Bóng đá là môn thể thao vận động liên tục không ngừng và không dứt quãng, lượng vận động rất lớn, có yêu cầu rất cao về trình độ sức bền của VĐV.. Trong những năm gần đây việc tìm ra nhữ
Trang 1NÂNG CAO SỨC BỀN CHUNG CHO
VẬN ĐỘNG VIÊN BÓNG ĐÁ NAM KHỐI 10 TRƯỜNG THPT NGUYỄN DU- HẢI DƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH: CNKHSP TDTT- GDQP
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TH.S: LÊ TRƯỜNG SƠN CHẤN HẢI
HÀ NỘI- 2011
Trang 22
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Trần Ngọc Anh
Sinh viên lớp K33 khoa GDTC- GDQP
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của đề tài là do tôi làm Kết quả nghiên cứu này mang tính thời sự cấp thiết và phù hợp với điều kiện khách quan của trường THPT Nguyễn Du - Hải Dương
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Trần Ngọc Anh
Trang 33
Mục lục
Đặt vấn đề 1
CHƯơng 1:Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 6
1.1 Những nột đặc trưng cơ bản của búng đỏ hiện đại 6
1.2 Vai trò của sức bền đối với búng đỏ .8
1.3 Một số phương phỏp huấn luyện sức bền .10
1.4 Đặc điểm tõm sinh lý lứa tuổi THPT 12
ChƯơng 2: Nhiệm vụ, phƯơng pháp và tổ chức nghiên cứu 16
2.1 Nhiệm vụ nghiờn cứu 16
2.2 Phương phỏp nghiờn cứu 16
2.3 Tổ chức nghiờn cứu 22
ChƯơng 3: kết quả nghiên cứu 24
3.1 Đỏnh giỏ thực trạng sức bền chung của VĐV búng đỏ nam khối 10 Trường THPT Nguyễn Du- Hải Dương 24
3.2 Lựa chọn và ứng dụng cỏc bài tập nhằm nõng cao sức bền chung cho VĐV búng đỏ nam khối 10 Trường THPT Nguyễn Du- Hải Dương 28
Kết luận và kiến nghị 40
Tài liệu tham khảo 41
Trang 44
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Tóm tắt loại sức bền dựa trên cơ sở thời gian thi đấu chuyên
môn 9
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát kế hoạch huấn luyện của đội bóng đá nam
khối 10 Trường THPT Nguyễn Du- Hải Dương…… … … 25
Bảng 3.2 Kết quả khảo sát kế hoạch huấn luyện của đội bóng đá nam
khối 10 Trường THPT Nam Sách- Hải Dương ……….26
Bảng 3.3 Kết quả kiểm tra và phân loại trình độ sức bền chung của
VĐV bóng đá nam khối 10 Trường THPT Nguyễn Du- Hải Dương( n= 24).28
Bảng 3.4 Kết quả phỏng vấn đánh giá các nguyên tắc khi lựa chọn bài
tập nhằm phát triển sức bền chung cho VĐV bóng đá nam khối 10 Trường
THPT Nguyễn Du- Hải Dương (n=17)……….30
Bảng 3.5 Kết quả phỏng vấn để lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao
sức bền chung cho VĐV bóng đá nam khối 10 Trường THPT Nguyễn Du-
Hải Dương (n=20)… 34
Bảng 3.6 Kết quả phỏng vấn về mức độ ưu tiên sử dụng số buổi tập
trong mỗi tuần, thời gian cho mỗi buổi huấn luyện sức bền chung cho VĐV
bóng đá nam khối 10 Trường THPT Nguyễn Du – Hải Dương
(n=20)……… …………35
Bảng 3.7 Tiến trình giảng dạy ……… ……… ….… 37
Bảng 3.8 So sánh các Test đánh giá sức bền chung của 2 nhóm thực
nghiệm ( nA = 12) và nhóm đối chứng ( nB = 12) trước thực nghiệm… …38
Bảng 3.9 So sánh các Test đánh giá sức bền chung của 2 nhóm thực
nghiệm (n=12) và nhóm đối chứng (n=12)sau thực nghiệm …39
Trang 66
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thể dục thể thao là một bộ phận của nền văn hóa xã hội, là nhân tố đặc biệt của quá trình lao động xã hội Mục đích của TDTT là phát triển con người có tri thức, đạo đức và thể chất
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, TDTT của Việt Nam đang phát triển lớn mạnh không ngừng, đã và đang trở thành một bộ phận không thể tách rời trong đời sống và sinh hoạt của nhân dân
Trong suốt các chặng đường cách mạng Đảng, Nhà nước và Bác hồ luôn coi trọng con người là vốn quý nhất, là cội nguồn vững chắc để nâng cao trình
độ hiểu biết, nâng cao sức sản xuất và chiến đấu góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng xã hội mới
Ngay từ đầu ngày thành lập nước mặc dù bận trăm công ngàn việc Bác
Hồ vẫn quan tâm tới TDTT thể hiện sự quan tâm đó là bức thư kêu gọi toàn dân tập thể dục ngày 27/03/1946 Trong thư Người viết : “Mỗi người dân khỏe mạnh là làm cho cả nước khỏe mạnh, mỗi người dân yếu ớt sẽ làm cho
cả nước yếu ớt một phần’’[12]
Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng như sau ngày thống nhất đất nước, cả nước ta dồn sức vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế Đảng ta luôn coi trọng công tác TDTT Từ văn kiện các đại hội ban chấp hành trung ương Đảng khóa 3 đến khóa 9 Văn kiện nào cũng được đề xuất và định hướng cho sự phát triển TDTT của nước nhà
Ngoài văn kiện đại hội Đảng, Đảng ta mà trực tiếp là ban bí thư Trung ương Đảng đã nhiều lần ra các chỉ thị về chỉ đạo công tác TDTT Trong các chỉ thị 36/CT – TW về công tác TDTT Đảng ta đã chỉ rõ : TDTT là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm phát huy nhân tố con người…’’[1]
Trang 77 Thể thao thành tích cao là một bộ phận quan trọng cấu thành nền TDTT
xã hội chủ nghĩa và cũng là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy phong trào TDTT quần chúng Thể thao thành tích cao đáp ứng nhu cầu hưởng thụ về văn hóa, thúc đẩy tinh thần sáng tạo vượt lên tầm cao mới Sự phát triển thể thao thành tích cao cũng là một tiêu chí của một xã hội phát triển
Thực trạng công tác giáo dục thể chất trong trường phổ thông
GDTC trong nhà trường phổ thông được tổ chức dưới hai hình thức:
- Dạy học môn học GDTC (còn gọi là môn Thể dục)
- Tổ chức các hoạt động phong trào thể thao trường học [7] Do đặc điểm của môn học GDTC, giờ học môn học Thể dục được tiến hành: Giờ học chính khóa (có giáo viên trực tiếp dạy) và giờ học không chính khóa (còn gọi
là giờ học ngoại khóa) Với thời lượng học 1 tiết/tuần đối với học sinh lớp 1, học trong 35 tuần và thời lượng 2 tiết/tuần đối với học sinh từ lớp 2 đến lớp
12, được chia làm 2 buổi học/tuần, học trong 35 tuần (thời gian học trong một tiết học được quy định riêng cho từng lớp học, cấp học), mỗi tiết học được quy định bằng một bài học Trên thực tế trong mỗi tiết học chỉ đủ thời lượng trang thiết bị kiến thức và kĩ thuật động tác, còn hoàn thiện kĩ năng, kĩ xảo động tác và phát triển tố chất thể lực phải tập luyện ngoại khóa và tập thường xuyên liên tục
Thống kê số lượng, tỷ lệ học sinh phổ thông tham gia Hội khỏe Phù Đổng; tham gia tập luyện TDTT thường xuyên và đạt tiêu chuẩn RLTT năm học 2007- 2008
Nguồn: Thống kê giáo dục 2008; Báo cáo tổng kết công tác GDTC và phong trào Hội khỏe Phù Đổng năm 2008 [2],[8]
Số học sinh 15685200, trong đó số học sinh tham gia Hội khỏe Phù Đổng là 7563650 với tỷ lệ 48%; số học sinh tập luyện TDTT thường xuyên là
Trang 8Số lượng, tỉ lệ cơ sở vật chất TDTT trong các trường phổ thông cả nước năm học 2007- 2008
Số trường cả nước 28114, trong đó có 120 nhà thi đấu với tỷ lệ 0,43%;
394 nhà đa năng với tỷ lệ 1,4%; 2347 sân vận động với tỷ lệ 8,3%; 22322 sân tập ở các trường với tỷ lệ 79,4%; 15 bể bơi với tỷ lệ 0,05% và 3495các công trình khác với tỷ lệ 12,43% [2],[8]
Thông qua số liệu thu được cho thấy cơ sở vật chất dành cho GDTC trường học đặc biệt thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo và hoạt động thể thao trường học Mặt khác, cơ sở vật chất có sự phân bố không đều ở các tỉnh thành trong cả nước, chỉ tập trung ở một số địa phương
Trên thực tế hoạt động GDTC trường học đã không đáp ứng được nhu cầu học tập môn thể dục và hoạt động thể thao trường học của các em
Nguyên nhân hạn chế đó là:
- Cơ sở vật chất nghèo nàn, thiếu nhiều
- Giờ học thể dục còn đơn điệu, nhàm chán
- Sự quan tâm và đánh giá về môn học thể dục của hệ thống quản lý giáo dục bậc phổ thông, đội ngũ giáo viên trường phổ thông chưa cao
Trang 99
Để đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội, nhu cầu học tập và tập luyện TDTT của học sinh cần thiết phải đổi mới Đổi mới bắt đầu từ việc đổi mới đào tạo giáo viên phổ thông trong các trường đại học sư phạm, góp phần cải thiện nhận thức của cán bộ quản lý giáo viên chủ nhiệm lớp, nhận thức của cha mẹ học sinh và giải tỏa nhu cầu được học tập, vui chơi giải trí của học sinh
Một trong những môn thể thao ưa chuộng là bóng đá, không ai có thể phủ nhận rằng, bóng đá là môn thể thao hấp dẫn nhất trên hành tinh Tập luyện bóng đá giúp ta rèn luyện ý chí, lòng quyết tâm, tính kỷ luật, sáng tạo tinh thần đồng đội, những phẩm chất con người mới xã hội chủ nghĩa
Bóng đá là môn thể thao vận động liên tục không ngừng và không dứt quãng, lượng vận động rất lớn, có yêu cầu rất cao về trình độ sức bền của VĐV Ngày nay bóng đá theo đội hình toàn đội tấn công toàn đội phòng thủ đòi hỏi VĐV phải hoàn thành một khối lượng rất lớn, động tác kỹ thuật có cường độ cực lớn như chạy tốc độ hàng ngàn mét trong lúc tranh giành quyết liệt với đối phương hàng trăm lần động tác kỹ thuật, chiến thuật duy trì do thời gian, ngoài ra VĐV di động sử dụng nhiều loại xuất phát bất ngờ, chạy nhanh ngày càng nhiều
Trong những năm gần đây bóng đá Việt Nam có dịp cọ sát với bóng đá của các nước phát triển trên thế giới và đã thu được những thắng lợi đáng kể giành huy chương vàng, bạc, đồng ở các giải khu vực Tại các giải này các cầu thủ Việt Nam đã thực hiện một lối chơi hơn hẳn những năm trước đây Tuy có nhiều tiến bộ song vấn đề thể lực vẫn là một yếu tố nan giải đối với các cầu thủ nước ta, nhận thấy rằng thông qua việc quan sát giải vô địch quốc gia, các cầu thủ nước ta còn kém về thể lực so với yêu cầu của bóng đá hiện đại ngày nay Bởi vậy mà hiệu quả thi đấu còn chưa cao
Do tập luyện còn thiếu tính hệ thống và liên tục nên về mặt thể lực hầu
Trang 1010 lịch thi đấu hai trận trong một tuần Càng về cuối giải sức bền các cầu thủ càng giảm sút nghiêm trọng, đặc biệt là các trận đấu quyết định căng thẳng về mặt tâm lý, các cầu thủ không còn đủ sức để di chuyển trên sân
Hải Dương là một tỉnh có phong trào bóng đá rất phổ biến tuy nhiên qua thực tế cho thấy bóng đá của tỉnh vẫn chưa đươc phát triển, mặc dù được các cấp chính quyền của tỉnh và sở TDTT tỉnh Hải Dương đã quan tâm, đầu tư thích đáng nhưng vẫn chưa đạt thành tích cao
Trong những năm gần đây việc tìm ra những phương pháp huấn luyện có hiệu quả nhất để phát triển sức bền chung cho các cầu thủ bóng đá trẻ còn rất hạn chế Khối 10 đã có một nền tảng rất tốt về sự phát triển cơ thể Do đó có thể nhận thấy lứa tuổi này là thời kỳ tốt để huấn luyện sức bền chung Từ những lý do trên mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“ Lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao sức bền chung cho VĐV bóng đá nam khối 10 trường THPT Nguyễn Du - Hải Dương”
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở đánh giá thực trạng thể lực của các VĐV bóng đá nam khối
10 Trường THPT Nguyễn Du - Hải Dương đề tài nghiên cứu tiến hành lựa chọn một số bài tâp nhằm phát triển sức bền chung cho các VĐV bóng đá nam khối 10 Trường THPT Nguyễn Du - Hải Dương
Trang 1111
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Những nét đặc trưng cơ bản của bóng đá hiện đại
Bóng đá là môn thể thao có sức mạnh tưởng chừng như điều khiển thế giới, điều khiển cuộc sống con người Đối với nhân loại bóng đá là môn thể thao vua
Bóng đá là môn thể thao mang đầy cảm xúc Sự hấp dẫn của bóng đá thể hiện ở tính đa dạng của các tình huống trong một trận đấu và các phương án giải quyết từng tình huống cụ thể mang đầy tính ngẫu hứng, sáng tạo từng phong cách thi đấu của mỗi cầu thủ Trong thi đấu bóng đá không có tình huống nào trùng và không có khuôn mẫu nào thích hợp cho mỗi trường hợp Tính chất đa dạng muôn hình muôn vẻ đó đòi hỏi mỗi cầu thủ nhanh chóng tìm ra biện pháp ứng biến thích hợp Lựa chọn các phương án giải quyết tối
ưu trong một thời gian ngắn đòi hỏi cầu thủ phải có khả năng xử lý thông tin nhanh nhặy, bởi vì các nhân tố kích thích thường xuyên tác động tới VĐV: sự
di chuyển không ngừng của đồng đội, đối phương, hướng bay của bóng cảm nhận về không gian, thời gian trong quá trình xử lý các tình huống biến đổi… Bóng đá bao gồm nhiều yếu tố (kỹ thuật, chiến thuật, thể lực, tâm lý…) hợp thành: chúng gắn bó với nhau một cách chặt chẽ cộng với sự phối hợp giữa nhiều mặt, nhiều khía cạnh Tính đối kháng quyết liệt của bóng đá là môn thể thao đối kháng trực tiếp, giao đấu cùng sân, ứng biến cực kỳ linh hoạt và tính cảm xúc cao
Bóng đá hiện đại là sự dồi dào và xung mãn về thể lực của các cầu thủ theo xu hướng tổng lực (tấn công, phòng thủ toàn diện) Để thực hiện có hiệu quả các hoạt động chiến thuật trong thi đấu VĐV ngoài việc duy trì cường độ cao trong suốt trận đấu còn phải đảm bảo hiệu suất hoạt động trong điều kiện
Trang 1212 mệt mỏi gia tăng tới mức tối đa vào cuối trận đấu Do chức năng của các cầu thủ ngày nay càng mở rộng, tốc độ thi đấu ngày càng cao thông qua việc chuyển nhanh từ tấn công sang phòng thủ và ngược lại, sự đối kháng trực tiếp ngày càng quyết liệt đòi hỏi ở VĐV sức chịu đựng với cường độ lớn Trung bình trong một trận đấu một cầu thủ phải thực hiện từ 600 đến 660 động tác lẻ trong đó có từ 48 - 75 lần chạy rút tốc độ đột biến, tăng tốc 40 - 60 lần, chạy nhẹ từ 224 - 310 lần, đi bộ từ 216 - 262 lần với tổng số quãng đường từ 5 - 8
km, thời gian hoạt động với bóng của một cầu thủ giao động từ 22’’- 2’45’’
với tổng số lần hoạt động với bóng từ 34 - 70 lần (Gagaieva nghiên cứu những thuộc tính của sự chú ý và kỹ năng hoạt động tập thể của VĐV bóng đá cấp cao Trong báo cáo tham luận của hội nghị tâm lý học thể thao toàn liên bang xô viết Mát xơ cơ va) [14]
Trình độ phát triển thể lực cao sẽ giúp cho VĐV thực hiện các hành động
kỹ thuật chuẩn xác, duy trì sự tập trung phân phối và luân chuyển chú ý trong suốt quá trình trận đấu Chiếm lĩnh giành thể chủ động về không gian thời gian là yếu tố quan trọng hàng đầu của bóng đá hiện đại Giành thế chủ động thông qua kiểm soát, điều chỉnh nhịp độ trận đấu, xử lý các kỹ thuật hợp lý, hiệu quả, chiến thuật chặt chẽ, công thủ toàn diện Nền tảng cơ bản của mọi hoạt động kỹ chiến thuật là “sự dồi dào, sung mãn về thể lực”, đó chính là khả năng thích nghi cao của người cầu thủ với lượng vận động ngày càng gia tăng Lượng vận động và sức bền tâm lý có liên quan biện chứng lẫn nhau Lượng vận động thể chất lớn tạo áp lực lên VĐV làm các quá trình tâm lý diễn ra ráo riết hơn gây giảm sút các năng lực tâm lý ở họ Bởi vì cường độ hoạt động không những chỉ phụ thuộc trực tiếp vào sự vận động mà còn cả sự căng thẳng tâm lý của các hoạt động kỹ chiến thuật Do đó hoàn thiện thể lực cho VĐV bóng đá thể hiện ở sự phát triển và giáo dục các tố chất thể lực, mạnh, bền, nhanh và khéo léo
Trang 1313 Phát triển các tố chất thể lực cho VĐV là tăng cường và mở rộng khả năng giới hạn các tố chất thể lực đặc trưng cho VĐV bóng đá Thể lực đó phù hợp với chiến thuật đề ra
1.2 Vai trò của sức bền đối với bóng đá
* Khái niệm sức bền: sức bền là khả năng chống lại mệt mỏi và duy trì hoạt động kéo dài của VĐV Vì vậy, với những môn thể thao được thực hiện trong thời gian kéo dài thì sức bền là điều kiện để đạt thành tích cao hay nói một cách khác sức bền có tác động tới thành tích thi đấu càng cao khi thời gian thi đấu càng dài
* Vai trò của sức bền đối với hoạt động bóng đá: có ý nghĩa đối với việc đánh giá kết quả huấn luyện và khả năng chịu đựng lượng vận động, khả năng hồi phục nhanh chóng của VĐV Sức bền phụ thuộc vào một số yếu tố sau :
- Sự hoạt động của hệ thống hô hấp và tuần hoàn
- Khả năng hoạt động ưa khí hay là độ lớn của lượng oxy trong đơn vị thời gian Đồng thời là khả năng sẵn sàng sử dụng năng lượng giảm khí
- Sự phối hợp mang tính chất “ tiết kiệm ” của các cơ quan trong cơ thể
- Trình độ tâm lý như các quá trình điều khiển ý chí của VĐV
- Trình độ kỹ thuật và khả năng phối hợp vận động
Từ những yếu tố trên chúng ta cần hiểu rõ cách phân loại sức bền Do các yêu cầu về tâm sinh lý của sức bền phụ thuộc vào thời gian thi đấu nên trước hết, phải dựa vào thời gian kéo dài thi đấu để phân loại sức bền Dựa vào cơ sở này, có thể phân biệt các dạng sức bền trong thời gian ngắn, sức bền trong thời gian trung bình, sức bền trong thời gian dài
- Sức bền trong thời gian ngắn là sức bền cần thiết để vượt qua cự ly hoặc thực hiện khối lượng thi đấu từ 45 giây đến 2 phút
Trang 1414
- Sức bền trong thời gian trung bình là sức bền cần thiết cho VĐV để vượt qua cự ly hoặc hoàn thành khối lượng vận động trong thời gian từ 2 đến
11 phút
- Sức bền trong thời gian dài là sức bền cần thiết cho VĐV để vượt qua
cự ly hoặc hoàn thành khối lượng vận động trong thời gian từ 11 phút tới nhiều giờ về cơ bản
Bảng 1 Tóm tắt loại sức bền dựa trên cơ sở thời gian thi đấu chuyên môn
Trong huấn luyện thể thao, để tiến hành huấn luyện sức bền, người ta lại phân ra thành sức bền chung và sức bền chuyên môn:
- Sức bền chung là năng lực vận động được vận động trong thời gian kéo dài
- Sức bền chuyên môn là sức bền cần thiết đảm bảo cho thi đấu chuyên môn thi đấu được tốt
Theo quan điểm sinh lý học TDTT :
Sức bền là khả năng thực hiện lâu dài một hoạt động nào đó Sức bền được chia làm 2 loại: Sức bền ưa khí (aerobis) và sức bền yếm khí (anareobis)
- Sức bền ưa khí : phụ thuộc vào khả năng hấp thụ oxy tối đa của cơ thể và khả năng duy trì mức hấp thụ oxy cao
Sức bền trong thời gian dài
Loại
Sức bền trong thời gian ngắn
Sức bền trong thời gian trung bình
III Thời gian 45” đến 2’ 2’ đến 11’ 11’ đến 30’ 30’ đến 90' Trên 90’
Trang 1515
- Sức bền yếm khí: gồm sức bền hệ thống cung cấp năng lượng lactate
và sức bền hệ thống cung cấp năng lượng ATP, CP
Cũng theo các nhà khoa học thì giữa sức bền chung và sức bền chuyên môn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Sức bền chung là nền tảng của sức bền chuyên môn
1.3 Một số phương pháp huấn luyện sức bền
* Phương pháp nâng cao khả năng ưa khí
Khả năng ưa khí của cơ thể là khả năng tạo nguồn năng lượng cho hoạt động cơ bắp thông qua quá trình oxy hóa các hợp chất giàu năng lượng trong
cơ thể Để nâng cao khả năng ưa khí cần giải quyết 3 nhiệm vụ :
- Nâng cao khả năng hấp thụ oxy tối đa
- Nâng cao khả năng kéo dài thời gian duy trì mức hấp thụ oxy tối đa
- Làm cho hệ tuần hoàn và hệ hô hấp nhanh chóng đạt được mức hoạt động với hiệu suất cao
Để giải quyết nhiệm vụ này, nguyên tắc chung của phương pháp tập luyện nâng cao khả năng ưa khí là sử dụng các bài tập trong đó hiệu suất hô hấp và tuần hoàn có thể đạt mức tối đa và duy trì được mức hấp thụ oxy cao trong thời gian dài Tất nhiện đó phải là những bài tập có sự tham gia của nhiều nhóm cơ và có tốc độ gần tới hạn Các phương pháp được sử dụng để nâng cao khả năng ưa khí của cơ thể là phương pháp đồng đều liên tục, phương pháp lặp lại và biến đổi, phương pháp nghỉ giữa quãng, phương pháp tập luyện vòng tròn, phương pháp thi đấu…
* Phương pháp đồng đều liên tục (phương pháp liên tục kéo dài)
Áp dụng rộng rãi trong giai đoạn đầu của quá trình huấn luyện nâng cao sức bền Đặc điểm của phương pháp này là bài tập liên tục, không có nghỉ giữa quãng với tốc độ ở mức độ gần tới hạn và thời gian tương đối dài (10’ – 12’)
Trang 1616 Lượng vận động trong các phương pháp kéo dài là một lượng vận động dài và không bị gián đoạn bởi các đợt nghỉ Tốc độ của các phương pháp kéo dài có thể đồng đều hoặc tăng lên, giảm xuống Việc cải thiện khả năng hấp thụ oxy được bằng hai cách: một là lượng vận động kéo dài, liên tục trong các điều kiện ưa khí; hai là lượng vận động kéo dài với cường độ thay đổi (Tốc
độ, dùng lực, tần số động tác)
* Phương pháp giãn cách tương đối
Các phương pháp này được huấn luyện theo nguyên tắc giãn cách, nó đòi hỏi sự thay đổi có kế hoạch các giai đoạn và nghỉ ngơi Các đợt nghỉ không hồi phục hoàn toàn Sản phẩm phân hóa yếm khí trong hoạt động căng thẳng với thời gian ngắn khoảng 60’’ - 90’’ sau mỗi lần lặp lại yếm khí thì thông khí phổi và thể tích tâm thu tăng lên do đó mức hấp thụ oxy tăng lên, mạch tăng
120 - 130 lần/phút ta tiếp tục đưa lượng vận động vào thì quá trình hô hấp tăng dần từ lần lặp lại đầu đến lần tiếp sau: đạt VO2 max Tác động của bài tập chủ yếu là ở thời gian nghỉ giữa lúc này đạt mức hấp thụ oxy tối đa
Phương pháp này để phát triển sức bền chung (sức bền ưa khí) nên các bài tập yếm khí với tốc độ tới hạn, trên tới hạn và thời gian thực hiện ngắt quãng được tính sẽ diễn ra khả năng hấp thụ O2 tối đa Khi vận dụng phương pháp giãn cách tương đối cần đảm bảo:
- Cường độ hoạt động: cao hơn mức tới hạn 70 - 80%
- Cường độ hoạt động tối đa: cuối mỗi lần lập lại mạch từ 130 - 170 lần/phút
- Độ dài cự ly: tính toán để thời gian thực hiện không quá 1 - 1,5’ (đảm bào hoạt động yếm khí) có như vậy mới đạt VO2 max vào quãng nghỉ
- Thời nghỉ giữa: từ 45’’- 120’’ tùy theo trình độ của VĐV để lần lặp lại bắt đầu trong lúc thể tích tâm thu và mức hấp thụ oxy cao Tần số nhịp tim
110 - 120 lần/phút
Trang 1717 Thời gian nghỉ không vượt quá 3’- 4’ khi tuần hoàn và hô hấp giảm nhiều, không được nghỉ thụ động để chuyển đột ngột từ hoạt động động sang yên tĩnh và ngược lại, nó còn quỹ thời gian để phục hồi lượng vận động lớn
- Số lần lặp lại: phải đảm bảo duy trì hoạt động trong sự phối hợp hoạt động các hệ thống cơ quan trong cơ thể, thể hiện mức hấp thu oxy tối đa trong
cơ thể
* Phương pháp tập luyện vòng tròn
Phương pháp tập luyện vòng tròn hiện đại mục đích để huấn luyện kỹ thuật và phát triển các tố chất thể lực Thông qua thay đổi các tham số huấn luyện của bài tập (thời gian, số lần lặp lại, cường độ vận động, thời gian nghỉ giữa…) Đem nội dung huấn luyện với các phương pháp sắp xếp thành các phương án để phát triển các tố chất khác nhau
Thực tiễn thể thao chứng minh rằng phương pháp tập luyện vòng tròn có nhiều tác dụng phát triển các tố chất thể lực khác nhau, đặc biệt là phát triển sức bền cơ bắp
Trên đây là cơ sở để đưa ra những bài tập cho VĐV bóng đá nam khối
10 nhằm phát triển sức bền chung Ngoài các phương pháp trên cần sử dụng các phương pháp khác như phương pháp tổng hợp (kết hợp giữa các phương pháp)
1.4 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi THPT
Do đối tượng nghiên cứu là VĐV khối 10 Vì vậy để có thể lựa chọn được những bài tập có hiệu quả phát triển sức bền chung cho các em đề tài đã tiến hành tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi
1.4.1 Đặc điểm sinh lý
Ở lứa tuổi 14, 15 các em biến đổi về cấu trúc cơ thể diễn ra không tương xứng, chiều cao tăng đáng kể do tứ chi dài ra
Trang 1818
Xu hướng phát triển không đồng đều dẫn đến các tỷ lệ thân thể đã hình thành ở lứa tuổi trước đây thay đổi, cột sống và tứ chi dài ra nhanh, các xương lồng ngực dài chậm, lồng ngực thở lên hẹp so với chiều cao
Sự phát triển cơ bắp và xương mất cân đối xương tăng độ dài nhanh hơn phát triển của cơ bắp
Khi xem xét đặc điểm sinh lý các thời kỳ phát triển của cơ thể, có hai đặc điểm chính cần lưu tâm đó là sự phát triển không đồng đều xen kẽ giữa các thời kỳ phát triển nhanh và các thời kỳ phát triển tương đối chậm và ổn định các cơ quan và hệ cơ quan phát triển không đồng thời với nhau có cơ quan phát triển nhanh có cơ quan phát triển chậm
Từ 15- 16 tuổi cơ thể chuyển tiếp sang thời kỳ chuyển tiếp mới, ở lứa tuổi này nhịp độ phát triển chiều cao chậm dần, nhịp độ phát triển trọng lượng tăng lên Cơ thể đã phát triển tương đối hoàn thiện, sức mạnh cơ bắp và khả năng phối hợp vận động được nâng lên rõ rệt
Ở lứa tuổi này tỷ lệ khối lượng cơ tim và cơ các mạch máu đã đạt đến tiêu chuẩn, tần số nhịp tim và huyết áp đã đạt gần mức của người lớn, hoạt động của tim ổn định hơn Tần số co bóp của tim giảm dần theo lứa tuổi, nếu
ở trẻ sơ sinh là 135 - 140 lần/ phút thì đến 14 - 16 tuổi tần số này giảm xuống còn 70 - 80 lần/ phút
Đến lứa tuổi này phát triển thể hình đã hoàn thiện, kích thước não và hành tủy đạt đến mức của người trưởng thành Hệ thần kinh trung ương đã phát triển đầy đủ, do đó hoạt động tổng hợp và phân tích đã tốt hơn Hệ thống tín hiệu thứ hai đã phát triển đạt đến mức hoàn thiện thể hiện không những ở ngôn ngữ viết và cả ngôn ngữ bên trong cũng biểu hiện rất đa dạng Trong lúc khối lượng của não tăng lên không nhiều so với thời kỳ trước thì cơ cấu bên trong của tế bào não trở nên phức tạp hơn nhiều, các sợi thần kinh liên hệ tăng
Trang 1919 lên, các quá trình hưng phấn và ức chế cũng như mối liên hệ lẫn nhau giữa chúng được hoàn thiện
Nói chung, ở lứa tuổi 14 - 16 là thời kỳ phát dục thứ hai của cơ thể nên rất thuận lợi cho sự phát triển các tố chất thể lực đặc biệt là sức bền ưa khí Theo sinh lý học thể dục thể thao thì ở lứa tuổi 12 - 15 là thời kỳ nhạy cảm phát triển sức bền yếm khí và từ 14 - 16 là thời kỳ nhạy cảm phát triển sức bền ưa khí Do vậy trong huấn luyện sức bền cho VĐV bóng đá thời kỳ này là rất thuận lợi
1.4.2 Đặc điểm tâm lý
Tuổi thanh niên là thời kỳ phát triển đầy đủ nhất các chức năng tâm lý, là
thời kỳ nhân cách con người được hình thành cơ bản và có tính độc lập cao
Trong thời kỳ này có những biến đổi mạnh mẽ trong việc nhận thức có liên quan đến sự thay đổi những năng lực thể chất, trí tuệ Ở lứa tuổi 16 do những biến đổi về sinh học, cấu trúc cơ thể diễn ra không tương xứng đồng thời nên các cử động có phần vụng về Ở lứa tuổi 16 khả năng tiếp thu động tác kém hơn ở lứa tuổi 12 - 13 Tuy vậy khi đến 16 tuổi tốc độ, độ chính xác,
sự phối hợp động tác, độ bền vững của những định hình động lực đạt mức phát triển như người lớn Cấu trúc phức tạp của vỏ não được hoàn thiện, trên
vỏ não đã tạo nhiều hệ thống phức tạp của các đường liên hệ tạm thời Quá trình hưng phấn thường chiếm ưu thế so với quá trình ức chế Tuy nhiên trong giai đoạn này quá trình ức chế cũng được tăng cường Chức năng điều chỉnh
ức chế của vỏ bán cầu đại não rõ nét hơn Tuổi này khó có thể kiểm soát, khống chế mình kìm hãm các động tác không cần thiết
Hoạt động trí tuệ ở lứa tuổi này hoàn thiện hơn do phát triển tiếp tục của quá trình tâm lý như tri giác, biểu tượng, tư duy, trí nhớ, tưởng tượng và chú
ý Điều đó cho phép phát triển khả năng quan sát như là tri giác có mục đích
Trang 2020 Quá trình tư duy của các em đã trở lên logic, hệ thống rõ ràng có căn cứ,
có khả năng phân tích, so sánh tổng kết Các em có xu hướng đi sâu vào bản chất của hiện tượng, hiểu được nguyên nhân của nó và thích hợp các mối quan hệ, các sự vật hiện tượng riêng biệt vì thế các khái niệm trở nên đầy đủ
và sâu sắc hơn Do vậy, việc hình thành biểu tượng vận động chính xác ngay
từ đầu có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giảng dạy và huấn luyện
Tóm lại, ở lứa tuổi 16 các em có một số đặc điểm tâm sinh lý rất thuận lợi cho việc phát triển sức bền Song trong huấn luyện cũng cần phải chú ý những mặt chưa phát triển đầy đủ cũng như một số phẩm chất tâm lý chưa hoàn thiện của các em để từ đó việc lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao được hiệu quả huấn luyện sức bền cho các em
Trang 2121
Chương 2 Nhiệm vụ, phương pháp và tổ chức nghiên cứu
2.1 Nhiệm vụ nghiờn cứu
Để giải quyết mục đớch của đề tài nghiờn cứu, xỏc định giải quyết hai nhiệm vụ sau:
1 Đỏnh giỏ thực trạng sức bền chung của VĐV búng đỏ nam khối 10 Trường THPT Nguyễn Du - Hải Dương
2 Lựa chọn và đỏnh giỏ hiệu quả của một số bài tập nhằm nõng cao sức bền chung cho VĐV búng đỏ nam khối 10 Trường THPT Nguyễn Du - Hải Dương
2.2 Phương phỏp nghiờn cứu
Để giải quyết cỏc nhiệm vụ nghiờn cứu của đề tài đó sử dụng cỏc phương phỏp nghiờn cứu sau :
2.2.1 Phương phỏp phõn tớch và tổng hợp tài liệu
Sử dụng phương phỏp phõn tớch và tổng hợp tài liệu trong quỏ trỡnh nghiờn cứu với mục đớch thu thập những thụng tin cú liờn quan mang tớnh lý luận, sư phạm để tổng hợp, phõn tớch và hệ thống cỏc kiến thức đú, qua đú hỡnh thành cơ sở lý luận phục vụ cho việc nghiờn cứu đề tài Cỏc hướng nghiờn cứu phõn tớch và tổng hợp tài liệu đú là:
- Nghiờn cứu tài liệu, văn kiện của Đảng, Nhà nước, Bộ Giỏo dục và Đào tạo về chiến lược con người, về giỏo dục và TDTT, qua đú hỡnh thành cơ sở
lý luận phục vụ cho quỏ trỡnh nghiờn cứu
- Nghiờn cứu chương trỡnh mụn học Giỏo dục thể chất cấp THPT đổi mới năm 2000
Trang 222.2.2 Phương pháp quan sát sư phạm
Để việc nghiên cứu lựa chọn các bài tập phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tiến hành quan sát các buổi huấn luyện của một số đội bóng đá THPT thuộc địa bàn TP Hải Dương và các câu lạc bộ bóng đá trẻ Hải Dương nhằm rút ra thông tin cần thiết trong huấn luyện sức bền chung cho các cầu thủ bóng đá nam khối 10 Trường THPT Nguyễn Du
2.2.3 Phương pháp phỏng vấn tọa đàm
Trong các công trình nghiên cứu về thể dục thể thao phương pháp phỏng vấn được sử dụng khá rộng rãi nhằm trao đổi kinh nghiệm vốn hiểu biết sâu sắc của các chuyên gia về các lĩnh vực có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Trong đề tài này tiến hành phỏng vấn các đối tượng bằng phiếu hỏi đó là các cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng) trường THPT Nguyễn Du, giáo viên chủ nhiệm lớp thuộc trường THPT Nguyễn Du, giáo viên thể dục thể thao và các em học sinh thuộc trường THPT Nguyễn Du, các huấn luyện viên bóng đá trẻ TP Hải Dương Nội dung phiếu hỏi bao gồm: nguyên tắc lựa chọn bài tập, thời gian tập luyện, số buổi tập trong một tuần cũng như phỏng vấn bài tập được trình bày ở phần phụ lục
2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Phương pháp kiểm tra sư phạm là một trong những phương pháp quan trọng để tổng hợp số liệu giúp cho việc phân tích đánh giá cũng như kết quả thực nghiệm sư phạm Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực thực hành TDTT
Trang 2323 Trong đề tài sử dụng phương pháp này để kiểm tra thực trạng phát triển sức bền chung của các em bằng các test sau:
2.2.4.1 Test chạy 3000m
Cách thực hiện cho VĐV chạy hết 3000m tính thời gian thực hiện
2.2.4.2 Test PWC170 : Đánh giá hoạt động ở tần số mạch 170
Dụng cụ: Phòng thí nghiệm, bộ xe đạp lực kế, máy đo điện tim, đồng hồ bấm giây, giấy bút, máy gõ nhịp, thuốc men cấp cứu khi cần thiết
Trang 2424 2.2.4.3 Test step:
Dụng cụ: 1 bệ gỗ (20 x 16 x 18inch - tương đương: 50,8cm x 40,64cm x 45,72cm); 1 đồng hồ bấm giây; một máy gõ nhịp
Cách thực hiện đặt bục gỗ cạnh thang gióng, chiều cao 40,64cm vuông góc với thang, cao 50,8cm Khi bước lên bục tay vị thang gióng ngang vai; bước theo nhịp 30 lần/phút lên xuống tới khi mệt hoàn toàn hoặc tối thiểu 5 phút
Cách đánh giá: sau khi kết thúc, tiến hành đo mạch ở 1 phút - 1,5 phút, 2 phút - 2,5 phút, 3 phút - 3,5 phút sau vận động Kết quả đưa vào công thức:
)(
2
100
3 2
f t
H Trong đó : H là chỉ số haward
t là thời gian thực hiện
f1 là mạch 30” đầu của phút hồi phục 1
f2 là mạch 30” đầu của phút hồi phục 2
f3 là mạch 30” đầu của phút hồi phục 3
Trang 2525 Test chạy 3000m, Test PWC170, Test Step để kiểm tra trên 24 VĐV bóng đá nam khối 10 Trường THPT Nguyễn Du - Hải Dương
2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm khoa học là phương pháp có tính khoa học và khách quan đồng thời có giá trị thuyết phục cao nếu thực nghiệm được tổ chức chặt chẽ
và sát thực Phương pháp thực nghiệm có nhiều loại như thực nghiệm đơn, thực nghiệm so sánh, thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, thực nghiệm trong giảng dạy và huấn luyện…trong đề tài này tiến hành thực nghiệm sư phạm, theo hình thức thực nghiệm kép hay còn gọi là thực nghiệm so sánh
Đối tượng là 24 VĐV bóng đá nam khối 10 Trường THPT Nguyễn Du - Hải Dương
2.2.6 Phương pháp toán học thống kê
Từ khi toán học thống kê được hình thành và phát triển, đã ngày càng được sử dụng rộng rãi vào các lĩnh vực nghiên cứu khoa học trong đó có lĩnh vực nghiên cứu khoa học TDTT
Trong xử lí số liệu và đánh giá kết quả, vận dụng những công thức toán học thống kê vào quá trình ngiên cứu
- Tính giá trị trung bình (ký hiệu x)
n
i x
B B A
A
n n
x x x
x
- So sánh 2 số trung bình ở mẫu bé (n < 30) :
Trang 2626
B A
B A
n n
x x t
2 2
Trong đó : xi : Là giá trị quan sát của từng cá thể
x : Là giá trị trung bình của tập hợp mẫu 2 : Phương sai
nA : Số lượng đối tượng quan sát nhóm A
nB : Số lượng đối tượng quan sát nhóm B
n : Số lượng đối tượng quan sát
x A : Là giá trị trung bình của nhóm A
xB : Là giá trị trung bình của nhóm B