhất chứa đựng các quan điểm của giai cấp vô sản phải giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng vô sản đó là thực hiện quyền bình đẳng dân tộc, quyền tự quyết dân tộc và sự liên hiệp lại (đoàn kết ) các dân tộc bị áp bức và vô sản toàn thế giới

Những quan điểm của CN Mác - Lênin là những nguyên lý Marxit cho việc giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng vô sản và đây là một trong những căn cứ quan trọng trong việc giải quyết vấn đề dân tộc trong tiến hành dân tộc Việt Nam do Đảng cộng sản lãnh đạo

Trang 22

CHƯƠNG II

TÌNH HÌNH DÂN TỘC Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG

CỦA HỘI NHẬP ĐẾN CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM

2.1 Khái quát về cộng đồng dân tộc Việt Nam

2.1.1 Khái quát quá trình hình thành dân tộc

Từ bình minh của lịch sử, đất nước Việt Nam đã có mặt con người sinh sống Qua các di chỉ khảo cổ học nền văn hóa Hòa Bình, nền văn hóa Đông Sơn, nền văn hóa Sơn Vi chứng tỏ ở Việt Nam con người đã trải qua các thời đại đồ đá cũ, đồ đá giữ, đồ đá mới và bước sang nền văn minh sông Hồng, nền văn minh lúa nước, nền văn hóa đồ đồng với chống đồng Ngọc Lũ, trống đồng Đông Sơn và rải rác các chứng tích về thời đại đồ đồng khắp lãnh thổ nước ta

Các cư dân trên lãnh thổ Việt Nam, cho đến ngày nay, qua các truyền thuyết đã phản ánh một điều là các dân tộc Việt Nam rất gần gũi nhau về mặt nguồn gốc Người Việt (Kinh) có truyền thuyết Lạc Long Quân với Nàng Âu

Cơ đẻ ra 100 trứng, 50 con lên rừng trở thành các dân miền núi, 50 con xuống

đồng bằng ven biển trở thành người miền xuôi Truyền thuyết “Chim Ây, Cái

Ưá’, “Đẻ đất đẻ nước” của dân tộc Mường; Truyền thuyết “Một gốc nhiều

cành” của dân tộc Bana; Truyền thuyết “ Qủa bầu” của dân tộc Khơ mú ;

Truyền thuyết “Pú Lương Quân” của dân tộc Thái… đã là truyền thuyết thì

phải được lưu truyền từ đời nọ qua đời kia, tuy nó không phải là hiện thực lịch sử nhưng có cốt lõi của quá khứ lịch sử

Thế là trên mảnh đất Việt Nam thân yêu của chúng ta là nơi hội tụ “ đất

lành chim đậu” của các dân tộc cùng chung lưng đấu cật dựng nước và giữ

nước

Trang 23

Quốc gia Việt Nam được hình thành rất sớm và ngay từ buổi đầu dựng nước đã có mặt của các dân tộc hợp thành Cách nay khoảng 3000 năm, nước Văn Lang ra đời trên cơ sở của 15 bộ lạc Sự liên minh các bộ lạc đó có miền núi và miền xuôi Tù trưởng bộ lạc Văn Lang nhờ tài năng vượt trội đã trở thành Vua Hùng đời thứ nhất

Cuối thế kỉ thứ III trước công nguyên, sau khi nhà Tần các bộ tộc ở phương Nam Năm 214 ( trước công nguyên) các bộ tộc Việt ở Đông Hải (cực nam Triết Giang), bộ tộc Tân Việt (ở Phúc Kiến), bộ tộc Nam Việt ( ở Quảng Đông ) đều lần lượt bị chinh phục và bị Hán hóa Các nhóm Âu Việt, Lạc Việt

là tổ tiên của nhiều dân tộc ở Quảng Tây( Trung Quốc) và Việt Nam ngày nay, đã liên hiệp với nhau chống lại quân Tần, không bị chinh phục, không bị người Hán đồng hóa Cũng vào thời kì này nhà nước Văn Lang suy yếu, Thục Phán vị thủ lĩnh liên minh bộ lạc Âu lạc vùng thượng du Bắc Bộ đã hợp nhất với Văn Lang của người Lạc Việt, lập nên nhà nước Âu Lạc Hai bộ tộc này vốn rất gần gũi với nhau về nguồn gốc lịch sử và văn hóa nên đã hòa hợp nhau một cách dễ dàng Thục Phán tự xưng là An Dương Vương đóng đô tại

Cổ Loa ( Đông Anh- Hà Nội) Chúng ta đã tiến hành khai quật di chỉ Cổ Loa, các cứ liệu lịch sử cho thấy nơi đây đã xây thành, đắp lũy, đã có rất nhiều mũi tên đồng, nó chứng tỏ việc chăm lo phòng thủ đất nước của các cư dân Việt

Cổ

Năm 179 (trước công nguyên) nước Âu Lạc bị Triệu Đà xâm lược mở đầu cho thời kì đô hộ của phong kiến Phương Bắc kéo dài trên 1000 năm Bắc thuộc Suốt thời kì này phong kiến phương Bắc đã có rất nhiều chính sách, biện pháp nhằm đẩy mạnh sự đồng hóa các tộc người ở Nam Việt, đẩy nhanh quá trình Hán hóa; song sự quật cường của các tộc người vốn có truyền thống đoàn kết nhau muôn người như một, có ý chí quật cường anh dũng chống ngoại xâm đã liên tiếp nổ ra các cuộc khởi nghĩa chống lại phong kiến

Trang 24

phương Bắc, đòi lại nền độc lập, có thể kể một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu

- Năm 1981, Lê Hoàn chiến thắng quân Tống ở Chi Lăng (Lạng Sơn) củng cố nền độc lập nước nhà thêm một bước

Chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc, chứng tỏ rằng lịch sử của cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã cố kết rất bền chặt trước yêu cầu chống xâm lược, bảo vệ nền độc lập dân tộc một cách kiên cường, anh dũng đầy khí phách và bản lĩnh trước các đế chế phong kiến phương Bắc hùng mạnh

Từ thế kỉ XI trở đi chế độ phong kiến Việt Nam đã phát triển ở chế độ phong kiến trung ương tập quyền ( không còn tình trạng cát cứ) Các triều đại

Lý, Trần, Lê, Quang Trung đều thể hiện được ý chí độc lập dân tộc, ở triều đại nào cũng có những chiến công hiển hách trong sự nghiệp chống xâm lược bảo vệ và mở mang bờ cõi

Cuối thế kỉ XIX vua quan nhà Nguyễn đã phải “ bỏ giáo lai hàng” chủ

nghĩa tư bản Pháp, thực dân pháp đến xâm lược nước ta kéo dài ách thống trị

80 năm rồi đến đế quốc Mĩ duy trì ách thống trị ở Miền Nam Việt Nam gần

20 năm Gần 100 năm dưới ách thực dân phong kiến đó, dân tộc Việt Nam vẫn phát huy cao độ tinh thần đoàn kết, tinh thần đó được nâng cao về chất từ ngay sau ngày có Đảng, đã tạo ra sức mạnh đánh thắng hai đế quốc hung

Trang 25

mạnh vào bậc nhất địa cầu trong thời đại ngày nay, giành lại nền độc lập cho đất nước, tự do cho các dân tộc

Quá trình dựng nước và giữ nước và giữ nước đó, nhiều dân tộc thiểu

số cũng như dân tộc Việt là con cháu của người Việt cổ đã khẳng định vai trò chủ nhân của mình Quá trình đó cũng là quá trình sự hòa hợp nhiều dân tộc ở nước Việt Nam diễn ra Do vị trí địa lý Việt Nam là một nước như tâm điểm ở Đông Nam á Các cư dân Việt cổ lại có truyền thống đoàn kết, có tinh thần

“tương thân, tương ái”, nhiều nhà nghiên cứu lịch sử đã cho rằng ngay từ thời

cổ đại và thời trung đại các dân tộc ở Việt Nam luôn có yếu tố hòa hợp với các dân tộc khác Trong lúc đó, từ thời tiền sử cho đến gần đây, những biến cố diễn ra ở các nước xung quanh ta đã làm cho cư dân có nhu cầu sinh sống…) đến Việt Nam

Các dân tộc từ Hoa Nam Trung Quốc xuống, từ Lào và Campuchia đến, tử các đảo phía tây nam Thái Bình Dương vào để sinh sống ở Việt Nam Thế kỉ III (TCN) Thục Phán hợp nhất hai tộc người lớn Tây Âu Việt, hay Âu Việt tổ tiên của người Tày, Thái, Nùng và Lạc Việt tổ tiên của người Việt, Mường Thế kỉ XI-XII các tập đoàn người Thái đi từ Nam Trung Quốc và Tây Bắc, Tây Thanh- Nghệ Thế kỉ XV-XVI đồng bào Mông di cư vào Bắc Việt Nam chia thành nhiều nhóm vào các tỉnh miền núi phía Bắc Thế kỉ thứ

II (TCN) các dân tộc nói ngữ hệ Maylayo- polinesiens đã vượt biển vào miền Trung Việt Nam và vượt lên Tây Nguyên với các dân tộc nói ngữ hệ Môn –khơ me tạo thành cộng đồng dân tộc cư trú dọc Trường Sơn và Tây Nguyên

Chỉ sơ bộ, phổ quát những nét cơ bản của lịch sử phát triển các dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước ta thấy rõ rằng cộng đồng các dân tộc cùng chung sống ở Việt Nam ta đã có chung một vận mệnh lịch

sử, cùng cội nguồn, cùng truyền thống văn hóa, cùng nhau xây dụng và bảo

vệ đất nước, cùng hòa hợp với nhau… đó là những nét đặc trưng nổi bật nhất

Trang 26

của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, một cộng đồng lịch sử độc đáo trên Thế giới Chính những yếu tố đố làm cho quá trình hình thành ý thức dân tộc gắn với quốc gia ở nước ta ra đời rất sớm trong lịch sử không phải đến lúc có chủ nghĩa tư bản mới hình thành quốc gia dân tộc Đây cũng là nét đặc sắc nữa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Bước vào thời kì lịch sử hiện đại, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đi theo sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam

đã lập nên biết bao kì tích, lịch sử dân tộc gắn liền với lịch sử cách mạng nước ta do Đảng lãnh đạo, những mốc son lịch sử hiện đại của dân tộc ta phải

kể đến là:

Năm 1930 Đảng cộng sản ra đời, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc với mục tiêu: đánh đuổi đế quốc, đánh đổ phong kiến giành lại nền độc lập cho dân tộc Các dân tộc đi theo tiếng gọi của Đảng đã đoàn kết, xây dựng căn cứ địa cách mạng, từ Cao- Bắc- Lạng- Hà – Tuyên- Thái phát triển ra cả nước chờ thời cơ tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền

Năm 1945, lực lượng cách mạng trong các dân tộc đã lớn mạnh, thời cơ

đã đến, các thế lực đế quốc, phong kiến sovới lực lượng cách mạng đang bị dồn vào thế yếu Cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8.1945 là cuộc chiến tranh nhân dân, sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, đồng loạt vượt lên cướp chính quyền, ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên Ngôn Độc Lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; Nhà nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Năm 1946 thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, nghe theo lời kêu gọi của Hồ chủ tịch, tiếng gọi của Đảng và chính phủ, các dân tộc ở nước ta ủng

hộ tham gia vào lực lượng kháng chiến tại các căn cứ địa kháng chiến rải rác khắp đất nước đã thu hút tất cả các dân tộc đem hết sức người, sức của để đánh đuổi thực dân Pháp giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc

Trang 27

Năm 1954 sau thắng lợi của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, đây là thắng lợi nổi tiếng của nhiều chiến dịch ta đánh thắng giặc Pháp, song Điện Biên Phủ là trận quyết chiến chiến lược buộc Pháp phải rút khỏi Miền Bắc, hòa bình lập lại một nửa đất nước, Đảng lãnh đạo nhân dân miền Bắc tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa làm hậu thuẫn cho công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất Tổ Quốc

Năm 1975 sau chiến dịch Buôn Ma Thuật mở màn cho cuộc đại tổng công kích của chiến dịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đồng loạt nhaats tề đứng dậy, miền Nam nước ta chỉ trong thời gian rất ngắn được hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc ta đã thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội

2.1.2 Đặc điểm chung cộng đồng các dân tộc Việt Nam

2.1.2.1 Các dân tộc phân bố trên địa bàn rộng lớn, có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế và quốc phòng

Trong lịch sử hiện đại, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã phát huy cao độ truyền thống đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, vượt qua mọi khó khăn, thử thách quyết liệt của cuộc kháng chiến trường kì, gian khổ nhưng vô cùng anh dũng; vượt qua mọi thiểu thốn của đời sống xã hội, do trình độ lực lượng sản xuất của cộng đồng các dân tộc nước ta lúc đó còn thấp kém Nhưng vượt lên tất cả là sự đoàn kết, ý chí độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc đã tạo lên những chiến công hiển hách bậc nhất trong lịch sử dân tộc ta

Do lịch sử để lại các dân tộc ở nước ta có trình độ phát triển kinh tế- xã hội không đều nhau( chênh lệch nhau) Đảng và nhà nước ta đã có nhiều

chính sách biện pháp nhằm khắc phục sự chênh lệch đó để “vùng cao tiến kịp

vùng thấp, miền núi tiến kịp miền xuôi”, nhưng có nhiều dân tộc thiểu số điểm

xuất phát còn thấp, trình độ canh tác nông- lâm nghiệp lạc hậu; đồng bào lại

cư trú ở những vùng khí hậu khắc nghiệt, địa hình chia cắt, giao thông đi lại

Trang 28

cách trở và nhiều khó khăn khác; Vì vậy ở vùng các dân tộc thiểu số kinh tế vẫn chậm phát triển, tỉ lệ đói nghèo cao, trình độ dân chí thấp, tình trạng thiếu thốn về văn hóa thông tin còn phổ biến Những vấn đề đó dang đặt ra yêu cầu phải tiếp tục được Đảng và Nhà nước ta quan tâm giải quyết

Với địa bàn cư trú của các dân tộc ở 2/3 lãnh thổ, nơi có vị trí chiến lược về an ninh – quốc phòng, và tầm quan trọng về kinh tế Thực tế này đặt

ra cho việc phát triển vùng lãnh thổ miền núi của đất nước với việc thực hiện chính sách dân tộc cho đồng bào nơi cư trú cũng đòi hỏi những chất lượng tăng có tính toán một cách toàn diện hơn

2.1.2.2 Các dân tộc có số dân không đều và sống xen kẽ với các dân tộc anh

em

Theo số liệu thống kê ở nước ta trừ dân tộc Kinh chiếm đa số, các dân tộc thiểu số có số dân trên dưới 1 triệu người là : Tày, Thái, Mường, Hoa, Khơme, Nùng; các dân tộc có số dân từ 100.000 người đến 500.000 người là: Mông, Dao, Gỉarai, Êđê, Bana,Sanchay; các dân tộc có số dân từ 1000 đến 100.000 người là : Chăm, Xơ đăng, Sandiu, Hrê, Còho, Ragla, Monong,Thổ, LôLô, Chứt, Cống, Thái, Khơmu…

Do nước ta nằm trên con đường giao lưu kinh tế - văn hóa của Đông Nam Á, nên từ xa xưa là nơi gặp gỡ của nhiều dân tộc từ Bắc xuống, từ Nam lên và từ Tây sang (chủ yếu là từ Bắc xuống) Còn làn sóng di cư của các dân tộc đến nước ta là do những nguyên nhân kinh tế xã hội

2.1.2.3 Các dân tộc phát triển không đều nhau về kinh tế - xã hội

Do quy luật phát triển không đều của lịch sử, đặc biệt à do hậu quả nặng nề của cuộc sống dân tộc thời phong kiến, nhất là thời kì thực dân, nên ở nước ta sau khi cách mạng tháng 8.1945 thành công, các dân tộc ở nước ta tiến lên xây dựng cuộc sống mới, từ những xuất phát điểm không giống nhau

Trang 29

về kinh tế- xã hội Sự phát triển không đồng đều của các dân tộc ở nước ta là một đặc điểm cực kì quan trọng và nổi bật của các dân tộc ở nước ta

2.1.2.4 Sắc thái văn hóa của các dân tộc ở nước ta rất phong phú và đa dạng

Một vấn đề dân tộc do lịch sử để lại là các dân tộc ở nước ta có bản sắc văn hóa riêng của từng dân tộc, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa( 1946) cho đến các hiến pháp sửa đổi tiếp theo đều khẳng định việc phải tôn trọng và phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc Hiện nay một số dân tộc có số dân ít, trình độ phát triển kinh tế xã hội thấp, còn du canh, du cư; Những dân ộc đó đanh có nguy cơ cao về mai một truyền thống văn hóa Một số dân tộc đã từng có những kho tàng văn hóa rất quý hiếm như Cồng chiêng của các dân tộc Tây Nguyên, nhưng nếu không tích cực giữ gìn, bảo vệ thì sẽ bị mai một

2.1.2.5 Các dân tộc đều có chung vệnh mệnh lịch sử, gắn bó với sự ra đời và phát triển của Tổ quốc Việt Nam thống nhất

Từ đặc điểm này có thể rút ra kết luận cần thiết là phải chăm lo vun đắp, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc đồng thời phải coi trọng

sự đoàn kết như con ngươi của mắt mình, bởi nó không chỉ là sức mạnh tinh thần mà còn là sức mạnh vật chất, sức mạnh vô địch của dân tộc ta trong quá khứ và trong tương lai

2.1.2.6 Các dân tộc ở nước ta luôn tin theo Đảng

Từ khi có Đảng, nhất là từ sau thắng lợi của cách mạng tháng 8.1945, đặc biệt từ khi Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới( 1986) các dân tộc thiểu số ở nước ta thực sự đã đổi đời, đạt được nhiều thành tựu xuất sắc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên đời sống của các dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn Đảng và Nhà nước ta hiện nay có quyết tâm cao đưa các dân tộc tiến lên một giai đoạn phát triển mới

Trang 30

Lịch sử phát triển của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó có thành phần các dân tộc thiểu số, quá trình cố kết đã đặt ra cho lịch sử tiếp theo

là phải thực hiện tốt các nguyên tắc chính sách : “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển” như nghị định Đại hội IX của Đảng đã nêu ra Đó cũng là trách nhiệm lịch sử cao cả của Đảng, Nhà nước, của tất cả chúng ta

2.1.3 Số lượng và sự phân bố dân tộc ở nước ta

Theo tổng điều tra dân số ngày 1/4/1999 cho biết các số liệu cơ bản sau đây:

+Tổng số dân của cả nước là 76.323.173 người

+ Dân tộc Kinh là: 65.795.718 người, chiếm 86,2% dân số

+ Dân tộc thiểu số là: 10.527.455 người, chiếm 13,8% dân số

- Các dân tộc thiểu só có dân số trên dưới 1 triệu người là: Tày, Thái, Mường, Hoa, Khome, Nùng

- Các dân tộc có dân số từ 100.000 người đến 500.000 người là: Mông, Dao, Gỉarai, Êđê, Bana, Sanchay

- Các dân tộc có số dân từ 1000 đến 100.000 người là Chăm, Xơdang, Sandiu, Hrế, Coho, Raglay, Monong, Thổ, Lự, LôLô, Chứt, Cống, Ngái, Khơmu

- Các dân tộc có số dân dưới 1000 là : Sila, Ơđu, Pupeo, Brâu, Rơ măm

Miền núi nước ta chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ quốc gia, bao gồm 19 tỉnh miền núi cao và 23 tỉnh có miền núi như: Tây Bắc, Việt Bắc, dọc Trường Sơn, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ Trên các vùng địa bàn này về mặt truyền thống là nơi sinh tụ của các dân tộc thiểu số, sau này xu hướng xen ghép nhất là cư dân từ miền xuôi tới phát triển kinh tế -xã hội đã đưa các dân tộc sống ở miền núi lên tới 20 triệu người Còn ở Tây Nam Bộ và cực Nam trung Bộ là vùng đồng

Trang 31

bằng, nhưng từ xa xua đã có người Khơme Nam Bộ và người Chăm sinh sống

Vùng cao là bộ phận quan trọng ở miền núi nước ta ( gồm vùng cao núi

đá và vùng cao núi đất ), trải dài từ Đông Bắc sang Tây Bắc, miền tây khu IV

cũ, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, chạy dọc theo biên giới đường bộ với Trung Quốc, Lào, Campuchia (với độ cao 600 m so với mực nước biển) hiện nay, có gần 2.300 xã, thị trấn thuộc trên 37 huyện của 17 tỉnh với tổng diện tích 150.000 km vuông, dân số khoảng 11 triệu người Các cư dân sinh sống nơi đây chủ yếu là dân tộc thiểu số Đây là vùng địa bàn phức tạp, chia cắt, khí hậu khác nghiệt, với vùng địa bàn rộng lớn chứa đựng những tiềm năng kinh tế và vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng Song sản xuất và đời sống của các dân tộc thiểu số nơi đây còn rất khó khăn

(Có một số địa bàn dân cư của các dân tộc tập trung tương đối đông Theo tài liệu tổng điều tra dân số 01/4/1999)

Từ căn cứ những địa phướng có đông đồng bào các dân tộc thiểu số và các địa phương đó có bao nhiêu huyện và xã miền núi và vùng cao là những tiêu chí quan trọng trong việc hoạch định chính sách, cũng là những nơi có tầm quan trọng của việc quản lý nhà nước về dân tộc và công tác dân tộc

2.2 Tình hình kinh tế xã hội của vùng dân tộc và miền núi trước đổi mới (1986)

Nhìn vào 53 dân tộc thiểu số ở nước ta, ngoài dân tộc Hoa ( Hán) là dân tộc đông người của nước Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa có một số mang quốc tịch ngoại kiều Do lịch sử để lại, phần lớn những người Hoa có quốc tịch Việt Nam đã cư trú lâu đời ở Việt Nam, chính phủ Việt Nam đã công nhận thành phần này là dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc ở Việt Nam,

là công dân của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thành phần dân

Trang 32

tộc Hoa có trình độ phát triển kinh tế- xã hội cao như dân tộc Kinh là dân tộc

đa số ở nước ta

Trong 53 dân tộc còn lại chúng ta xem xét về tình hình kinh tế- xã hội của các dân tộc khi nhà nước ta chưa thực hiện công cuộc đổi mới

2.2.1 Về kinh tế

Các dân tộc thiểu số ở nước ta có trình độ phát triển kinh tế rất chênh lệch nhau Ở trình độ phát triển kinh tế cao có các dân tộc Mường, Tày, Nùng, Thái, Chăm, Khơme và một số ít các dân tộc khác, như dân tộc Lào, dân tộc

Lự tương tự như dân tộc Thái, dân tộc Cao Lan, Sachay tương tự như dân tộc Tày, Nùng Các dân tộc trên đay đều có dân số tương đối đông, định cư ổn định, rất lâu dài ở các thung lũng, dọc theo các lưu vực sông, suối Có truyền thống canh tác lúa nước, đã ở trình độ thâm canh, đã biết làm các công trình thủy lợi tưới tiêu như mương phai, đập nước, con nước Một số vùng đồng bào đã biết dung phân bón trong sản xuất nông nghiệp Phương thức canh tác của các dân tộc làm lúa nước đã biết chăn nuôi đại gia súc, gia súc, gia cầm

để đáp ứng nhu cầu sản xuất và phục vụ đời sống, một phần được dùng để mua bán trao đổi các sản phẩm tiêu dùng

Kinh tế nông nghiệp truyền thống của đồng bào là ngoài việc tận dụng mọi khả năng để khai hoang ruộng nước, còn có các hình thức phát triển kinh

tế đồi rừng

Các nghề tiểu thủ công nghiệp như: dệt vải, đan lát, rèn đúc các công

cụ sản xuất và một số nghành nghề khác như làm đồ gốm, nghề kim hoàn…

đã phát triển ở vùng đồng bào

Nhiều dân tộc có trình độ phát triển kinh tế ở mức thấp hơn các nhóm

dân tộc kể trên Bộ phận này chủ yếu là nền kinh tế “ nương rẫy”, đó là “đao

canh, hỏa chủng”, chặt rừng đổi lấy diện tích để canh tác Phương thức canh

tác thô sơ gọi là “ chọc, chỉa” tức là chọc lỗ tra hạt, sự sống của cây trồng và

Trang 33

năng suất bị sụt dần, đến năm thứ ba và thứ tư bị rửa trôi, làm cho cây trồng không phát triển được nữa, đòi hỏi người canh tác phải đi tìm đất mới, trước đây họ thường đi đến khu rừng già vì ở đó lớp đất màu mỡ dày, cho năng suất cao Phương thức canh tác đố là quảng canh, du canh du cư và tàn phá diện tích rừng rất lớn Các dân tộc Mông, Dao, Xinhmun, Kotu, Êđê, Bana…trong những truyền thống đều đi theo con đường này

Dân tộc Mông ở vùng cao núi đá Hà Giang, tập trung nhất là huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, nơi đây địa hình cấu tạo chủ yếu là núi đá, khó có thể tìm ra một diện tích có đất để trồng trọt Đồng bào Mông đã có phương thức

“thổ canh hốc đá”, người ta hùi đất đổ vào các hốc đá trên các miền núi và

trồng các hạt ngô, đỗ, bí…các loại cây phát triển trong điều kiện khắc nghiệt

đó và cuộc sống của đồng bào Mông cứ thế tồn tại từ bao đời nay

Một số dân tộc như Lahu ( Mường Tè, Lai Châu) và các nhóm địa phương của dân tộc Chứt, Thổ như : Mày, Rục, Sách, Mãl liềng, Arem, Đanlai, Lyha… có những dân tộc chỉ còn rất ít như Brâu, Rơmang, Sita, Pupeo, Ơđu và một bộ phận các dân tộc thiểu số khác như Kơtu, Pahy…có hình thức kinh tế truyền thống là hoàn toàn dựa vào sự ban tặng của thiên

nhiên, hình thái kinh tế “tước đoạt”, đồng bào sống nhờ vào sự săn bắn, hái

lượm các tặng vật tự nhiên Bộ phận các dân tộc này có khi ở mái nhà rất tạm

bợ bằng cây cọc có sẵn trong rừng và khi khai thác hết các sản vật xung quanh mái lợp nhà bằng lá chuối, lá dong, lá rừng đã ngả màu vàng úa, đó là

lúc họ lại rời đi đến chỗ mới để sinh sống, như dân tộc Lahu có tên là “xá lá

vàng” là vậy Có những dân tộc họ tìm hang núi để ở như Arem, Mã liềng,

chúng ta làm nhà cho đồng bào có đến 3, 4 lần vận động đồng mới dần bỏ hang núi về nhà ở

Trang 34

2.2.2 Về mặt xã hội

Các dân tộc thiểu số như : Thái, Nùng, Tày, Mường, Chăm Khơme là những dân tộc đã trải qua xã hội truyền thống của chế độ phong kiến ( chế độ Lang Đạo trong dân tộc Mường, chế độ thổ Ty của dân tộc Tày, Nùng, chế độ phìa Thạo của dân tộc Thái, dân tộc Chăm đã trải qua chế độ phong kiến trung ương tập quyền xuốt thời kì trung kì trung thế kỉ là quốc gia Chăm pa,

dân tộc Khơme nam Bộ là bộ phận cư dân một thời của nhà nước chân Lạp…)

Có những dân tộc trong lịch sử đã trải qua một chế độ xã hội như phong kiến sơ kì sau đó tan vỡ như dân tộc Mông, Dao chẳng hạn, thì họ là cư dân của nước Điền Việt, là dân Tam Miêu, song quốc gia tan vỡ, sống phiêu tán nay chỉ còn quốc gia trong kí ức, trình độ phát triển xã hội đọng lại ở sự

cố kết tộc người, cố kết dòng họ

Có một số dân tộc, có thể thấy là còn mang tàn dư xa xăm của một chế

độ công xa thị tộc, có trình độ xã hội, thị tộc, bộ lạc Có thể có một số dân tộc chưa trải qua một hình thái nhà nước nào ngang như phong kiến Chúng ta có thể tìm thấy trong các dân tộc này nhiều dấu ấn của chế độ công xã nguyên thủy trong hôn nhân và gia đình, thiết chế xã hội truyền thống trong đời sống

xã hội

Một số dân tộc đã tiến tới trình độ có chữ viết như dân tộc Chăm, dân tộc Khơme Nam Bộ ( theo hệ Paly- Săng Scri), dân tộc Tày, Nùng còn giữ lại chữ Nôm trên cơ sở bộ chữ Hán (như dân tộc Kinh xưa kia) Còn lại hơn 20 dân tộc có chữ viết ngày nay đã được phiên âm theo bộ chữ Latinh, đó là các dân tộc chủ yếu sống ở vùng Tây Nguyên ngày nay

Mỗi dân tộc đều giữ lại được truyền thống văn hóa riêng cho dân tộc mình, dân tộc nào cũng vậy họ vẫn bảo lưu được những nét của xã hội truyền thống

Trang 35

Sau ngày có Đảng và Nhà nước đến nay, tình hình về mọi mặt xã hội trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đã có sự biến đổi to lớn, có những đổi mới căn bản Chế độ dân chủ nhân dân tiến theo con đường phát triển tới chế độ xã hội chủ nghĩa là mơ ước của các dân tộc Việt Nam đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số đang dần được thực hiện

Quá trình phát triển xã hội của các dân tộc thiểu số ở nước ta đi theo chế độ xã hội mới là một quá trình phù hợp quy luật, phù hợp với ý chí của các dân tộc, quá trình đó cũng làm cho đời sống xã hội truyền thống tốt đẹp trong các dân tộc đang được phát huy và loại dần các yếu tố tiêu cực của xã hội cũ để lại

2.3 Ảnh hưởng của quá trình giao lưu, hội nhập đến sự biến đổi của các dân tộc Việt Nam

Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước, nền văn hóa Việt Nam đã hình thành và phát triển Bằng lao động, sáng tạo và ý chí đấu tranh bền bỉ, kiên cường, nhân dân ta xây đắp nên một nền văn hóa thể hiện tinh thần, sức mạnh và in dấu ấn bản sắc của dân tộc, chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam

Văn hóa Việt Nam là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước Nhờ nền tảng và sức mạnh văn hóa ấy mà trong nhiều thời kì đô hộ, dân tộc ta vẫn giữ vững và phát huy bản sắc văn hóa của mình, chẵng những không bị đồng hóa mà còn quật cường đứng lên dành lại độc lập cho dân tộc, lấy sức ta mà giải phóng cho ta

Phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng,là nhân lên sức mạnh của nhân dân ta để vượt qua khó khăn, thử thách, xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội, giữ vũng quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, tạo ra thế và lực mới đất nước ta đi vào thế kỉ XXI

Trang 36

Công cuộc đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dụng chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,xã hội công bằng dân chủ văn minh”, đòi hỏi ta phải xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam “ tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng nền tảng tinh thần của dân tộc ta, coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội

Đảng và Nhà nước ta đang tiến tới xây dựng một nền kinh tế hội nhập với Thế giới Chúng ta đang sống trong một thế giới hiện đang biến chuyển nhanh chóng, đang diễn ra quá trình toàn cầu hóa, sự hội nhập khu vực và thế giới với một tốc độ nhanh chóng, từ đó nảy sinh nhu cầu mở rộng giao lưu giữ các nền văn hóa Trong khi chú trọng giữ gìn, phát huy các truyền thống văn hóa tinh thần tốt đẹp của dân ta, văn hóa Việt Nam cần được mở rộng giao lưu quốc tế, tiến tới những tinh hoa văn hóa thế giới và thời đại Nền văn hóa của chúng ta đa dạng hơn, phong phú, tiên tiến hơn nhờ hấp thụ được những yếu tố lành mạnh của văn hóa thế giới

Đặc biệt với chính sách của Đảng và Nhà nước ta đó là mở rộng giao lưu, hội nhập đã có tác động rất lớn đối với các dân tộc trong quốc gia Việt Nam Nó làm biến đổi những nét cơ bản của dân tộc, từ đó làm phong phú thêm, góp phần xóa bỏ tình trạng kém phát triển của các dân tộc thiểu số, tăng tính đoàn kết của các dân tộc

2.3.1 Phát triển các thành phần kinh tế

Từ sau cách mạng tháng 8 thành công, nhất là sau ngày đất nước giải phóng, Đảng nhà nước ta đã rất quan tâm đến việc phát triển kinh tế ở vùng dân tộc thiểu số, nhiều cơ sở biện pháp như đầu tư cơ sở hạ tầng, mở mang giao thông thủy lợi, áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kĩ thuật vận động định canh , định cư đối với đồng bào còn du canh du cư, đưa một bộ phận đồng bào vào nghề rừng (trồng rừng, bảo vệ chăm sóc, tu bổ rừng) và sống bằng

Trang 37

nghề rừng để hạn chế chặt phá rừng, phát triển các loại cây công nghiệp, sản xuất hàng hóa ngày càng ngày càng mở rộng đến các vùng dân tộc …do chính sách biện pháp đó, tình hình kinh tế trong vùng dân tộc đã có nhiều thay đổi căn bản Nền kinh tế vốn tự cấp, tự túc mang năng tính tự nhiên đã được thay thế bởi nền kinh tế hàng hóa nhiều thành thành phần, nhiều dân tộc đã phát triển kinh tế hàng hóa và một bộ phận dã trở nên giàu có, tỷ lệ đói nghèo giảm, tình trạng du canh, du cư giảm xu hướng phát triển kinh tế vùng các dân tộc theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang có cơ hội, những truyền thống kinh tế tốt đẹp vẫn được bảo lưu, những yếu tố lạc hậu dang dần được thay thế Hướng đi lên về kinh tế trong vùng dân tộc đang mở ra triển vọng mới

Như chúng ta đã biết thì mỗi dân tộc người có xu thế riêng trong sản xuất vật chất, khai thác điều kiện tự nhiên và tri thức bản địa, cơ hội để tăng cường trao đổi và hợp tác thúc đẩy phân công lao động Song với chính sách giao lưu, hợp tác mà Đảng và Nhà nước ta dã xác định cùng với đặc điểm về tình trạng cư trú xen kẽ giữa dân tộc thiểu số là điều kiện để đoàn kết, gắn bó

và hợp tác, tương trợ nhau ngay tong đơn vị hành chính lãnh thổ và đơn vị dân cư Người Kinh và người Hoa với những khả năng vượt trội về buôn bán, sản xuất hàng hóa, có thể chuyển giao, hướng dẫn đồng bào dân tộc khác còn

ở trình độ kém phát triển Nhiều dân tộc có kinh nghiệm sản xuất hàng thủ công hoặc trồng cây dược liệu có giá trị cao, những cây trồng vật nuôi quý hiếm, có thể thông qua thương nhân người Hoa hay người Kinh để thực hiện quá trình trao đổi nhằm tăng giá trị thương phẩm của hàng hóa và dịch vụ Đây là một yêu cầu quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng dân tộc thiểu số, mà trước hết là tăng giá trị thương phẩm hàng hóa

Trang 38

Cùng với đó dân tộc thiểu số thực hiện phát triển các thành phần kinh tế

mà Đảng và Nhà nước đã đề ra nhằm mục đích khai thác mọi thế mạnh và từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của những dân tộc

Các thành phần kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh

tế cá thể, tiểu chủ ở vùng nông thôn và miền núi có sự phát triển mạnh Kinh

tế vùng dân tộc có bước tăng trưởng khá, tốc tăng trưởng GDP trong 12 năm trở lại đây trung bình từ 8-10% hơn mức bình quân của cả nước Cơ cấu chuyển dịch đúng hướng, tỉ trọng ngàng nông nghiệp giảm từ 70% (1990) xuống còn 56,3% (2000) nghành công nghiệp, xây dưng là 9% (1990) lên 16,7%(2000), tỉ trọng ngàng thương mại, dịch vụ tăng từ 15% (1990) lên 26,9% (2000)

Khu vực kinh tế nhà nước đã và đang được sắp xếp lại các doanh nghiệp theo hướng tinh gọn, hiệu quả Thực hiện phân cấp trên 800 nông, lâm trường của trung ương giao cho các địa phương quản lý nhằm thu hút nguồn lao động tại chỗ, chuyển giao khoa học công nghệ, cải tiến, tiêu thụ nguyên liệu, góp phần thúc đẩy sản xuất và tăng ngân sách cho địa phương vùng dân tộc và miền núi

Kinh tế tập thể cũng được củng cố và phát huy tác dụng , đế cuối tháng 6-2001 toàn vùng dã có gần 10000 tổ hợp tác xã giúp nhau về vốn, kĩ thuật và nhân lực lao động Nhiều hợp tác xã được thành lập và chuyển đổi phương thức hoạt động một cách có hiệu quả nhất là tín dụng nhân dân

Kinh tế tư nhân phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng hoạt động, nhất là sau khi có luật doanh nghiệp Số lượng doanh nghiệp tư nhân đã phát triển lên nhanh chóng, chỉ tính riêng số cơ sở doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã lên tới 79.000 cơ sở chiế 13,33% số doanh nghiệp tư nhân cả nước

Trang 39

Kinh tế cá thể hộ gia đình phát triển nhanh chóng về số lượng, quy mô, chủ yếu là loại hình kinh tế trang trại, kinh tế vườn rừng, vườn đồi Trong những năm gần đây, nhiều hộ gia điình đồng bào dân tộc làm kinh tế phải làm giàu bằng kinh tế trang trại Tính đến nay ở vùng dân tộc miền núi có khoảng 95.000 trang trại, sử dụng 450.000lao động, chiếm 88% số lượng trang trại và 62% số lao động trong tổng trang trại cả nước

Nhờ phát triển kinh tế nhiều thành phần, tạo ra quan hệ sản xuất được điều chỉnh dần dần hợp lý, cơ chế đổi mới, năng lực sản xuất dần dần được nâng cao

Trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới ở vùng các dân tộc tiểu số đã gắn với các quy hoạch dân cư, phát triển sản xuất, ổn định đời sống, xóa đói giảm nghèo, nhất là các xã đặc biệt khó khăn vùng sâu, vùng xa, biên giới, căn cứ địa cách mạng và kháng chiến đã có chuyển biến nhanh

Công tác định canh định cư và phát triển kinh tế mới đã có bước tiến

quan trọng từ chỗ tổ chức vận động định canh, định cư đối các dân tộc còn du canh du cư việc tổ chức thực hiện các dự án có mục tiêu cụ thể lồng ghép với các chương trình phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn Từ năm n1881-2001

có 755 dự án định canh, định cư với nguồn vốn trung ương đầu tư trự tiếp là 1.443 500 triệu đồng Đã ổn định cho 133.000 hộ đồng bào dân tộc, khai hoang diện tích trồng cây lương thực là 16.416 ha,trong đó có 11.993 ha ruộng nước; trồng cây công nghiệp, cây ăn quả 40.767 ha; xây dự ng mới vườn hộ 527.670 ha Các dự án định canh định cư đã xây dựng được 5.729

km đường giao thông nội vùng, 617 cây cầu, 775 công trình thủy lợi nhỏ phục

vụ tưới tiêu, xây dựng 42 công trình thủy điện, làm mới 66 trạm hạ thế và 139

km đường dây tải điện, mở thêm 652 trường học, 162 trạm y tế … Đến nay đã

có nhiều hộ gia đình định canh định cư ổn định, nhiều mô hình đạt kết quả tốt

Trang 40

2.3.2 Phát triển kinh tế hàng hóa

Phát triển kinh tế hàng hóa ở vùng các dân tộc thiểu số là mục tiêu thoát dần khỏi nền kinh tế tự cấp, tự túc mang nặng tính tự nhiên

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, thực hiện đổi mới nông nghiệp nông thôn, vùng các dân tộc và miền núi thực hiện giao đất, giao rừng cho các hộ kết hợp với viêc ứng dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật giống cây trồng, vật nuôi, đầu tư phát triển thủy lợi nên sản lượng không ngừng tăng , các tỉnh miền núi phía bắc sản lượng lương thực quy thóc từ 2,12 triệu tấn ( 1995) nên 3,12 triệu tấn (2000) tăng 47% Các tỉnh Tây Nguyên từ 542, 000 tấn (1995) lên 873 000 tấn (2000) tăng 61% Bình quân lương thực đầu người tăng 230kg|năm (1990) lên 300kg |năm (2000) an ninh lương thực được đảm bảo

Nhiều vùng sản xuất tập trung chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả, diện tích tăng 2 lần so với năm 1990; cà phê ở các tỉnh miền núi tăng từ 119.300ha 91990) lên 516.000ha (2000) Sản lượng đạt 698.200 tấn cà phê đứng thứ 4 trên thế giới về xuất khẩu Các vùng sản xuất chè gắn với các cơ

sở chế biến ở các tỉnh miền núi phía bắc và Lâm Đồng phát triển nhanh, diện tích từ 60.000ha(1990) lên 89.500ha(2000), mỗi năng tăng 12 % năng suất chè tăng 5%, sản lượng tăng 10% năm Diện tích cao su tăng từ 221.700.000ha (1990) lên 406.900.000 ha nâng sản lượng lên 291.900 tấn

Ngoài ra các loại cây công nghiệp khác như cây điều, mía, dâu tằm tăng nhanh nhiều vùng cây ăn quả như mân, nhãn, vải thiều, bưởi, cam, quýt…hình thành và phát triển nhanh các địa phương như : Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Bắc Giang, Lạng Sơn Chăn nuôi cũng có bước phát triển khá cả về quy mô đàn gia súc, gia cầm và cơ cấu sản phẩm thay đổi theo hướng gắn liền với nhu cầu thị trường hàng hóa So với năm 1990 đến nay đàn trâu tăng 13,3%, đàn bò tăng 150%, đàn lợn tăng 160%

Ngày đăng: 17/07/2015, 06:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Thúy Bình (1991), “ Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam”
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1991
2. Khổng Diễn (1995), “ Dân số và dân số tộc người Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số và dân số tộc người Việt Nam
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật Hà Nội
Năm: 1987
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1960), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 1960
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr127-128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
6. Nguyễn Văn Huy ( chủ biên), 1998, “ Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam”, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Huy
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w