1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tín ngưỡng thờ mẫu ở lễ hội phủ dầy và ảnh hưởng của nó đối với đời sống người dân huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam Định

85 1,3K 16
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 672,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phủ Dầy Nam Định được coi là một trong những hình thức thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ đặc trưng nhất ở Việt Nam, cùng với Phủ Tây Hồ Hà Nội, đền Sòng Thanh Hoá…đã làm nên nét khác biệt của một

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

Trang 2

Lời cảm ơn

Trong suốt thời gian làm khoá luận cũng như học tập tại trường, em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện của các thầy cô trong khoa Giáo dục chính trị, nhất là các thầy cô trong tổ CNXHKH cùng sự động viên khích lệ của gia đình, bạn bè Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu này

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo - Thạc sĩ Hoàng Thanh Sơn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua,

để em có thể hoàn thành khoá luận tốt nghiệp đại học

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, do điều kiện hạn hẹp về thời gian và do sự hạn chế về kiến thức của bản thân nên em không thể tránh khỏi những thiếu sót khi hoàn thành bài khoá luận, vì vậy em rất mong nhận được

sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và của các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2011

Sinh viên Phạm Ngọc Hà

Trang 3

Lời cam đoan

Khoá luận tốt nghiệp được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Th.sĩ Hoàng Thanh Sơn Tôi xin cam đoan rằng: Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 5 năm 2011

Sinh viên

Phạm Ngọc Hà

Trang 4

Mục lục

Mở đầu……… 5

Nội dung Chương 1: Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam 1.1 Khái lược về ín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam……….11

1.2 Quá trình hình thành và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam………19

1.2.1 Quá trình hình thành của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam… 19

1.2.2 Quá trình phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam………20

1.2.3 Các dạng thức thờ Mẫu đang tồn tại ở Việt Nam………22

1.3 Nội dung và nghi thức thờ Mẫu……… 23

1.3.1 Không gian thờ Mẫu……….23

1.3.2 Hệ thống lớp lang trong phủ, điện thờ Mẫu……… 24

1.3.3 Hệ thống nghi lễ của tín ngưỡng thờ Mẫu……… 26

Chương 2: Tín ngưỡng thờ Mẫu ở lễ hội Phủ Dầy 2.1 Vài nét về quê hương Vụ Bản, Nam Định………30

2.2 Tín ngưỡng thờ Mẫu ở lễ hội Phủ Dầy - Nam Định……… 34

2.1.1 Huyền tích Mẫu Liễu Hạnh……….34

2.1.2 Lễ hội Phủ Dầy - một hình thức sinh hoạt văn hoá của nhân dân…42 2.1.3 Quần thể Phủ Dầy - trung tâm của tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh - trung tâm của đạo Tứ phủ………51

Chương 3: Những ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu ở lễ hội Phủ Dầy đối với đời sống người dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định 3.1 Ảnh hưởng tích cực……….72

3.1.1 Đến đời sống kinh tế……… 72

3.1.2 Đến đời sống chính trị……….74

3.1.3 Đến đời sống văn hoá - xã hội………75

Trang 5

3.2 Ảnh hưởng tiêu cực……….77

3.2.1 Đến đời sống kinh tế……….77

3.2.2 Đến đời sống chính trị……….77

3.2.3 Đến đời sống văn hoá - xã hội………78

3.3 Nguyên nhân và giải pháp……….79

3.3.1 Nguyên nhân………79

3.3.2 Giải pháp……….79

Kết luận……….81

Danh mục tài liệu tham khảo……….83

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Phong tục tập quán lễ hội là một bộ phận quan trọng cấu thành nên văn hoá xã hội nó gắn bó mật thiết, sâu sắc với mọi tầng lớp người trong xã hội Nước ta với nền văn minh lúa nước rất đặc trưng thì phong tục, tập quán, tín ngưỡng đã trở thành một bộ phận trong đời sống tinh thần Hàng ngàn năm xưa từ thời nguyên thuỷ đã hình thành nên các phong tục tập quán đó và phát triển đến tận ngày nay và chúng ta có thể khẳng định rằng không một gia đình người Việt nào lại không có bàn thờ cúng Tổ tiên, không có làng xã nào lại không có một ngôi đình, đền, miếu thờ các vị Hoàng làng, các anh hùng dân tộc hay thờ Mẫu

Cứ đời này qua đời khác các tín ngưỡng phong tục trở thành mảng sinh hoạt tinh hần không thể thiếu trong đời sống người Việt, những giá trị tinh thần này đã khẳng định một bản sắc và sự trường tồn của văn hoá Việt trong văn hoá thế giới

Đặc trưng của tín ngưỡng Việt chính là sự "Nữ hoá" trong các tín ngưỡng dân gian Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng quan trọng trong đời sống người Việt, nó có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời cùng với quá trình thịnh suy của xã hội Việt từ bao đời nay Nền văn minh lúa nước rất coi trọng bàn tay khéo léo của người phụ nữ, và từ xa xưa người mẹ đã trở thành thân thuộc nhất với con người Tín ngưỡng thờ Mẫu là sự tôn vinh thờ phụng gắn với các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ như trời, đất, mưa, gió…ngoài

ra còn thờ phụng những vị nữ anh hùng dân tộc (về giai đoạn sau này)

Tín ngưỡng thờ Mẫu luôn gắn liền với hình thức Tam phủ, Tứ phủ Tam phủ, Tứ phủ tượng trưng cho các vùng không gian mà các Mẫu cai quản, Tam phủ là vùng trời, đất, nước (Thiên, Địa, Nhạc); Tứ phủ là vùng trời, đất, rừng, nước (Thiên, Địa, Nhạc, Thoải) Trong các Mẫu thì Mẫu Thượng Thiên được ngồi ở vị trí cao nhất rồi mới đến các Mẫu khác Tương truyền Mẫu

Trang 7

Thượng Thiên chính là hoá thân của Thánh Mẫu Liễu Hạnh - một trong "Tứ bất tử" của tâm thức dân gian Việt Nam

Phủ Dầy Nam Định được coi là một trong những hình thức thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ đặc trưng nhất ở Việt Nam, cùng với Phủ Tây Hồ (Hà Nội), đền Sòng (Thanh Hoá)…đã làm nên nét khác biệt của một tín ngưỡng do chính người Việt sáng tạo ra, mang đậm bản sắc văn hoá, tâm linh Việt Phủ Dầy nằm trên địa bàn hai thôn Tiên Hương và Vân Cát thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam định Quần thể Phủ Dầy có khoảng gần hai mươi di tích lớn nhỏ, tuy nhiên khách thập phương đến với Phủ Dầy chủ yếu là để lễ Mẫu (Thánh Mẫu Liễu Hạnh), tương truyền đây chính là quê hương Mẫu Liễu, ở đây có lăng Mẫu và đền, phủ thờ các vị thân sinh ra Mẫu Ngoài ra, trong quần thể di tích phủ đầy còn có đền, phủ thờ Mẫu Thoải, Mẫu Địa, Mẫu Thượng Ngàn, đền Đông Cuông…và hệ thống chùa cổ như chùa Linh Sơn, chùa Cao…đặc biệt hơn cả là đình thờ ông Khổng (Nguyễn Minh Không - ông tổ nghề đúc đồng ở nước ta) cũng nằm trong hệ thống di tích Phủ Dầy

Lễ hội Phủ Dầy diễn ra từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 10 tháng 3 hàng năm, đây thật sự là một hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng của nhân dân không chỉ mang tính chất địa phương mà nó đã có tầm ảnh hưởng hết sức sâu rộng đến phạm vi cả nước Tìm hiểu về lễ hội Phủ Dầy chính là tìm hiểu một nét văn hoá truyền thống của con người Việt Nam Trong giai đoạn hiện nay việc bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống là vô cùng quan trọng

và cần thiết vì vậy thiết nghĩ Phủ Dầy cần được quan tâm hơn nữa để xứng đáng là một trong hai kinh đô của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài

Các công trình nghiên cứu đầu tiên về Nữ thần, Mẫu thần ở Việt Nam đều là các công trình của các nhà khoa học người Pháp như Parmenties, Maspero, Durand, Simond và kế tiếp là các nhà khoa học người Việt như Nguyễn Văn Huyên, Đào Thái Bình…

Từ thập niên 1990, nhất là sau hội thảo quốc gia về Thánh Mẫu Liễu

Trang 8

không khí học thuật liên quan tới tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng và tín ngưỡng dân gian nói chung diễn ra sôi động, hàng loạt tác phẩm, công trình nghiên cứu đã được công bố

Từ các nghiên cứu tổng hợp, các nhà nghiên cứu đã hệ thống hoá được việc tôn thờ đạo Mẫu Việt Nam trên cả phương diện đồng đại và lịch đại Về phương diện lịch đại, Đạo Mẫu Việt Nam được hình thành và phát triển trên cái nền thờ Nữ thần và Mẫu thần bản địa, rồi tiếp thu những ảnh hưởng của Đạo Giáo Trung Hoa để đạt đến đỉnh cao là đạo thờ Mẫu Tam phủ, Tứ Phủ Tới thế kỷ XVII - XVIII, khi Mẫu Tam Phủ, Tứ phủ đã được hình thành và phát triển thì nó lại Tam phủ, Tứ phủ hoá tục thờ Mẫu thần, Nữ thần

Ngay từ thời Hậu Lê, đã có một số ghi chép các sáng tác về Thánh Mẫu Liễu Hạnh của Nguyễn Công Trứ, Đoàn Thị Điểm…

Từ cuối thế kỷ XVI, tục thờ Mẫu ở làng Kẻ Dầy đã phát triển với lịch

sử sinh sinh hoá hoá của Thánh Mẫu Liễu Hạnh mà dân thường gọi là Chúa Liễu Trong truyền thuyết dân gian nổi tiếng của đất Vụ Bản, thì Liễu Hạnh

công chúa là "Thiên Bản lục kỳ chi đệ nhất", đứng đầu sáu nhân vật kỳ tài của đất Vụ Bản

Cao hơn nữa, trong hệ thống thần linh ở nước ta, Thánh Mẫu Liễu

Hạnh còn được tôn là một trong "tứ bất tử" (bốn vị thánh không chết), mà lại

là một vị nữ duy nhất trong bốn vị thánh bất tử đó, (Tứ bất tử là: Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Tản Viên Sơn Thánh, Thánh Mẫu Liễu Hạnh)

Có khá nhiều tài liệu viết về Thánh Mẫu Liễu Hạnh Không kể những truyền thuyết về Mẫu Liễu khá phong phú đa dạng trong dân gian vùng Kẻ Dầy, vùng Vụ Bản và nhiều nơi khác Tài liệu thành văn xưa nhất được biết

đến là tác phẩm "Vân Cát thần nữ truyện" của Đoàn Thị Điểm trong cuốn

"Truyền kì Tân Phả" bằng chữ Hán Bà Đoàn Thị Điểm sinh năm Ất Dậu

(1705) tại làng Giai Phạm, huyện Văn Giang (nay là huyện Mỹ Văn tỉnh Hưng Yên) Bà có hiệu là Hồng Hà nữ sĩ mở trường dạy học ở Chương Dương (Hà Tây) Bà nổi tiếng về văn chương, biên soạn nhiều tác phẩm và dich thuật nhiều tác phẩm khác, được nhiều danh sĩ đương thời ca ngợi Bà

Trang 9

mất vào năm Mậu Thìn đời Cảnh Hưng năm thứ 9 (1748) Viết "Vân Cát thần

nữ truyện", tác giả không cho biết căn cứ vào những tài liệu nào Đầu thế kỷ

XX, trong "Nam Hải Dị nhân" Phan Kế Bính cũng có viết về nữ thần Liễu

Hạnh

Gần đây trong khi khảo cứu về Mẫu Liễu Hạnh, tôi đã tìm hiểu được

nhiều bản thần tích của Mẫu Khi nghiên cứu "Các tiên tam thế thực lục" của

Phủ Nấp (Quảng Nạp, Yên Đồng, Ý Yên), viết và in bản khắc đời Duy Tân đầu thế kỷ XX, được lưu giữ tại phủ Tiên Hương và phủ Vân Cát, tôi thấy có

chép "Tiên Từ phả ký" trong đó, giống như bản chép tay mà bác sĩ Trần Lê Văn công bố năm 1992 và cũng y hệt cuốn "Tiên Từ phả ký" chép tay do cụ

Trần Lê Hiệu, Trần Đình Tùng cung cấp Năm 1997, trong thư viện Hán nôm

Việt Nam tập "Thần tích làng Vân Cát", tổng Đồng Đội, huyện Vụ Bản, tỉnh

Nam Định, kí hiệu AEa 15/18 có dấu của Viễn Đông Bác Cổ Cuốn này có

hai tập Tập đầu là cuốn "Tiên Từ phả kí" giống như các tư liệu tìm thấy ở trên Tập thứ hai là "Vân Cát thần nữ lục" chia làm ba phần:

Phần đầu (tiền lược): Tóm lược nội dung như "Tiên Từ phả kí", nhưng

lại thêm là Tiên Chúa Liễu Hạnh đã sinh với Đào Lang một con gái

Phần giữa (trung lược): Chúa về trời, được phong là Liễu Hạnh công chúa, lại được trở về trần thế tiêu dao, lấy một chàng trai làng Sóc là Mai Sinh chính là hậu thân của chồng cũ

Phần cuối (hậu lược): Nói về "Sòng Sơn đại chiến" Tiên Chúa ở Phố

Cát, Sòng Sơn đánh nhau với Tiền quan thánh của Nội đạo tràng bị thua, được Phật Thế Tông cứu giải, theo Phật tu hành, sau lại học đạo ở Nội đạo tràng, được phong là Đại thừa

Năm 1944, giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên viết cuốn "Sự phụng thờ các vị thánh bất tử ở Việt Nam", trong đó nữ thần Liễu Hạnh được ông đặc biệt trân trọng Ông đã viết lịch sử nữ thần giống như "Vân Cát thần nữ truyện" của Đoàn Thị Điểm, lại bổ sung thêm phần "Sòng Sơn đại chiến" Giáo sư còn nhấn mạnh :"Nghiên cứu việc thờ phụng các vị bất tử, một ngày

Trang 10

trong việc xây dựng những khái niệm tôn giáo và luận đề văn chương Dân tộc này không chịu sao chép những gì của Trung Quốc mà tự tạo lấy cuộc sống riêng trong trường kì lịch sử vẫn luôn luôn được thanh xuân hoá" [13,

tr 22]

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Qua khoá luận tôi muốn tìm hiểu một cách sâu sắc, có hệ thống về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam mà cụ thể là tín ngưỡng thờ Mẫu ở lễ hội Phủ Dầy và tầm ảnh hưởng của nó đối với đời sống nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Từ đó chúng ta có phương hướng, biện pháp cụ thể, thiết thực nhằm phát huy tín ngưỡng đặc trưng của dân tộc, cũng là bảo tồn phát triển một nét văn hoá mang đậm bản sắc Việt Nam

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam, cụ thể là

tín ngưỡng thờ Mẫu ở Phủ Dầy Nam Định

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Ở Việt Nam có nhiều địa điểm thờ Mẫu nhưng

trong đó có hai trung tâm lơn nhất là Phủ Tây Hồ (Hà Nội) và Phủ Dầy (Nam Định) Trong khoá luận này tôi chỉ tìm hiểu, nghiên cứu trung tâm thờ Mẫu Phủ Dầy (Nam Định)

5 Phương pháp nghiên cứu

Ở đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp như:

- Phương pháp khảo sát, phân tích

- Phương pháp điều tra, tổng hợp

6 Đóng góp của khoá luận

Khoá luận góp phần tìm hiểu một nét văn hoá đặc trưng của dân tộc Việt, nó sẽ là nguồn tài liệu tin cậy cho việc nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu ở lễ hội Phủ Dầy nói riêng sau này Cũng như từ đó đưa ra những biện pháp bảo tồn truyền thống văn hoá mang đậm chất Việt Nam

7 Bố cục của khoá luận

Trang 11

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của khoá luận gồm ba chương

Chương 1: Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam

Chương 2: Tín ngưỡng thờ Mẫu ở lễ hội Phủ Dầy

Chương 3: Những ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu ở lễ hội Phủ Dầy đối với đời sống người dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

Trang 12

Chương 1: TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM

1.1 Khái lược về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam:

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian, được hình thành khá sớm và tồn tại khá phổ biến ở Việt Nam, thể hiện sự ngưỡng mộ chân thành của con người về vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình, ngoài xã hội, trong công cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Danh xưng Mẫu có nghĩa là mẹ, Mẫu hay mẹ là người phụ nữ nói chung có công sinh thành, nuôi dưỡng con lên người Mẫu thường có nguồn gốc từ các vị thần tự nhiên (nhiên thần) như Mẫu thiên, Mẫu thoải, Mẫu địa, Mẫu thượng ngàn…và nguồn gốc từ các nhân thần Nhân thần có hai dạng, không có thực như: mẹ Âu Cơ, mẹ Phù Đổng, mẫu Liễu Hạnh và có thực như Nguyên Phi Ỷ Lan, Bà Thái Hậu họ Đỗ tương truyền là mẹ của Vua Lí Thần Tông…Mẫu được tôn vinh ở ba cung bậc chính là: Thánh Mẫu, Quốc Mẫu và Vương Mẫu

Tín ngưỡng thờ Mẫu có quan hệ mật thiết với tín ngưỡng thờ nữ thần song không phải đồng nhất Mọi Mẫu đều là nữ thần song không phải nữ thần nào cũng là Mẫu Tín ngưỡng thờ Mẫu được tập trung trong tín ngưỡng về Tam toà thánh Mẫu (Mẫu tứ phủ) - chỉ có trong tín ngưỡng Tam Phủ, Tứ Phủ Mẫu mới được tôn thờ làm Thánh Mẫu như: Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu thiên, Mẫu địa, Mẫu thoải, Mẫu thượng ngàn, Mẫu thiên Yana…

Việc thờ Thánh Mẫu cùng với sự thăng hoa của Mẫu Liễu Hạnh đã trở thành tín ngưỡng thờ Mẫu, đó là niềm tin, sự ngưỡng mộ chân thành vào sự tồn tại và khả năng cứu giúp của Mẫu đối với con người

* Cốt lõi của tín ngưỡng thờ Mẫu

Mẫu gọi theo tiếng Hán, tiếng Việt Nam là Mạ, Mệ, Mẹ, tại sao lại có tín ngưỡng thờ Mẹ Đó là từ thời nguyên thuỷ, con người đã có ý thức sâu sắc

về sự sinh sản, sự sinh sôi nảy nở, ý thức ấy thường biện lí từ cái cụ thể Mà

Trang 13

cái cụ thể về cái sự sinh sôi nảy nở không gì khác ngoài người mẹ mang nặng

đẻ đau, sinh ra nuôi dưỡng che chở bảo vệ cho con người, chiến thắng thiên tai và thú dữ ấy đều được gọi là mẹ

Theo ý nghĩa trên, người mẹ biểu tượng đầu tiên nuôi sống che chở cho con người ấy là mẹ cây Cây cho mầm, cho rễ, cho quả để con người ăn sinh sống ban đầu, cây cho vỏ để người mặc, cây cho cành, cho những rễ phụ để cho con người kết lại thành võng treo mình trên võng qua đêm và tránh thú dữ

sát hại F.Engels trong sách "Nguồn gốc gia đình chế độ tư hữu và nhà nước"

đã viết ý là: ít nhất con người còn sống ở trên cây một phần, thì mới có thể giải thích được rằng họ có thể sinh tồn cùng với thú dữ

Ở nước ta, cây cho rễ phụ nhiều nhất là cây đa, cây si Hiện nay ở xã Tiên Nông (Khởi thuỷ nghề nông), bên bờ sông Lô, thị xã Tuyên Quang có đền thờ Mẫu Ỷ La Nay đền đã quang đãng, nhưng trước đây không lâu bao quanh đền là cả một rừng cây đa cổ thụ, rễ phụ đan nhau chằng chịt Cũng ở Thị xã Tuyên Quang, có một đền thờ Ỷ Lan khác trên núi La thờ bà Chúa thượng ngàn, cũng trồng rất nhiều cây si và cây đa cổ thụ được gọi là cây thiêng, cây bất tử toả bóng mát cho khách hành hương Ỷ là dựa, La là lưới, võng Lưới của những cây đa, cây si được tết thành lưới, thành võng như những cái nôi đưa con người nguyên thuỷ chìm vào trong những giấc ngủ qua đêm tránh thú dữ Bởi thế, Ỷ La trở thành biểu tượng đầu tiên về Mẹ thiêng

liêng Theo tác giả Toan Ánh, trong sách "Nếp cũ", có nói ở đền Bắc Lệ -

Lạng Sơn treo bức tranh Mẫu thượng ngàn ngồi trên chiếc võng giăng giữa hai cây trong rừng xanh xung quanh có nhiều vượn chim và các cô nàng đứng

hầu hạ Bức tranh này được chụp thành ảnh, in trong sách "Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam" của Trần Ngọc Thêm, gọi là tranh Hàng Trống (trang

272) Việc thờ Mẫu mang tính chất là thờ Mẹ Cây, Mẹ Rừng này còn thấy rõ nét ở nhiều nơi Như ở đền Hai Bà Trưng - Đồng Nhân, Hà Nội, trên bàn thờ

Mẫu treo bức tranh hoành phi đề "Tam mộc sơn đình" hay ở đầu bàn thờ Mẫu thấy bức tranh hoành phi là Mẫu Sơn Lâm "Tam mộc sơn đình" là ba cây làm

Trang 14

"Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao"

Ấy là hình ảnh nói về sức mạnh đoàn kết cộng đồng bắt nguồn từ thờ Mẫu

"Tam mộc sơn đình" Hoặc như nhiều làng dệt ở vùng Hà Đông cũ mang tên

La Khê, La Cả thờ tổ dệt là Mẫu La

Mẫu Ỷ La mang tính chất là Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Sơn Lâm được nhân cách hoá thành những huyền thoại như sau:

Vua Hùng Định Vương có bà hoàng hậu thứ ba, tên là An Nương, mang thai khá lâu (gọi là chửa trâu), bà đi chơi giữa rừng xanh, trở dạ đẻ, bà vịn vào gốc cây quế cổ thụ, đau đớn vất vả lắm mới sinh được con gái,nhưng

bà kiệt sức mất ngay sau khi sinh con Con gái được vua cha đặt tên là Mị Nương Quế Hoa Lớn lên Quế Hoa rất xinh đẹp, nhiều hoàng tử xin kết duyên nhưng nàng không để ý chỉ hiềm một nỗi nhớ nhung tìm mẹ Nàng cùng 12 thị nữ đi khắp rừng xanh tìm mẹ Trên đường đi nàng gặp rất nhiều dân tình đói khổ vào rừng đào củ mài kiếm ăn, nàng rất xót xa thương dân tình đói khổ Với lòng nhất mực hiếu thảo tìm mẹ, và lòng bác ái thương dân, nàng đã được tiên ông hiện xuống cho sách quý có phép màu, làm núi sông thông thương trở lại, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, cuộc sống dân lành ấm no, yên vui trở lại… Đám mây ngũ sắc hạ xuống đón bà và 12 thị nữ về trời… Nhân dân thương nhớ tôn nàng là Thượng Ngàn Thánh Mẫu, lập đền thờ nay

là đền Suối Mơ ở Hữu Lũng, Lạng Sơn

Câu chuyện trên đây tất hình thành nên sau này như câu chuyện Tấm Cám có ông tiên có phép lạ, nhưng cốt lõi ở đây là bà mẹ rừng xanh và Thánh Mẫu Thượng Ngàn

Thánh Tản Viên sau khi thắng Thuỷ Tinh, được Vua Hùng gả con gái cho là Ngọc Hoa Và Ngọc Hoa sinh được người con gái hiền thục tên là La Bình (ở đây ta lại gặp chữ La có nghĩa là lưới, võng) La Bình luôn đi theo cha khắp núi rừng săn bắn Đi đến đâu La Bình cũng gắn bó với núi rừng, cây

cỏ, muông thú Thấyvậy, thượng đế ban cho nàng là Nữ chúa rừng xanh, từ

Trang 15

đó nàng càng gắn bó với núi rừng, dạy bảo muôn loài cầm thú, không gây điều ác Do công lao ấy, Thượng đế giao cho nàng cai quản 81 cửa rừng xanh

ở chốn Nam Giao Nàng còn có công giúp triều Lí thắng Tống, Trần thắng Nguyên, nhất là giúp quân ông Lê Lợi thắng giặc Liêu Thăng ở Lạng Sơn Vì vậy, nàng được tôn là Chúa thượng ngàn, nhân dân lập đền thờ, nay là đền Bắc Lệ ở Hữu Lũng, Lạng Sơn, cách đền Suối Mơ không xa

Ở đây câu chuyện có hai ý, một người con người còn sống chung với muông thú trong rừng sâu, và con người đã chiến thắng được thú dữ Hai là câu chuyện được kéo về Chúa thượng ngàn giúp nhân dân ta chống giặc Bắc,

mà Lạng Sơn là địa đầu trong các cuộc kháng chiến ấy, nên bà lại được quy

về thờ ở Bắc Lệ

Câu chuyện về Mẫu thượng ngàn hay Mẫu đệ nhất, là một cô gái người Dao ở Động Cuông, Yên Bái Khi cô sinh ra, bố mẹ đã già yếu, từ nhỏ đến lớn cô chỉ làm việc thiện, không lấy chồng, khi chết bà hiển linh giúp đỡ dân làng được nhiều điều tốt dẹp, nên bà được thờ ở các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái và bà cũng báo mộng cho ông Lê Lợi, ông Nguyễn Trãi biết được đường tiến quân của giặc Minh để thắng chúng ở Lạng Sơn, nên cũng được thờ ở đền Bắc Lệ, ở Đồng Đăng - Kì Lừa, Lạng Sơn

Cũng với những câu chuyện trên đây, ở việc đồng bóng (sẽ trình bày ở sau) thường xuyên xuất hiện những Mẫu đệ nhất, đệ nhị là những chầu bà ở người miền núi: Dao, Tày, Nùng nhập đồng đã phản ánh đậm nét thời kì Mẫu xuất hiện gắn với con người còn cư trú trên miền rừng núi Mà dấu tích của

nó là các đền thờ Mẫu còn thấy ở trên miền núi Cùng với các đền Ỷ La, đền Bắc Lệ, đền Suối Mơ giới thiệu trên đây, ta còn biết đến những ngôi đền khác như đền Giùm thờ Mẫu thuỷ ngàn ở cửa sông Hồng (Yên Sơn - Tuyên Quang), đền thờ mẹ Âu Cơ ở xã Hiền Lương bên sông Theo (Yên Bái), đền thờ Mẫu bên Thác Bờ (Hoà Bình) đền thờ Củi thờ Mẫu thượng ngàn ở thượng nguồn sông La (Nghệ Tĩnh)

Như vậy, có thể nói tín ngưỡng thờ Mẫu ở người Việt (Kinh) hay ở

Trang 16

núi Có nghĩa là tín ngưỡng thờ Mẫu từ miền rừng núi thờ mẹ cây (sau này gọi là Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Sơn Lâm), rồi theo dòng lịch sử đi xuống vùng trung du đồng bằng, bổ sung thêm những Mẫu khác

Khi con người xuống trung du, đồng bằng sống bằng nghề nông nghiệp lúa nước, cây lúa hạt gạo là yếu tố quan trọng hàng đầu nuôi sống con người, rồi các cây hoa màu, cây ăn quả Mẹ Cây vẫn gắn bó chặt chẽ với đời sống con người Và con người làm nông nghiệp lúa nước, thì đất và nước là hai yếu

tố tiếp theo được tôn thờ Đất và nước được tôn vinh thành mẹ đất, mẹ nước (Mẫu Địa, Mẫu Thuỷ) gia nhập vào hàng ngũ Mẫu được thờ

Thế nhưng quyết định có nước lại do mưa từ trên trời rơi xuống, con người chưa thể hiểu quy luật của mưa là nước bốc hơi lên lên thành mây mưa, cho đó là trời quyết định, mẹ trời được tôn vinh, Mẫu Thiên ra nhập hàng ngũ Mẫu Tín ngưỡng là từ thực tế cuộc sống, con người đặt ra những lực lượng

để tôn vinh, tôn trọng phù hợp với cuộc sống của con người là thế Mẹ cây,

mẹ rừng (sau này gọi là Mẫu Thượng Ngàn hay Mẫu Sơn Lâm) Mẹ đất, mẹ nước, mẹ trời (thời tiết, khí hậu), hay gọi theo tiếng Hán là Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Địa, Mẫu Thoải (Thuỷ), Mẫu Thiên là hệ thống Mẫu cơ bản ban đầu của tín ngưỡng thờ Mẫu

Trong bốn Mẫu trên đây, Mẫu Sơn Lâm (Mẫu Thượng Ngàn) đã được nhân cách hoá như trên, còn Mẫu Thuỷ (Thoải) được nhân cách hoá như sau:

Dị bản từ làng A Lữ kể rằng, thuở trời đất mới mở mang, rừng núi sông

hồ hoang vu, Kinh Dương Vương thường đi chu du khắp nơi, một hôm đến hồ Động Đình gặp người con gái sắc đẹp tuyệt trần, con Vua Long Vương hồ Động Đình Kinh Dương Vương lấy về làm vợ, sinh ra Sùng Sản, chính là Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, nở trăm con, tổ tiên Lạc Việt, từ Rồng, từ Nước

Có truyền thuyết lại cho rằng Mẫu Thoải không phải là một bà mà là nhiều bà Các bà đều là con của Lạc Long Quân, trong đó chọn được ba người, giao cho quản lĩnh sông biển nước Nam đóng dinh ở sông Nguyệt Đức Một bà có có hiệu là Thuỷ Trinh Động Đình Ngọc Nữ công chúa Bà

Trang 17

thứ hai có hiệu là Hoàng Hà Đan Khiết phu nhân Bà thứ ba là Tam Giang công chúa Tam giang nay là ngã ba Sà Yên Phong, Bắc Ninh

Một truyền thuyết khác, do người Pháp là Durant sưu tầm, kể rằng ở vùng Tuyên Quang có một hoàng tử con vua Đất là Kinh Xuyên, lấy vợ là con gái con gái Long Vương ở hồ Động Đình, bà rất yêu chồng Nhưng Kinh Xuyên lại lấy vợ hai tên là Thảo Mai Thảo Mai ghen ghét với vợ cả, vu cáo

vợ cả không chung thuỷ với chồng Bực tức, Kinh Xuyên nhốt vợ vào cũi, đem bỏ vào rừng cho thú dữ ăn thịt Ở trong rừng, bà vợ cả không những không bị thú dữ ăn thịt mà chúng còn mang hoa quả nuôi sống bà Một hôm

có một nho sĩ đi qua, bà nhờ nho sĩ viết cho một bức thư gửi cho cha là Long Vương, bà được cứu thoát Long Vương muốn gả bà cho nho sĩ, nhưng ông từ chối chỉ nhận là người bạn chân thành của bà Đề cao đạo đức của bà, người đời tôn thờ bà là Mẫu Thoải (Mẹ Nước) lập đền thờ ở Tuyên Quang, gọi là đền Giùm (giùm là giúp đỡ), bên hữu ngạn sông Lô như đã giới thiệu Qua những câu chuyện nhân cách hoá viết về Mẹ nước (Mẫu Thuỷ) trên đây, ta thấy nho giáo ban đầu chưa hội nhập vào tín ngưỡng thờ thần Và Mẫu Thoải (Mẹ Nước) vẫn không tách khỏi những yếu tố ban đầu của nó, lấy chồng và là con gái vua Đất, mẹ Nước bị bỏ vào trong rừng (Mẹ Cây) Ba yếu tố Đất, Nước, Cây vẫn được nhấn mạnh trong ý niệm ban đầu của tín ngưỡng thờ Mẫu

Đến mẹ Đất, mẹ Trời thì được nhân cách hoá khi Phật giáo du nhập Qua câu chuyện bà Man Nương làm làm thuỷ hộ ở chùa Luy Lâu (chùa Dâu ngày nay), do nhà sư Khâu Đà La (người Ấn Độ) vô tình bước qua người bà, khi bà nằm ngủ thiếp đi ở hiên cửa trai phòng, bà động thai, sinh bé gái Bà đem trả con cho nhà sư, nhà sư mang bé gái đọc thần chú, gửi vào trong gốc cây dương thụ Về sau, do mưa to gió lớn cây dung thụ bị đổ trôi về bên sông Dâu Em bé gái trước đây nằm trong gốc cây dương thụ biến thành Thạch Quang Phật, cây dung thụ được tạc thành bốn pho tượng, tôn làm bà Pháp Vân, bà Pháp Vũ, bà Pháp Lôi, bà Pháp Điện (bốn yếu tố gắn liền với thời

Trang 18

tiết, khí hậu: mây, mưa, sấm, chớp, thành hệ thống chùa Tứ pháp thờ ở nhiều nơi ở đồng bằng Bắc Bộ)

Ở đây ta thấy, mẹ trời (Mẫu Thiên) được triển khai thành Mây, Mưa, Sấm, Chớp, cho kết hợp với Phật giáo thành các bà, vẫn là yếu tố mẹ Và đặc biệt sự nhân cách hoá này, mẹ trời (Mẫu Thiên) vẫn hoà quyện với ba yếu tố ban đầu là đất (Thạch Quang Phật, Thạch là đá - đất cứng), cây (cây dung thụ)

và nước (cây dung thụ theo dòng nước chảy về bến sông Dâu)

Việc thờ mẹ Cây, mẹ Đất, mẹ Nước xưa kia phổ biến ở các làng quê trung du đồng bằng Bắc Bộ Với bộ ba luôn đi liền với nhau và giếng làng (nước), cây đa, cây si hoặc cây đại (cây) với bệ bên gốc đa, đặt các bình vôi

đã nứt vỡ, từ trong các gia đình đưa ra (vôi, đá, đất cứng) Đến đây, một vấn

đề đặt ra là tại sao người Việt (Kinh) lại sâu sắc tôn thờ những đối tượng Cây, Đất, Nước và Trời (thời tiết, khí hậu) thành các Mẹ, đó là do nằm trong bản chất văn hoá Việt Nam, mang tính triết học biểu hiện ra như sau:

Một là - Sâu nặng ý thức nhớ về cội nguồn Qua tín ngưỡng thờ cúng

Tổ tiên tín ngưỡng thờ thần là những vị có công dựng làng, giữ nước, thể hiện rất rõ điều đó Còn đối với người Mẹ (người) mang nặng đẻ đau nuôi dưỡng

nên những đứa con, thì nghĩa Mẹ thật là sâu nặng khôn cùng "Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra", nước trong nguồn chảy ra không bao giờ hết,

không bao giờ cạn, thì nghĩa cả ơn Mẹ chẳng bao giờ nguôi Từ ý thức ấy, mở rộng ra tầm nhìn văn hoá, thì những cái gì là yếu tố mang ý nghĩa quyết định sinh sôi ra của cải hạt gạo bát cơm, tố chất cơ bản bao đời nuôi sống con người cư dân nông nghiệp lúa nước, thì cũng có thể ví như công ơn nghĩa Mẹ

Vì thế Cây, Đất, Nước (thời tiết khí hậu) được tôn vinh như những bà Mẹ văn hoá

Hai là - Văn hoá Việt Nam mang nặng triết lí âm sinh dương thành (chứ không phải triết lí âm thịnh dương suy) Biểu hiện ở văn hoá nông nghiệp lúa nước, nên rất đề cao yếu tố yên tĩnh hoà bình (âm) rất coi trọng tình nghĩa (âm) xóm làng, để đoàn kết, tạo sức mạnh chống thiên tai địch hoạ, làm thuỷ lợi Và trong ứng xử bang giao thì hiếu hoà (âm) hơn hiếu thắng

Trang 19

(dương) và biết "cúi đầu để giữ nước" cũng là âm tính Nhưng âm phải vận hành trong sinh sôi phát triển, vì thế "dĩ bất biến (âm) ứng vạn biến (dương)",

"giặc đến nhà đàn bà (âm) cũng đánh (dương)" Bởi thế văn hoá Việt Nam, mọi trách nhiệm và vinh quang đều quy về người Mẹ (cái), "con dại cái mang", "con hư tại mẹ, cháu hư tại bà", sông cái, đường cái, trống cái, thúng

cái, rồi thì Mẹ quê hương, Mẹ Tổ quốc, Mẹ Việt Nam anh hùng…

Từ những điều mang tính triết lí văn hoá trên đây, mà ở Việt Nam người Mẹ luôn được tôn vinh, người Mẹ có riêng một tín ngưỡng, tín ngưỡng thờ Mẹ, gọi theo tiếng Hán là Mẫu Cũng như chỉ có Việt Nam mới có bảo tàng về phụ nữ Việt Nam

Từ những dẫn giải trên đây có thể kết luận: Cốt lõi của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam là tôn thờ bốn đối tượng Cây, Đất, Nước, Trời (thời tiết khí hậu), những yếu tố cơ bản (qua sức lực của con người) sản sinh ra của cải vật chất, hạt gạo, bát cơm, tố chất cơ bản bao đời nuôi sống con người cư dân nông nghiệp lúa nước, thành các bà Mẹ văn hoá, gọi chung là tín ngưỡng thờ Mẫu

Các Mẫu trong xã hội phong kiến được tôn lên như những bà chúa Mà chúa thì ở phủ (phủ chúa Trịnh, phủ chúa Nguyễn), vì thế tín ngưỡng thờ Mẫu với bốn đối tượng trên đây được gọi là Tín ngưỡng Tứ phủ đó là Mẫu Sơn Lâm gọi Nhạc phủ, Mẫu Địa là Địa phủ, Mẫu Thuỷ (Thoải) là Thuỷ phủ, Mẫu Thiên là Thiên phủ

Cũng có sách đã kết luận: Tôi thấy người Việt Nam dùng danh từ thờ Mẫu là cực hay, họ đã khái niệm hoá thành công một tín ngưỡng hết sức đa dạng, đồng thời lại tích hợp được nhiều tín ngưỡng khác theo bốn yêu cầu của tâm thức dân tộc, trong tình thương của người Mẹ…là sự nhân cách hoá bốn lực lượng tự nhiên quyết định đời sống của một cư dân nông nghiệp là Trời, Đất, Cây, Nước người ta gọi là thờ Tứ phủ

Trang 20

1.2 Qúa trình hình thành và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu

ở Việt Nam

1.2.1 Quá trình hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam

Cũng như các loại hình tín ngưỡng khác, tín ngưỡng thờ Mẫu là sự phản ánh đời sống xã hội của con người Đời sống xã hội là yếu tố mang tính khách quan, có vai trò quyết định ảnh hưởng tới quá trình hình thành và tồn tại của tín ngưỡng thờ Mẫu

* Điều kiện địa lí tự nhiên ảnh hưởng tới quá tình hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam:

Điều kiện tự nhiên chính là môi trường sinh thái trong đó con người sống và tồn tại Môi trường sinh thái là nơi cung cấp tư liệu lao động cần thiết cho con người Con người tồn tại trong môi trường sinh thái, do đó quan hệ giữa con người và tự nhiên cũng là một mặt của đời sống xã hội, là yếu tố quan trọng của tồn tại xã hội Môi trường tự nhiên khó khăn hay thuận lợi có ảnh hưởng to lớn tới cách thức sản xuất và do đó ảnh hưởng tới đời sống, cách ứng xử, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo

Việt Nam là một quốc gia ở vùng Đông Nam Á, có địa hình đồng bằng, rừng núi, ven biển và hải đảo Khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, lắm nắng nhiều mưa với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông trong đó có hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa Điều đó góp phần tạo nên sắc thái riêng biệt của nơi cư trú, các thiết chế xã hội, thói quen, tâm lí và các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo

* Điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng tới sự hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam:

Cơ sở kinh tế xã hội của xã hội Việt Nam trước đây đựa trên nền sản xuất nông nghiệp là chính Trong sản xuất nông nghiệp con người bị lệ thuộc khá nhiều vào thiên nhiên Để sản xuất nông nghiệp con người phải:

"Trông trời, trông đất, trông mây Trông mây, trông nắng, trông ngày, trông đêm"

Nhiều khi không hiểu được những thuận lợi và khó khăn do tự nhiên mang lại, con người thường thần thánh hoá các hiện tượng tự nhiên và gắn

Trang 21

cho chúng một sức mạnh siêu nhiên, điều đó làm xuất hiện tín ngưỡng thờ các thần, trong đó có việc thờ các nữ thần: tín ngưỡng thờ các thần mặt trời, mặt trăng, tín ngưỡng thờ Tứ pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Điện, Pháp Lôi

Trong cuộc sống của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, vai trò của người phụ nữ được đề cao Người phụ nữ tham gia hầu hết các công việc đồng áng, từ cấy lúa, chăm sóc, bón phân đến gặt, đập lúa, xay lúa…trong gia

đình lại là người tay hòm chìa khoá Ông cha ta đã dạy rằng "Chồng là cái giỏ, vợ là cái hom" Trong dân gian cũng có những câu truyền tụng từ bao đời nay như "Nhất vợ nhì giời", "Lệnh ông không bằng cồng bà" hay "Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng"…ý muốn tôn vinh vai trò của người

phụ nữ

Người phụ nữ còn có vai trò quan trọng trong việc nuôi dạy con cái cho

nên mới có câu "phúc đức tại mẫu", "Con dại cái mang"…Như vậy, trong gia đình người phụ nữ luôn là người "giữ lửa", họ không chỉ đảm đang tháo vát

trong công việc nhà mà còn giỏi giang trong công việc đồng áng và khéo léo trong việc nuôi dạy con cái Không chỉ có thế, trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc có nhiều người phụ nữ có tài, có đức, anh hùng bất khuất, khi sống thì thông minh tuyệt đỉnh, khi thác xuống thì linh thiêng ngàn đời được nhân dân khắp nơi tôn thờ như: Hai Bà Trưng, Thái Hậu Dương Vân Nga, Nguyên Phi Ỷ Lan, Bà chúa Kho, bà hàng nước ở bến Rừng (Quảng Ninh), bà bán dầu ở Lam Sơn (Thanh Hoá)…

1.2.2.Quá trình phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt nam:

Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam không phát triển theo các giai đoạn lịch sử nhất định, mà từ khi hình thành đến hiện nay hầu như nội dung và hình thức thờ Mẫu không có quá nhiều biến đổi

Ngay từ lúc mới hình thành, tín ngưỡng thờ Mẫu đã chịu ảnh hưởng khá lớn mạnh của Đạo giáo Trong tín ngưỡng thờ Mẫu ta thấy có nhiều yếu

tố của Đạo giáo, con người có xu hướng vô vi hoà đồng với tự nhiên, các vị thần của Đạo giáo được thờ cúng trong phủ như: Ngọc Hoàng, Thái thượng

Trang 22

lão Quân, Nam Tào, Bắc Đẩu, cùng với vô số những câu chuyện thần tiên huyền ảo, các pháp thuật phù thuỷ, lên đồng

Tín ngưỡng thờ Mẫu được hoàn thiện dưới ảnh hưởng trực tiếp của hoàn cảnh kinh tế xã hội và văn hoá Việt Nam thế kỉ XVI- XVII Vào thời kì này, xã hội phong kiến Việt Nam lâm vào khủng hoảng sâu sắc về mọi mặt Các cuộc chiến tranh xung đột tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến Trịnh - Mạc, Trịnh - Nguyễn và thiên tai mất mùa liên tiếp xảy ra đã làm cho nền kinh tế suy thoái, đời sống các tầng lớp nhân dân vô cùng cơ cực Đạo đức phong kiến không còn được như trước Nhân nghĩa của Nho giáo bị coi thường Ý thức hệ Nho giáo tỏ ra bất lực trước thời cuộc Các nhà Nho có tâm, có tài như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Hằng cũng tỏ ra mệt mỏi, buông xuôi, chủ trương xa lánh thời cuộc Nhân dân lao động có xu hướng tìm hướng giải thoát trong tín ngưỡng dân gian và các tôn giáo Song Phật cũng không thể giúp được họ lên cõi niết bàn, thần tiên không thể giúp

họ thoát khỏi nỗi khổ trần gian Trong số các tầng lớp người trong xã hội phong kiến thời kì này thì người phụ nữ bị chà đạp, vùi dập nhiều nhất Tâm

lí chán chường bi quan và bế tắc của họ được phản ánh qua các nhân vật trong văn học như Xuý Vân, Thuý Kiều, Thị Kính, Cúc Hoa, Ngọc Hoa…

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ ra đời, một mặt là biểu hiện sự phản kháng của các tầng lớp nhân dân nói chung và người phụ nữ nói riêng đối với chế độ phong kiến thối nát, bất công, mặt khác cũng là sự phát triển kế thừa truyền thống trọng nữ của người Việt Nam Sự ra đời của tín ngưỡng thờ Mẫu

là tấm gương phản chiếu sự suy tàn của chế độ phong kiến và ý thức hệ tư tưởng phong kiến Nó nói lên ý thức đấu tranh chống lại trật tự phong kiến - nguyên nhân làm cho con người nói chung và phụ nữ nói riêng phải sống cuộc đời đau khổ, bất hạnh, phản ánh khát vọng về tự do hướng thiện, về cuộc sống bình đẳng hạnh phúc của con người Hình ảnh người phụ nữ Việt nam trước đó được thể hiện tập chung trong Mẫu Liễu Hạnh Trong hình tượng Mẫu Liễu Hạnh có hội đủ các đức tính tốt đẹp của người phụ nữ: yêu chồng, thương con, đảm việc nhà, việc nước, kính trọng cha mẹ…

Trang 23

1.2.3 Các dạng thức thờ Mẫu đang tồn tại ở Việt Nam:

Về phương diện đồng đạo, đạo Mẫu theo chân người Việt di cư vào phương Nam trong qúa trình Nam tiến Đạo Mẫu của người Việt đã giao thoa tiếp biến với các tục thờ Mẫu của người Chăm, người Khơ Me từ đó tạo nên các dạng thức địa phương của đạo Mẫu ở Việt Nam ở ba miền Bắc, Trung, Nam…

* Thờ Mẫu ở Bắc bộ:

Bắt nguồn từ tục thờ nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời pong kiến một số nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để trở thành các Mẫu thần tương ứng, thời kì thế kỉ XV trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng Quốc mẫu, Vương mẫu, Thánh mẫu như hiện tượng thờ Nguyên Phi Ỷ Lan,

bà chúa Kho, mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh Nương

Từ khoảng thế kỉ XV trở đi hình thức thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ được định hình và phát triển mạnh, đây cũng là thời kì xuất hiện Thánh Mẫu Liễu Hạnh với các nghi thức ảnh hưởng từ Đạo giáo

* Thờ Mẫu ở Trung bộ:

Dạng thức thờ Mẫu này chủ yếu ở khu vực Nam Trung Bộ, đặc trưng

cơ bản của dạng thức thờ Mẫu ở đây là tín ngưỡng thờ Mẫu không có sự hiện diện của tín ngưỡng thờ Tam phủ, Tứ phủ mà chỉ có hình thức thờ nữ thần như thờ Tứ vị thánh Nương, Bà Ngũ Hành và hình thức thờ Mẫu thần như Bà thiên Y A Na, Po I Nư Nưgar

* Thờ Mẫu ở Nam bộ:

So với Bắc bộ, tục thờ nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam bộ sự phân biệt giữa các hình thức thờ nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây, họ vừa mang những các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của những cư dân sinh

Trang 24

sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà cả trong tín ngưỡng

Những nữ thần được thờ phụng ở Nam bộ như: Bà Ngũ Hành, Bà Thuỷ Long, Bà chúa Động, Bà Tổ Cô, Tứ vị Thánh Nương… và những Mẫu thần như Bà chúa Xứ, bà Đen, bà chúa Ngọc, bà Thiên Hậu…

1.3 Nội dung và nghi thức thờ Mẫu:

Trong điện thần thờ Mẫu, ngoài Thánh Mẫu Liễu Hạnh, còn có các Mẫu khác như: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Địa, Mẫu Thoải

Ngoài ra trong điện thờ Mẫu còn thờ Ngọc Hoàng, Ngũ vị vương quan (từ đệ nhất đến đệ ngũ), Tứ vị chầu bà, Ngũ vị hoàng tử, Thập nhị Vương cô, Thập nhị Vương cậu, Quan Ngũ Hổ, Ông Lốt (rắn)

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu thì tín ngưỡng Tam phủ, Tứ phủ là phổ biến nhất Có lẽ quan niệm về Tam phủ, Tứ phủ được bắt nguồn từ các vùng không gian Tam phủ là vùng trời, vùng đất, vùng nước (thiên - địa - thoải); Tứ phủ

là vùng trời, vùng đất, vùng núi, nước (thiên - địa - nhạc - thoải) Tứ phủ cũng

là bốn phương, bốn miền vũ trụ Trong điện thờ Mẫu, Mẫu Liễu Hạnh được hoá thân vào Mẫu Thượng Thiên ngồi chính giữa, tầng cao nhất với trang phục màu đỏ Mẫu Thoải có trang phục màu trắng, Mẫu Địa màu vàng, Mẫu Nhạc màu xanh

1.3.1 Không gian thờ Mẫu:

Không gian thờ Mẫu thường được gọi là phủ Hiện nay ở nước ta, Phủ Dầy ở huyện Vụ Bản - tỉnh Nam Định và Phủ Tây Hồ ở Hà Nội là hai trung tâm thờ Mẫu lớn Trong điện thần Tứ phủ, quan niệm của con người về vũ trụ được thể hiện rõ đó là bốn vùng không gian gắn với sự sinh tồn của con người Vũ trụ được thu nhỏ với bốn yếu tố chia làm hai cặp âm - dương: thiên

- địa; sơn - thuỷ, trong đó có cặp thiên - địa (dương - âm, đực - cái) là cặp trụ cột của hệ thống Tứ phủ Trong tứ phủ còn biểu hiện quan niệm về ngũ hành (bà Mộc, bà Thuỷ, bà Hoả, bà Kim, bà Thổ) Mẫu Liễu Hạnh được hoá thân vào Mẫu Thiên là đấng sáng tạo ra vũ trụ Ở khía cạnh gia đình và xã hội, Tứ

Trang 25

phủ được mô tả kiểu gia tộc đã được cung đình hoá bởi trong phủ cao nhất là cha mẹ (Vua cha, Thánh mẫu), dưới là các quan, các chúa, các ông hoàng, các

cô, các cậu Cách bài trí trong phủ - điện thờ Mẫu chính là chính là sự phản

ánh cách bài trí kiểu "Tam toà", "Lục viện" của triều đình phong kiến, phản

ánh quyền lực vô hạn của phủ chúa thời Lê - Trịnh Điều này cho thấy rằng, cũng giống như các tôn giáo khác tín ngưỡng thờ Mẫu là sản phẩm của con người và xã hội

1.3.2 Hệ thống lớp lang trong phủ, điện thờ Mẫu:

Nếu như ở chùa, ngoài chính điện thờ Phật, bao giờ cũng có ban thờ Mẫu và thờ các Thánh trong đạo Mẫu Trong các đền phủ thường thờ các thánh trong đạo Mẫu ở chính điện Đạo Mẫu về cơ bản có lớp lang như sau:

Ngọc Hoàng Thượng Đế là ngôi thánh cao nhất, tuy nhiên trong tâm thức dân gian Ngọc Hoàng có phần mờ nhạt, không được đề cao Tam toà Thánh Mẫu tượng trưng cho trời, đất và nước Tứ phủ Công đồng thờ Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải và Mẫu Địa

Mẫu Thượng Thiên cai quản Thiên phủ Mẫu Thượng Thiên trong quan niệm của dân gian về Tứ pháp gồm: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, đó là bốn vị nữ thần tạo ra mây, mua, sấm, chớp, liên quan đến văn hoá nông nghiệp lúa nước

Những huyền tích và huyền thoại của Mẫu Thượng Thiên đều có liên quan đến Mẫu Liễu Hạnh Mẫu Liễu Hạnh là vị thánh xuất hiện muộn, theo các nhà nghiên cứu về văn hoá dân gian Việt Nam, Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện sớm nhất cũng chỉ vào khoảng thế kỉ XVI, thời Hậu Lê

Cũng theo quan niệm dân gian, Mẫu Liễu Hạnh còn có thể hoá thân vào Mẫu Thượng Ngàn trông coi miền rừng núi hay thành Địa Tiên Thánh Mẫu -

Mẹ Đất cai quản mọi đất đai và đời sống sinh vật Bà trở thành vị thần chủ của đạo Mẫu được thờ cúng nhiều nhất trong đạo Mẫu Việt Nam Đền thờ bà

có ở nhiều nơi, nổi tiếng nhất có đền Sòng (Thanh Hoá) và Phủ Dầy (Nam Định)

Trang 26

Mẫu Thượng Ngàn cai quản Nhạc phủ: Mẫu trông coi các miền rừng núi, gắn bó với con người cùng cỏ cây chim muông Đền thờ Mẫu Thượng Ngàn có ở nhiều nơi nhưng có hai nơi thờ phụng chính là Suối Mỡ (Bắc Giang) và Bắc Lệ (Lạng Sơn)

Mẫu Thoải cai quản Thoải (thuỷ) phủ: Đó là vị thần trị vì miền sông nước, nữ thuỷ thần gắn với đời sống thuỷ sinh của dân tộc Việt Nam từ xa xưa, liên quan tiếp tới thuỷ tổ của dân tộc Việt Nam trong buổi đầu dựng nước

Mẫu Địa cai quản Địa phủ, trông coi mọi đất đai và đời sống sinh vật Sau hàng Mẫu là Ngũ vị quan lớn (hàng quan) được gọi tên từ quan đệ nhất đến Hoàng mười Cũng như các quan, các ông Hoàng đều có gốc tích là con trai Long thần Bát Hải Đại Vương ở hồ Động Đình Ở hàng thấp nhất có Thập nhị vương Cô và Thập nhị vương Cậu

Đạo Mẫu còn thờ quan Ngũ Hổ và ông Lốt (rắn) nơi thờ thần Ngũ Hổ ở

hạ ban, phía dưới điện thờ Mẫu Phía trên điện thờ chính có hình tượng đôi Bạch Xà vắt ngang Trong quan niệm dân gian, Hổ là vị chúa cai quản vùng rừng núi, còn rắn là thần ở sông nước

Có nhiều truyền thuyết dân gian kể về thân thế của các Mẫu Ngoài Mẫu Thượng Thiên có xuất thân tiên giới (theo truyền thuyết Mẫu Liễu Hạnh

đã ba lần giáng sinh ở nước ta) Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải đều có xuất thân từ nhân thần Mẫu Thượng Ngàn được coi là hiện thân của Mị Nương Quế Hoa, con vua Hùng Định hoặc là hiện thân của nàng La Bình - con gái của Tản Viên Sơn Thánh và công chúa Ngọc Hoa

Còn Mẫu Thoải (thuỷ) gắn với truyền thuyết Kinh Dương Vương đi tuần du tới hồ Động Đình, ngài gặp người con gái tài sắc tuyệt trần, con Vua Long Vương hồ Động Đình Kinh Dương Vương lấy nàng làm vợ sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, tổ tiên người Lạc Việt, từ Rồng, từ Nước

Có truyền thuyết nói Mẫu Thoải không phải là một bà mà là nhiều bà, các bà đều là con của Lạc Long Quân Trong đó, chọn được ba người giao

Trang 27

cho việc cai quản lĩnh sông biển nước Nam Một bà có hiệu là Thuỷ Trinh Động Đình Ngọc Nữ công chúa, bà thứ hai có hiệu là Hoàng Hà Đan Khiết phu nhân, bà thứ ba là Tam Giang công chúa Tam Giang nay là ngã ba Sà Yên Phong (Bắc Ninh)

Một truyền thuyết khác do người Pháp là Durant sưu tầm kể rằng ở vùng Tuyên Quang có một hoàng tử con Vua Đất là Kinh Xuyên, lấy vợ là con gái Long Vương ở hồ Động Đình, bà rất yêu chồng Nhưng Kinh Xuyên lại lấy vợ hai là Thảo Mai, Thảo Mai ghen ghét vợ cả, vu cáo vợ cả không chung thuỷ Bực tức, Kinh Xuyên đem vợ cả bỏ vào rừng Ở trong rừng vợ cả được chim thú mang hoa quả đến nuôi sống Một hôm, có một Nho sĩ đi qua,

bà nhờ Nho sĩ viết cho một bức thư gửi cho cha là Long Vương, bà được cứu thoát Đề cao đạo đức của bà, người đời tôn bà là Mẫu Thoải (Mẹ nước), lập đền thờ ở Tuyên Quang

1.3.3 Hệ thống nghi lễ của tín ngưỡng thờ Mẫu:

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, hệ thống nghi lễ và lễ hội hết sức phong phú, đa dạng Điển hình và tập trung nhất là nghi lễ hầu bóng (hầu đồng) và lễ

hội "Tháng Tám giỗ cha, Tháng ba giỗ mẹ"

* Hầu bóng là nghi lễ nhập hồn của các vị thánh trong Tứ phủ vào thân xác ông đồng, bà đồng, là sự tái hiện lại hình ảnh cua các vị Thánh nhằm phán bảo, ban phúc lộc cho tín đồ

Từ "bóng" dùng để chỉ vị thần linh nào đó nhập cái "bóng" (hồn) của

mình vào các ông đồng, bà đồng Ông đồng, bà đồng là người hầu hạ cho cái bóng thần linh ấy

Hầu bóng còn được gọi là hầu đồng Đồng là chỉ cậu con trai dưới 15 tuổi còn ngây thơ, trong trắng mà thần linh có thể nhập vào

Nói đến đồng là phải nói đến cốt - đồng cốt

Cốt là xương cốt bên trong, sự kín đáo bên trong không thấy được, có nghĩa là cốt Thánh Còn đồng là phần thể hiện bên ngoài để giao tiếp, do vậy con công đệ tử theo đồng, nghe đồng tức là nghe Thánh, Mẫu dạy

Trang 28

Nhưng cũng có người cho đồng là hoà đồng và theo kinh dịch hoà đồng

là nguyên lý: Trời có ngũ hành "Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ", người có năm

hổ tướng là Hoàng Hổ, Xích Hổ, Hắc Hổ, Thanh Hổ, Bạch Hổ, hoà hổ tướng vào ngũ hành Thiên - nhân hợp nhất, mới có xã hội, Thánh thần…Đây là vấn

đề khó giải thích, rất phức tạp Dân gian biết khó vậy nhưng đã làm, cứ làm

và sẽ làm vì họ cho đây là "căn mạng", là khoảng trống trong tâm hồn, trong trí não và chỉ có ngồi đồng mới lấy lại trạng thái bình thường, mới siêu thoát

Và tất nhiên không phải ai cũng có "căn mạng", cũng là "ghế đệm" của Thánh, là đồng thực

Ngồi đồng có nhiều giá như giá các Mẫu đệ Nhất, đệ Nhị, đệ Tam, giá Vua cha, giá các Quan đệ Nhất, đệ Nhị, đệ Tam, đệ Tứ, Quan lớn Tuần Chanh, giá các ông Hoàng Bảy, ông Hoàng Mười, ông Hoàng Bơ Giá chầu

Bà đệ Nhất, chầu Bà đệ Nhị, chầu Bà Thác Bơ, chầu Bà đệ Tứ, đệ Ngũ, đệ Lục, đệ Thất, chầu bà Bát Nàn (Tướng Trưng Vương), chầu Cửu Tỉnh, chầu Mười - Đồng Mỏ, chầu Bà Bắc Lệ

Lại có các giá chầu 12 Cô trong đó có: Cô Bơ, cô Chín, cô Bé và giá chầu các Cậu: ông Hoàng Ba, cậu Hoàng Quận, cậu Hoàng Bé, rồi Văn Cô Nhất Vân Đình, Cô Nhất Thiên Thanh, cô Đệ Nhị Đại Hoàng, Văn chầu Bé Bắc Lệ, Lê Mại Chúa Tiên…

* Hầu đồng thường được thực hiện vào sau lễ giao thừa, Lễ Thượng Nguyên, Lễ Lập Hạ (tháng tư), Lễ Tán Hạ (tháng bảy), Lễ Tất Niên (tháng Chạp) Đặc biệt vào dịp tháng ba giỗ Mẹ và tháng tám giỗ Cha thì hầu bóng được tổ chức to nhất Trong hầu đồng người ta thường sử dụng âm nhạc với nhiều hình thức diễn xướng đặc biệt là lối hát chầu văn

Trang phục dành cho mỗi giá đồng (là ông đồng, bà đồng) cũng rất phong phú Khi một vị thần linh nào đó xuất hiện trên giá đồng thì phải có trang phục riêng Vì vậy, ông đồng bà đồng định hầu bao nhiêu giá đồng thì phải có bấy nhiêu bộ trang phục, thường thì có ba mươi sáu giá đồng Người giúp việc ông đồng, bà đồng là hầu dâng và cung văn Người hầu dâng giúp

Trang 29

việc thắp hương, dâng lễ vật, thay lễ phục khi ông đồng, bà đồng chuyển giá Cung văn là những người chơi nhạc cụ như đàn nguyệt, trống, thanh la và hát

Một buổi hầu đồng thường được tiến hành theo các bước: thánh giáng, thay lễ phục, thắp hương làm phép, múa đồng, ban lộc và nghe văn chầu thánh thăng Để thánh giáng, ông đồng, bà đồng thường trùm chăn phủ diện, hai tay chắp dâng ba nén hương, đầu và thân lắc lư cho tới khi nào thánh giáng (nhập) thì buông hương, rùng mình, tay báo hiệu Thánh thuộc hàng thứ bậc nào Lúc đó cung văn tấu nhạc và xướng văn chầu phù hợp với vị nào vừa giáng Sự nhập hồn của các thánh vào cơ thể các ông đồng, bà đồng biểu hiện sống động qua các diễn xướng Các điệu múa theo âm nhạc, có lối hát phụ hoạ tạo nên không khí lúc thiêng liêng, lúc nhộn nhịp, hào hùng, lúc duyên dáng Trong hầu đồng, nội dung chữa bệnh, đoán số và ban phúc lộc cho con nhang đệ tử là rất quan trọng Nhiều người hầu đồng chủ yếu mong muốn được nhiều tài lộc may mắn trong cuộc sống

Như vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng bản địa, là sản phẩm tất yếu của một thời đại lịch sử đang trên đà suy thoái, mặt khác cũng là sự phản ánh trình độ tư duy và tình cảm, nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp người trong xã hội, và sự tiếp nối truyền thống trọng âm, tôn trọng phụ nữ của người Việt nam trong lịch sử, là ước nguyện về một cuộc sống bình đẳng, tự do, ấm no, hạnh phúc của con người nói chung và của người phụ nữ Việt Nam nói riêng Do tính phổ biến của nó trong lịch sử cũng như trong xã hội hiện tại, có nhà nghiên cứu cho rằng đây là một tôn giáo (Đạo Mẫu) Song thực ra trong tín ngưỡng thờ Mẫu, các yếu tố đặc trưng cấu thành một tôn giáo chưa phải điển hình Hoạt động thờ cúng mang tính tự phát, tính tổ chức, hệ thống còn lỏng lẻo Tín đồ chủ yếu là tin và theo trên cơ

sở cảm tính, thói quen chứ ít khi dựa trên cơ sở giáo lí

Bên cạnh những biểu hiện tiêu cực như gieo rắc những yếu tố mê tín, làm thui chột tính năng động, tích cực sáng tạo của con người…trong tín ngưỡng thờ Mẫu cũng có những yếu tố tích cực nhất định Nó hướng con

Trang 30

tiếp sức mạnh của con người Đặc biệt nó gắn liền với các lễ hội dân gian truyền thống, đề cao những người có công với dân, với nước, tôn vinh người phụ nữ, khơi dậy đạo lí uống nước nhớ nguồn Cũng như Tam giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu đã góp phần tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam

Trang 31

Chương 2: TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở LỄ HỘI PHỦ DẦY

2.1 Vài nét về quê hương Vụ Bản - Nam Định

* Tỉnh Nam Định nằm ở phía Đông Nam đồng bằng Bắc Bộ, là một

trong những mảnh đất đồng bằng được hình thành từ lâu đời do dòng chảy của sông Hồng

Tỉnh Nam Định nằm ở vị trí 19°54' - 20°40' vĩ độ Bắc, 105°55' - 106°45' độ kinh Đông với diện tích 1669 km 2, Nam Định giáp tỉnh Thái Bình

về phía Bắc, phía Tây giáp Hà Nam, phía Nam giáp tỉnh Ninh Bình, phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ, cách Hà Nội 90 km

Tỉnh Nam Định chia làm ba vùng, vùng đồng bằng thấp trũng gồm các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc; vùng đồng bằng ven biển gồm các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng và trung tâm công nghiệp - dịch vụ Thành phố Nam Định

Từ xa xưa Nam Định đã nổi tiếng là mảnh đất " Địa linh nhân kiệt", rất nhiều nhân tài của đất nước đã xuất thân từ đây, đặc biệt đây là quê hương của nhà Trần - một trong những triều đại phong kiến nổi tiếng ở nước ta

* Huyện Vụ Bản là một huyện của tỉnh Nam Định, diện tích của huyện

là 18km2và dân số 148 000 người (2003) Huyện gồm 17 xã và một thị trấn, trung tâm của huyện là thị trấn Gôi

Vụ Bản nằm ở phía Bắc tỉnh Nam Định, phía Bắc huyện giáp tỉnh Hà Nam và huyện Mĩ Lộc, phía Đông giáp Thành phố Nam Định và huyện Nam Trực, phía Đông và Nam giáp huyện Ý Yên Theo lịch sử ghi lại, ngày trước huyện có tên là Thiên Bản, nhưng đến thời Nguyễn chuyển thành Vụ Bản Huyện có nhiều truyền thống văn hoá, có nhiều danh nhân nổi tiếng như trạng nguyên toán học Lương Thế Vinh, nhà thơ Nguyễn Bính, nhà cách mạng Trần Huy Liệu, Nguyễn Đức Thuận, nhạc sĩ Văn Cao, nhà thơ Vũ Tú Nam Huyện

có nhiều lễ hội nổi tiếng như hội Phủ Dầy (từ mồng 1 đến mồng 10 tháng 3

Âm lịch, chính hội vào mồng 5), chợ Viềng (đêm mồng 7, ngày mồng 8 Tết

Âm Lịch)

Trang 32

Vụ Bản có 18 đơn vị hành chính cấp xã gồm: Thị trấn Gôi, xã Hiển Khánh, xã Minh Thuận, xã Tân Khánh, xã Hợp Hưng, xã Trung Thành, xã Quang Trung, xã Đại An, xã Kim Thái, xã Minh Tân, xã Tam Thanh, xã Liên Minh, xã Thành Lợi, xã Liên Bảo, xã Vĩnh Hào, xã Tân Thành, xã Cộng Hoà,

xã Đại Thắng

Vụ Bản một huyện đồng bằng phía Nam sông Hồng Cách đây khoảng

6 - 7 nghìn năm, miền đất Vụ Bản mới hình thành do quá trình biển lùi và do

sự bồi đắp dần của phù sa sông Hồng và sông Đáy Từ miền sông Hồng, sông Đáy, miền trung du, vùng rừng núi Hoàng Long, Tam Điệp, người Việt cổ tiến về đồng bằng ven biển này Những năm gần đây, thành tích khảo cổ học đạt được khi nghiên cứu toàn bộ sáu ngọn núi đất phía Tây huyện Vụ Bản đã chứng minh tất cả những ngọn núi này, trong đó có núi Ngăm, núi An Thái, núi Báng nằm trên đất Kim Thái đều có dấu vết người nguyên thuỷ sinh sống cách đây khoảng gần 4000 năm Bảo tàng Nam Định còn lưu trữ nhiều công

cụ đá mài và đồ gốm của di chỉ sông Lồ (núi Lê) gần Kim Thái Trên các gò đất dưới chân núi Tiên Hương đã tìm thấy nhiều công cụ đá, trong đó có nhiều cuốc đá khá to mài toàn thân và ở đầu núi Ngăm thuộc đất Tiên Hương cũng như ở hang Đèn núi Báng đều tìm thấy cuốc đá, rìu đá Dọc chân núi Tiên Hương (tức núi An Thái), núi Báng, các nhà khảo cổ Bùi Liêm, Đào Qúy Cảnh (Viện khảo cổ học Việt Nam) đã tìm thấy nhiều mảnh gốm giống chất liệu và kĩ thuật làm gốm ở di chỉ hang Lồ, xã Tam Thanh

Người nguyên thuỷ lúc đó sống ở các bãi cao ven chân núi, hoặc các gò đống cao, khi cần tránh bão lũ, họ cư trú trong các hang động Họ sống theo các công xã nông thôn, dần dần sống thành các bản làng gần nơi sản xuất Theo các nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh, những tên làng có chữ "kẻ" ở đầu đều xuất hiện vào thời Vua Hùng dựng nước Huyện Vụ Bản có hơn một chục làng như thế, nằm rải rác ven chân núi hay bãi cao, trong đó có Kẻ Dầy, Kẻ Báng thuộc xã Kim Thái, Kẻ Đội (Nam Đội, Đồng Đội) thuộc xã Cộng Hoà gần kế đó Kẻ Dầy sau có tên chữ là An Thái nay là hai thôn Tiên Hương và Vân Cát thuộc xã Kim Thái Dân làng Kẻ Dầy lúc đầu có thể tụ cư trên gò

Trang 33

Bánh Dầy và các gò đất sát chân núi Tiên Hương, nên gọi là Kẻ Dầy, tức làng Bánh Dầy Xã An Thái gồm bốn thôn: Vân Cát, Vân Đình, Tây Cầu (Tây La, hay La Hào) và Nham Miếu hay còn gọi là giáp nhất, giáp nhì, giáp ba, giáp

tư tương ứng theo thứ tự bốn thôn Vào thời Cảnh Hưng (cuối thế kỉ XVIII) dân thôn Vân Cát (giáp nhất), phát triển ra phía Bắc ngày càng đông đúc và tách thành một xã mới gọi là xã Vân Cát, thuộc huyện Thiên Bản, xã An Thái vẫn còn bốn giáp cũ Năm Tự Đức thứ 14 (1861), xã An Thái được đổi tên là

xã Tiên Hương Như vậy Tiên Hương và Vân Cát đều chung một cội nguồn là làng Kẻ Dầy, là xã An Thái

* Hai làng Tiên Hương và Vân Cát về phía Tây có sông Ba Sát (sông Sắt), ngăn cách với huyện Ý Yên Phía Bắc chung núi Ngăm (núi Trang Nghiêm) giáp với các làng Ngăm Thượng (xã Minh Tân), làng Thiện Vịnh (xã Cộng Hoà) và làng Bảo Ngũ (xã Quang Trung), phía Nam và phía Đông giáp làng Xuân Bảng cùng xã Kim Thái và cánh đồng làng Cao Phương (xã Liên Bảo)

Xưa và nay, trong lịch trình tiến hoá hai làng Tiên Hương và Vân Cát đều nằm ở vị trí vừa quan trọng về chính trị, kinh tế, vừa đẹp về cảnh sắc thiên nhiên Sông Sắt chạy ép phía Tây làng vốn là một nhánh của sông Ninh Giang nối liền với sông Châu Giang rồi chảy ra sông Hồng Thời Lý - Trần, các vua đi kinh lí, đi làm lễ tịch điền vùng Ứng Phong, Kiến Hưng…đều đi thuyền theo sông này Đường tỉnh lộ 56 nối quốc lộ 10 ở Gôi và đường 21 ở cầu Họ, xưa vốn là con đường địch mã nối trấn lỵ Sơn Nam (ở Hưng Yên) với các trấn thành phía Nam qua đó tiến vào đèo Ba Dội Điều kỳ thú là cả hai đường thuỷ bộ này đều có thể đi tới hành cung Thiên Trường xưa mà các vua Trần, các vương hầu công chúa còn để lại những dấu ấn hoạt động văn hoá trên đất Vụ Bản này

Độc đáo hơn, trên đất Kẻ Dầy xưa có hai quả núi thoải dài từ Bắc xuống Nam ở phía Tây làng như hai nàng tiên kề đầu nhau nằm ngắm nhìn

bầu trời lộng gió đã tạo nên huyền thoại "mẹ con nhà Ngọc" cứ chiều chiều

Trang 34

Thái Đó là hai quả núi đất, cây cổ thụ mọc um tùm, dưới chân núi sườn tây

có dòng Ba Sát uốn khúc tạo nên cảnh quan hiếm có ở đồng bằng Bắc Bộ

Dân cư vùng này trồng lúa nước là chủ yếu, trên ruộng trũng chỉ trồng lúa chiêm, nhưng ở đây lại có núi và đất đồng màu, nên nhân dân còn làm nghề nương rẫy, trồng chè, trồng sở, trồng thông và các cây ăn quả trên núi, trồng bông, trồng khoai, ngô, lạc đậu và rau màu ở đồng màu Khi có công cụ

đồ đồng, đồ sắt phát triển, dân cày mở rộng sản xuất, quai đê lấn biển, đào đắp mương phai, làm cho nông nghiệp càng thêm rộng mở Không phải tự nhiên mà làng Kẻ Dầy thờ đức Khổng Lồ Nguyễn Minh Không ở ngôi đình

đồ sộ nhất Nhà nghiên cứu Lê Xuân Quang sưu tầm ở Kim Thái (Vụ Bản) một bài ca dao trong đó có đoạn nói về Khổng Lồ:

"…Đình to Thánh giỡ lấy ngay Xếp vào túi nhỏ một giây mang về Dạo tìm khắp chốn cùng quê Được nơi Vân Cát mang bề mở mang

Trông ra đã có già Lam Mới cho làng ấy dựng đền thờ Ông" [13, tr 15]

Đình ông Khổng nay nằm trên đất giáp nhất Tiên Hương (An Thái cũ) chính là đất giáp nhất xưa Điều đáng lưu ý là trên mảnh đất này có nhiều dấu tích của Khổng Lồ: Hang Lồ ở núi Lê tiếp giáp với Kim Thái, vườn Lồ ở giáp

tư, cánh đồng ở làng Báng và ngay nơi đình ông Khổng xưa có một ao rộng, tương truyền đó là dấu chân ông Khổng Lồ Điều làm cho ta suy nghĩ là hội chợ Viềng họp ngày mồng 8 tháng Giêng hàng năm, ngày xưa khu vực bán đồ đồng, đồ sắt lại chính là trước cửa đình ông Khổng Phải chăng đây là một hình thức ghi nhớ công đức Nguyễn Minh Không - Vị tổ sư của nghề đúc đồng nước ta

Nghề làm gốm rất phát triển mang tính tự cung, tự cấp, có trình độ kĩ thuật cao trên núi An Thái gồm đền Thượng và chỗ kẽm núi Kẽm La giữa núi

An Thái và núi Báng, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều mộ Hán (có niên đại muộn nhất cũng vào thời Tuỳ Đường thế kỷ VI - X), trong đó có hàng vạn

Trang 35

viên gạch nung và nhiều mảnh gốm sành sứ vào đầu Công Nguyên, có loại gạch bìa, gạch múi bưởi để cuốn vòm, mép gạch có vạch ô quả trám kích thước lớn Có nhiều đồ gốm chôn trong mộ như nồi hông, vịt đất nung, ngói vẩy rồng, bát đàn vv…như vậy chứng tỏ nghề nung gạch ngói ở vùng này đã xuất hiện từ khá sớm

Nghề dệt vải ở các làng này cũng rất phát đạt, nhiều cánh đồng ở Vân Cát, Tiên Hương xưa là trồng dâu nuôi tằm (Gò Dâu) hay trồng bông kéo sợi

dệt vải Sách "Đại Nam Nhất Thống Chí" triều Nguyễn còn ghi "ở tỉnh Nam Định vải trắng sản xuất nổi tiếng ở mười một làng, trong đó có làng Vân Cát

Vụ Bản" [3, tr 106]

Đời sống kinh tế phong phú ở Kẻ Dầy còn biểu hiện về chợ búa Giữa hai làng Tiên Hương và Vân Cát có chợ Sại là trung tâm buôn bán nhưng Kẻ Dầy xưa nay vốn nổi tiếng với chợ Viềng vào ngày mồng 8 tháng Giêng hàng năm Chợ Viềng mang tính chất hội chợ truyền thống, hội chợ ngày xuân của một miền phát triển kinh tế nông nghiệp, lại mang ý nghĩa tín ngưỡng nông nghiệp phồn thực, đã đi sâu vào tâm thức con người vào văn học dân gian

Kẻ Dầy còn lưu giữ tín ngưỡng cổ xưa của người Việt Trong các thôn xóm vẫn giữ được tục thờ thần bản thổ, có miếu thần linh, miếu cây đa Giáp

Ba Tiên Hương có miếu thờ thần giếng Găng, một cái giếng xưa nước trong mát, dân trong vùng dùng chung, không bao giờ cạn Trong miếu còn tượng đồng thờ thần Tỉnh (thần Giếng) Núi Tiên Hương có miếu thờ Tả Sơn Thần, đầu núi Ngăm ở phía Nam có đền thờ Hữu Sơn Thần Cả hai đều có tượng đồng thần núi Đến khi có tục thờ thành hoàng làng, do việc thích nghi với điều kiện sinh sống mà làng Kẻ Dầy thờ Hữu Sơn Thần (Thần Núi) là thành hoàng, sau này thờ một nhân thần là Tả Lôi Công (tướng quân Đinh Lôi thời

Lí Bí thế kỷ VI) làm thành hoàng Trên núi An Thái có đền thờ Tả Sơn Thần, làng còn có đền thờ các phúc thần như An Thái cũ có đền thờ Lí Bí (vua Lí Nam Đế), thờ tiến sĩ Trần Kỳ (thời Lê Thánh Tông), ở Vân Cát có đền thờ chung Lí Bí và Tả Hữu thành hoàng cùng Thám hoa Trần Bích Hoành Các

Trang 36

(nay là Tiên Linh Tự), chùa Linh Sơn ở núi Báng tương truyền nằm trong hệ thống 99 chùa thời Ỷ Lan Nguyên Phi (thời Lý) và chùa Long Vân ở Vân Cát Đến khi có tục thờ Mẫu Liễu Hạnh, xuất hiện Phủ Dầy và các đền phủ khác phụ theo vùng An Thái Kẻ Dầy xưa, Tiên Hương, Vân Cát ngày nay đã có gần hai chục đền chùa miếu phủ điểm xuyết cho cảnh sắc thiên nhiên sơn thuỷ hữu tình hiếm có, làm cho Kẻ Dầy trở thành một danh lam thắng cảnh bậc nhất ở vùng Đồng Bằng Bắc Bộ ngày nay

2.2 Tín ngưỡng thờ Mẫu ở lễ hội Phủ Dầy - Nam Định:

Nhắc đến tín ngưỡng thờ Mẫu chúng ta thường nhớ ngay đến hai trung tâm thờ Mẫu lớn nhất nước ta đó là Phủ Tây Hồ (Hà Nội) và Phủ Dầy (Nam Định) Phủ Dầy là một quần thể di tích lịch sử - văn hoá toạ lạc chủ yếu trên địa bàn hai thôn Tiên Hương và Vân Cát (xưa là làng Kẻ Dầy xã An Thái), nay thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Quần thể Phủ Dầy gồm khoảng hai mươi di tích, đã được Nhà nước xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1975 Phần lớn các phủ, điện, đền, chùa trong hệ thông di tích Phủ Dầy đều thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh - vị thần chủ của đạo Tứ phủ Tìm hiểu

về Phủ Dầy chúng ta không chỉ được hiểu thêm về một tín ngưỡng đăc trưng của người Việt Nam, mà còn giúp chúng ta biết được thân thế của Mẫu Liễu cũng như hệ thống đền, phủ, lăng…đa dạng, phong phú, được mệnh danh là

cảnh đẹp hiếm có nơi đồng bằng Bắc Bộ ở chính mảnh đất "địa linh nhân kiệt" này

2.2.1 Huyền tích Mẫu Liễu Hạnh

Hiện nay có rất nhiều tài liệu, nhiều công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu, kéo theo đó là rất nhiều luồng ý kiến khác nhau về xuất thân của các Mẫu Huyền tích Thánh Mẫu Liễu Hạnh dưới đây là kết quả của quá trình nghiên cứu, tìm hiểu qua nhiều nguồn tư liệu quý, chủ yếu là trong "Cát tiên tam thế thực lục" của Phủ Nấp (Quảng Nạp, Yên Đồng, Ý Yên), viết và

in bản khắc đời Duy Tân đầu thế kỷ XX, được lưu giữ tại phủ Tiên Hương và phủ Vân Cát và "Thần tích làng Vân Cát" tìm trong thư viện Viện Hán Nôm Việt Nam

Trang 37

Lịch sử Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã trải qua hơn 500 năm, ba lần sinh hoá Tiền thân của Mẫu là tiên nữ của Ngọc Hoàng đầu thai vào họ Phạm từ năm Thiên Bình thứ nhất (1434) đời vua Lê Thái Tông ở làng Nấp (tức Quảng Nạp còn gọi là thôn Vĩ Nhuế, nay thuộc Yên Đồng, Ý Yên, Nam Định) Bà tên là Phạm Thị Nga, đầu thai vào nhà họ Phạm, không lấy chồng,

ở vậy nuôi dưỡng bố mẹ già Hai mươi năm sau, bố mẹ qua đời, bà lập chùa

đi tu Năm 40 tuổi, bà qua đời, trở về thiên đình Dân làng Nấp lập phủ thờ

bà, gọi là phủ Nấp, coi là tiền thân của Mẫu Liễu Hạnh Bà giáng sinh lần thứ hai ở làng Kẻ Dầy, lấy chồng là Trần Đào Lang, 21 tuổi lại về trời Lần thứ ba

bà giáng sinh ở làng Sóc, lấy chồng là Mai Sinh Đó là ba lần sinh hoá Do đó năm 1938, đệ tử chùa Phổ Hoá Xuân Kinh ở Huế quyên góp công đức lập lăng Mẫu Liễu, ghi nhiều câu đối ở lăng, trong đó có câu đối nôm nói lên ba lần sinh hoá của Mẫu, sự nghiệp hơn trăm năm lẻ là tính từ lúc Mẫu giáng sinh năm 1434 đời Thiệu Bình

"Sinh hoá suốt ba phen, trình hiếu gương treo miền quận Bắc

Tinh thần năm trăm lẻ, anh linh rọi chiếu chốn Thành Nam" [24, tr

22]

Để hiểu rõ về thân thế Mẫu Liễu Hạnh một cách tương đối đầy đủ

nhưng gọn rõ, tôi xin trích phần đầu cuốn "Trần tộc cựu tích phả ký" của dòng

họ đang thờ phụng các vị khải thánh sinh ra Mẫu và ba vị Thánh Mẫu (Liễu Hạnh công chúa, Duy Tiên công chúa và Quế Hoa công chúa) là Tam toà Thánh Mẫu

Theo nguyên bản chữ Hán, phả này của họ Trần gốc Lê chuyển về An Thái từ đời Trần Phả ghi niên đại: Cảnh Hưng nhị thập thất niên tam nguyệt nhị thập nhật (ngày 20 tháng 3 năm Cảnh Hưng thứ 27 - 1766) được sao lại xong ngày 21 tháng 8 năm Khải Định thứ 8 (1923) Phả này có nhiều chi tiết

mà các tập "Tiên từ phả kí" hay "Vân Cát thần nữ truyện" không có

Từ đời nhà Trần chuyển về thôn Vân Cát, xã An Thái (nay thuộc xã Kim Thái) huyện Thiên Bản, Phủ Nghĩa Hưng, Đạo Sơn Nam, có một gia

Trang 38

chất phác, thuần hậu, chuyên tâm làm việc phúc đức, cố gắng làm điều nhân nghĩa, mọi việc đều do thiện tâm mà làm, sớm chiều chăm chỉ đèn hương thờ phụng, một lòng cầu khẩn Thượng Đế cho thoả lòng mong ước, bốn mươi tuổi mới cầu sinh được một đứa con

Năm Thiên Hựu đời vua Anh Tông (1557), bỗng bà mang thai, đã quá

kì sinh nở, tự nhiên chỉ thích nằm lặng thinh một mình trong phòng ngửi hương thơm các loài hoa mà thôi Ông Thái nghi nghi, hoặc hoặc cho là yêu quái quấy nhiễu vội thiết lập trai đàn mời thầy đến lễ Phật, lên đồng cầu đảo, đều không có kết quả Những ngày sau, bệnh càng nặng thêm Bỗng đêm Trung thu, ngoài cửa có một người ăn mặc áo choàng vải thô cũ kĩ đến chào, nói có pháp thuật chữa bệnh Người nhà thấy thế vội dẫn vào gặp ông Thái Ngay lúc đó, người khách tu hành này nói rằng: Ta là người có phép lạ, hàng long phục hổ, xuất quỷ nhập thần, nghe nói người nhà này chăm chỉ làm việc phúc đức, nên đến giúp đỡ Thái công vội vã mời vào nhà Nhìn vào túi đeo ở vai của khách thấy không có vật gì lạ, ngoài một chiếc búa nhỏ mà thôi Thái công ngỏ lời xin giúp đỡ Nhà tu hành vội xoã tóc đăng đàn, ngửa mặt lên trời lầm rầm cầu khấn rồi ném phịch búa xuống đất Thái công tự nhiên nằm lăn bất tỉnh, lâng lâng bước tới một toà thành vàng sừng sững, cửa ngọc thênh thang Bọn lực sĩ thay quần áo cho ông rồi dẫn ông vào cửa trùng đứng chờ ở nhà ngang Bỗng ánh hồng toả sáng rực rỡ, quần thần cầm hốt đứng chầu hai bên sân rồng có tới trăm vị Thái công đang ngơ ngác, bỗng thấy một tiên nữ cầm chén ngọc dâng rượu thọ lên Ngọc Hoàng, không may lỡ tay đánh rơi mẻ mất một góc, Thượng Đế tức giận ban sắc chỉ đầy xuống trần gian, thét lực sĩ dẫn đi Thái công giật mình tỉnh dậy thì thấy bà sinh con gái Đó là ngày rằm tháng tám năm Đinh Tỵ, đời vua Lê Anh Tông, niên hiệu Thiên Hựu năm thứ nhất (1557)

Lúc nàng chào đời, hương thơm sực nức khắp phòng, ánh sáng sán lạn, huy hoàng Mặt nàng hồng tươi như mặt trời, da phấn môi son, mắt phượng mày ngài lấp lánh như sóng mùa thu, tóc sáng như gương khác hẳn người thường Khi khôn lớn, cha lấy chữ Tiên đặt tên là Giáng Tiên, cho ở riêng một

Trang 39

phòng để học chữ, thích đọc sách, lại ham đánh đàn, tinh thông âm luật, thật

kì diệu như Tương Như, tài cao như Lộng Ngọc Phàm lúc thư nhàn lại gặp ngày xuân ấm áp, oanh yến đua nhau hót, hoặc đêm khuya thanh vắng, hoặc khi lựu sen đua sắc, nàng thường làm thơ ngâm vịnh Trong làng có một vị quan trí sĩ là Trần Công Tế, Thái công bèn cho nàng sang nhận làm cha nuôi Ông Trần Công Tế đem về nuôi dưỡng, đến tuổi mười lăm đã giỏi cả công dung ngôn hạnh, ông dựng một lầu riêng ở vườn hoa cho nàng học tập, đổi tên nàng là Thắng

Trong làng, giáp nhì là thôn Vân Đình có một nhà quan tên là Phổ Ông Phổ thấy nàng tuổi mới mười tám mà nói năng lễ độ, tư chất khác thường, muốn hỏi nàng làm vợ cho Đào Lang Cha đẻ và cha nuôi đều vui mừng vì đều là người cùng làng nên nhận lời ngay Ông Phổ bèn tiến hành lễ cưới, đón dâu về nhà Từ đó nàng Tiên cùng Đào Lang hoà hợp cuộc lương duyên, hiếu thuận với người trên, kẻ dưới trong nhà, ra vào đúng mực, tình nghĩa vợ chồng sâu nặng đã được ba năm, hai người sinh được một con gái, hạnh phúc gia đình thật đầy đủ

Đến đời Lê Thế Tông, niên hiệu Gia Thái thứ năm (1577) nàng Tiên không bệnh mà qua đời (vào lúc giờ Dần - sáng ngày mồng 3 tháng 3 năm Đinh Sửu) lúc đó nàng mới 21 tuổi Ba ông vô cùng thương tiếc Từ đó trên thân mình nàng tự nhiên sương mây mờ mịt bay toả lên, thân thể hình hài của nàng dần dần không thấy nữa Nàng hoá tại xứ Mả Quan (nay gọi là xứ cây đa), mộ đặt hướng Đông Nam Ba ông đều cho là sự lạ Lúc đó, Giáng Tiên thăng lên Thiên Đình, vào chầu Thượng Đế, Thượng Đế rất mừng

Giáng Tiên về chầu trời, nhưng duyên trần còn nặng gánh, tư tình còn vương vấn, nên những lúc chầu ở Ngự Lâu hay hội yến ở Diêu Trì thường thường sầu não, chau mày rơi lệ, các nàng tiên thấy vậy vội tâu với Thượng

Đế Thượng Đế thương tình phong nàng là Liễu Hạnh công chúa cho tái hồi trần gian

Trang 40

Nàng Tiên vâng mệnh về trần gian, hiện thành người y như lúc đang sống (bước vào phòng cũ), nàng bỗng thấy Thái bà thương nhớ than khóc Nàng vội ôm lấy mẹ mà nói rằng:

- Mẹ ơi! Con đang ở đây, cha mẹ bất tất phải buồn thương nữa

Thái bà ngạc nhiên ngước mắt lên hỏi:

- Con ta ở đâu mà về đây với mẹ? Con không chết thật ư?

Nàng Tiên lắc đầu, lệ rơi lã chã Ba ông nghe tin đều chạy tới, vừa sợ, vừa mừng tíu tít hỏi han, cùng nắm lấy tay nàng Nàng Tiên lạy chào khóc mà nói rằng:

- Con thật bất hiếu nhiều lắm, làm luỵ đến bố mẹ Không phải là con không muốn ở lại hầu hạ bố mẹ, muốn được mặc áo hoa múa may trước thềm, muốn dâng trà mà tranh nhau làm vui trước bố mẹ Nhưng số trời đã định khó đổi thay được, mong ba bố mẹ đừng nhớ thương sầu não vì con mà tha tội cho con

Nói đoạn nàng quay sang dặn dò em trai việc chăm sóc phụng dưỡng

bố mẹ rồi bái từ xin đi Ba ông vội ngăn lại, cùng nói:

- Từ khi con từ bỏ trần gian, chúng ta thường buồn phiền vô hạn, hồn xiêu phách lạc, nay con đã trở về thì ở lại luôn, sao vội từ biệt ngay thế

Nàng Tiên thưa lại rằng:

- Con vốn là đệ nhị Tiên Cung, vì mắc lỗi làm vỡ chén ngọc mà bị trích đầy xuống trần thế Nay lại từ trần thế trở về để hầu hạ Thượng Đế, nhưng lòng vẫn nhớ công ơn dưỡng dục của bố mẹ nên trở lại hầu thăm, không thể lần lữa chốn nhân gian được vì ba hồn chín vía đã lên trời Bố mẹ đều có âm công, đã được ghi tên vào sổ tiên đình, một ngày nào đó sẽ được đoàn tụ, xin đừng buồn phiền nữa

Nói xong nàng biến mất

Một đêm trời thu se lạnh, cảnh sắc thê lương, mưa rơi rả rích, gợi nên cảnh buồn thương da diết, Đào Lang ẵm con ngồi ngâm thơ nghĩ ngợi mông lung Chợt một luồng khí lạnh từ đâu đưa tới, ngọn nến chập chờn khi tỏ khi

Ngày đăng: 17/07/2015, 05:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2.Trần Thị An, Nghiên cứu văn học số 6/T6 - 2007, Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn (tr27) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn
Tác giả: Trần Thị An
Nhà XB: Nghiên cứu văn học
Năm: 2007
4. Hồng Hà Đoàn Thị Điểm, Truyền kỳ tân phả Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kỳ tân phả
Tác giả: Hồng Hà Đoàn Thị Điểm
6. Nguyễn Thị Huế, Từ Phật Mẫu Man Nương đến Thánh Mẫu Liễu Hạnh (tr50) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Phật Mẫu Man Nương đến Thánh Mẫu Liễu Hạnh
Tác giả: Nguyễn Thị Huế
7. Chúa Liễu qua nguồn thư tịch (tr32), Vũ Ngọc Khánh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúa Liễu qua nguồn thư tịch
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
8. Liễu Lã Duy Lan, Hạnh trong "Vân Cát thần nữ truyện" và Liễu Hạnh trong tâm thức dân gian (tr40) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vân Cát thần nữ truyện
11. Phan Đăng Nhật, Những yếu tố cấu thành hình ảnh "Địa Tiên Thánh Mẫu" (tr29) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố cấu thành hình ảnh "Địa Tiên Thánh Mẫu
Tác giả: Phan Đăng Nhật
13. Bùi Văn Tam. Phủ Dầy và tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh,NXB VHDT - 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ Dầy và tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh
Tác giả: Bùi Văn Tam
Nhà XB: NXB VHDT
Năm: 2001
15. Hồ Đức Thọ (2003), Huyền tích Thánh Mẫu Liễu Hạnh và di sản văn hoá - lễ hội Phủ Dầy. NXBVHTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyền tích Thánh Mẫu Liễu Hạnh và di sản văn hoá - lễ hội Phủ Dầy
Tác giả: Hồ Đức Thọ
Nhà XB: NXBVHTT
Năm: 2003
26. "Những phát hiện mới về khảo cổ học" - Viện khảo cổ học Việt Nam - những năm 1985 - 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiện mới về khảo cổ học
1. Trần Thị An, Sự vận động của truyền thuyết về Mẫu qua những truyện kể về Mẫu Liễu Hạnh và truyền thuyết về nữ thần Chăm (tr44) Khác
5. Đinh Gia Khánh, Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hoá dân gian ở Việt Nam, ( tr3) Khác
9. Đặng Văn Lung, Thử tìm hiểu cách xây dựng hình tượng Mẫu Liễu (tr24) Khác
10. Đặng Văn Lung (1999). Mẫu Liễu và đạo đời Khác
12. Phạm Quỳnh Nương, Tục thờ Mẫu Liễu Hạnh trong hệ thống thờ nữ thần của người Việt (tr57) Khác
14. Ngô Đức Thịnh, Tục thờ Mẫu Liễu Hạnh - một sinh hoạt tín ngưỡng - văn hoá cộng đồng (tr17) Khác
16. Hoàng Văn Trụ, Mẫu Liễu Hạnh và Quan Âm Thị Kính qua cảm quan sáng tạo dân gian (tr54) Khác
18. Bức tranh văn hoá dân gian lễ hội Phủ Dầy (tr63), Thang Ngọc Pho Khác
19. Tam toà Thánh Mẫu, NXB VHDT - 1991 Khác
20. Sự tích dân gian Việt Nam - NXB Phụ nữ - 1999 Khác
21. Cát Tiên Tam Thế thực lục - Bản chữ Hán - 1913 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w