1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và ý nghĩa của vấn đề đó đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay

57 1,5K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 455,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lí do trên tôi đã chọn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và ý nghĩa của vấn đề đó đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho khoá

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế kỉ XXI mở đầu thiên niên kỉ thứ 3 của một thế giới đầy biến động

Đó là thế kỉ mà cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ, đang tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều nước Hiện nay, quan hệ quốc tế đang ở xu thế hoà dịu, các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa cạnh tranh găy gắt vì lợi ích quốc gia dân tộc Đó cũng là quá trình đấu tranh thực hiện dân chủ hoá trong quan hệ quốc tế, thiết lập trật tự kinh tế quốc tế, bình đẳng chống lại sự bóc lột, thống trị của chủ nghĩa thực dân mới Đó cũng là thời đại mà sự đối đầu trực tiếp của các giai cấp tạm lắng xuống, nhưng vấn đề dân tộc, sắc tộc lại nổi lên gây đau thương cho bao quốc gia mà biểu hiện rõ nhất là chủ nghĩa khủng bố, cùng với cả việc tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên vẫn tiếp tục diễn ra phức tạp Bối cảnh quốc tế đó đã tạo ra nhiều thời cơ thuận lợi cho các nước có điều kiện phát triển, đồng thời cũng đặt ra những những thách thức lớn đối với các quốc gia trong cuộc đấu tranh vì hoà bình, bảo vệ độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội

Ở Việt Nam công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc đang được toàn dân ta tiến hành với biết bao nỗ lực và sáng tạo đã đạt được những thành tựu

to lớn có ý nghĩa quan trọng, từng bước đưa đất nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, nền độc lập dân tộc được củng cố Có được những thành tựu tuyệt vời đó là nhờ Đảng ta, nhân dân ta được trang bị những tư tưởng cách mạng đúng đắn của Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng về độc lập dân tộc

Tuy nhiên, ở Việt nam hiện nay, các thế lực thù địch cũng đang tiến hành âm mưu “diễn biến hoà bình” hòng xoá bỏ những thành quả cách mạng

mà nhân dân ta đã giành được bằng vô vàn sự hi sinh xương máu của các thế

Trang 2

hệ Để thực hiện âm mưu đó, chúng không ngừng tìm mọi cách nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây xung đột, tạo cớ can thiệp bằng bạo loạn, lật

đổ Vì vậy, để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền dân tộc, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì việc nghiên cứu các giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc là vẫn rất cần thiết và quan trọng

Xuất phát từ những lí do trên tôi đã chọn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và ý nghĩa của vấn đề đó đối với sự nghiệp cách mạng ở nước

ta hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho khoá luận của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc đã được nhiều nhà nhiên cứu, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đã và đang tiếp tục nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau như: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của TS Hoàng Trang – TS Phạm Ngọc Anh, Nxb Lao Động, Hà Nội, năm 2000

Bên cạnh đó, có rất nhiều bài báo viết về độc lập dân tộc của Hồ Chí Minh được đăng trên các báo, tạp chí như:

“Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc” của TS Lê Văn Tích, Tạp chí Lịch sử Đảng số 6 năm 2001 “Giữ vững độc lập dân tộc là nền tảng vững chắc cho sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Phan Thanh Hà, tạp chí Giáo dục lí luận số 8 năm 2001 “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của PGS TS Mạch Quang Thắng, tạp chí Giáo dục lí luận số 6 năm 2010

Các công trình đó đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về độc lập dân tộc Trên cơ sở những vấn đề mà các nhà khoa học đã nghiên cứu, tác giả khoá luận muốn góp phần bổ sung làm sáng tỏ một số vấn đề cụ thể về độc

Trang 3

lập dân tộc như: độc lập dân tộc là phải giải phóng khỏi ách áp bức thuộc địa, độc lập là phải xây dựng nền kinh tế vững mạnh, thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc Việt Nam, đồng thời, tìm hiểu ý nghĩa của độc lập dân tộc đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Xác định ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc trong

sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài đi sâu nghiên cứu tư tưởng của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Khoá luận tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc Đồng thời tìm hiểu ý nghĩa và những bài học kinh nghiệm để bảo vệ nền độc lập dân tộc trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong khoá luận sử dụng các phương pháp luận như: DVBC, DVLS của chủ nghĩa Mác - Lênin, và các phương pháp nghiên cứu khoa học của khoa học - xã hội: lịch sử và logíc, phân tích và tổng hợp, hệ thống hoá

Trang 4

6 Đóng góp của khoá luận

Với những kết quả nghiên cứu đạt được Khoá luận có thể góp phần làm rõ và sâu sắc hơn nữa những nội dung cơ bản về độc lập dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh, và cho thấy được ý nghĩa của vấn đề này trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay Đồng thời đề ra một số bài học kinh nghiệm để bảo vệ, giữ vững nền độc lập của dân tộc

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Kết cấu khóa luận gồm 2 chương 5 tiết

Trang 5

Chương 1

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC

1.1 Những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc 1.1.1 Cơ sở lí luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin

Sự kiện đánh dấu việc Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin là việc tháng 7 – 1920, khi Người đọc được bản Sơ thảo lần thứ nhất luận cương

về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin Bản Luận cương của Lênin đã trình bày những quan điểm cơ bản về con đường giải phóng dân tộc thuộc địa khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc Với kinh nghiệm thực tiễn và tư duy độc lập sáng tạo, Hồ Chí Minh đã gặp gỡ và đặt tin tưởng vào bản luận cương của Lênin và Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) Tư tưởng của Lênin đã mở ra một chân trời mới cho cách mạng giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa thực dân ở khu vực thuộc địa và phụ thuộc Đặc biệt là quan điểm về vấn đề quyền tự quyết của các dân tộc và quyền bình đẳng của các dân tộc Nội dung đó đã được Hồ Chí Minh vận dụng trong thực tiễn của cách mạng Việt Nam sau này để đề ra quyền tự quyết của dân tộc và quyền bình đẳng giữa các dân tộc của Việt Nam

Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác và Ănghen về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp; dựa vào kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới, kết hợp với thực tiễn cách mạng của nước Nga Lênin đã khái quát cương lĩnh dân tộc như sau: " Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân

tộc có quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại"[4, tr.375]

Các dân tộc có quyền tự quyết: Đó là quyền của các dân tộc tự quyết định lấy vận mệnh của dân tộc mình, quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển dân tộc Quyền tự quyết bao gồm quyền tách ra thành lập một quốc gia dân tộc độc lập, đồng thời có quyền tự nguyện liên hiệp với

Trang 6

dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng Tự quyết là quyền của các dân tộc nhưng khi thực hiện phải đảm bảo những nguyên tắc sau: phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc với lợi ích của giai cấp công nhân Ủng hộ các phong trào dân tộc tiến bộ, kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn nhằm chống phá, can thiệp vào công việc nội bộ của các dân tộc

Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng: Đó là quyền thiêng liêng của tất cả các dân tộc và không có sự phân biệt dù lớn hay nhỏ hoặc trình độ phát triển cao hay thấp Các dân tộc đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, không dân tộc nào được giữ đặc quyền, đặc lợi về kinh tế, chính trị và văn hoá Trong quan hệ xã hội cũng như trong quan

hệ quốc tế, không một dân tộc nào có quyền đi áp bức, bóc lột các dân tộc khác Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng dân tộc phải được thể hiện trên cơ sở pháp lý và quan trọng hơn nó phải được thể hiện trên thực tế ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

Thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga, là một thành quả rực rỡ của

tư tưởng Lênin về mối quan hệ giữa cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng quan hệ hoà bình giữa các dân tộc trong Liên Bang

Xô Viết Cách mạng tháng Mười Nga đã đưa ra một mô hình mới về xã hội

do nhân dân lao động Nga và các dân tộc anh em làm chủ vận mệnh của mình Chính sách dân tộc tự quyết của nước Nga sau cách mạng đã đưa ra mẫu mực về việc giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc theo quan điểm đúng đắn của Lênin Điều đó đã ảnh hưởng sâu sắc tới tư duy của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc mà sau này Người sẽ vận dụng sáng tạo và phát triển trong việc giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc Việt Nam với các quốc gia trong khu vực đặc biệt là với các dân tộc Lào, Campuchia

Trang 7

Một hình ảnh của một Nhà nước Xô Viết kiểu mới vững vàng trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc, đánh bại các cuộc tấn công trực tiếp của các nước đế quốc và sự phá hoại của các thế lực thù địch bên trong Mô hình của một xã hội mới trong đó quyền tự do bình đẳng, quyền làm chủ đất nước của nhân dân và của các dân tộc bị áp bức được thực hiện trên thực tế đã củng cố lòng tin của người thanh niên yêu nước Việt Nam trên con đường tìm chân lí cho dân tộc Những thực tế đầy mới mẻ và đầy sức hấp dẫn ấy cùng những luận điểm cách mạng giàu sức thuyết phục của Lênin đã đáp ứng khát vọng cháy bỏng của Nguyễn Ái Quốc lúc ấy về con đường giải phóng dân tộc giành lại độc lập cho Tổ quốc Chính vì vậy, Người đã quyết định đi theo Lênin đi theo Quốc tế cộng sản, theo con đường của cách mạng Tháng Mười Nga, đặt tương lai của dân tộc trong tương lai chung của giai cấp vô sản và nhân dân bị

áp bức trên toàn hành tinh

Trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã coi cách mạng Tháng Mười như “mặt trời chói lọi chiếu sáng khắp năm châu”, một tấm gương cách mạng vĩ đại cho giai cấp vô sản và nhân dân các dân tộc bị áp bức noi theo Người coi Lênin như một người thầy về lí luận và hoạt động cách mạng giành độc lập dân tộc Qua bản Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, đã chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản với sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa Nhờ đó Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường giải phóng chúng ta giành lại độc lập dân tộc

đó là con đường cách mạng vô sản Đã trở thành cơ sở lí luận trong việc giải quyết các vấn đề dân tộc trên đất nước ta sau này Thông qua tư duy độc lập sáng tạo và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh, những luận điểm cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin đã được vận dụng linh hoạt, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam Chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở lí luận, phương pháp luận để Hồ Chí Minh hình thành và phát triển những luận điểm độc đáo của mình về độc lập dân tộc

Trang 8

1.1.2 Truyền thống yêu nước đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam

Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam được hình thành cùng với quá trình đấu tranh cải tạo tự nhiên và đấu tranh chống ngoại xâm Cùng với lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước, truyền thống yêu nước tốt đẹp đã kết

tụ, tạo nên sức sống vững vàng và mạnh mẽ của dân tộc Truyền thống yêu nước đã được hình thành và phát triển qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, đặc biệt được khơi dậy mạnh mẽ trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lược, truyền thống đó lại càng dâng cao mạnh mẽ thành “làn sóng nhấn chìm lũ cướp nước và bán nước”

Lịch sử nhân loại đã có nhiều dân tộc chống ngoại xâm song thật hiếm

có dân tộc nào như dân tộc Việt Nam, thường xuyên phải chống ngoại xâm triền miên với thời gian kéo dài và số lượng các cuộc kháng chiến nhiều đến như thế Nhưng dân tộc Việt Nam không bao giờ lùi bước Trước vận mệnh của Tổ quốc, đại bộ phận người Việt đã cố gắng vượt lên những quyền lợi riêng, tạm gác lại những mâu thuẫn nội bộ, không rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn của mình, vẫn bám làng, bám chắc địa bàn sinh tụ của dân tộc, tập trung sức lực, trí tuệ, quyết giữ vững giang sơn mà ông cha đã tạo dựng Lòng quyết tâm, ý chí và nghị lực phi thường của dân tộc thể hiện rõ trong các cuộc đấu tranh yêu nước và sớm được đúc kết lại trong những lời tuyên bố của các anh hùng dân tộc về độc lập chủ quyền của dân tộc Thế kỉ XI, Lý Thường Kiệt nói:

“ Nam quốc sơn hà nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

(Nam quốc sơn hà)

Trang 9

Thế kỉ XV, Nguyễn Trãi khẳng định:

“ Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông cõi bờ đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau

Song hào kiệt thời nào cũng có”

(Bình ngô đại cáo) Thủ đoạn cổ truyền của kẻ đi xâm lược bao giờ cũng là xâm lược lãnh thổ thường đi đôi với việc chinh phục về chính trị, kinh tế, văn hoá Chính trong những thời kì ngoại bang thống trị, dân tộc Việt Nam đã kiên cường, bền bỉ đấu tranh chống lại những chính sách “đồng hoá” của kẻ thù giữ gìn và phát huy những tinh hoa văn hoá lâu đời của cha ông Trong suốt một ngàn năm bị phong kiến phương Bắc thống trị với âm mưu biến nước ta trở thành một quận huyện của chúng, xoá bỏ nhà nước ta, dân tộc ta Nhưng nhân dân Đại Việt vẫn giữ được bản sắc văn hoá riêng của dân tộc mình

Trong thời kì đất nước sạch bóng quân thù, nhân dân ta qua các thời kỳ lịch sử đã xây dựng, bồi đắp, phát triển nền văn hoá dân tộc lên những bước cao hơn Những nét đặc sắc của nền văn hoá dân tộc đã được ghi dấu trong rất nhiều công trình kiến trúc, những tác phẩm văn học, nghệ thuật vẫn được lưu giữ cho đến ngày nay Như vậy, những truyền thống tư tưởng, văn hóa tốt đẹp và cao quý của dân tộc đã góp phần hình thành nên ý thức dân tộc, tinh thần về độc lập, tự chủ, tự cường của dân tộc ở trong con người Hồ Chí Minh Người là hiện thân của những truyền thống đó

Trang 10

Từ nửa sau thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản phương Tây đã xâm chiếm hầu hết các quốc gia ở Á, Phi, MiLaTinh, nền độc lập của Việt Nam bị đế quốc Pháp tước đoạt, đã đặt dân tộc Việt Nam trước những thử thách mới: phải đối mặt với kẻ thù lúc này là một cường quốc có tiềm lực

về kinh tế, quân sự lớn mạnh và cao hơn về trình độ phát triển Mặc dù triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã từng bước đầu hàng nhưng với chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc và truyền thống đoàn kết chống giặc ngoại xâm, nhiều cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp đã diễn ra không dứt trong suốt quá trình chúng xâm lược đất nước ta Các thế hệ Việt Nam đã nối tiếp nhau đứng lên đấu tranh chống lại bọn xâm lược với tinh thần yêu nước và ý chí độc lập, tự chủ, tự cường rất cao, quyết tâm chiến đấu bảo vệ đất nước, giành lại chủ quyền cho dân tộc Lòng quyết tâm đó được minh chứng bằng câu nói của Nguyễn Trung Trực: “Khi nào người Tây nhổ hết cỏ nước nam thì mới hết người Nam đánh tây”

Những truyền thống yêu nước đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc

là một trong những nhân tố chi phối mọi suy nghĩ, hành động trong hoạt động cách mạng của Người Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh quyết chí ra đi tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc

1.1.3 Ảnh hưởng của quê hương Thanh - Nghệ - Tĩnh

Quê hương Nghệ Tĩnh là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước chống ngoại xâm Nơi đây đã diễn ra nhiều cuộc đấu tranh chống áp bức, chống ngoại xâm trong nhiều thời kì lịch sử Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, cùng với cả nước nhân dân Nghệ - Tĩnh đã liên tiếp nổi dậy chống Pháp Bước sang thế kỉ XX, thực dân Pháp củng cố nền thống trị của chúng trên đất nước ta, xúc tiến việc vơ vét, bóc lột sức người, sức của, đẩy nhân dân ta vào cuộc sống khốn cùng Nghệ - Tĩnh là một trong những nơi phải chịu chế độ phu phen, tạp dịch nặng nề của chính quyền thực dân và Nam triều với bao

Trang 11

cảnh đoạ đày, chết chóc tang thương mà Hồ Chí Minh phải chứng kiến ở tuổi thiếu thời

Nghệ - Tĩnh cũng là quê hương của nhiều người anh hùng nổi tiếng trong lịch sử dân tộc Việt Nam như: Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu; các chí sĩ yêu nước tham gia lãnh đạo các cuộc vận động cứu nước cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX như: Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh Tinh thần yêu nước, ý chí trách nhiệm đối với vận mệnh của dân tộc ở các bậc tiền bối

đã ảnh hưởng sâu sắc tới suy nghĩ và tình cảm của Hồ Chí Minh lúc bước vào tuổi thanh niên

Những năm Người sinh sống học tập ở Huế, cũng đã để lại những dấu

ấn sâu sắc và tác động mạnh mẽ tới nhận thức, đến quá trình hình thành tư tưởng yêu nước của Hồ Chí Minh Huế là kinh đô của Nam Triều, nhưng tại đây sự bất lực, thái độ ươn hèn, bạc nhược của quan lại Nam Triều phụ thuộc vào chính quyền bảo hộ Pháp lại bộc lộ rõ nét nhất Sự oán hận phẫn nộ của các sĩ phu yêu nước và đông đảo nhân dân trước cảnh bất công và nỗi nhục mất nước đã bùng lên trong những phong trào yêu nước, phong trào chống thuế sôi động mà Người tham gia Đồng thời, cũng tại đây, nhận thức của Người được nâng cao, mở rộng thông qua những tri thức thu được trong thực

tế cuộc sống, qua thầy học và sách vở, góp phần thôi thúc Người quyết tâm tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc giành lại độc lập cho dân tộc

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho yêu nước, gần gũi nhân dân Chính hoàn cảnh, nếp sống, đạo lí gia đình là nguồn trực tiếp ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm, đã nuôi dưỡng lòng yêu nước, thương dân, ý chí kiên cường của Người Cuộc sống lao động thanh bạch, trải qua nhiều bước gian nan, thăng trầm của gia đình cũng là yếu tố tác động đến tư tưởng của Người Trong đó nổi bật là ảnh hưởng từ người cha của Người là cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, một nhà nho cấp tiến, có lòng yêu nước, thương dân sâu

Trang 12

sắc Tư tưởng thương dân, chủ trương lấy dân làm hậu thuẫn cho mọi cải cách chính trị, xã hội của cụ Phó Bảng đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành nhân cách của Người Cùng với đó là ảnh hưởng từ người anh, người chị những người đều gắn bó với dân, ít nhiều có tham gia hoặc quan hệ với những phong trào chống Pháp, chống phong kiến ở quê hương Mối liên hệ gần gũi giữa cụ Phó Bảng với những người lãnh đạo phong trào yêu nước ở chính tại quê hương đã tạo điều kiện cho Người tiếp xúc với các xu hướng yêu nước đương thời Đó chính là điều kiện thuận lợi cho Hồ Chí Minh phát triển tư duy chính trị của mình Giúp Người thấu hiểu được tâm tư, tình cảm và cả những khó khăn bế tắc của các bậc cha anh Những phong trào đó đã góp phần trực tiếp và quan trọng bồi dưỡng nâng cao lòng yêu nước của Người Đồng thời chính sự thất bại trên tất cả các ngả đường của những người đi trước có giá trị như những bài học kinh nghiệm để Người thêm quyết tâm ra

đi theo ngả đường khác để giải phóng dân tộc giành lại độc lập về cho dân tộc

1.1.4 Những nhân tố thuộc phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh

Trong những nhân tố góp phần hình thành và phát triển tư tưởng của

Hồ Chí Minh, ngoài những nhân tố khách quan còn có nhân tố chủ quan thuộc

về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh

Một trong những phẩm chất nổi bật của Hồ Chí Minh là tư chất thông minh, ham học hỏi; phương pháp quan sát, khái quát đời sống chính trị, xã hội, óc phê phán tinh tường, khả năng nhạy bén nắm bắt, phát hiện thông tin,

ý thức tìm tòi sáng tạo nghiên cứu lí luận và thực tiễn trong quá trình hoạt động thực tiễn Những phẩm chất, khả năng đó ở Hồ Chí Minh ngày càng được phát triển cao hơn, trở thành tài năng chính trị đặc biệt Nhờ đó mà Người đã vượt qua những lối mòn cứu nước của các bậc tiền bối Hồ Chí Minh đã quyết định sang phương tây sang tận xứ sở phát sinh những ý tưởng

Trang 13

“tự do, bình đẳng, bác ái”, Người hướng tới lí tưởng cách mạng dân chủ tư sản Pháp, mong muốn tìm hiểu về nền văn minh của chủ nghĩa tư bản phương tây Người muốn tìm một phương pháp mới, một con đường cứu nước mới để giành lại độc lập thật sự cho dân tộc, chứ không chỉ đơn thuần là đi cầu viện, tìm chỗ dựa cho cuộc giải phóng dân tộc như các bậc tiền bối Điều đó đã thể hiện tư duy độc lập sáng tạo của Người

Nhờ có trí tuệ mẫn tiệp, phương pháp tư duy độc lập sáng tạo và vốn tri thức phong phú, Hồ Chí Minh đã phân tích, khái quát hiểu sâu bản chất và phán đoán chính xác về chiều hướng và khả năng phát triển của các sự kiện hiện tượng chính trị Chính vì vậy, trước thực tiễn phong phú sinh động của rất nhiều học thuyết, quan điểm chính trị khác nhau, mà Hồ Chí Minh đã tìm đến được chủ nghĩa Mác – Lênin, một học thuyết “chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất” của thời đại

Một phẩm chất ở Hồ Chí Minh không thể không nói tới đó là một con người có lòng yêu nước, thương dân rất sâu sắc Lòng yêu nước trong con người Hồ Chí Minh được hình thành từ rất sớm, xuất phát từ tình yêu quê hương, sự cảm thông sâu sắc tới những người nghèo khổ, sự trân trọng tự hào

về truyền thống lịch sử của dân tộc Lòng yêu nước của Hồ Chí Minh không

bị bó hẹp trong khuôn khổ yêu nước truyền thống, Người đã vượt qua được cả giới hạn “trung quân ái quốc” thời phong kiến và cả giới hạn yêu nước của các bậc cha anh tiến bộ nhất theo các trào lưu dân chủ tư sản đương thời Chính trên cơ sở lòng yêu nước chân chính đó Hồ Chí Minh đã dễ dàng hoà đồng với những tầng lớp nhân dân lao động nghèo khổ, với phong trào đấu tranh của công nhân và các dân tộc bị áp bức ở nhiều khu vực mà Người từng đến, từng sinh sống

Cũng như các bậc tiền bối, lòng yêu nước của Hồ Chí Minh gắn liền với ý thức trách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc, với hoài bão xả thân cứu

Trang 14

nước, cứu dân giành lại độc lập cho dân tộc Khát vọng giải phóng đồng bào kết hợp với ý chí nghị lực và bản lĩnh vững vàng đã trở thành quyết tâm cứu nước không gì lay chuyển được, nó đã trở thành “ham muốn tột bậc”, thành mục đích sống suốt đời của Hồ Chí Minh, là làm sao “nước ta được độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [9, tr.161]

Như vậy, những phẩm chất và tài năng nổi trội của Người đã có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định hướng đi tìm đường cứu nước, quyết định việc lựa chọn của Hồ Chí Minh về con đường giành độc lập cho dân tộc

Có thể thấy, tất cả các nhân tố trên: cơ sở lí luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin cùng với truyền thống yêu nước đấu tranh chống giặc ngoại xâm bất khuất của dân tộc, truyền thống của quê hương, gia đình,

và những phẩm chất cá nhân của Người - mỗi nhân tố này đã tạo ra cơ sở và

đã đóng góp những vai trò khác nhau trong quá trình hình thành và phát triển

hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng về độc lập dân tộc của Người nói riêng

1.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc

1.2.1 Độc lập dân tộc là phải giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức thuộc địa

Năm 1858, thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên đánh chiếm Đà Nẵng,

mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta Do hạn chế của lịch sử và giai cấp triều đình phong kiến nhà Nguyễn chống trả yếu ớt và từng bước đầu hàng thực dân Pháp, làm cho Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp Trong

xã hội Việt Nam nổi lên hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn dân tộc (giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp) và mâu thuẫn giai cấp (giữa nông dân với địa chủ phong kiến)

Dưới sự thống trị của thực dân phong kiến, đời sống của nhân dân ta cùng cực, khốn cùng với bao cảnh đoạ đày chết chóc Sống dưới cảnh nước

Trang 15

mất, nhà tan mọi quyền lực nằm trong tay quân xâm lược và bọn tay sai thì quyền sống của con người còn bị đe doạ chứ nói gì đến quyền bình đẳng, tự

do, dân chủ của mọi người Sinh ra giữa lúc nước nhà đã rơi vào tay thực dân Pháp, tận mắt chứng kiến sự chà đạp của ngoại bang lên tự do, độc lập của đất nước, Người đã viết: “Trên đời ngàn vạn điều căy đắng, căy đắng chi bằng mất tự do” [17] Được kết tinh, hun đúc từ tinh thần nồng nàn yêu nước của người dân Việt, Hồ Chí Minh cho rằng: đối với người dân mất nước, cái quý nhất trên đời là độc lập của Tổ quốc, tự do của nhân dân Người sớm có điều kiện được tiếp xúc và biết đến các phong trào cứu nước đầu thế kỉ XX, theo lập trường phong kiến và theo lập trường tư sản Trong đó tiêu biểu là phong trào Đông Du (1905 - 1908) theo đường lối quân chủ lập hiến của Phan Bội Châu và con đường cứu nước của Phân Chu Trinh, người khởi xướng phong trào Duy Tân (1906 - 1908) theo lối cải lương Cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế (1885 - 1913) do Hoàng Hoa Thám đứng đầu Trước thực tế của lịch

sử dân tộc, Người đã tìm hiểu và rút ra nguyên nhân thất bại của các con đường cứu nước của các bậc tiền bối Đó là tình trạng lẻ tẻ, tản mạn, thiếu liên kết của các cuộc nổi dậy; là sự thiếu tổ chức, thiếu lãnh đạo, thiếu cơ sở vật chất để có thể chiến thắng một tên đế quốc; là do trình độ dân trí dân sinh còn quá thấp kém ở một bộ phận đông đảo nhất trong dân cư là giai cấp công nhân và nhân dân lao động – động lực của cách mạng Dù con đường cứu nước theo lập trường tư sản tiến bộ hơn rất nhiều so với lập trường phong kiến, nhưng các phong trào lúc bấy giờ của các bậc tiền bối vẫn bị thất bại Bởi vì, trên thế giới lúc đó chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, giai cấp tư sản đã trở thành lực lượng phản động toàn diện mà nhân dân các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề nhất Chính vì vậy, mà các con đường cứu nước của các bậc tiền bối cuối cùng bị thất bại nếu chưa thực sự thất bại thì cũng bế tắc, khởi nghĩa này

Trang 16

hay binh biến nọ, cuộc ám sát, duy tân nối tiếp duy tân nhưng cái đích độc lập cho dân tộc cứ thấy xa vời Như cụ Phan Bội Châu đã nói “Than ôi! Cuộc đời tôi trăm lần thất bại mà không có một lần thành công” Như Người nhận xét các phong trào cứu nước lúc bấy giờ: hy vọng vào sự giúp đỡ của đế quốc Nhật Bản để chống lại đế quốc Pháp của Phan Bội Châu chẳng khác nào

“đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, như vậy chưa khỏi ách thống trị của một tên đế quốc này, lại có nguy cơ rơi vào ách thống trị của một tên đế quốc khác, kết cục nô lệ vẫn hoàn nô lệ Hay dựa vào chính chủ nghĩa đế quốc Pháp để cải cách chế độ phong kiến Việt Nam, đưa đất nước đi lên, từ đó giành lại độc lập cho dân tộc của cụ Phan Chu Trinh là “xin giặc rủ lòng thương” Người cho rằng muốn giải phóng dân tộc thì phải dựa vào chính bản thân mình không thể trông chờ vào sự giúp đỡ của bên ngoài Thực tế hơn đó

là cụ Hoàng Hoa Thám không nhờ vả, xin xỏ, hi vọng vào tên đế quốc nào mà dựa ngay vào chính bản thân mình để tổ chức vũ trang đánh pháp cứu nước, nhưng cụ còn nặng cốt cách phong kiến nông dân Vì vậy, tuy rất khâm phục tinh thần yêu nước ý chí giành lại độc lập tự do cho dân tộc của các bậc tiền bối, nhưng Người thấy rõ để chống lại một tên đế quốc giàu mạnh như Pháp thì con đường của họ không thể thành công được, không thể giải phóng được dân tộc thực sự khỏi ách áp bức thực dân đem lại độc lập cho dân tộc

Trước những thất bại về con đường cứu nước của các bậc cha anh, đã không làm cho Nguyễn Tất Thành nản lòng mà càng thúc giục anh tìm con đường cứu nước mới, giải phóng cho dân tộc Vượt qua những lối mòn cứu nước của các bậc tiền bối Hồ Chí Minh đã quyết định từ giã Tổ quốc, đồng bào sang phương tây để học tập xem các nước làm thế nào, để trở về giúp đồng bào mình đấu tranh tự giải phóng khỏi chế độ thuộc địa Hành trình tìm đường cứu nước của Người bắt đầu từ ngày 5 - 6 - 1911, với một mong muốn

“Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được

Trang 17

hoàn toàn độc lập, dân tộc được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm

ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [9, tr.161]

Gần một thập niên bôn ba khắp năm châu bốn biển vừa lao động vừa nghiên cứu lí luận và kinh nghiệm của các cuộc cách mạng tư sản như ở Pháp,

Mỹ … và tham gia các hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp sau đó trở thành người sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp, Người đã từng bước rút ra những bài học quý báu và bổ ích cho sự lựa chọn con đường cách mạng của mình Người kết luận rằng cách mạng Việt Nam không thể đi theo con đường cách mạng dân chủ tư sản được Vì đó là con đường không triệt để, không thể mang lại độc lập thực sự cho các dân tộc bị áp bức trong đó có Việt Nam Đó

là những tiền đề rất quan trọng giúp Người đến với con đường cách mạng thực sự giải phóng được dân tộc giành lại độc lập tự do Đó chính là con đường cách mạng vô sản “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” [13, tr.314] Chính vì thế, khi đọc được bản sơ thảo Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, Người đã sung sướng reo to lên như thể đang nói trước đông đảo đồng bào “Hỡi đồng bào bị đày đoạ đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây

là con đường giải phóng chúng ta” [13, Tr 314] Theo Hồ Chí Minh, chỉ có đi theo con đường cách mạng vô sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức

Đó là con đường đáp ứng yêu cầu lịch sử dân tộc và phù hợp với xu thế của thời đại Từ đó, Người tin theo Lênin, tin theo cách mạng tháng Mười Nga

Sau gần mười năm từ buổi đầu ra đi tìm hiểu học tập để giúp đồng bào mình tiến hành sự nghiệp giải phóng Hồ Chí Minh đã tìm ra và xác lập con đường cứu cho dân tộc Việt Nam Từ người tìm đường trở thành người dẫn đường, Hồ Chí Minh bắt tay xây dựng học thuyết và đường lối cách mạng, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo quần chúng đấu tranh thực hiện các nhiệm vụ của cuộc đấu tranh giải phóng khỏi ách áp bức thực dân của

Trang 18

Việt Nam Bởi vì, theo Hồ Chí Minh cho rằng: “nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của

bộ phận giai cấp vạn năm cũng không đòi lại được” [8, tr.1] Lòng quyết tâm giải phóng dân tộc cho bằng được, đã được Hồ Chí Minh đúc kết trong một câu nói bất hủ: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập!” [8, tr.198] Với lòng quyết tâm đó đã làm nên cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đã giải phóng nhân dân ta khỏi

sự thống trị của đế quốc thực dân, đưa nước ta từ một nước thuộc địa thành một nước độc lập, tự quyết định con đường chính trị của mình lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đầu tiên ở Đông Nam Á Đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ thành người dân độc lập, tự do, thực sự làm chủ vận mệnh của dân tộc Mở ra một kỉ nguyên mới cho lịch sử dân tộc - kỉ nguyên độc lập và

tự do Người đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập, long trọng khẳng định trước quốc dân đồng bào và thế giới: “Nước Việt Nam

có quyền hưởng tự do và độc lập, và thực sự đã thành một nước tự do độc lập Toàn thể nhân dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” [9, tr.557]

Quyết tâm bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc càng thể hiện rõ khi thực dân Pháp quay lại đánh chiếm nước ta một lần nữa Trong các bức thư và điện văn gửi tới Liên hợp quốc và chính phủ các nước vào thời gian đó, Người đã trịnh trọng tuyên bố rằng “Nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hòa bình Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc

và độc lập cho đất nước” [9, tr.469] Người đã ra lời kêu gọi vang dậy núi sông “Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” [9, tr.480] Hay khi đế quốc Mỹ điên cuồng

Trang 19

mở rộng chiến tranh leo thang ra miền bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại đưa ra một chân lí bất hủ, có giá trị cho mọi thời đại “Không có gì quý hơn độc lập

tự do” [16, tr.108] Điều đó thể hiện quyết tâm dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng quyết bảo vệ, giữ vững nền độc lập, tự do của toàn thể nhân dân Việt Nam Sự thực dưới sự lãnh đạo và chỉ dẫn của Hồ Chí Minh nhân dân ta đã thực hiện thắng lợi cuộc chiến đấu bảo vệ nền độc lập của nước nhà bằng sự thắng lợi của hai cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại chống Pháp (1946 - 1954)

và chống Mỹ (1954 - 1975), bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, đưa cả nước bước vào kỉ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Như vậy, thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định những đóng góp

vô cùng quý giá của Người đối với kho tàng lí luận của Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ nghĩa Mác – Lênin và đó cũng là dẫn chứng rõ nét nhất cho tính đúng đắn, triệt để của con đường giải phóng dân tộc khỏi sự áp bức thuộc địa theo lập trường cách mạng vô sản

1.2.2 Độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Đấu tranh giành độc lập cho dân tộc thì đời nào cũng có, nhưng cái đích cuối cùng không phải ở thời nào cũng giống nhau Có thời chúng ta giành độc lập dân tộc để rồi xây dựng nên chế độ phong kiến, điều đó là phù hợp với xu thế phát triển của xã hội khi đó chế độ phong kiến chưa trở thành lực cản.Từ giữa thế kỉ XIX, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, phát huy truyền thống yêu nước nhân dân ta đã nổi dậy tiến hành nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại thực dân Pháp Tiêu biểu là những cuộc khởi nghĩa do Trương Công Định, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám lãnh đạo nhân dân cùng các thủ lĩnh đứng lên đấu tranh chống áp bức, xâm lược với tinh thần yêu nước và

ý chí độc lập, tự chủ, tự cường rất cao Các phong trào đều mang ý thức hệ phong kiến, nặng tư tưởng tôn quân Các cuộc khởi nghĩa này đã gây nhiều thiệt hại cho bọn tư bản, thực dân Pháp, tuy nhiên đều lần lượt thất bại Sự

Trang 20

thất bại của các phong trào này đã chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập cho lịch sử đặt ra Chứng tỏ

hệ tư tưởng phong kiến không còn phù hợp với thời đại mới, đòi hỏi cần phải

có những con đường khác tiến bộ hơn nó Đến đầu thế kỷ XX nhiều nhà ái quốc đã xuất ngoại để tìm con đường cứu nước cứu dân, tiêu biểu là hai cụ Phan Bội Châu và cụ Phan Chu Trinh Cái mới và cái tiến bộ cái hơn phong trào yêu nước trước đây là phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản

Cụ Phan Bội Châu thì dùng phương pháp bạo động vũ trang chống Pháp, dùng khởi nghĩa ám sát, thỏa thuận với Nhật Hoàng để gửi hàng loạt thanh niên Việt Nam sang Nhật Bản – một nước đã mở cửa, cải cách đang hùng dũng tiến vào chủ nghĩa tư bản – để trở về hoạt động lật đổ chế độ thực dân, phong kiến Còn cụ Phan Chu Trinh thì chủ chương “bất bạo động bạo động tắc tử” Cụ chủ trương: khai dân trí, chán hưng dân khí, hậu dân sinh, muốn thực dân Pháp cải cách chế độ phong kiến thành độ chế độ khác Như vậy, dù phương pháp là khác nhau nhưng cả hai cụ đều có mục tiêu giống nhau đó là sau khi giành được độc lập không nên dựng lại chế độ phong kiến mà là lập lên chế độ Cộng hòa đại nghị tư sản Nhưng phong trào của các cụ đều bị thất bại, cái đích cuối cùng là độc lập cho dân tộc cứ thấy xa vời Cũng giống như các phong trào cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến, các phong trào này không phù hợp với xu thế của thời đại Dù hệ tư tưởng tư sản là mới, rất mới

ở Việt Nam, tiến bộ hơn nhiều so với hệ tư tưởng phong kiến, nhưng trên phạm vi thế giới nó đã lạc hậu vì chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn

đế quốc chủ nghĩa Chính vì vậy, mà phong trào cứu nước ở Việt Nam đầu thế

kỷ vẫn hoàn toàn bế tắc, đen tối như không có đường ra Dù khâm phục ý chí đấu tranh của các cụ, nhưng Người thấy rằng không thể đi theo những con đường đó, vì nó không thể đem lại độc lập, tự do cho dân tộc, không thể đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc thực sự cho nhân dân Vì vậy, Người quyết

Trang 21

tâm ra đi tìm con đường cứu nước mới để giành lại độc lập thực sự cho dân tộc

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lịch sử đã chứng kiến sự thắng lợi của hai con đường cách mạng theo hai lập trường đối nghịch nhau là dân chủ tư sản và dân chủ vô sản Người đã rất chú trọng nhiên cứu và trân trọng kinh nghiệm của các nước cách mạng trên thế giới lúc đó, từ đó lựa chọn những gì phù hợp với công cuộc giải phóng đất nước và thấy cần phải tránh những gì

để không lặp lại sai lầm thất bại của người khác Qua việc tìm hiểu các cuộc cách mạng Mỹ năm 1776 và cách mạng Pháp năm 1789, tuy khâm phục ý chí đấu tranh của nhân dân hai nước này, đồng thời Người cũng đã phát hiện ra, tất cả các cuộc cách mạng dân chủ tư sản dù có tiến bộ đến đâu nhưng đều chưa triệt để Khi cách mạng thành công thì chính quyền nằm trong tay một ít người không đại diện cho quyền lợi của quần chúng công nông vẫn bị bóc lột, vẫn khổ cực, vẫn đói và họ vẫn thấy phải hướng tới thực hiện một cuộc cách mạng khác Sau này trong tác phẩm Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh viết

“cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa Cách mệnh đã bốn lần rồi mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mạng lần nữa mới thoát khỏi vòng

áp bức” [6, tr.274] Như vậy, trực tiếp đến nước Mỹ, đến Pháp để tìm hiểu,

Hồ Chí Minh đã thấy cái cần học, cần áp dụng cho cách mạng Việt Nam Đồng thời chính từ những hạn chế, từ bài học thành công và chưa thành công của nó, Người rút ra những kết luận xác đáng và lưu ý cách mạng Việt Nam:

“Chúng ta đã hi sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người Thế mới khỏi hi sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc” [6, tr.270] Cách mạng dân chủ tư sản thực hiện độc lập một cách hời

Trang 22

hợt không triệt để, độc lập dân tộc giành được trong cách mạng tư sản chỉ mở đường cho giai cấp tư sản xác lập vững chắc quyền lực thống trị của nó, nó không mang lại độc lập thực sự cho các dân tộc, ấm no, tự do, hạnh phúc cho mọi người Chính vì vậy, cách mạng Việt Nam không thể đi theo lối mòn của các cuộc cách mạng ấy Từ việc nghiên cứu cách mạng tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh nhận thấy đó là cuộc cách mạng triệt để nhất Người nhận xét:

“Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công và thành công đến nơi nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do bình đẳng thật, không phải tự do bình đẳng như chủ nghĩa đế quốc khoe khoang bên An Nam Cách mạng Nga đã đuổi được vua, chủ nghĩa tư bản rồi lại ra sức cho công nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả

đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới Cách mạng Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hi sinh, phải thống nhất” [6, tr.280]

Trải qua gần mười năm Người ra đi tìm con đường cứu nước và Người

đã tìm thấy con đường độc lập dân tộc thực sự cho dân tộc chính là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Con đường của cách mạng tháng Mười Nga, đi theo chủ nghĩa Mác- Lênin Ngay từ đầu, Người khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không

có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” [13, tr.314] Đường lối

đó gắn liền làm một, mục tiêu độc lập với mục tiêu chủ nghĩa xã hội; làm cho cách mạng Việt Nam phát triển theo xu thế cách mạng chung của thời đại Năm 1930, trong Chánh cương vắn tắt, Người nói rõ: “Chủ trương làm cách mạng tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” [8, tr.1] Vì khi giành độc lập dân tộc mới chỉ giải quyết được một phần

về mặt chính trị, mới chỉ là bước đầu tiên, là điều kiện thôi chứ chưa phải là

đã đủ để mọi người có ấm no, tự do, hạnh phúc Theo Người, độc lập dân tộc

Trang 23

phải gắn liền với tự do hạnh phúc cho con người, trước hết ở những yêu cầu tối thiểu như ăn, mặc, ở, học tập, việc làm và được chữa bệnh khi đau ốm Do vậy, mà ngay sau khi cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Người cho rằng: “Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì

tự do, độc lập cũng không để làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” [9, tr.152] Vì thế, cách mạng Việt Nam sau khi giành được độc lập tự do tất yếu phải đi lên chủ nghĩa xã hội, Người quan niệm “Chủ nghĩa xã hội trước hết là nhằm làm cho nhân dân thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc” [14, tr.17] Đến năm 1960, Người khẳng định lại rõ hơn “Chỉ

có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị

áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” [14, tr.128]

Người cũng đã chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Người nhấn mạnh, chỉ có hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc mới có điều kiện tiến lên chủ nghĩa xã hội và chỉ có đi lên chủ nghĩa

xã hội mới bảo đảm vững chắc những thành quả do sự nghiệp giải phóng dân tộc mang lại Theo Người chỉ có gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội mới huy động được lực lượng to lớn là các giai cấp, các tầng lớp nhân dân vào công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc Người còn chỉ rõ: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn” [16, tr.305] Đây là sự vận dụng sáng tạo

lí luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể Việt Nam, là kết quả của sự phát hiện đúng quy luật của cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng nước ta hòa vào đúng dòng thác cách mạng của thời đại Ngược lại có độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc lại một lần nữa rơi vào vòng áp bức, bóc lột thì chắc chắn là quần chúng lao động không thể chấp nhận điều đó và độc lập dân tộc cũng không được đảm bảo Đối với

Trang 24

nhân dân ta độc lập dân tộc thực sự phải là độc lập trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại, phải bảo đảm Đối với nhân dân, độc lập

là quyền tự do, bình đẳng, công bằng cho xã hội, xóa bỏ mọi ách áp bức bóc lột, không phụ thuộc và lệ thuộc vào bên ngoài Những vấn đề đó chỉ có thể tìm thấy giải quyết được bằng còn đường đi lên chủ nghĩa xã hội Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới thực sự làm cho dân giàu, mới đoàn kết được cộng đồng dân tộc và không ngừng tăng cường sức mạnh về mọi mặt của đất nước Đó sẽ là những yếu tố cơ bản bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc Hồ Chí Minh nói “Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một ấm no thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm” [13, tr 173]

1.2.3 Độc lập dân tộc là phải có nền kinh tế vững mạnh

Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã rất chú trọng đến “thực túc thì binh cường” để yên dân và đảm bảo cho non sông bền vững Vì vậy, sau khi giành được độc lập các nhà nước phong kiến ta đã thực hiện nhiều chủ trương biện pháp nhằm phục hồi, đẩy mạnh phát triển sản xuất, phát triển kinh tế để chấn hưng đất nước Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng cũng luôn quan tâm đến vấn đề này và quan điểm xây dựng một nền kinh tế vững mạnh, độc lập, tự chủ đã được Người đề cập đến rất sớm Một nền kinh tế vững mạnh, độc lập, tự chủ là nền tảng vững chắc để phát triển đất nước Trong một đất nước có nền kinh tế vững mạnh là phải có sự độc lập, tự chủ về đường lối, chính sách phát triển, không bị lệ thuộc, phụ thuộc vào các nước khác hoặc phụ thuộc vào tổ chức quốc tế nào

đó về đường lối, chính sách, định hướng phát triển, vào những điều kiện kinh

tế, chính trị mà họ áp đặt cho ta, gây tổn hại đến chủ quyền quốc gia và lợi ích

cơ bản của dân tộc

Trang 25

Theo Hồ Chí Minh, phát triển kinh tế là “làm sao cho dân ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Bởi vì độc lập rồi mà dân không được hạnh phúc, còn nghèo khổ thì độc lập cũng chẳng có nghĩa gì Như vậy

là sự hi sinh của hàng triệu người cho đất nước được độc lập là sự hi sinh vô nghĩa Khi quốc gia độc lập rồi thì việc xây dựng một nền kinh tế vững mạnh,

tự chủ là tối cần thiết Vì vậy, ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lập tức tuyên bố giặc đói, giặc dốt là đồng minh của giặc ngoại xâm Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng, nhà nước ta đã có nhiều chính sách đẩy lùi nạn đói, từng bước đưa nền kinh tế nhanh chóng phục hồi

Trong việc xây dựng đường lối phát triển kinh tế của nước ta, Hồ Chí Minh xác định cần phải xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với công – nông nghiệp hiện đại, khoa học – kĩ thuật tiên tiến, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, cải thiện phát triển kinh tế, sản xuất kinh doanh, giải phóng mọi năng lực sản xuất, làm cho mọi người, mọi nhà trở nên giàu có, ích quốc lợi dân, gắn kinh tế với kĩ thuật, kinh tế với xã hội

Trong cơ cấu các ngành kinh tế, Người đặc biệt quan tâm đến vai trò của nông nghiệp, lấy đó làm mặt trận hàng đầu Theo Người, vì nước ta là một nước nông nghiệp vì vậy phải coi trọng nông nghiệp mà trước hết là sản xuất lương thực Người đã viết: “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc trong công cuộc xây dựng nước nhà, chính phủ trông mong vào lòng dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn Nông dân ta giàu thì nước ta giàu Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” [9, tr.215] Nói về vai trò của nông nghiệp Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: nông nghiệp không chỉ giải quyết vấn đề lương thực mà còn cung cấp nguyên liệu để khôi phục tiểu công nghiệp, công nghiệp đồng thời cung cấp lâm thổ sản để mở rộng buôn bán với nước ngoài, phải phát triển nông nghiệp toàn

Trang 26

diện, đồng thời cũng phải coi trọng nghề rừng, nghề cá,… Như vậy, đối với một nước nông nghiệp như Việt Nam dù cơ cấu kinh tế có thay đổi và phát triển như thế nào thì cũng phải lấy nông nghiệp làm gốc Nếu nông nghiệp phát triển lương thực, thực phẩm dồi dào, nông dân khá giả thì xã hội sẽ phồn vinh Ngược lại, nông nghiệp đình đốn trì trệ thì các ngành khác cũng suy giảm Chính vì vậy, Người đặt vấn đề cải tạo nông nghiệp thành một nhiệm

vụ trọng tâm ở nước ta Người nói phải cải tạo và phát triển nông nghiệp thì mới có cơ sở để phát triển các ngành kinh tế khác Vì vậy, phải phát triển nông nghiệp là chính, là gốc, tất cả các ngành khác phải phục vụ cho phát triển nông nghiệp lấy phục vụ nông nghiệp làm trung tâm, không những thế

mà phải phục vụ cho tốt Người xác định rõ “nếu không phát triển nông nghiệp thì không có cơ sở để phát triển công nghiệp vì nông nghiệp cung cấp nguyên liệu, lương thực và tiêu thụ hàng hóa công nghiệp làm ra, vấn đề quan trọng nhất của đời sống nhân dân là vấn đề ăn, để giải quyết tốt vấn đề ăn thì sản xuất lương thực, thực phẩm dồi dào Muốn vậy, công nghiệp phải giúp cho nông nghiệp có nhiều máy móc làm thủy lợi, máy cày, máy bừa phân bón hàng hóa Công nghiệp nặng phải cung cấp đủ máy móc các loại cho nông nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp phát nhanh chóng” [15, tr.243] Mặc dù Người rất mong muốn nước ta trở thành một nước công nghiệp, nhưng Người vẫn nhắc nhở phải “Lấy nông nghiệp làm gốc là chính” để giải quyết vấn đề động lực của chủ nghĩa xã hội Điều này là phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của Việt Nam có ý nghĩa thiết thực vì nước ta vốn là một nước nông nghiệp lạc hậu, đa số dân cư là nông dân Không chỉ công nghiệp mà tất cả các ngành khác cũng phải phục vụ nông nghiệp làm trọng tâm Người viết “phải lấy nông nghiệp làm chính, nhưng phải toàn diện phải chú ý các mặt công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, giao thông, kiến trúc, văn hóa, giáo dục … các ngành này phải phục nông nghiệp làm trung tâm” [15, tr.396]

Trang 27

Khi nói tới đường lối phát triển kinh tế, chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của công nghiệp hoá Người nói “Hiện nay, chúng ta lấy sản xuất nông nghiệp là chính … Nhưng công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa vẫn là mục tiêu phấn đấu chung, là con đương ấm no thực sự của nhân dân ta” [14, tr 41] Khi nói về đường lối công nghiệp hoá, Hồ Chí Minh lại rất coi trọng công nghiệp và cho rằng xét về lâu dài thì có vai trò quyết định đối với kinh tế nước ta Như Người nói “Công nghiệp phát triển thì nông nghệp mới phát triển Cho nên công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khỏe và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích Thế là thực hiện liên minh công nông để xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa, xây dựng đời sống ấm no sung sướng cho nhân dân” [14, tr.545] Trong đó Người lại rất coi trọng công nghiệp nặng và cho rằng: Công nghiệp nặng là đầu mối để mở mang các ngành công nghiệp khác

và cung cấp máy móc cho nông nghiệp Cho nên chưa có công nghiệp nặng thì chưa thể có một nền kinh tế tự chủ và giàu mạnh được” Chính vì vậy, muốn đảm bảo đời sống sung sướng mãi mãi thì phải công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, phải xây dựng công nghiệp nặng Người còn nhấn mạnh vai trò của công nghiệp nặng rằng công nghiệp nặng làm cơ sở để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và giàu mạnh

Đi đôi với việc phát triển nông nghiệp và công nghiệp, Người cũng rất chú ý tới việc xây dựng ngành thương nghiệp Người nói trong nền kinh tế quốc dân có ba mặt quan trọng: nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp Trong đó thương nghiệp chính là cầu nối giữa nông nghiệp và công nghiệp, khi công nghiệp dôi thừa thì thương nghiệp sẽ phát triển, trao đổi hàng hóa giữa công nghiệp và nông nghiệp phát triển lên, công nghiệp được cung cấp nguyên liệu để sản xuất Khi công nghiệp phát triển thì trao đổi được đưa lên một bước cao hơn Hồ Chí Minh đã viết “thương nghiệp là cái khâu giữa nông

Trang 28

nghiệp và công nghiệp, thương nghiệp đưa hàng hóa đến nông thôn, phục vụ nông dân, thương nghiệp lại đưa nông sản, nguyên liệu cho thị trường tiêu dùng” [12, tr.174] Vì vậy, cũng phải chú ý tới việc xây dựng ngành thương nghiệp để làm sao cho thương nghiệp nước ta thực sự trở thành một đòn bẩy kinh tế, làm tốt vai trò giao lưu giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa các lĩnh vực kinh tế, giữa trung ương và địa phương và giữa kinh tế trong nước và ngoài nước

Theo Người muốn phát triển sản xuất, nâng cao năng suất lao động phải coi trọng ứng dụng công nghệ, kiên quyết từ bỏ lối làm ăn lạc hậu Vì vậy, phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu, phổ biến khoa học – kĩ thuật một cách có trọng điểm nhằm phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng nhằm nâng cao đời sống nhân dân Khoa học – kĩ thuật có vai trò rất quan trọng trong sản xuất, muốn làm chủ được khoa học – kĩ thuật thì con người phải trau dồi tri thức, không ngừng nâng cao trình độ văn hoá, coi trọng nhân tố con người, vì con người là vốn quý nhất của xã hội Muốn phát triển năng suất lao động còn phải hiệp tác lao động, phải dựa vào lực lượng tập thể

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh độc lập, tự chủ về nền kinh tế tuyệt nhiên không phải là một nền kinh tế khép kín, “tự cung tự cấp” mà đó phải là nền kinh tế mở, phải mở rộng giao lưu kinh tế với nhiều nước khác Bởi vì, theo Người với dân tộc là tự chủ nhưng dân tộc này không tách rời ra mà phải gắn liền với thế giới để phát triển Vì tách ra là tụt hậu là chết Ở Người tư tưởng

mở cửa nền kinh tế được hình thành rất sớm Ngay từ năm 1919, trong một bài báo Người đã viết “Xét về nguyên tắc, tiến bộ chung phụ thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc tế, và văn minh chỉ có lợi khi các quan hệ quốc tế được mở rộng và tăng cường” [14, tr.10] Có thế thấy ngay từ rất sớm Hồ Chí Minh đã có tư tưởng xây dựng một nền kinh tế mở Đối với các nước phương tây Hồ Chí Minh đều tìm nhiều cách khác nhau để mở rộng quan hệ hữu hảo

Ngày đăng: 17/07/2015, 05:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w