1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội

56 343 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 427,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thấy được ý nghĩa xã hội to lớn của hoạt động TDTT mà Đảng và Nhà nước ta đã xác định, giáo dục thể chất GDTC trong sự nghiệp giáo dục là một nhân tố không thể thiếu trong quá trình phát

Trang 1

Trường Đại học sư phạm hà Nội 2 Khoa giáo dục thể chất

Trương Văn Binh

Lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh khối 11 trường THPT

Nguyễn văn Cừ - Hà Nội

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Hà Nội - 2011

Trang 2

Trường Đại học sư phạm hà Nội 2 Khoa giáo dục thể chất

Trương Văn Binh

Lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh khối 11 trường THPT

Hà Nội - 2011

Trang 3

Lời cam đoan

Tên tôi là Trương Văn Binh

Sinh viên lớp K33 khoa GDTC trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cam

đoan kết quả nghiên cứu của đề tài là do tôi làm Kết quả nghiên cứu này mang tính thời sự, cấp thiết và phù hợp với điều kiện khách quan của trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2011

Sinh viên

Trương Văn Binh

Trang 4

Danh mục các từ viết tắt

Gdtc : Giáo dục thể chất Tdtt : Thể dục thể thao Thpt : Trung học phổ thông

Vđv : Vận động viên

tn : Thực nghiệm

đc : Đối chứng HLV : Huấn luyện viên

Trang 5

Danh mục bảng biểu

Bảng 3.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Gia Lâm

Bảng 3.4 Kết quả phỏng vấn các thầy cô giáo việc sử dụng bài tập trong giảng

dạy kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội (n= 15)

Bảng 3.5 Kết quả học tập môn nhảy cao nằm nghiêng của nam học sinh khối 11

trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội

Bảng 3.6 Kết quả phỏng vẫn những sai lầm thường mắc và nguyên nhân dẫn tới

những sai lầm khi học kỹ thuật giai đoạn giậm nhảy của kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng (n = 15)

Bảng 3.7 Kết quả phỏng vấn các bài tập trong giảng dạy kỹ thuật giậm nhảy của

kiểu nhảy cao nằm nghiêng ( n = 16)

Bảng 3.8 Kết quả phỏng vấn đội ngũ giáo viên TDTT về việc lựa chọn các test

đánh giá bài tập bổ trợ nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy cho đối tượng nghiên cứu (n = 14)

Bảng 3.9 Tiến trình giảng dạy

Bảng 3.10 Kết quả kiểm tra 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng trước thực

nghiệm (nA= nB= 35)

Bảng 3.11 Kết quả kiểm tra 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng sau thực

nghiệm(nA= nB= 35)

Trang 6

Bảng 3.12 Bảng tổng kết điểm nhảy cao của hai nhóm đối chứng và thực

nghiệm trước thực nghiệm (n = 35)

Bảng 3.13 Bảng tổng kết điểm nhảy cao của hai nhóm đối chứng và thực

nghiệm sau thực nghiệm (n = 35)

Biểu đồ 1: Thành tích bật xa tại chỗ (cm)

Biểu đồ 2: Thành tích nhảy cao toàn đà (cm)

Biểu đồ 3: Thành tích chạy 30m xuất phát cao (giây)

Trang 7

MụC LụC

Trang

Đặt vấn đề .1

Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu .5

1.1 Khái niệm về kĩ thuật, vai trò của kĩ thuật điền kinh .5

1.2 Khái niệm, vai trò và tác dụng của bài tập chuyên môn .6

1.3 Xu thế nghiên cứu sử dụng các phương tiện bài tập chuyên môn trong thể

thao nói chung và trong giảng dạy môn nhảy cao nằm nghiêng nói riêng .7

1.4 Cơ sở sinh lý của các tố chất thể lực 9

1.5 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh THPT 16

Chương 2 Nhiệm vụ, phương pháp và tổ chức nghiên cứu .19

2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu .19

2.2 Phương pháp nghiên cứu 19

2.3 Tổ chức nghiên cứu 21

Chương 3 Phân tích kết quả nghiên cứu 24

3.1 Đánh giá thực trạng công tác GDTC và việc sử dụng bài tập chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội 24

3.2 Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập chuyên môn nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng của nam học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Gia Lâm - Hà Nội 32

Kết luận và kiến nghị .45

Tài liệu tham khảo 47

Phụ lục

Trang 8

ĐặT VấN Đề

Trong xu thế hội nhập kinh tế, Quốc tế, sự bùng nổ của công nghệ thông tin truyền thông cùng với sự phát triển mạnh mẽ ở đất nước ta Nó càng phải đòi hỏi mỗi chúng ta phải không ngừng cố gắng để đáp ứng với sự nghiệp của thời đại Chính vì vậy, TDTT là một hoạt động không thể thiếu trong đời sống xã hội loài người Ngay từ khi mới ra đời nó đã trở thành một bộ phận hữu cơ của nền văn hoá xã hội, là phương tiện giáo dục thể chất góp phần phát triển toàn diện nhân cách, nâng cao sức khoẻ phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Hoạt động TDTT không chỉ đem lại sự thoả mãn về nhu cầu tinh thần và thể chất mà thông qua TDTT chúng ta có thể đánh giá được sự phát triển văn hoá thể chất của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, nó còn là phương tiên giao lưu mở rộng quan hệ với các quốc gia trên thế giới, là niềm tự hào dân tộc, cũng như sự khẳng định vị thế của mình trên vũ đài quốc tế Thấy được ý nghĩa xã hội

to lớn của hoạt động TDTT mà Đảng và Nhà nước ta đã xác định, giáo dục thể chất (GDTC) trong sự nghiệp giáo dục là một nhân tố không thể thiếu trong quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách của mỗi học sinh, sinh viên, vận động viên (VĐV) nói riêng, cho mỗi người dân nói chung nó có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển con người toàn diện phù hợp với thời đại công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Trong tình hình đất nước đổi mới và phát triển, thể thao Việt Nam đã và

đang phát triển lớn mạnh Được sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, ngành TDTT đã bước sang giai đoạn phát triển Vì vậy một trong những công tác trọng tâm của công cuộc đổi mới chung của toàn ngành là tổ chức đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn giỏi, huấn luyện viên có trình độ chuyên môn tốt, đào tạo những tài năng thể thao thúc đẩy phong trào TDTT phấn đấu đạt thứ hạng cao tại các kì thi đấu trong khu vực và quốc tế Những thành tích thể thao mà chúng ta đã đạt được tại các kì Seagams, Asia Là những dấu hiệu khả

Trang 9

quan cho tương lai thể thao của nước nhà Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII cũng khẳng định: “Công tác thể

dục thể thao coi trọng và nâng cao chất lượng GDTC trong các trường học, tổ

chức, hướng dẫn và vận động nhân dân tham gia rèn luyện hàng ngày Nâng cao

chất lượng các cơ sở giáo dục và đào tạo”[14]

Do có tầm quan trọng và những lợi ích to lớn mà Đảng và Nhà nước đã đặc

biệt quan tâm tới lĩnh vực TDTT Vì vậy, Chỉ thị 112 của Hội đồng bộ trưởng

ngày 09/06/1989 về công tác thể dục thể thao trong những năm trước mắt[5] và

Chỉ thị 36CT-TƯ của Ban Bí thư trung ương Đảng về công tác TDTT trong giai

đoạn mới ra đời là cần thiết[4] Nghị quyết trung ương II về công tác giáo dục

đào tạo lại càng khẳng định giáo dục thể chất trong trường học là cực kỳ quan

trọng.[9]

Trong mục tiêu đào tạo con người toàn diện về: Đức, trí, thể, mĩ cho thế hệ

trẻ tương lai của đất nước Tại Hội nghị TW4 khoá VIII về đổi mới công tác giáo

dục đào tạo, trong Nghị quyết có ghi: Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể

chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức… Đã khẳng định mục tiêu

giáo dục là nhằm giáo dục và hình thành nhân cách, tăng cường thể lực cho học

sinh, sinh viên Vì vậy, chúng ta phải phấn đấu thực hiện kế hoạch củng cố, xây

dựng và phát triển phong trào TDTT trong những năm đầu của thế kỉ XXI đưa thể

thao Việt Nam hoà nhập, đua tranh với các nước trong khu vực và thế giới[8]

Ngày 7/8/1995 Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị 133/TTg nêu rõ yêu cầu đối

với Tổng cục TDTT cũng là UBTDTT - Việt Nam tỉnh thành và mã ngành có liên

quan: “Ngành TDTT phải xây dựng định hướng phát triển có tính chiến lược,

trong đó quy định rõ các hình thức hoạt động mang tính phổ cập đối với mọi đối

tượng lứa tuổi tạo thành phong trào tập luyện rộng rãi của quần chúng, khoẻ để

xây dựng và bảo vệ tổ quốc”[6]

Trong đó GDTC là một bộ phận hết sức cần thiết nó gắn liền và góp phần

vào mục tiêu giáo dục và đào tạo, có vai trò quan trọng để chuẩn bị thể lực chung

cho học sinh, đồng thời GDTC còn giúp rèn luyện ý chí, tinh thần dũng cảm, ý

Trang 10

thức tổ chức kỉ luật và là một trong những nội dung đánh giá tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh Không chỉ vậy, GDTC trong nhà trường THPT nhằm từng bước nâng cao trình độ văn hoá, thể chất và thể thao cho người học, góp phần vào sự nghiệp TDTT của đất nước trong khu vực và quốc tế

Điền kinh là một môn thể thao đa dạng và phong phú Nó bao gồm các hoạt

động tự nhiên của con người như: Đi bộ, chạy, nhảy và nhiều môn phối hợp

Điền kinh được coi là một bộ phận giảng dạy chính thức trong các trường, các cấp từ cơ sở đến cấp trung học trong các trường dạy nghề, cao đẳng, đại học Nó vừa là môn học rất cơ bản và làm tiền đề cho các môn học khác, mặt khác nó

đánh giá thực tiễn về các chỉ tiêu rèn luyện thân thể của học sinh, sinh viên Khi tập luyện điền kinh sẽ làm cho cơ thể biến đổi rõ rệt về hình thái chức năng cũng như các tố chất thể lực, tập luyện điền kinh không đòi hỏi sân bãi, dụng cụ phức tạp, người tập có thể tận dụng mọi địa hình, địa phận Do đó, môn thể thao này cũng thu hút đông đảo mọi tầng lớp, đối tượng tham gia tập luyện Đặc biệt, là cơ

sở, nền tảng cho sự phát triển thể chẩt trong các trường học, các cấp học và đây cũng chính là cơ sở sớm phát hiện ra tài năng trẻ của nước nhà

ở nước ta bộ môn điền kinh ra đời và phát triển cũng rất sớm song nó chỉ thực sự phát triển mạnh từ sau năm 1975 cả về số lượng và chất lượng Thành tích môn thể thao nói chung và điền kinh nói riêng được chi phối bởi 2 yếu tố chủ yếu là:

- Trình độ kỹ thuật

- Trình độ thể lực

Hai yếu tố trên quan hệ rất mật thiết và khăng khít nhau, tác động qua lại hỗ trợ cho nhau Do vậy trong thực tế để có được thành tích nhảy cao tốt, người tập ngoài việc có kỹ thuật và thể lực tốt cần phải biết kết hợp giữa kỹ thuật và thể lực

Môn điền kinh thật phong phú và đa dạng song môn thi đấu nhảy cao là môn rất hấp dẫn, nó được phát triển từ rất sớm với nhiều kỹ thuật khác nhau, mục

đích của con người là vượt qua được chướng ngại vật, từ chạy đà theo phương

Trang 11

nằm ngang sang giậm nhảy theo phương thẳng đứng Nhảy cao là môn thể thao không có chu kỳ, nó gồm nhiều động tác khó và phức tạp đòi hỏi người tập phải

có kỹ năng phối hợp vận động.Thành tích của nhảy cao phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó kỹ thuật chạy đà và giậm nhảy cũng như thể lực vận động là quyết định nhưng giậm nhảy là yếu tố cơ bản quyết định đến thành tích Mục

đích của giậm nhảy là đưa được trọng tâm cơ thể lên cao nhất để thực hiện kỹ thuật tiếp theo, cho nên việc học tập để hoàn thiện kỹ thuật giậm nhảy là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình huấn luyện, giảng dạy kỹ thuật nhảy cao cho vận động viên và học sinh

Thông qua một số buổi quan sát và kết quả nhảy cao của học sinh ở một số trường trong thành phố Hà Nội, chúng tôi nhận thấy thành tích và hiệu quả đạt

được chưa cao Nguyên nhân chính là do chưa phát huy được hiệu quả kỹ thuật giậm nhảy, tồn tại nguyên nhân đó là do chưa có đủ dụng cụ sân bãi đáp ứng yêu cầu tập luyện của môn học, đội ngũ giáo viên còn hạn chế, số học sinh nhiều Vì vậy, việc giảng dạy kỹ thuật còn hạn chế và kết quả chưa cao

Xuất phát từ lý do trên, để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà

trường nói chung và một số trường nói riêng, Tôi lựa chọn đề tài “Lựa chọn các bài tập chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội”

* Mục đích nghiên cứu: Dựa trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn chúng

tôi ứng dụng các bài tập chuyên môn sao cho phù hợp với điều kiện lứa tuổi, giới tính… nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội

Trang 12

Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 1.1 Khái niệm về kỹ thuật, vai trò của kỹ thuật điền kinh

Kỹ thuật là hệ thống các cử động, các thao tác được thực hiện để giúp người tập hoàn thành nhiệm vụ vận động với hiệu quả cao nhất.[3]

Để đạt được thành tích tốt nhất trong điền kinh, vận động viên phải có kỹ thuật thực hiện động tác hợp lý và hiệu quả tốt nhất Kỹ thuật phải phù hợp với

đặc điểm cá nhân của vận động viên và điều kiện thực hiện động tác

Thành tích thể thao cao phải dựa trên sự huấn luyện kỹ thuật, thể lực cho vận động viên Để nắm được kỹ thuật, vận động viên phải có sức mạnh, sức nhanh, sức bền, độ mềm dẻo và sự khéo léo được phát triển ở mức cao

Một trong những điều kiện cơ bản để nắm vững kỹ thuật thể thao có hiệu quả là sự tự giác của vận động viên trong tất cả các giai đoạn hoàn thiện, phải tìm hiểu, suy luận để hiểu rõ kỹ thuật mà mình áp dụng là thực sự hợp lý hay chưa

Trong điều kiện hiện nay, khi trình độ thành tích thể thao ở mức rất cao, nếu không nghiên cứu sâu để hoàn thiện kỹ thuật thì không thể đạt được thành tích cao, nhất là đối với những môn có kỹ thuật phức tạp Việc hoàn thiện kỹ thuật được tiếp tục trong suốt quá trình huấn luyện Huấn luyện không được bỏ qua việc dạy các thành phần kỹ thuật riêng lẻ, khắc phục các sai sót trong kỹ thuật Vốn dự trữ kỹ năng vận động được tạo nên thông qua việc áp dụng các bài tập huấn luyện chung và huấn luyện chuyên môn khác nhau Điều quan trọng là phải tính đến mối quan hệ hữu cơ giữa việc phát triển các tố chất thể lực với việc tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật

Nội dung chủ yếu trong việc hoàn thiện kỹ thuật các môn điền kinh là các phương pháp và phương tiện tạo nên khái niệm đúng về động tác, nắm vững các

động tác thực hành, đánh giá được mình thực hiện, xác định được sai lầm và tìm cách sửa chữa

Trang 13

1.2 Khái niệm, vai trò và tác dụng của bài tập chuyên môn

Còn theo lý luận và phương pháp giáo dục thể dục thể thao của Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn và các cộng sự thì cho rằng: Bài tập chuyên môn là các bài tập phức hợp các yếu tố của động tác thi đấu cùng các biến dạng của chúng cũng như các bài tập dẫn dắt tác động có chủ định và có hiệu quả ở chính ngay môn thể thao đó[10]

Các khái niệm trên tuy có khác nhau về cách trình bày nhưng luôn có sự thống nhất về ý nghĩa Như vậy, có thể chốt lại về khái niệm bài tập chuyên môn

là các bài tập mang tính chất chuẩn bị, tính dẫn dắt, tính chuyển đổi và tính thể lực chuyên biệt cho từng kỹ thuật và từng môn thể thao khác nhau

1.2.2 Vai trò và tác dụng của bài tập bổ trợ chuyên môn

Theo các nhà khoa học, các chuyên gia, huấn luyện viên thể thao thì các bài tập chuyên môn là biện pháp quan trọng trong giảng dạy và huấn luyện kỹ thuật

Một kỹ thuật thường được cấu trúc các chuỗi động tác gắn kết có trình tự,

có sự liên quan phối hợp lẫn nhau Thúc đẩy hoặc hạn chế nhau để cùng thực hiện yếu lĩnh kỹ thuật động tác nào đó, một kỹ thuật thường gắn nhiều khâu, nhiều cử động, nhiều giai đoạn nên cùng một lúc người học không thể hình thành ngay các khái niệm cũng như tạo ra các đường mòn liên hệ trên vỏ đại não các cử động đó Do vậy, người ta phân chia nhỏ kỹ thuật phức tạp thành các giai

đoạn khác nhau

Trang 14

Trong nhảy cao, người ta phân kỹ thuật ra thành 4 giai đoạn là: Chạy đà, giậm nhảy, trên không qua xà và tiếp đất

Trên cơ sở đó người học nắm bắt được từng phần sau đó liên kết lại thành

kỹ thuật hoàn chỉnh ở mỗi giai đoạn kỹ thuật, để giúp người học hình thành

được kỹ thuật người ta sử dụng các bài tập khác nhau:

- Mang tính chuẩn bị nhằm đưa người tập vào trạng thái sinh lí tâm lí thích hợp với việc tiếp thu kỹ thuật

- Mang tính dẫn dắt nhằm làm cho người tập nắm được các yếu lĩnh từ dễ

đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đến hoàn thiện một kỹ thuật

- Mang tính chuyển đổi từ động tác này sang động tác khác với các không gian và thời gian khác nhau nhằm tạo ra sự lợi dụng các kỹ năng đã có hình thành ra các kỹ năng mới

Và có thể đáp ứng cho người học thực hiện thuận lợi các kỹ năng đang học, người ta còn cần tập các bài tập chuyên môn cho người tập Muốn giậm nhảy tốt, người tập phải có sức mạnh bột phát của chân giậm nhảy kết hợp đặt chính xác chân giậm giậm vào vị trí giậm nhảy cũng như tốc độ chạy đà, tư thế thân người có góc độ của chân giậm nhảy Vì vậy, đi đôi với các bài tập chuyên môn về kỹ thuật, người ta cũng chú trọng đưa vào trong quá trình giảng dạy huấn luyện các bài tập để tăng cường một số tố chất thể lực chuyên môn vừa là biện pháp để nắm kỹ thuật phức tạp và khó, vừa là một khâu quan trọng để thúc đẩy nhanh quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động

1.3 Xu thế nghiên cứu sử dụng các phương tiện bài tập chuyên môn trong thể thao nói chung và trong giảng dạy môn nhảy cao nằm nghiêng nói riêng

Do vai trò tác dụng của to lớn nói trên bài tập chuyên môn đối với quá trình giảng dạy và huấn luyện kỹ thuật nên nhiều nước có nền công nghiệp hiện

đại đã đầu tư cải tiến, vận dụng những thành quả của ngành khoa học kỹ thuật để tạo ra nhiều các bài tập chuyên môn

Trang 15

Nhìn chung, người ta có thể thấy các xu thế nghiên cứu sử dụng bài tập chuyên môn sau:

* Nghiên cứu phát triển công cụ và phương tiện để sử dụng cho các bài tập chuyên môn

Các cuộc thi chính thức khởi nguồn lịch sử môn Nhảy cao lần đầu tiên có

từ hơn 100 năm trước Ngày đó môn Nhảy cao chủ yếu diễn ra trên hố cát và các

đường chạy bằng đất nện hoặc sỉ than, các kỹ thuật còn nghèo nàn, công cụ và phương tiện tập luyện còn hạn chế Do vậy, các hình thức của các bài tập chuyên môn cũng đơn điệu, nghèo nàn Nhờ có khoa học phát triển, nên có sự ra đời của các dụng cụ và máy móc tập luyện khác nhau làm cho các bài tập càng đa dạng phong phú hơn, đáp ứng các mục đích có yêu cầu chuyên biệt của các môn thể thao

* Tận dụng các phương tiện về ánh sáng, âm thanh tăng hiệu quả các bài tập chuyên môn

Hiện nay, các nhà khoa học đã phát hiện thấy mối quan hệ giữa các giác quan thuộc xúc giác, thính giác, thị giác, khứu giác, vị giác, đều có tác động quan trọng tới việc nắm bắt kỹ năng, kỹ xảo và phát triển các tố chất vận động Vì vậy, nhiều chuyên gia thể thao đã dùng ánh sáng hoặc âm thanh, tác động vào tâm lí cũng như quá trình hưng phấn của người tập giúp cho tập luyện đạt hiệu quả cao

* Xu thế tập luyện bài tập chuyên môn theo nhịp sinh học của người tập

Nhịp sinh học được hai nhà khoa học người Mỹ đề xuất vào thế kỷ 19 Theo hai ông, nếu tính từ ngày sinh thì cứ 23 ngày là một chu kỳ thể lực, 28 ngày là một chu kỳ tình cảm và 33 ngày là một chu kỳ trí lực Nếu tập luyện vào nhịp sinh học cao nhất của thể lực, trí lực hoặc tình cảm thì hiệu quả sẽ cao hơn, còn các ngày khác cần có sự tập luyện vào thời điểm nhịp sinh học cao sẽ có hiệu quả cao

Trang 16

Tóm lại, các xu thế nói trên để nâng cao hiệu quả các bài tập chuyên môn

đang ngày càng được các nước có nền thể thao tiên tiến sử dụng rộng rãi trong quá trình giảng dạy và huấn luyện thể thao Họ coi đó là những biện pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy và huấn luyện các môn thể thao nói chung và môn Nhảy cao nói riêng

1.4 Cơ sở sinh lý của các tố chất thể lực

Kỹ năng vận động: Là khả năng điều khiển các động tác ở mức độ còn phải tập trung ý thức vào các thao tác, cách thức thực hiện và động tác chưa ổn

định.[7]

Kỹ năng vận động là tổ hợp các động tác vận động trong cuộc sống cá thể

do tập luyện TDTT

Kỹ xảo vận động là khả năng điều khiển có tính chất tự động hoá với các

động tác trong hành vi vận động toàn vẹn và động tác được tiến hành với độ vững chắc cao

* Kỹ năng vận động được hình thành theo 3 giai đoạn:

- Lan toả: Là hưng phấn lan rộng trên vỏ đại não, vì chưa hình thành được một tổ hợp các phản xạ tối ưu Nhiều nhóm cơ không cần thiết cũng tham gia hoạt động Động tác vì vậy không chính xác, nhiều cử động thừa, không tinh tế

- Tập trung: Là hưng phấn tập trung ở những vùng nhất định trên vỏ não, cần thiết cho vận động Các vận động thừa mất đi, cơ năng và co bóp ở mức độ hợp lí, động tác trở nên nhịp nhàng, chính xác và thoải mái hơn Khả năng vận

động được hình thành tương đối ổn định

- Giai đoạn ổn định: Là không cần có sự chú ý của ý thức Khả năng vận

động ở giai đoạn này ổn định, cho phép thực hiện nhiều động tác khác nhau cùng một lúc

* Các tố chất vận động (tố chất thể lực): Trong sinh hoạt, lao động tập luyện TDTT, con người phải vận động nhanh, có lúc làm việc lâu dài với lực tương đối nhỏ, có lúc thực hiện các động tác mang vác rất nặng, thể hiện các mặt

Trang 17

khác nhau của khả năng vận động được gọi là tố chất vận động hay tố chất thể lực

Năng lực vận động của con người được thể hiện qua 4 loại tố chất sau:

* Sức mạnh là khả năng khắc phục trọng tải bên ngoài bằng sự căng cơ

Sức mạnh cơ bắp phụ thuộc vào đặc tính của quá trình thần kinh điều khiển.[7]

Sức mạnh mà cơ phát ra phụ thuộc vào:

- Số lượng đơn vị vận động (sợi cơ) tham gia vào căng cơ

- Chế độ co của các đơn vị vận động đó

- Chiều dài ban đầu của sợi cơ trước lúc co

Khi số lượng sợi co cơ là tối đa, các sợi cơ đều co theo chế độ co cứng và chiều dài ban đầu của sợi cơ là chiều dài tối ưu thì cơ sẽ co với lực tối đa lực đó gọi là sức mạnh tối đa Sức mạnh tối đa của một cơ phụ thuộc vào số lượng sợi cơ và tiết diện ngang của các sợi cơ

Trong thực tế, sức mạnh cơ của con người được đo khi co cơ tích cực, nghĩa là co cơ với sự tham gia của ý thức Vì vậy, sức mạnh mà chúng ta xem xét thực tế chỉ là sức mạnh tích cực tối đa, nó khác với sức mạnh tối đa sinh lý của cơ mà ta cũng có thể ghi được bằng kích thích điện lên cơ

Sức mạnh tích cực tối đa (sức mạnh tuyệt đối) của cơ chịu sự ảnh hưởng của hai yếu tố chính là:

- Các yếu tố trong cơ ở ngoại vi: Nhóm này gồm: Điều kiện cơ học của sự

co cơ, chiều dài ban đầu của cơ, độ dày (tiết diện ngang) của cơ, đặc điểm cấu tạo cả các loại sợi cơ chứa trong cơ

- Các yếu tố thần kinh trung ương điều khiển sự co cơ và phối hợp giữa các sợi cơ và cơ

Điều kiện cơ học của sự co cơ, chiều dài ban đầu của cơ là các yếu tố kỹ năng của hoạt động sức mạnh, hoàn thiện kỹ thuật động tác chính là tạo ra điều kiện cơ học và chiều dài ban đầu tối ưu cho sự co cơ Do sức mạnh cơ phụ thuộc

Trang 18

vào tiết diện ngang (độ dày), nên khi tiết diện ngang tăng lên thì sức mạnh cũng

tăng lên Tăng tiết diện ngang của cơ do tập luyện thể lực được gọi là phì đại cơ

Sợi cơ là một tế bào đặc biệt rất cao Vì vậy sợi cơ có thể phân chia để tạo

tế bào mới

Sự phì đại cơ xảy ra do số lượng và khối lượng các tơ cơ, tức là bộ máy co bóp của sợi cơ, đều tăng lên Quá trình tổng hợp đạm trong sợi cơ tăng lên, trong khi sự phân hủy của chúng lại giảm đi Hàm lượng ARN và AND trong cơ phì

đại tăng cao so với bình thường Hàm lượng creatin cao trong cơ khi hoạt động

có khả năng khích thích sự tổng hợp actin và myozin và như vậy thúc đẩy sự phì

đại cơ

Các yếu tố thần kinh trung ương điều khiển sự co cơ và phối hợp hoạt

động giữa các cơ trước tiên là khả năng chức năng của nơron thần kinh vận động, tức là mức độ phát xung động với tần số cao Như đã biết, sức mạnh tối đa phụ thuộc vào số lượng đơn vị vận động tham gia vào vận động Vì vậy, để phát lực lớn, hệ thần kinh cần phải gây hưng phấn ở rất nhiều nơron vận động Trên cơ sở các yếu tố nêu trên, cơ sở sinh lý phát triển sức mạnh là tăng cường số lượng đơn

vị vận động tham gia vào hoạt động, đặc biệt là các đơn vị vận động nhanh, chứa các sợi cơ nhóm II có khả năng phì đại cơ lớn Để đạt được điều đó, trọng tải phải lớn để gây hưng phấn mạnh đối với các đơn vị vận động nhanh có ngưỡng hưng phấn thấp Trọng tải đó phải không nhỏ hơn 70% sức mạnh tích cực tối đa

* Sức nhanh (tốc độ) là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng

thời gian ngắn nhất Sức nhanh có thể được biểu hiện bằng hình thức đơn giản hoặc hình thức phức tạp.[7]

Sức nhanh như một tố chất thể lực có thể biểu hiện ở dạng đơn giản và ở dạng phức tạp

Dạng đơn giản của sức nhanh bao gồm: Thời gian phản ứng, thời gian của một động tác đơn lẻ và tần số của hoạt động cục bộ

Trang 19

Dạng phức tạp của sức nhanh là thời gian thực hiện các hoạt động thể thao phức tạp khác nhau, như chạy 100m, tốc độ đấm trong quyền Anh, tốc độ dẫn bóng trong bóng đá…

Các dạng đơn giản của sức nhanh liên quan chặt chẽ với kết quả của sức nhanh của dạng phức tạp Thời gian phản ứng, thời gian của một động tác đơn lẻ hoặc tần số động tác cục bộ càng cao thì tốc độ thực hiện các hoạt động phức tạp

sẽ càng cao Song các dạng biểu hiện sức nhanh đơn giản lại phát triển tương đối

độc lập với nhau Thời gian phản ứng có thể rất tốt, nhưng động tác đơn lẻ lại chậm hoặc tần số của động tác lại thấp Vì vậy sức nhanh là yếu tố tổng hợp của

ba yếu tố cấu thành, là thời gian phản ứng, thời gian của động tác đơn lẻ và tần

Tốc độ co cơ phụ thuộc trước tiên vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơ chậm trong bó cơ Các cơ có tỷ lệ sợi cơ nhanh cao, đặc biệt là sợi cơ nhóm II - A có khả năng tốc độ cao hơn Tốc độ co cơ chịu ảnh hưởng của hàm lượng các chất cao năng ATP và CP Vì vậy khi hàm lượng ATP và CP trong cơ cao thì khả năng co cơ nhanh cũng tăng lên Tập luyện sức nhanh làm cho hàm lượng ATP

và CP trong các sợi cơ, nhất là sợi cơ nhanh II - A và II - B tăng lên, tốc độ co cơ còn phụ thuộc vào hoạt tính của men phân giải và tổng hợp ATP và CP

Trong các hoạt động TDTT, tốc độ và sức mạnh có liên quan mật thiết với nhau Mức độ phát triển sức mạnh ảnh hưởng rõ rệt đến sức nhanh Kết quả hoạt

Trang 20

động phụ thuộc không chỉ vào sức nhanh hay sức mạnh riêng lẻ mà phụ thuộc vào sự phối hợp hợp lý giữa hai tố chất Các hoạt động như vậy được gọi là hoạt

động, tăng cường sự phối hợp giữa các sợi cơ và các cơ, nâng cao tốc độ thả lỏng cơ Các yêu cầu nêu trên có thể đạt được bằng cách sử dụng các bài tập tần số cao, trọng tải nhỏ có thời gian nghỉ dài

* Sức bền là khả năng thực hiện lâu dài một hoạt động nào đó Nó thể

hiện khả năng chống đỡ của cơ thể với những biến đổi bên trong, xảy ra do hoạt

động cơ bắp kéo dài.[7]

Trong sinh lý thể thao, sức bền thường đặc trưng cho khả năng thực hiện các hoạt động thể lực kéo dài từ 2 - 3 phút trở lên, với sự tham gia của một khối lượng cơ bắp lớn (1/2 toàn bộ lượng cơ bắp của cơ thể), nhờ sự hấp thụ ôxy để cung cấp năng lượng cho cơ chủ yếu hoặc hoàn toàn bằng con đường ưa khí Như vậy sức bền trong thể thao là khả năng thực hiện lâu dài hoạt động cơ bắp toàn thân hoàn toàn hoặc chủ yếu mang tính ưu khí Đó là tất cả các hoạt động ưa khí như chạy 1500m trở lên, đi bộ thể thao, đua xe đạp đường dài…

Sức bền phụ thuộc vào: Khả năng hấp htụ ôxy tối đa VO2 max của cơ thể

và khả năng duy trì lâu dài mức hấp thụ ôxy cao Mức hấp thụ ôxy tối đa của một người quyết định khả năng làm việc trong điều kiện ưa khí của họ VO2 max càng cao thì công suất hoạt động ưu khí tối đa sẽ càng lớn

Khả năng hấp thụ ôxy tối đa được quyết định bởi khả năng của hai hệ thống chức năng chính là: Hệ vận chuyển ôxy đảm nhiệm vai trò hấp thụ ôxy từ

Trang 21

môi trường bên ngoài và vận chuyển ôxy đến cơ và các cơ quan của cơ thể, hệ cơ

là hệ sử dụng ôxy được cung cấp

Hệ vận chuyển ôxy bao gồm hệ hô hấp ngoài, máu và tim - mạch Chức năng của mỗi bộ phận trong cả hệ thống này, cuối cùng đều quyết định khả năng vận chuyển ôxy của cơ thể

Hệ hô hấp là khâu đầu tiên của hệ vận chuyển ôxy Hệ hô hấp đảm bảo việc trao đổi khí giữa không khí bên ngoài và máu, tức là làm cho phân áp ôxy trong máu động mạch được duy trì ở mức cần thiết để cung cấp cho cơ và các cơ quan

Công suất và hiệu quả của hệ hô hấp ngoài tăng lên Sự tăng công suất và hiệu quả của hô hấp ngoài xảy ra trước tiên là do lực và sức bền của các cơ hô hấp đều tăng lên Điều đó làm cho độ sâu hô hấp tăng lên đáng kể và tần số hô hấp, ngược lại, giảm đi Các biến đổi nêu trên cuối cùng làm cho thông khí phổi, tức là lượng không khí ra vào phổi một phút tăng lên

Hệ máu Thể tích máu và hàm lượng hemoglobin quyết định khả năng vận chuyển ôxy của cơ thể, vì như ta đã biết ôxy được vận chuyển từ phổi đến các tổ chức bằng cách kết hợp với hemoglobin của hồng cầu

Trong quá trình tập luyện sức bền hàm lượng axit lactic trong cơ và máu khi thực hiện các bài tập ưa khí dưới dạng tối đa giảm đi Hàm lượng axit lactic trong máu của VĐV luyện tập sức bền dưới tối đa như vậy thấp hơn so với người thường và VĐV các môn thể thao khác hàm lượng axit lactic thấp của VĐV tập luyện sức bền do các yếu tố sau đây quyết định:

- Cơ bắp của VĐV tập luyện sức bền có khả năng trao đổi chất ở điều kiện hàm lượng ôxy cao, vì vậy, chúng ít sử dụng cách cung cấp năng lượng yếm khí,

có nghĩa là ít tạo ra axit lactic hơn ở người thường

- Hệ vận chuyển ôxy (hô hấp, máu, tuần hoàn) của VĐV sức bền thích nghi với vận động nhanh hơn do đó cung cấp ôxy đầy đủ cho cơ thể

- Các VĐV tập luyện sức bền có tỷ lệ các sợi cơ chậm cao và cơ tim phát triển Các sợi cơ chậm và cơ tim có khả năng sử dụng axit lactic để làm nhiên

Trang 22

liệu cung cấp năng lượng rất tốt Vì vậy làm cho lượng axit lactic trong cơ và máu giảm đi

Như vậy tập luyện sức bền không chỉ làm tăng khả năng hấp thụ ôxy tối

đa, mà còn làm giảm hàm lượng axit lactic trong máu và như vậy làm tăng khả năng hoạt động ưa khí kéo dài của cơ thể Đó là một trong những cơ chế quan trọng nhất để nâng cao sức bền của VĐV

Tập luyện sức bền lâu dài làm cho tim biến đối theo hai hướng: Giãn buồng tim bà phì đại cơ tim Giãn buồng tim làm cho lượng máu chứa trong các buồng tim tăng lên Đó là yếu tố quan trọng để tăng thể tích tâm thu khi cần thiết Phì đại cơ tim làm tăng lực co bóp của tim, tức là làm tăng thể tích tâm thu

Về mặt chức năng, tập luyện sức bền làm giảm tần số co bóp của tim khi yên tĩnh Giảm nhịp tim là hiện tượng đặc trưng cho mức độ phát triển của sức bền Sự giảm nhịp tim làm cho tim hoạt động kinh tế, ít tiêu hao năng lượng hơn

và có thời gian nghỉ dài hơn

Quá trình tập luyện thể lực làm biến đổi sự bổ máu giữa các cơ quan hoạt

động và không trực tiếp hoạt động Vì vậy mà lượng máu đi đến các cơ bắp trong thời gian vận động ở VĐV sẽ nhiều hơn ở người thường ở các VĐV tập luyện sức bền, khả năng khuyếch tán các chất ôxy qua màng mao mạch cũng tăng lên Vì vậy lượng ôxy mà cơ có thể nhận được cao hơn

Qua việc xem xét đặc điểm của hệ vận chuyển ôxy và hệ sử dụng ôxy trong vận chuyển sức bền ta thấy rằng, tập luyện sức bền gây được hai hiệu quả cơ bản là: Nâng cao khả năng ưa khí tối đa của cơ thể nâng cao hiệu quả (tính kinh tế) hoạt động của cơ thể trong hoạt động với công suất lâu dài Để phát triển sức bền cần phải có sự phối hợp tối ưu giữa các chức năng dinh dưỡng và vận vận động của cơ thể Ngoài ra sức bền còn phụ thuộc vào tốc độ tham gia điều hòa nội môi, đặc biệt là điều hòa thân nhiệt của các quá trình thần kinh thể dịch

- Khéo léo là khả năng thực hiện những động tác phối hợp phức tạp và khả

năng hình thành những động tác mới phù hợp với yêu cầu vận động Cơ sở sinh lí

Trang 23

của tố chất này là các phản xạ phối hợp phức tạp Vì vậy mức độ phát triển khéo léo phụ thuộc trạng thái hệ thần kinh trung ương.[7]

Sự khéo léo có thể được biểu hiện qua ba hình thái chính sau:

- Trong sự chuẩn xác của động tác về không gian

- Trong sự chuẩn xác của động tác khi thời gian thực hiện động tác bị hạn chế

- Khả năng giải quyết nhanh và đúng những tình huống xuất hiện bất ngờ trong hoạt động

- Khéo léo thường coi là tố chất vận động loại hai, phụ thuộc vào mức độ phát triển của các tố chất khác, như sức nhanh, sức mạnh, sức bền Mức độ phát triển khéo léo liên quan chặt chẽ với trạng thái chức năng của hệ thần kinh trung

ương

Tập luyện phát triển sự khéo léo lâu dài làm tăng độ linh hoạt của các quá trình thần kinh, làm cho cơ hưng phấn và thả lỏng nhanh hơn Tập luyện các bài tập chuyên môn có thể làm tăng sự phối hợp hoạt động giữa các cũng như cơ đối kháng

1.5 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh THPT

Các em học sinh THPT là lứa tuổi đã và đang phát triển để đi đến hoàn thiện Do đó, ở lứa tuổi này tâm sinh lí của các em cũng có các đặc điểm riêng

và khác so với các lứa tuổi trước đó

* Đặc điểm tâm lí:

Về mặt tâm lí các em thích chứng tỏ mình là người lớn, muốn để cho mọi người tôn trọng mình, đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích, tổng hợp, muốn biết nhiều, có nhiều hoài bão nhưng còn nhiều nhược điểm

và thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống

Tuổi này chủ yếu là tuổi hình thành thế giới quan, tự ý thức, hình thành tính cách và hướng về tương lai Đó cũng là tuổi lãng mạn, ước mơ độc đáo, mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn Đây là tuổi đầy nhu cầu sáng tạo, nảy nở những tình cảm mới, trong đó có mối tình đầu thường để lại dấu vết trong sáng

Trang 24

trong suốt cuộc đời Thế giới quan không phải là một niềm tin lạnh nhạt, khô khan, trước hết nó là sự say mê, ước vọng, nhiệt tình

* Đặc điểm sinh lí

Lứa tuổi này có thể các em đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, các bộ phận cơ thể vẫn tiếp tục phát triển nhưng tốc độ lớn chậm dần Chức năng sinh lý

đã tương đối ổn định, khả năng hoạt động của các hệ thống, cơ quan cơ thể cũng

được cao hơn ở lứa tuổi này, cơ thể các em vẫn phát triển chiều cao nhưng trong

độ tuổi này các em lại phát triển theo chiều ngang nhiều hơn, chiều cao vẫn phát triển nhưng chậm

- Hệ thần kinh: Hệ thần kinh tiếp tục phát triển đi đến hoàn thiện khả năng tư duy, khả năng phân tích, tổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành nhanh chóng phản xạ có điều kiện Đây là đặc

điểm thuận lợi để các em nhanh chóng tiếp thu và hoàn thiện kỹ thuật động tác Tuy nhiên, đối với một số bài tập mang tính đơn điệu, không hấp dẫn cũng làm các em nhanh chóng mệt mỏi

- Hệ tuần hoàn: Buồng tim phát triển, hệ tuần hoàn của các em đã đạt đến mức gần hoàn thiện, tim của các em nam mỗi phút đập từ 70-80 lần/1 phút, huyết áp đạt từ 100- 110mlHg

- Hệ hô hấp: Đã phát triển tương đối hoàn thiện, dung tích phổi tăng lên nhanh chóng (khoảng 2 - 2,3 lít), tần số hô hấp gần bằng của người lớn 10 -26 lần/phút Tuy nhiên các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sự co giãn của lồng ngực nhỏ, chủ yếu co giãn cơ hoành Do đó, trong tập luyện cần thở sâu và tập trung chú ý

- Hệ bài tiết: Điều hòa thân nhiệt hoạt động khá hiệu quả, đặc biệt là bài tiết qua da Vì vậy, hồi phục sau tập luyện diễn ra nhanh

- Hệ vận động:

* Cơ: ở giai đoạn này cơ thể của các em phát triển khá nhanh, khối lượng cơ tăng nhanh đáng kể do hoạt động thể lực đa dạng nên các nhóm cơ nhỏ đã

Trang 25

phát triển Đặc biệt ở lứa tuổi này nếu tham gia tập luyện TDTT đều đặn thì những nhóm cơ không những phát triển mạnh mà còn mang tính chuyên môn cho từng môn thể thao riêng biệt

* Xương: Xương của các em bắt đầu giảm tốc độ phát triển, cột sống đã

ổn định hình dạng nhưng vẫn chưa được củng cố, chưa hoàn thiện nếu tư thế sai lệch vẫn bị cong vẹo cho nên tiếp tục bồi dưỡng tư thế chính xác thông qua các bài tập như: Đi, chạy, nhảy cho các em là rất cần thiết và không thể xem nhẹ

Trang 26

CHƯƠNG 2 NHIệM Vụ, PHƯƠNG PHáP Và Tổ CHứC NGHIÊN CứU

2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để giải mục đích của đề tài, đề tài cần giải quyết hai nhiệm vụ cơ bản sau:

2.1.1 Nhiệm vụ 1

Đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất và việc sử dụng bài tập chuyên môn trong giảng dạy giai đoạn giậm nhảy của kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ

2.1.2 Nhiêm vụ 2

Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả giai đoạn giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh nam 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội

2.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp phỏng vấn là phương pháp nghiên cứu khoa học thu nhận thông tin qua hỏi - trả lời, giữa nhà nghiên cứu với các cá nhân khác nhau về vấn

đề quan tâm

Chúng tôi đã sử dụng phương pháp này để phỏng vấn các thầy cô giáo việc

sử dụng bài tập trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng, pỏng vấn những

Trang 27

sai lầm thường mắc và nguyên nhân dẫn tới những sai lậm khi học kỹ thuật giai

đoạn giậm nhảy của kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng, phỏng vấn các bài tập trong giảng dạy kỹ thuật giậm nhảy của kiểu nhảy cao nằm nghiêng, phỏng vấn đội ngũ giáo viên TDTT về việc lựa chọn các test đánh giá bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy cho đối tượng nghiên cứu Từ đó góp phần tìm ra các bài tập

có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy giai đoạn giậm nhảy của nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi đã sử dụng các test: Bật xa tại chỗ (cm); nhảy cao toàn đà (cm); chạy 30m xuất phát cao (giây)

Nội dung kiểm tra là các bài tập kỹ thuật và thể lực do chúng tôi ứng dụng

và tổ chức

Cách đánh giá: Tính thành tích trung bình mà nhóm thực nghiệm và nhóm

đối chứng đã đạt được

Đề tài sử dụng phương pháp kiểm tra sư phạm dưới các test nhằm kiểm tra

đánh giá mức độ hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng của nam học

sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ trước và sau thực nghiệm

Trang 28

2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Để ứng dụng các bài tập chuyên môn đã lựa chọn nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy nằm nghiêng của đối tuợng nghiên cứu Tôi tiến hành thực nghiệm 70 em học sinh nam lớp 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội, chia làm hai nhóm: Nhóm thực nghiệm và đối chứng

Nhóm thực nghiệm: Gồm 35 em học sinh Nam tập luyện theo bài bập mà

chúng tôi đưa ra

Nhóm đối chứng: Gồm 35 em học sinh Nam tập luyện theo các bài tập cũ 2.2.6 Phương pháp toán học thống kê

Các số liệu thu thập được sau thực nghiệm, chúng tôi sử dụng các thuật toán thống kê để xử lí, nhằm giúp cho việc rút ra kết luận có độ tin cậy và có sức thuyết phục cao hơn

Trong đề tài này các thuật toán được sử dụng đó là: X , 2

Ngày đăng: 17/07/2015, 05:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Bửu - Nguyễn Thế Truyền (1989), Thể thao trẻ, Nxb TDTT, Thành phố HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể thao trẻ
Tác giả: Lê Bửu - Nguyễn Thế Truyền
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1989
2. Dương Nghiệp Chí (1978), Điền kinh dùng cho học sinh trung học, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điền kinh dùng cho học sinh trung học
Tác giả: Dương Nghiệp Chí
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1978
3. Dương Nghiệp Chí và tập thể các tác giả (2000), Điền kinh, sách giáo khoa dùng cho sinh viên đại học TDTT, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điền kinh, sách giáo khoa dùng cho sinh viên đại học TDTT
Tác giả: Dương Nghiệp Chí và tập thể các tác giả
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2000
6. Chỉ thị 113/TTg của Thủ tướng Chính phủ đã ra ngày 7/8/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 113/TTg của Thủ tướng Chính phủ
Nhà XB: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 1995
7. Lưu Quang Hiệp - BS. Phạm Thị Uyên (1995), Sinh lý học TDTT, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học TDTT
Tác giả: Lưu Quang Hiệp - BS. Phạm Thị Uyên
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1995
10. Nguyễn Toán, TS. Phạm Danh Tốn, Lý luận và phương pháp TDTT, Nxb TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp TDTT
Nhà XB: Nxb TDTT
11. Đồng Văn Triệu, Lê Anh Thơ, Lý luận và phương pháp GDTC trong trường học, Nxb TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp GDTC trong trường học
Nhà XB: Nxb TDTT
13. Nguyễn Đức Văn (1978), Toán học thống kê, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán học thống kê
Tác giả: Nguyễn Đức Văn
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1978
15. Lê Văn Xem, PGS. Phạm Ngọc Viễn, Nguyễn Thị Nữ (1990), Tâm lý học TDTT, Nxb TDTT, Hà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học TDTT
Tác giả: Lê Văn Xem, PGS. Phạm Ngọc Viễn, Nguyễn Thị Nữ
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1990
4. Chỉ thị 36 CT-TW của Ban Bí thư trung ương Đảng về công tác TDTT trong giai đoạn mới Khác
5. Chỉ thị 112 của Hội đồng bộ trưởng ngày 09/06/1989 về công tác thể dục thể thao trong những năm trước mắt Khác
8. Hội nghị TW 4 khoá VIII về đổi mới công tác giáo dục đào tạo Khác
9. Nghị quyết TW II về công tác giáo dục đào tạo lại càng khẳng định giáo dục thể chất trong trường học là cực kỳ quan trọng Khác
12. Tuyển tập những khoa học TDTT của Trường Đại học TDTT (1994), Nxb TDTT, Hà Nội Khác
14. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Gia - Lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội
Bảng 3.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Gia (Trang 32)
Bảng 3.2. Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và học tập môn - Lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội
Bảng 3.2. Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và học tập môn (Trang 33)
Bảng 3.3. Kết quả quan sát sư phạm các bài tập chuyên môn của học sinh - Lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội
Bảng 3.3. Kết quả quan sát sư phạm các bài tập chuyên môn của học sinh (Trang 34)
Bảng 3.4. Kết quả phỏng vấn các thầy cô giáo việc sử dụng bài tập chuyên  môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh khối 11 - Lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội
Bảng 3.4. Kết quả phỏng vấn các thầy cô giáo việc sử dụng bài tập chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh khối 11 (Trang 36)
Bảng 3.5. Kết quả học tập môn nhảy cao nằm nghiêng của nam học sinh - Lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội
Bảng 3.5. Kết quả học tập môn nhảy cao nằm nghiêng của nam học sinh (Trang 37)
Bảng 3.7. Kết quả phỏng vấn các bài tập chuyên môn trong giảng dạy kỹ - Lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội
Bảng 3.7. Kết quả phỏng vấn các bài tập chuyên môn trong giảng dạy kỹ (Trang 42)
Bảng 3.8. Kết quả phỏng vấn đội ngũ giáo viên TDTT về việc lựa chọn các  test đánh giá bài tập bổ trợ nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy cho đối - Lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội
Bảng 3.8. Kết quả phỏng vấn đội ngũ giáo viên TDTT về việc lựa chọn các test đánh giá bài tập bổ trợ nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy cho đối (Trang 43)
Bảng 3.10. Kết quả kiểm tra 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng trước thực - Lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội
Bảng 3.10. Kết quả kiểm tra 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng trước thực (Trang 46)
Bảng 3.11. Kết quả kiểm tra 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng sau thực - Lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội
Bảng 3.11. Kết quả kiểm tra 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng sau thực (Trang 48)
Bảng 3.13. Bảng tổng kết điểm nhảy cao của hai nhóm đối chứng và thực - Lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội
Bảng 3.13. Bảng tổng kết điểm nhảy cao của hai nhóm đối chứng và thực (Trang 49)
Bảng 3.12. Bảng tổng kết điểm nhảy cao của hai nhóm đối chứng và thực - Lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giậm nhảy trong nhảy cao nằm nghiêng cho nam học sinh khối 11 trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội
Bảng 3.12. Bảng tổng kết điểm nhảy cao của hai nhóm đối chứng và thực (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w