1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100M cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang

57 419 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 519,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy nên tập luyện thể dục, bồi dưỡng sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước”.[1] Nghị quyết Trung ương II khóa VIII của Đảng khẳng định mục tiêu của Giáo dục và Đào tạo là nhằ

Trang 1

Trường đại học sư phạm hà nội 2 Khoa giáo dục thể chất

NGUYễN THị MếN

Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100m cho nữ đội tuyển điền kinh

trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Hà nội - 2011

Trang 2

Trường đại học sư phạm hà nội 2 Khoa giáo dục thể chất

NGUYễN Thị mến

Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100m cho nữ đội tuyển điền kinh

trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Chuyên ngành: CNKHSP TDTT - GDQP

Hướng dẫn khoa học

th.s vũ tuấn anh

Hà nội - 2011

Trang 3

Lêi cam ®oan

Trang 4

Danh mục từ viết tắt

Gdtc : Giáo dục thể chất Tdtt : Thể dục thể thao Thpt : Trung học phổ thông Xpc : Xuất phát cao

Xpt : Xuất phát thấp Tđc : Tốc độ cao

T : Tiết

Mđ : Mục đích

Yc : Yêu cầu

Vđv : Vận động viên (s) : Giây

Stt : Số thứ tự

tn : Thực nghiệm

đc : Đối chứng

Ttn : Trước thực nghiệm Stn : Sau thực nghiệm TĐ : Thời điểm

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Số biểu

Bảng 3.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường THPT Yên

Bảng 3.2 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và

Bảng 3.3

Bài tập phát triển sức nhanh trong chạy 100m đang

được trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang áp dụng

28

Bảng 3.4

Kết quả các test kiểm tra sức nhanh của nữ đội tuyển

điền kinh trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang năm học 2008 - 2009

29

Bảng 3.5

Kết quả các test kiểm tra sức nhanh của nữ đội tuyển

điền kinh trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang năm học 2009 - 2010

Bảng 3.10 Kết quả các test kiểm tra sau thực nghiệm của 2 nhóm 39

Bảng 3.11 Kết quả các test kiểm tra trước và sau thực nghiệm của

Trang 7

Mục lục

Trang

Đặt vấn đề 1

Chương 1 : Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 3

1.1 Tác dụng của TDTT 3

1.2 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC trong trường học 4

1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THPT 5

1.4 Nội dung và các giai đoạn huấn luyện điền kinh 8

1.5 Sức nhanh và các biểu hiện của sức nhanh 11

1.6 Phương pháp rèn luyện sức nhanh 15

Chương 2: Nhiệm vụ, phương pháp, tổ chức nghiên cứu 21

2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 21

2.2 Phương pháp nghiên cứu 21

2.3 Tổ chức nghiên cứu 23

Chương 3: kết quả nghiên cứu 25

3.1 Đánh giá thực trạng công tác GDTC và sự phát triển sức nhanh trong chạy 100m của nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Yên Dũng 2 - Bắc Giang 25

3.2 Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100m cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Yên Dũng 2 - Bắc Giang 31

Kết luận 45

Tài liệu tham khảo 47

Trang 8

đặt vấn đề

Trong xã hội ngày nay, khi chất lượng cuộc sống đã và đang từng bước

được nâng cao, thì nhu cầu về sức khỏe nói chung và tập luyện thể dục thể thao (TDTT) nói riêng càng được quan tâm nhiều hơn Thể dục thể thao là một công cụ để nâng cao sức khỏe, tạo điều kiện cho người lao động phát triển một

cách toàn diện Bác Hồ cũng đã nói: “Một tinh thần minh mẫn trong một cơ

thể tráng kiện”[1], muốn phát triển trí óc thì trước hết con người phải khỏe

mạnh Và cũng vì lí do: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống

mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công Mỗi một người dân yếu

ớt, tức là cả nước yếu ớt; mỗi một người dân mạnh khỏe, tức là cả nước mạnh khỏe Vậy nên tập luyện thể dục, bồi dưỡng sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước”.[1]

Nghị quyết Trung ương II khóa VIII của Đảng khẳng định mục tiêu của

Giáo dục và Đào tạo là nhằm tạo ra một lớp người: “Phát triển cao về trí tuệ,

cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”.[2]

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về sức khỏe và thể chất cho những người lao động mới, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là trong sự

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Ngoài ra, thể thao còn là phương tiện để giao lưu văn hóa, thắt chặt thêm tình đoàn kết giữa các dân tộc trên thế giới, củng cố và tăng cường sự hợp tác, giao lưu văn hóa và phát triển của mỗi quốc gia Trong mỗi thời kì

Đại hội Thể dục thể thao của khu vực và quốc tế, tinh thần thể thao cũng góp phần đem lại sự gắn kết giữa các dân tộc và hòa bình cho các quốc gia Vị trí thứ 3 trong khu vực với những tấm huy chương vàng của Vũ Thị Hương (100m, 200m tại Seagame 2007) và gần đây nhất là tấm huy chương bạc của Hoàng Anh Tuấn (môn cử tạ) tại Olympic Bắc Kinh 2008 Đó là những bằng

Trang 9

chứng thuyết phục cho sự phát triển của thể thao Việt Nam cho dù sự phát triển đó còn gặp nhiều khó khăn

Trong các môn thể thao giúp mọi người nâng cao sức khỏe, cơ bản nhất,

đơn giản nhất và hiệu quả nhất chính là môn điền kinh Với tầm quan trọng

đó, ngoài việc tập trung đầu tư để nâng cao thành tích thi đấu ở các giải quốc

tế, môn điền kinh là một trong những nội dung cơ bản không thể thiếu của hầu hết các chương trình giảng dạy của các trường phổ thông, trung cấp, cao đẳng

là môn thể thao đòi hỏi người tập phải tập luyện có khoa học, có hệ thống mới

đạt thành tích cao Xuất phát từ những lí do trên tôi chọn đề tài: “Lựa chọn

bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100m cho nữ đội

*Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở tổng hợp, phân tích cơ sở lí luận và thực tiễn, đề tài nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh trong chạy 100m cho nữ đội tuyển

điền kinh trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang để ứng dụng trong quá trình giảng dạy, góp phần nâng cao thành tích chạy 100m

Trang 10

Chương I Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

1.1 Tác dụng của TDTT

Tác dụng nổi bật và chuyên biệt của thể dục thể thao (TDTT) thể hiện ở

sự phát triển các tố chất thể lực (sức nhanh, sức mạnh, sức bền và sự mềm dẻo khéo léo) và bồi dưỡng kĩ năng, kĩ xảo khác trong lao động, quân sự và sinh hoạt sau này

Người tập TDTT thường có thân hình cân đối, nở nang, cơ bắp phát triển khỏe mạnh Tập luyện TDTT thường xuyên sẽ tránh được các bệnh về tim mạch Người tập thường xuyên thì tim sẽ khỏe hơn và to hơn bình thường Theo những tài liệu của tổ chức Y tế thế giới trong 65 năm trở lại đây số người mắc bệnh tâm thần tăng 24 lần, nhồi máu cơ tim tăng 60 lần ở tuổi 35 - 44 Đó

là 2 bệnh có liên quan nhiều với tình trạng thiếu vận động và ảnh hưởng bởi mặt trái của nền văn minh hiện đại

Thể chất tốt là một trong những điều kiện để học tập, lao động đạt hiệu quả cao hơn Có công trình nghiên cứu đã tính được rằng: Người khỏe thì học

kĩ năng lao động nhanh và dễ hơn người bình thường khoảng 2 - 5%, hồi phục sau lao động cũng nhanh hơn

Khoa học kĩ thuật càng hiện đại (cơ giới hóa, tự động hóa sản xuất…) thì hiện tượng đói vận động ngày càng phát triển, TDTT giúp con người khắc phục sự mất cân bằng đó làm cho tinh thần thêm tinh nhạy, chính xác trong suy nghĩ và điều chỉnh máy móc

Những ngày Hội thể thao hấp dẫn như Olympic được truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng có ảnh hưởng sâu rộng đến tư tưởng, tình cảm của hàng tỷ người trên hành tinh Qua đó cũng giáo dục con người biết thưởng thức cái đẹp của thể thao (TT), không chỉ về hình thể, trang phục,

Trang 11

phương tiện mà còn cả sự hoàn thiện các tố chất thể lực Những trận thi đấu ở trình độ cao và sôi nổi càng dễ tạo ra những giá trị chân chính về cái đẹp của thể thao

TDTT đúng sẽ góp phần xây dựng con người hoàn thiện (Phát triển cao

về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo

đức) Đó là hoạt động hấp dẫn, phổ biến rộng rãi giúp con người và các dân tộc trên thế giới đoàn kết, hiểu biết nhau hơn

1.2 Những quan điểm của Đảng và nhà nước về GDTC trong trường THPT

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại

điều 41 quy định: Nhà nước thống nhất quản lí sự nghiệp phát triển thể dục thể thao, quy định giáo dục thể chất (GDTC) bắt buộc trong trường học, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức thể dục tự nguyện của nhân dân, tạo điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động thể dục thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao [3]

Chỉ thị 36/CT/TW ngày 24/3/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) giao trách nhiệm cho Bộ Giáo dục - Đào tạo và Tổng cục TDTT thường xuyên phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác GDTC, cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể đào tạo giáo viên TDTT cho trường học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế

độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên, qua đó phát hiện và tuyển chọn được nhiều tài năng thể thao cho quốc gia

Luật giáo dục được Quốc hội khóa IX Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 2/12/1998 và pháp lệnh TDTT được ủy ban Thường

vụ Quốc hội thông qua tháng 9/2000 quy định: “Nhà nước coi trọng TDTT trong trường học nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên nhi đồng GDTC là nội dung giáo dục bắt buộc đối với học sinh,

Trang 12

sinh viên được thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến

đại học TDTT trường học bao gồm việc tiến hành chương trình GDTC bắt buộc và tổ chức TDTT ngoại khóa cho người học Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho học sinh được tập TDTT phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và

điều kiện từng nơi GDTC là một bộ phận quan trọng để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[4]

1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THPT

Lứa tuổi này cơ thể các em đã phát triển tương đối hoàn chỉnh Tuy nhiên các bộ phận cơ thể vẫn tiếp tục phát triển nhưng tốc độ chậm dần, chức năng sinh lí tương đối ổn định, khả năng hoạt động thể lực của các hệ thống cơ quan cũng được cao hơn Sự phát triển cơ thể của cả nam và nữ có sự khác biệt rất lớn do những đặc điểm khác nhau về sinh lí Do vậy quá trình GDTC cho học sinh lứa tuổi này chúng ta cần căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi và giới tính của các em

1.3.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh THPT

ở lứa tuổi này các em thích tỏ ra mình là người lớn, muốn được mọi người tôn trọng, tỏ ra mình là người hiểu biết, có khả năng phân tích tổng hợp, các

em có sự hiếu động, tinh nghịch Các em có nhiều hoài bão nhưng lại thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống

Tuổi này chủ yếu hình thành thế giới quan, tự ý thức, hình thành ý thức, hình thành tính cách và hướng về tương lai Đó cũng là tuổi lãng mạn mơ ước

độc đáo và mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn

Về hứng thú: Các em đã có thái độ tự giác tích cực trong học tập xuất

phát từ động cơ học đúng đắn và lựa chon nghề nghiệp sau này Song hứng thú học tập do nhiều động cơ khác nhau, đua với bạn bè, tự ái, hiếu danh…cho nên khi giảng dạy giáo viên cần giúp các em xây dựng động cơ đúng đắn để các em có được hứng thú học tập các môn học nói chung và môn GDTC nói riêng

Trang 13

Về tình cảm: Các em đã biểu lộ rõ hơn về tình cảm của bản thân với

mái trường mình gắn bó, với các thày cô giáo đã dạy các em Vì vậy, việc giáo viên gây được thiện cảm và sự tôn trọng của các em là một trong những thành công giúp giáo viên có nhiều thuận lợi trong quá trình giảng dạy, thúc đẩy các

em tự giác, tích cực trong học tập

Về trí nhớ: Các em ở tuổi này hầu như không tồn tại việc ghi nhớ máy

móc, do các em đã biết cách ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo tính logic chặt chẽ

và lĩnh hội được bản chất, vấn đề cần học tập Vậy nên khi giảng dạy GDTC giáo viên có thể sử dụng phương pháp trực quan kết hợp với giảng giải, phân tích chi tiết kĩ thuật động tác và vai trò, ý nghĩa cũng như cách sử dụng phương tiện, phương pháp để các em có thể tự tập một cách độc lập trong thời gian nhàn dỗi

Các phẩm chất ý chí đã rõ ràng hơn và mạnh mẽ hơn so với lứa tuổi trước đó Các em có thể tiếp thu được những bài tập khó và đòi hỏi khắc phục khó khăn lớn trong luyện tập

1.3.2 Đặc điểm sinh lí của học sinh THPT

*Hệ thần kinh

Hệ thần kinh tiếp tục phát triển đi đến hoàn thiện Khả năng tư duy, khả năng phân tích, tổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển thuận lợi cho việc hình thành các phản xạ có điều kiện, giúp các em tiếp thu và hoàn thiện kĩ thuật động tác Tuy nhiên đối với một số bài tập đơn điệu không hấp dẫn thì làm cho các em nhanh chóng mệt mỏi

Vì vậy khi giảng dạy GDTC, giáo viên cần thay đổi nhiều hình thức tập luyện một cách phong phú, đặc biệt tăng cường các hình thức thi đấu, trò chơi

để gây hứng thú và tạo điều kiện hoàn thành tốt các bài tập chính

Ngoài ra do sự hoạt động mạnh của tuyến giáp, tuyến sinh dục, tuyến yên làm cho tính hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế nên giáo viên cũng cần sử dụng bài tập thích hợp và thường xuyên quan sát phản ứng của học sinh

để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời

Trang 14

*Hệ vận động

Hệ xương: Bắt đầu giảm tốc độ phát triển Tập luyện TDTT thường xuyên liên tục làm cho bộ xương khỏe mạnh hơn, lứa tuổi này các xương nhỏ như xương cổ tay, bàn tay hầu như đã hoàn thiện nên các em có thể tập luyện một số động tác treo, chống, mang vác nặng mà không làm tổn hại hoặc không tạo sự phát triển lệch lạc của cơ thể Cột sống đã ổn định hình dáng nhưng vẫn chưa được hoàn thiện, vẫn có thể bị cong vẹo nên việc tiếp tục bồi dưỡng tư thế chính xác thông qua các bài tập như: đi, chạy, nhảy…cho các em

là cần thiết và không thể xem nhẹ

Hệ cơ: Các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xương nên sức co cơ vẫn còn tương đối yếu, các bắp cơ lớn phát triển tương đối nhanh (cơ đùi, cơ cánh tay) còn các cơ nhỏ thì phát triển chậm hơn Do vậy trong quá trình giảng dạy giáo viên cần chú ý đưa ra các bài tập phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức vừa

đảm bảo cho tất cả các loại cơ: to, nhỏ đều được phát triển

*Hệ tuần hoàn

Hệ tuần hoàn của các em ở lứa tuổi này đang phát triển và đi đến hoàn thiện Buồng tim phát triển tương đối hoàn chỉnh Mạch đập của nữ 60 - 70 lần/ phút, hệ thống điều hòa vận mạch tương đối hoàn chỉnh Phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận động là tương đối rõ rệt Cho nên lứa tuổi này có thể tập những bài tập chạy dai sức và những bài tập khối lượng và cường độ vận động tương đối lớn

*Hệ hô hấp

Đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, vòng ngực trung bình của nữ là 80cm Tuy nhiên các cơ hô hấp của các em còn yếu nên sự co giãn của lồng ngực nhỏ, chủ yếu co giãn cơ hoành Vì vậy trong tập luyện GDTC giáo viên cần chú ý tới việc tập luyện thở sâu và thở bằng lồng ngực

Trang 15

1.4 Nội dung và các giai đoạn huấn luyện điền kinh 1.4.1 Nội dung huấn luyện điền kinh

Nội dung huấn luyện thể thao nói chung hay điền kinh nói riêng là quá trình huấn luyện về các mặt: Thể lực, kĩ - chiến thuật, đạo đức, ý chí, tâm lí và

lí luận Tất cả các mặt này đều có mối liên quan chặt chẽ với nhau và tạo thành một quá trình thống nhất của việc hoàn thiện thể thao cho vận động viên

điền kinh Qua trình này được thực hiện thông qua việc sử dụng các phương tiện, phương pháp huấn luyện chung, huấn luyện chuyên môn và các hình thức khác nhau của lượng vận động trong tập luyện và thi đấu

1.4.2 Các giai đoạn huấn luyện điền kinh

Trong quá trình huấn luyện điền kinh nói chung và huấn luyện chạy cự

li ngắn nói riêng đều có 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn huấn luyện ban đầu

+ Giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

+ Giai đoạn chuyên môn hóa sâu

+ Giai đoạn hoàn thiện thể thao

Mỗi giai đoạn đảm bảo các chức năng và nhiệm vụ riêng đáp ứng với nhu cầu và mục đích huấn luyện vận động viên

*Giai đoạn huấn luyện ban đầu

Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là phát triển thể lực toàn diện của các em, dạy cho các em những bài tập khác nhau, gây cho chúng sự ham thích thể thao đặc biệt là điền kinh

Trong giai đoạn huấn luyện này phương pháp trò chơi chiếm ưu thế vì

nó không chỉ dùng để phát triển tốc độ mà còn để tăng cường sức mạnh, khả năng phối hợp vận động và sức bền Trong giai đoạn huấn luyện ban đầu còn

có các bài tập nhằm phát triển tổng hợp các tố chất thể lực của vận động viên Kết thúc giai đoạn huấn luyện ban đầu, những em có chỉ số kiểm tra tốt sẽ

được chuyển tiếp vào giai đoạn huấn luyện tiếp theo

Trang 16

*Giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu

Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là: huấn luyện thể lực toàn diện, nâng cao mức độ chịu đựng chung của cơ thể, tạo được vốn kĩ năng của vận

động, tăng tri thức để hình thành những nền tảng ban đầu của tài năng thể thao

Đặc điểm của giai đoạn này là sử dụng rộng rãi các phương pháp, phương tiện huấn luyện, song có tính tới đặc thù của chạy ngắn

Để huấn luyện tốc độ ở giai đoạn này không nên cho các em chạy với các tốc độ cực đại quá nhiều Tập chạy trong các điều kiện khó khăn (chạy trên bậc thang, chạy trên đốc, chạy trên cát) luân phiên với chạy trong điều kiện bình thường Cần nhớ rằng điều quan trọng khi huấn luyện sức nhanh là tình trạng hưng phấn tối ưu của hệ thần kinh trung ương, khi mà vận động viên chưa bị mệt mỏi bởi những hoạt động trước đó Vì vậy các hoạt động tốc độ cần được áp dụng ngay sau phần khởi động

Để huấn luyện tốc độ có thể sử dụng các môn bóng (bóng đá, bóng rổ, bóng ném) đòi hỏi phải sử dụng sức nhanh trong các tình huống thay đổi Trong những năm chuyên môn hóa ban đầu cần đặc biệt thận trọng tuân thủ giới hạn cường độ của lượng vận động vì lúc này là lúc cơ thể các em đang phát triển

*Giai đoạn chuyên môn hóa sâu

Đặc điểm của giai đoạn này là tính chuyên môn hóa được thể hiện rõ hơn Tỉ trọng huấn luyện chuyên môn về thể lực, kĩ thuật, tâm lí được tăng lên

đáng kể Khối lượng và cường độ của các phương tiện huấn luyện chủ yếu tăng nhiều so với giai đoạn trước Với mục đích hoàn thiện trình độ huấn luyện về thể lực, kĩ thuật của vận động viên chạy ngắn, vẫn nên đa dạng hóa các phương tiện huấn luyện với tỉ trọng thích hợp, đa dạng hóa điều kiện thực hiện chúng và vị trí tiến hành tập luyện Đây là giai đoạn vận động viên tập luyện thể thao tích cực nhất đồng thời bộc lộ khả năng thể thao và đạt trình độ

Trang 17

điêu luyện về thể thao Trong quá trình tập luyện thể hiện rõ đặc điểm của chuyên môn hóa sâu như: thể lực, kĩ thuật, chiến thuật, tâm lí cũng như được nâng lên đáng kể nhờ tăng khối lượng đào tạo chung và cả khối lượng các bài tập đào tạo chuyên môn cũng như các bài tập thi đấu Tổng khối lượng và cường độ tăng nhiều hơn so với giai đoạn trước, khối lượng các cuộc kiểm tra thi đấu cũng tăng lên rõ rệt và trở thành nội dung không thể thiếu được trong

kế hoạch huấn luyện Hệ thống tập luyện và thi đấu ngày càng trở nên cá biệt hóa, đào tạo thể thao phần lớn gắn liền với thành tích thể thao Do đó, đòi hỏi vận động viên phải dành nhiều thời gian và công sức, dồn nhiều tâm trí để tập luyện và thực hiện chế độ sinh họat phù hợp, có kế hoạch để đạt được thành tích cao nhất

*Giai đoạn hoàn thiện thể thao

ở giai đoạn này lượng vận động trong huấn luyện tương ứng với thi đấu càng lớn và việc tuân thủ theo nguyên tắc thích hợp càng nghiêm ngặt thì thành tích càng cao Vì vậy cần đặc biệt thận trọng đến mối quan hệ giữa khối lượng và cường độ của lượng vận động trong huấn luyện

Việc huấn luyện chạy ngắn đẳng cấp cao khác với huấn luyện cấp thấp hơn cả về nhiệm vụ, nội dung và sự phân chia lượng vận động Khi bắt đầu lập

kế hoạch huấn luyện cần phân tích và làm rõ những mặt mạnh, mặt yếu trong thi đấu của vận động viên, những khâu còn yếu trong huấn luyện thể lực và kĩ thuật, lượng vận động khác nhau của chu kì năm

Tất cả những tài liệu này cho phép huấn luyện viên lựa chọn thận trọng hơn các phương tiện huấn luyện (để sửa chữa những khuyết điểm) khối lượng

và cường độ trong chu kì huấn luyện nhiều năm Qua nghiên cứu các nhà lí luận chuyên ngành điền kinh khẳng định rằng: Giai đoạn huấn luyện ban đầu

là giai đoạn làm cơ sở nền tảng và giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu là giai

đoạn huấn luyện cơ bản trong quá trình huấn luyện Bởi vì giai đoạn huấn luyện ban đầu là huấn luyện kĩ năng khéo léo phối hợp động tác phát triển sức

Trang 18

nhanh, nắm được kĩ thuật sơ bộ, còn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu là giảng dạy kĩ thuật phát triển sức mạnh của động tác và tốc độ chạy, tăng sức mạnh tốc độ Củng cố sức khỏe và rèn luyện sự bền bỉ dẻo dai của cơ thể

Trong chạy 100m yêu cầu các tố chất sức nhanh, sức mạnh tốc độ, sức bền tốc độ Trong đó sức nhanh đóng vai trò quyết định đối với thành tích chạy cự li 100m, các tố chất này có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tố chất này củng cố cho tố chất kia phát triển Nếu như thiếu đi một trong ba yếu tố trên thì ảnh hưởng không nhỏ đến việc nâng cao thành tích chạy 100m

+ Tố chất sức nhanh giúp đạt được tốc độ trong khi chạy

+ Tố chất sức mạnh tốc độ giúp cho mỗi bước chạy có lực đạp ở chân sau, tăng khả năng thực hiện động tác hiệu quả

+ Tố chất sức bền tốc độ giúp duy trì được tốc độ trên toàn cự li chạy 100m

1.5 Sức nhanh và các biểu hiện của sức nhanh

Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong thời gian ngắn nhất ở một điều kiện nhất định Người ta phân biệt ba hình thức biểu hiện sức nhanh như sau:

+ Thời gian tiềm tàng của phản ứng vận động

+ Tốc độ động tác

+ Tần số động tác

Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập với nhau Đặc biệt những chỉ số về thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan với tốc độ động tác Những hình thức kể trên là thể hiện các năng lực tốc độ khác nhau Trong thực tiễn thì sức nhanh được biểu hiện tổng hợp Thí dụ thành tích chạy ngắn phụ thuộc vào thời gian phản ứng vận động, tốc độ động tác đơn và tần số bước chạy Trong động tác có sự phối hợp phức tạp thì tốc độ không chỉ phụ thuộc vào sức nhanh mà còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau Thí dụ trong chạy thì tốc độ phụ thuộc vào độ dài bước chạy và tần số

Trang 19

của bước, còn bước chạy lại phụ thuộc vào độ dài chi dưới và lúc đạp sau Vì vậy tốc độ động tác hoàn chỉnh chỉ biểu hiện gián tiếp sức nhanh của con người Cho nên trong khi phân tích đánh giá sức nhanh của con người phải căn

cứ vào mức độ phát triển của từng hình thức đơn giản của nó

Các tiền đề quan trọng cho sức nhanh là tính linh hoạt của các quá trình thần kinh, sức nhanh - nhanh, khả năng kéo căng kéo giãn, tính đàn hồi và khả năng thả lỏng của các cơ, ý chí tinh thần và các cơ chế sinh hóa

*Tính linh hoạt của các quá trình thần kinh

Chỉ khi nào thay đổi một cách nhanh nhất giữa hưng phấn và ức chế trong những sự điều hòa tương ứng của hệ thần kinh cơ, kết hợp dùng lực tốt nhất thì mới có thể đạt được một tốc độ động tác cao và tần số động tác tối đa

*Năng lực sức mạnh nhanh

Là tỉ lệ sức mạnh - nhanh, trong sức nhanh phản ứng đặc biệt trong sự tăng tốc cao, lúc xuất phát và khả năng nhanh chóng đạt tốc độ cao, như trong chạy cự li ngắn, đua xe đạp cự li ngắn, đua thuyền, đua ca nô và trong phần lớn các môn bóng Về phương diện sinh hóa sức nhanh phụ thuộc một cách

đặc biệt vào các nguồn dự trữ năng lượng trong cơ và mức độ của sự huy động năng lượng hóa học ở dạng yếm khí

Trang 20

*Tính đàn hồi của cơ

Khả năng kéo dãn, tính đàn hồi và khả năng thả lỏng của các cơ hoạt

động thay đổi nhau trong các bài tập sức nhanh Nếu các tính chất này không

được phát triển đầy đủ thì không thể đạt được biên độ động tác cần thiết và các cơ đồng vận phải khắc phục một lực cản rất lớn trong quá trình thực hiện

động tác đặc biệt ở những điểm tiếp của động tác Do đó các bài tập kéo dãn

và thả lỏng phải luôn luôn là thành phần của huấn luyện nhằm phát triển sức nhanh

*Sự nỗ lực về ý trí

Việc đạt được sức nhanh cao nhất phụ thuộc một cách quyết định vào sự nỗ lực của ý chí Bởi vì trong huấn luyện chạy cự ly ngắn không có một sự bắt buộc bên ngoài nào trực tiếp tác dụng lên vận động viên, như khi nâng một quả tạ nặng hoặc khi nhảy cao nên khó sử dụng sức mạnh và ý chí một cách tối đa Do đó, đòi hỏi phải đạt được những thành tích lớn về mặt ý chí thông qua các yêu cầu cao trong huấn luyện, trong đó một điều kiện không thể thiếu

được là thông báo tốc độ đạt được bằng sự đo chính xác về thời gian Điều này

được tiến hành tốt nhất trong huấn luyện thi đấu với đối phương

Như vậy, sức nhanh phụ thuộc chủ yếu vào tính linh hoạt của quá trình thần kinh cơ và tốc độ co cơ Cả hai nhóm mặc dù biến đổi dưới tác dụng của tập luyện nhưng nói chung đều là những yếu tố được quy định với các đặc

điểm di truyền do đó trong quá trình tập luyện, sức nhanh biến đổi chậm và ít hơn sức mạnh và sức bền

1.5.2 Cơ sở sinh lý, sinh hóa của sức nhanh

Thời gian của phản ứng vận động gồm 5 giai đoạn:

1 Xuất hiện hưng phấn trong cơ quan cảm thụ

2 Dẫn truyền hưng phấn vào hệ thần kinh trung ương

3 Truyền tín hiệu trong tổ chức lưới và hình thành tín hiệu ly tâm

4 Truyền tín hiệu từ hệ thần kinh trung ương tới cơ

5 Hưng phấn cơ và hoạt động đáp trả

Trang 21

Trong đó giai đoạn thứ ba chiếm nhiều thời gian nhất Những động tác

được thực hiện với tốc độ tối đa khác hẳn với động tác chậm về đặc điểm sinh

lý Sự khác biệt cơ bản thể hiện rõ ở chỗ: Khi thự hiện với tốc độ tối đa thì khả năng điều chỉnh bằng cảm giác trong tiến hành thực hiện động tác sẽ gặp khó khăn Do đó, với tốc độ cao khó có thể thực hiện động tác thật chính xác

Trong các động tác rất nhanh và được thực hiện với tần số cao, thí dụ trong chạy cự li ngắn, cơ chỉ hoạt động tích cực ở những điểm cuối cùng của biên độ động tác Động năng được truyền cho một bộ phận nào đó của cơ thể, sau đó bị triệt tiêu khi các cơ đối kháng tham gia hoạt động và truyền cho bộ phận này một gia tốc theo hướng ngược lại Trong động tác tốc độ lớn, hoạt tính của cơ diễn ra trong thời gian ngắn đến mức cơ không kịp co lại nhiều và thực tế cơ hoạt động theo chế độ đẳng trường

Tần số động tác phụ thuộc vào tính linh hoạt của 2 quá trình thần kinh hưng phấn và ức chế được chi phối bởi 3 yếu tố: cường độ, độ cân bằng và độ linh hoạt Một yếu tố cũng cần được chúng ta để ý là tính chất bẩm sinh Những ai trong thành phần cơ có nhiều sợi cơ trắng thì phát triển sức nhanh Những ai trong thành phần cơ có nhiều sợi cơ đỏ thì phát triển sức mạnh

Do đó, cơ sở sinh lý phát triển sức nhanh là tăng cường độ linh hoạt và tốc độ dẫn truyền hưng phấn ở trung tâm thần kinh và bộ máy vận động tăng cường sự phối hợp giữa các sợi cơ và các cơ, nâng cao khả năng thả lỏng

Theo quan điểm sinh hóa, sức nhanh phụ thuộc vào hàm lượng ATP trong cơ và tốc độ phân giải ATP dưới ảnh hưởng của xung động thần kinh cũng như vào tốc độ tái tổng hợp nó Vì các bài tập tốc độ diễn ra trong khoảng thời gian rất ngắn, nên quá trình tổng hợp ATP hầu như được thực hiện theo cơ chế yếm khí Trong các bài tập như chạy 100m - 200m, bơi 25m - 50m thì 90% năng lượng hoạt động của cơ được tạo ra bằng sự cung cấp năng lượng yếm khí Do đó có sự nợ dưỡng rất lớn và thời gian trả nợ dưỡng có thể kéo dài hàng chục phút

Trang 22

1.6 Phương pháp rèn luyện sức nhanh

1.6.1 Phương pháp rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động đơn giản

Phản ứng vận động đơn giản là sự đáp lại tín hiệu biết trước nhưng xuất hiện đột ngột bằng động tác định trước (ví dụ: phản ứng với tiếng súng lệnh trong xuất phát) Sức nhanh phản ứng vận động có ý nghĩa thực dụng rất lớn Trong cuộc sống, ta thường gặp phải những trường hợp đòi hỏi đáp lại tín hiệu nào đó trong khoảng thời gian ngắn nhất Sức nhanh phản ứng vận động có khả năng “chuyển” rất cao: những người có khả năng phản ứng nhanh trong tình huống này thì cũng dễ có khả năng phản ứng nhanh trong tình huống khác

Phương pháp phổ biến nhất trong rèn luyện sức nhanh phản ứng vận

động đơn giản là tập lặp lại với các tín hiệu xuất hiện đột ngột như: tiếng còi, tiếng súng, với những người mới tập phương pháp lặp lại nhanh chóng đem lại kết quả tốt

Trong trường hợp sức nhanh phản ứng giữ vai trò quan trọng người ta phải sử dụng tới các phương pháp chuyên môn để hoàn thiện nó Một trong số phương pháp chuyên môn rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động đơn giản thường áp dụng trong thực tiễn là phương pháp phân tích Bản chất của phương pháp này là tách biệt việc hoàn thiện phản ứng với phần nâng cao tốc

độ của động tác tiếp theo

Như vậy, bài tập sức nhanh phản ứng vận động đơn giản gồm 2 phần: tập phản ứng trong điều kiện thuận lợi và tập tốc độ động tác theo phương pháp cảm giác vận động do Gelerstein đề xuất năm 1958 để hoàn thiện phản ứng vận động đơn giản Phương pháp này dựa trên mối liên quan chặt chẽ giữa sức nhanh phản ứng và năng lực phân biệt những khoảng thời gian ngắn Thông thường những người có khả năng cảm giác tốt với khoảng thời gian ngắn thì sẽ có sức nhanh phản ứng cao

Trang 23

1.6.2 Phương pháp rèn luyện sức nhanh phản ứng vận động phức tạp

Phản ứng vận động phức tạp thường gặp trong thể thao gồm có hai loại: phản ứng đối với vật thể di động và phản ứng lựa chọn Phản ứng đối với vật thể di động thường gặp trong các môn bóng và các môn đối kháng cá nhân, phản ứng với các vật thể di động thường kéo dài từ 0,25 - 1 giây Bài tập phản ứng đối với vật thể di động yêu cầu tập luyện được gia tăng thông qua tốc độ vật thể tăng tính bất ngờ và rút ngắn cự li Trò chơi vận động với bóng có tác dụng rất tốt trong rèn luyện sức nhanh đối với vật thể di động Trong khi tiến hành giáo dục phản ứng vận động phức tạp cần phải đảm bảo nguyên tắc từ

đơn giản đến phức tạp và tiến hành theo cách tăng dần số lượng biến đổi tình huống có thể xảy ra

1.6.3 Phương pháp rèn luyện sức nhanh tần số động tác

Mặc dù phụ thuộc vào nhiều nhân tố nhưng tốc độ tối đa phụ thuộc chủ yếu vào tính linh hoạt của các quá trình thần kinh Suy rộng ra thì tốc độ chủ yếu phụ thuộc vào tần số động tác Như vậy, bản chất của rèn luyện tốc độ là tác động nâng cao tần số động tác Phương tiện rèn luyện sức nhanh tần số là các bài tập, các bài tập này phải thỏa mãn 3 yêu cầu:

+ Kĩ thuật động tác cho phép thực hiện với tốc độ giới hạn

+ Kĩ thuật bài tập đã được tiếp thu tới mức kĩ xảo

+ Thời gian bài tập tương đối ngắn (không quá 20 - 22 giây) để tốc độ không bị giảm sút ở cuối cự li

Về nguyên tắc, cần tạo điều kiện phát huy tần số động tác tối đa Các thành phần lượng vận động và quãng nghỉ trong các phương pháp rèn luyện tốc độ đều phải hướng tới tần số tối đa

Như vậy, để giáo dục phát triển sức nhanh một cách hoàn chỉnh thì cần

đưa vào các nội dung bài tập phong phú đa dạng và đảm bảo tính khoa học toàn diện trên cơ sở lí luận, dựa trên tâm sinh lí lứa tuổi

Trang 24

1.6.4 Mối quan hệ giữa các tố chất thể lực trong việc nâng cao thành tích chạy 100m

Giáo dục sức nhanh trong chạy cự li ngắn nói chung và trong chạy 100m nói riêng có ý nghĩa và tầm quan trọng to lớn Trong quá trình tập luyện

và thi đấu muốn đạt được thành tích cao ở chạy cư li ngắn thì yếu tố hàng đầu

là họ phải được huấn luyện sức nhanh Tuy nhiên, trong quá trình huấn luyện nhằm nâng cao thành tích chạy 100m, chúng ta không chỉ quan tâm đến việc huấn luyện các tố chất sức nhanh, mà ta còn phải chú ý đến việc huấn luyện các tố chất thể lực khác Một trong các tố chất có liên quan đến thành tích chạy 100m là tố chất sức mạnh

Thông thường khi phát huy tốc độ cao nhất, con người phải khắc phục lực cản bên ngoài khá lớn và tốc độ đạt được là nhờ vào sức mạnh cơ bắp Trong vùng trọng lượng vật thể lớn thì tốc độ sức mạnh của con người tăng lên

sẽ làm tốc độ động tác tăng lên và ngược lại Nếu tập luyện làm tăng tốc độ tối

đa thì khả năng tốc độ tối đa và sức mạnh chỉ tăng trong vùng lực cản bên ngoài nhỏ, còn nếu lực cản bên ngoài tương đối lớn thì thực tế sẽ không ảnh hưởng nhiều đến tốc độ động tác Chỉ có thể tăng đồng thời trị số tối đa của lực và tốc độ mới làm cho tốc độ tăng lên trong toàn vùng lực cản bên ngoài

Như vậy, về nguyên tắc có thể tăng tốc độ trong một động tác nào đó bằng một trong hai cách sau:

+ Tăng tốc độ tối đa

+ Tăng sức mạnh tối đa

Kinh nghiệm cho thấy, nâng cao tốc độ tối đa là việc làm khó khăn, trong khi đó nâng cao sức mạnh đơn giản hơn nhiều Vì vậy, trong thực tiễn người ta sử dụng rộng rãi các bài tập sức mạnh để nâng cao tốc độ Hiệu quả của các bài tập sức mạnh càng cao khi lượng đối kháng tập luyện càng lớn

Trong quá trình rèn luyện sức mạnh để nâng cao tốc độ cần giải quyết hai nhiệm vụ cơ bản sau:

Trang 25

Cần phải sử dụng kết hợp các bài tập sức mạnh tốc độ với các bài tập sức mạnh đơn thuần và lấy các bài tập sức mạnh đơn thuần làm cơ sở Nếu chỉ

sử dụng các bài tập sức mạnh tốc độ thì tốc độ tối đa sẽ không được nâng lên một cách đáng kể bởi vì trong các động tác nhanh thời gian tác động lên hệ thần kinh cơ ngắn, xong khi tập sức mạnh đơn thuần để phát triển tốc độ cần lưu ý rằng trong thời gian tập sức mạnh đơn thuần, tốc độ thường tạm thời giảm đi Chỉ qua 2 - 6 tuần, sau khi ngừng hoặc giảm đột ngột lượng vận động

đó thì tốc độ mới bắt đầu tăng lên Trong thời gian dừng bài tập sức mạnh đơn thuần người ta sử dụng chủ yếu bài tập sức mạnh tốc độ

Các bài tập sức mạnh chỉ ảnh hưởng tích cực tới sức nhanh khi chúng tăng cường sức mạnh ở các động tác cần phát huy tốc độ tối đa Trong rèn luyện sức mạnh tốc độ cần lựa chọn lượng đối kháng lớn nhất nhưng vẫn không làm rối loạn cấu trúc bài tập thi đấu Có như vậy mới tác động đồng thời tới kĩ thuật và các tố chất thể lực

Trong các động tác thực hiện với tốc độ cao, việc điều chỉnh sai sót trong vận động rất khó Vì vậy, thực hiện kĩ thuật bài tập với tốc độ cao là nhiệm vụ rất phức tạp và khó khăn Mặt khác, giữa kĩ thuật và tốc độ tối đa tương quan chặt chẽ với nhau Do đó, huấn luyện kĩ thuật là một thành phần quan trọng của rèn luyện tốc độ

Trang 26

Trong thực tế người ta thường tiếp thu kĩ thuật bài tập tốc độ bằng hai cách:

+ Dạy động tác với tốc độ chậm, sau đó tăng dần tốc độ tới mức cực

đại

+ Tiếp thu kĩ thuật ngay với tốc độ cực đại

Mỗi cách đều có lợi thế và nhược điểm riêng của nó Trong trường hợp

đầu, động tác thực hiện với tốc độ chậm và tốc độ cao tuy giống nhau về đặc tính không gian, nhưng khác nhau về thông số sức mạnh tốc độ Trong trường hợp thứ 2, người tập không thể cùng một lúc thực hiện 2 ý muốn: đúng và nhanh Hơn nữa, mức độ kĩ thuật của bài tập vượt quá sức tiếp thu với người tập Nhưng cuối cùng họ không tiếp thu kĩ thuật một cách chính xác

Để khắc phục những nhược điểm nêu trên, trong huấn luyện kĩ thuật bài tập tốc độ cần tuân thủ 2 nhiệm vụ sau:

+ Cần tiến hành dạy học động tác ở tốc độ xấp xỉ tối đa (9/10 sức) Để cấu trúc sức mạnh tốc độ không khác biệt so với khi thực hiện với tốc độ tối

đa, đồng thời có thể kiểm tra kĩ thuật

+ Cần biến đổi tốc độ thực hiện động tác từ thấp đến cực đại

Bên cạnh tố chất sức mạnh tốc độ thì tố chất sức bền, khả năng phối hợp vận động và khả năng khéo léo cũng ảnh hưởng rất lớn tới thành tích chạy 100m

Tố chất sức bền đảm bảo sự duy trì khả năng vận động trong thời gian dài của người tập, tập luyện sức bền nhằm nâng cao các cấu trúc chức năng, chức phận, nâng cao khả năng hấp thụ ôxi nên cơ thể sẽ duy trì được khả năng hoạt động thể lực lâu dài với cường độ và công suất lớn trong quá trình nâng cao thành tích chạy 100m

Khả năng phối hợp vận động và khéo léo đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của quá trình huấn luyện Khả năng phối hợp vận động

đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng của cơ thể tránh được các động tác thừa, sự tiêu hao năng lượng không cần thiết Mềm dẻo làm tăng biên độ tác động,

Trang 27

tăng khả năng thả lỏng tạo thuận lợi cho quá trình chuyển đổi từ động tác này sang động tác khác

Tóm lại, tốc độ tối đa mà con người có thể phát huy trong một hoạt

động nào đó phụ thuộc chủ yếu vào sức nhanh, ngoài ra còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác Vì vậy, để có được hiệu quả cao trong quá trình rèn luyện sức nhanh cần kết hợp chặt chẽ với rèn luyện các tố chất thể lực khác và hoàn thiện kĩ thuật

Trang 28

Chương 2

nhiệm vụ, phương pháp và tổ chức nghiên cứu

2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích của đề tài, chúng tôi đề ra 2 nhiệm vụ cần giải quyết:

- Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác GDTC và việc sử dụng bài tập

phát triển sức nhanh cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Yên Dũng số 2

2.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Sử dụng phiếu điều tra nhằm tổng hợp các ý kiến và kinh nghiệm từ thực tiễn giảng dạy và huấn luyện của giáo viên bằng phiếu hỏi, các câu hỏi ở mức độ quan trọng của từng bài tập nhằm tìm ra các bài tập hợp lí để nâng cao hiệu quả huấn luyện

2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm

Phương pháp này giúp chúng tôi tiếp cận được khách thể, đối tượng nghiên cứu, mục đích bao quát toàn diện những ưu nhược điểm của đối tượng nghiên cứu Đánh giá được sự tiếp thu lượng vận động, kinh nghiệm phối hợp vận động Qua đó xây dựng được sự phù hợp của các bài tập và nâng cao được

độ tin cậy của đề tài

Ngày đăng: 17/07/2015, 05:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường THPT Yên Dũng - Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100M cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang
Bảng 3.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT trường THPT Yên Dũng (Trang 33)
Bảng 3.2: Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác GDTC - Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100M cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang
Bảng 3.2 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác GDTC (Trang 34)
Bảng 3.3: Bài tập phát triển sức nhanh trong chạy 100m đang được - Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100M cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang
Bảng 3.3 Bài tập phát triển sức nhanh trong chạy 100m đang được (Trang 35)
Bảng 3.4: Kết quả các test kiểm tra sức nhanh của nữ đội tuyển điền kinh - Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100M cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang
Bảng 3.4 Kết quả các test kiểm tra sức nhanh của nữ đội tuyển điền kinh (Trang 36)
Bảng 3.5: Kết quả các test kiểm tra sức nhanh của nữ đội tuyển điền kinh - Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100M cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang
Bảng 3.5 Kết quả các test kiểm tra sức nhanh của nữ đội tuyển điền kinh (Trang 37)
Bảng 3.7: Kết quả phỏng vấn lựa chọn các test đánh giá sức nhanh chạy - Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100M cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang
Bảng 3.7 Kết quả phỏng vấn lựa chọn các test đánh giá sức nhanh chạy (Trang 42)
Bảng 3.8: Kết quả các test kiểm tra trước thực nghiệm của 2 nhóm - Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100M cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang
Bảng 3.8 Kết quả các test kiểm tra trước thực nghiệm của 2 nhóm (Trang 43)
Bảng 3.9: Tiến trình thực nghiệm - Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100M cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang
Bảng 3.9 Tiến trình thực nghiệm (Trang 45)
Bảng 3.10: Kết quả các test kiểm tra sau thực nghiệm của 2 nhóm - Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100M cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang
Bảng 3.10 Kết quả các test kiểm tra sau thực nghiệm của 2 nhóm (Trang 46)
Bảng 3.11: Kết quả các test kiểm tra trước và sau thực nghiệm - Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100M cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang
Bảng 3.11 Kết quả các test kiểm tra trước và sau thực nghiệm (Trang 47)
Bảng 3.12: Kết quả các test kiểm tra trước và sau thực nghiệm - Lựa chọn bài tập phát triển sức nhanh nâng cao thành tích chạy 100M cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Yên Dũng số 2 - Bắc Giang
Bảng 3.12 Kết quả các test kiểm tra trước và sau thực nghiệm (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w