MỤC LỤC PHẦN I. MỞ ĐẦU. 1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………...Trang 1 2. Mục đích nghiên cứu .......................................................................Trang 2 3. Phạm vi nghiên cứu .........................................................................Trang 3 4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu............................... ..........Trang 3 5. Kết cấu của đề tài sáng kiến kinh nghiệm ....................................Trang 3 PHẦN II. NỘI DUNG CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận ...................................................................................Trang 4 2. Cơ sở thực tiễn ................................................................................Trang 7 CHƯƠNG II. CHƯƠNG II: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC TẾ TRONG VIỆC “ KHAI THÁC KÊNH HÌNH VÀ SƯU TẦM TƯ LIỆU ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNH DẠY LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 10 BAN CƠ BẢN” 1.Yêu cầu đối với giáo viên và học sinh ……………………….........Trang 10 2. Nội dung giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu học tập (Phần Lịch sử Việt Nam trong Sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 cơ bản) .................................................................................................Trang 12 2.1 Trước hết tôi giúp học sinh phân loại các kênh hình.................Trang 12 2.2 Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình..........Trang 13 2.3. Biện pháp tiến hành cụ thể............................................................Trang 14 CHƯƠNG III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC..............................................Trang 53 PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận…………………………………………………………....Trang 56 2. Khuyến nghị……………………………………………………....Trang 57 PHẦN IV. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………...Trang 59. PHẦN I. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Môn lịch sử là một trong những môn quan trọng trong trường phổ thông, qua môn này học sinh hiểu biết về quá khứ, cội nguồn của dân tộc, đất nước. Ngoài ra còn giáo dục cho học sinh ý thức trách nhiệm, gìn giữ, bảo tồn phát huy các giá trị truyền thống, ý thức trách nhiệm với bản thân, quê hương, đất nước. Học sinh học lịch sử không phải là để biết quá khứ, hay để biết những câu chuyện đời xưa mà phải biết lấy “chuyện xưa răn đời nay”, “lịch sử là tấm gương soi”. Trong việc hội nhập với cộng đồng thế giới hiện nay chúng ta cần có ý thức hơn về dân tộc mình “khép lại quá khứ chứ không thể quên quá khứ”. Tuy nhiên thực trạng hiện nay ở các trường phổ thông cho thấy môn lịch sử không được quan tâm, chú trọng đúng mức. Tình trạng hiện nay đã dẫn đến báo động đỏ là học sinh rất mơ hồ, kiến thức lịch sử của học sinh quá kém khi được hỏi về lịch sử dân tộc . Lịch sử là một môn khoa học xã hội. Lịch sử là những sự kiện, hiện tượng đã xảy ra trong quá khứ của xã hội loài người, nó tồn tại độc lập khách quan với ý muốn của con người. Do đặc trưng của hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử, học sinh không thể tiếp xúc trực tiếp với sự kiện lịch sử. Việc nhận thức lịch sử phải đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Do đó việc tạo biểu tượng lịch sử là một điều kiện để nhận thức lịch sử đúng như nó tồn tại. Trên cơ sở biểu tượng mới hình thành được khái niệm và hiểu biết lịch sử một cách khoa học. Có nhiều phương tiện, phương thức để tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh, trong đó đồ dùng trực quan có vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc khôi phục, tái tạo lại quá khứ lịch sử. Đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông bao gồm nhiều loại: hiện vật lịch sử, tranh ảnh, các phương tiện trực quan quy ước như bản đồ, đồ thị, niên biểu, sơ đồ,… Các loại đồ dùng trực quan này góp phần không nhỏ vào việc tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, phát triển tư duy, cung cấp kiến thức, bồi dưỡng tình cảm, nâng cao nhận thức lịch sử, khả năng thực hành…Vì vậy, sách giáo khoa lịch sử hiện nay đã dành cho phần kênh hình một tỉ lệ khá cao. Đây vừa là nội dung minh họa bài học vừa là một bộ phận kiến thức cần hình thành cho học sinh. Kênh hình không chỉ sử dụng khi trình bày kiến thức mới mà còn dùng để ôn tập, tổng kết, kiểm tra, hoạt động ngoại khóa và thực hành. Trong sách giáo khoa lịch sử, kênh hình bao giờ cũng gắn liền với nội dung bài viết, câu hỏi, bài tập. Do đó kênh hình đã thay thế một phần nội dung đáng kể của bài học. Học sinh được sự hướng dẫn của giáo viên tìm hiểu nội dung kênh hình, khai thác triệt để kênh hình qua đó nhận thức được sự kiện đang học một cách hứng thú, sinh động, sâu sắc mà nhớ lâu, học sinh sẽ yêu thích lịch sử từ đó sẽ nâng cao được hiệu quả dạy học lịch sử. Những kiến thức lịch sử cơ bản có trong sách giáo khoa chỉ là những yêu cầu tối thiểu đối với học sinh. Để nâng cao được hiệu quả dạy học bộ môn không phải chỉ cần học sinh ghi nhớ những kiến thức cơ bản đó mà học sinh phải yêu thích lịch sử để tìm kiếm và chủ động, ý thức tự giác học tập. Do đó, để phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, yêu cầu giáo viên phải hướng dẫn học sinh khai thác triệt để những kênh hình trong sách giáo khoa kết hợp với việc tự tìm tòi hoặc giáo viên cung cấp một số tư liệu, hình ảnh cho học sinh tìm hiểu kiến thức và nhận thức lịch sử. Đó là lý do tôi chọn chuyên đề “Khai thác kênh hình và tư liệu để nâng cao hiệu quả giảng dạy lịch sử Việt Nam lớp 10 ban cơ bản”.
Trang 1MỤC LỤC PHẦN I MỞ ĐẦU.
1 Lý do chọn đề tài……… Trang 1
2 Mục đích nghiên cứu Trang 2
3 Phạm vi nghiên cứu Trang 3
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu Trang 3
5 Kết cấu của đề tài sáng kiến kinh nghiệm Trang 3
PHẦN II NỘI DUNG
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lý luận .Trang 4
2 Cơ sở thực tiễn .Trang 7
CHƯƠNG II CHƯƠNG II: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC TẾ TRONG VIỆC “ KHAI THÁC KÊNH HÌNH VÀ SƯU TẦM TƯ LIỆU ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNH DẠY LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 10 BAN CƠ BẢN”
1.Yêu cầu đối với giáo viên và học sinh ……… Trang 10
2 Nội dung giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu học
tập (Phần Lịch sử Việt Nam trong Sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 cơ
bản) Trang 12
2.1 Trước hết tôi giúp học sinh phân loại các kênh hình Trang 12
2.2 Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình Trang 13 2.3 Biện pháp tiến hành cụ thể Trang 14
CHƯƠNG III KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC Trang 53
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1 Kết luận……… Trang 56
2 Khuyến nghị……… Trang 57
PHẦN IV DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… Trang 59.
Trang 2PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Môn lịch sử là một trong những môn quan trọng trong trường phổ
thông, qua môn này học sinh hiểu biết về quá khứ, cội nguồn của dân tộc, đấtnước Ngoài ra còn giáo dục cho học sinh ý thức trách nhiệm, gìn giữ, bảo tồnphát huy các giá trị truyền thống, ý thức trách nhiệm với bản thân, quê hương,đất nước Học sinh học lịch sử không phải là để biết quá khứ, hay để biếtnhững câu chuyện đời xưa mà phải biết lấy “chuyện xưa răn đời nay”, “lịch
sử là tấm gương soi” Trong việc hội nhập với cộng đồng thế giới hiện naychúng ta cần có ý thức hơn về dân tộc mình “khép lại quá khứ chứ không thểquên quá khứ”
Tuy nhiên thực trạng hiện nay ở các trường phổ thông cho thấy mônlịch sử không được quan tâm, chú trọng đúng mức Tình trạng hiện nay đãdẫn đến báo động đỏ là học sinh rất mơ hồ, kiến thức lịch sử của học sinh quákém khi được hỏi về lịch sử dân tộc
Lịch sử là một môn khoa học xã hội Lịch sử là những sự kiện, hiệntượng đã xảy ra trong quá khứ của xã hội loài người, nó tồn tại độc lập kháchquan với ý muốn của con người Do đặc trưng của hiện thực lịch sử và nhậnthức lịch sử, học sinh không thể tiếp xúc trực tiếp với sự kiện lịch sử Việcnhận thức lịch sử phải đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tưduy trừu tượng đến thực tiễn Do đó việc tạo biểu tượng lịch sử là một điềukiện để nhận thức lịch sử đúng như nó tồn tại Trên cơ sở biểu tượng mới hìnhthành được khái niệm và hiểu biết lịch sử một cách khoa học
Có nhiều phương tiện, phương thức để tạo biểu tượng lịch sử cho họcsinh, trong đó đồ dùng trực quan có vị trí đặc biệt quan trọng đối với việckhôi phục, tái tạo lại quá khứ lịch sử
Đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông bao gồmnhiều loại: hiện vật lịch sử, tranh ảnh, các phương tiện trực quan quy ước như
Trang 3bản đồ, đồ thị, niên biểu, sơ đồ,… Các loại đồ dùng trực quan này góp phầnkhông nhỏ vào việc tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, phát triển tư duy,cung cấp kiến thức, bồi dưỡng tình cảm, nâng cao nhận thức lịch sử, khả năngthực hành…Vì vậy, sách giáo khoa lịch sử hiện nay đã dành cho phần kênhhình một tỉ lệ khá cao Đây vừa là nội dung minh họa bài học vừa là một bộphận kiến thức cần hình thành cho học sinh Kênh hình không chỉ sử dụng khitrình bày kiến thức mới mà còn dùng để ôn tập, tổng kết, kiểm tra, hoạt độngngoại khóa và thực hành.
Trong sách giáo khoa lịch sử, kênh hình bao giờ cũng gắn liền với nộidung bài viết, câu hỏi, bài tập Do đó kênh hình đã thay thế một phần nộidung đáng kể của bài học Học sinh được sự hướng dẫn của giáo viên tìm hiểunội dung kênh hình, khai thác triệt để kênh hình qua đó nhận thức được sựkiện đang học một cách hứng thú, sinh động, sâu sắc mà nhớ lâu, học sinh sẽyêu thích lịch sử từ đó sẽ nâng cao được hiệu quả dạy học lịch sử
Những kiến thức lịch sử cơ bản có trong sách giáo khoa chỉ là nhữngyêu cầu tối thiểu đối với học sinh Để nâng cao được hiệu quả dạy học bộmôn không phải chỉ cần học sinh ghi nhớ những kiến thức cơ bản đó mà họcsinh phải yêu thích lịch sử để tìm kiếm và chủ động, ý thức tự giác học tập
Do đó, để phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, yêucầu giáo viên phải hướng dẫn học sinh khai thác triệt để những kênh hìnhtrong sách giáo khoa kết hợp với việc tự tìm tòi hoặc giáo viên cung cấp một
số tư liệu, hình ảnh cho học sinh tìm hiểu kiến thức và nhận thức lịch sử Đó
là lý do tôi chọn chuyên đề “Khai thác kênh hình và tư liệu để nâng cao hiệuquả giảng dạy lịch sử Việt Nam lớp 10 ban cơ bản”
2 Mục đích nghiên cứu.
Tôi thực hiện chuyên đề này nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giảngdạy bộ môn lịch sử ở trường THPT, tạo hứng thú học tập cho học sinh vàthông qua nội dung kênh hình giáo dục cho học sinh kỹ năng quan sát, khai
Trang 4thác tranh ảnh để nhận thức lịch sử Từ những nhận thức lịch sử, giáo viêngiáo dục tư tưởng tình cảm, đạo đức cho học sinh biết quý trọng, giữ gìn vàphát huy những giá trị lịch sử, văn hóa dân tộc.
3 Phạm vi nghiên cứu.
- Phạm vi nghiên cứu: Lớp 10 chương trình chuẩn
- Áp dụng: Trường THPT Kiệm Tân
- Nội dung nghiên cứu: tập trung khai thác những nội dung kênh hình đãcung cấp cho học sinh trong sách giáo khoa lịch sử và hướng dẫn học sinh sưutầm thêm về tư liệu lớp 10 cơ bản phần lịch sử Việt Nam
4 Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Xác định cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn của việc khai tháckênh hình và sưu tầm tài liệu liên quan trong bộ môn Lịch sử Trường THPT
- Phân tích thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học: khai thác kênh hình và sưutầm tài liệu của giáo viên và học sinh ở trường phổ thông
- Một số kinh nghiệm về việc hướng dẫn khai thác kênh hình và sưu tầm tàiliệu … Trong dạy học Lịch sử ở trường THPT Kiệm Tân
5 Phương pháp nghiên cứu.
- Phân tích, tổng kết, so sánh qua các bài có sử dụng, khai thác các kênh hình
và sưu tầm tài liệu có liên quan tới bài dạy
- Có thể giáo viên cho học sinh xem một số hình ảnh, tư liệu liên quan tới bàihọc thông qua đó làm rõ nội dung của bài và giáo dục ý thức và tư tưởng chohọc sinh
6 Cấu trúc của đề tài.
Đề tài gồm có 3 phần :
PHẦN I MỞ ĐẦU PHẦN II NỘI DUNG PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Trang 5PHẦN II NỘI DUNG
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lí luận.
Đai – ri, nhà giáo dục Liên Xô cũ đã từng nói : “ Dạy lịch sử cũng nhưbất cứ dạy cái gì đòi hỏi người thầy phải khêu gợi cái thông minh chứ khôngphải là bắt buộc các trí nhớ làm việc, bắt nó ghi chép rồi trả lại” Như vậymục đích của việc dạy học Lịch sử ở trường không chỉ giúp cho học sinh hìnhdung được quá khứ biết và ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng của lịch sử màquan trọng hơn là hiểu được lịch sử tức là phải nắm được bản chất của sựkiện Trong phát triển tư duy của học sinh, việc sử dụng các thao tác logic có
ý nghĩa rất quan trọng Thông thường giáo viên sử dụng các thao tác chủ yếunhư so sánh (để tìm ra sự giống nhau và khác nhau về bản chất các sự kiện),phân tích và tổng hợp( giúp học sinh khái quát các sự kiện), quy nạp, diễndịch…Để thực hiện những thao tác như vậy có thể dùng nhiều cách, nhiềuphương tiện khác nhau( đồ dung trực quan, tài liệu giải thích…), song việchỏi và trả lời phù hợp với trình độ yêu cầu của học sinh, đưa lại kết quả tốt.Hỏi và trả lời không phải là sự đánh đố mà là giúp các em hiểu sâu sắc lịch sửhơn, phát huy được tính tích cực của học sinh trong học tập
N.G Đairi, trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào”, NXBGiáo dục, Hà Nội 1973, đã nêu lên yêu cầu học tập lịch sử đối với học sinh
“học tập lịch sử không phải chỉ chờ vào trí nhớ mà còn phải dựa vào tư duylogic và sự phán đoán” [5, 22] Từ đó, ông đề xuất một số biện pháp phát huytính tích cực của học sinh trong dạy và học lịch sử
T.A.Ilina trong cuốn “Giáo dục học” tập II, NXB Giáo dục, Hà Nội
1973 đã đưa ra một số biện pháp sư phạm như: phương pháp làm việc vớisách giáo khoa, phương pháp học tập ở phòng thí nghiệm, phương pháp luyệntập, ôn tập đặc biệt là phương pháp phát huy tính tích cực học tập của học
Trang 6Nghị quyết TW 2 khóa VIII: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục
và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạocho người học Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến hiện đại vào quátrình dạy – học, bảo đảm thời gian và điều kiện tự học tự nghiên cứu cho họcsinh” “Trong nhà trường, điều chủ yếu không phải là nhồi nhét cho học tròmột mớ kiến thức hỗn độn, tuy rằng kiến thức là cần thiết Điều chủ yếu làgiáo dục cho học trò phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phươngpháp diễn tả, rồi đến phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phươngpháp giải quyết vấn đề”(Phạm Văn Đồng, “Hãy tiến mạnh trên mặt trận khoahọc và kỹ thuật”, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1969)
Những chủ trương đổi mới giáo dục và đào tạo: Nghị quyết trung ương
4 khóa VII về việc phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thườngxuyên và rộng khắp trong nhân dân
Cải tiến , đổi mới phương pháp dạy học không chỉ là việc tích lũy, pháttriển kinh nghiệm giáo dục, mà điều quan trọng hơn là tiến hành trên cơ sởnghiên cứu khoa học Bởi phương pháp dạy học là một trong những yếu tốquan trọng nhất trong quá trình dạy học và quá trình nhận thức.Vì vậy khôngthể coi nhẹ phương pháp dạy học , xem đó là kinh nghiệm, thủ thuật của cánhân
Việc bồi dưỡng về phương pháp dạy học là điều cần thiết và cấp thiếtnhằm làm cho việc dạy học Lịch sử thu được nhiều kết quả đáp ứng được nhucầu cải cách giáo dục hiện nay và góp phần phát triển bộ môn
Các nhà giáo dục lịch sử hiểu rằng: phương pháp dạy học lịch sử là conđường , cách thức hoạt động của thầy và trò trong một quá trình thống nhấtgiảng dạy (giáo viên) và học tập nhận thức (học sinh), nhằm truyền thụ và tiếpthu kiến thức lịch sử (về sự kiện, lý thuyết, thực hành)
Phương pháp dạy học lịch sử không chỉ là một phương pháp đơn nhất,
mà bao gồm một hệ thống các phương pháp có quan hệ chặt chẽ, tác động, hỗ
Trang 7trợ nhau trong quá trình dạy học như: phương pháp thông tin, tái hiện lịch sử,phương pháp nhận thức lịch sử; phương pháp tìm tòi, nghiên cứu…
Hệ thống phương pháp này được thực hiện thông qua nhiều phương pháp,biện pháp, cách dạy học cụ thể, chủ yếu là trình bày miệng, sử dụng đồ dùngtrực quan (và các phương tiện dạy học hiện đại như vi deo, chiếu bóng…)
Như vậy, muốn đổi mới phương pháp dạy học trong bộ môn lịch sửgiáo viên có thể sử dụng nhiều phương pháp nhằm phát huy tính tự tin, tíchcực, chủ động, sáng tạo thông qua tổ chức thực hiện các hoạt động học tậpcủa học sinh: khai thác kênh hình trong sách giáo khoa (SGK), hướng dẫn chohọc sinh sưu tầm những hình ảnh, những kiến thức lịch sử, ứng dụng côngnghệ thông tin (CNTT) vào thiết kế, xây dựng bộ câu hỏi học tập, các bài tậpthực hành, đố vui lịch sử, thư viện thông tin… cho học sinh, hướng dẫn họcsinh tự học, sử dụng sơ đồ hóa, sơ đồ tư duy trong giảng dạy…
Việc học tập lịch sử thông qua các biện pháp trên nói chung và việckhai thác kênh hình, sưu tầm tài liệu nói riêng sẽ tạo nhiều hứng thú cho các
em trong học tập, các em được tiếp cận, nhận thức các sự kiện lịch sử và bàihọc lịch sử sống động hơn, gần với quá khứ hơn So với những bài giảngthông thường, học sinh phải mường tượng trong đầu những sự kiện, nhân vật
mà thầy cô thuyết giảng thì với việc học trên bài giảng điện tử, khai thác cáckênh hình, tìm tòi và nghiên cứu học sinh đã được trực quan sinh động vớinhững sự kiện, nhân vật lịch sử một cách cụ thể giúp kích thích quá trình tưduy của học sinh Từ đó, nội dung kiến thức lịch sử học sinh thu thập đủ hơn
và in sâu hơn vào trong trí nhớ của các em, giờ học sẽ trở nên sôi nổi hơn,hiệu quả hơn với sự tham gia đóng góp những ý kiến có chất lượng của nhiềuhọc sinh và học sinh sẽ thực sự chủ động quá trình dạy học, giáo viên có thểhoàn thành vai trò hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức bền vững hơn Quathực tế việc khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu trong giảng dạy trong lịch
sử lớp 10 ban cơ bản đã tạo hứng thú cho học sinh Mỗi học sinh có thể tự
Trang 8khai thác, tự tìm tòi, khám phá những kiến thức lịch sử cho mình dưới sựhướng dẫn của giáo viên để bài học trở nên dễ thuộc, dễ hiểu, dễ nhớ hơn
Vì vậy tôi xin đưa ra đề tài: “Khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu đểnâng cao hiệu quả giảng dạy Lịch sử Việt Nam lớp 10 ban cơ bản”
… các tác giả khi viết sách đã cung cấp cho giáo viên lý luận chung về đổimới giáo dục phổ thông, một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạyhọc lịch sử ở trường phổ thông, một số biện pháp nâng cao năng lực giáo viêndạy học lịch sử ở trường trung học Ngoài ra những lớp bồi dưỡng dạychương trình thay sách mới, bồi dưỡng thường xuyên theo chu kì đã được tổchức, các hình thức sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn cũng tập trung bàn bạc vềnhững vấn đề đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) nhiều, điển hình tiêntiến về PPDH môn lịch sử đã xuất hiện trong những hội thi giáo viên giỏi,nhiều tiết học diễn ra sinh động, hiệu quả theo yêu cầu đổi mới nhưng khôngmang tính đại trà Một bộ phận giáo viên Lịch sử chưa nỗ lực vượt qua kiểudạy học theo lối mòn trước đây nên đã chủ yếu dùng phương pháp trình bàymiệng, bằng lời nói sinh động, giàu hình ảnh giáo viên thông qua tường thuật,miêu tả, kể chuyện, nêu đặc điểm của nhân vật lịch sử …kết hợp với giớithiệu các tranh ảnh, bản đồ, lược đồ … , sử dụng thêm vài câu hỏi, học sinhnhìn qua loa vào sách giáo khoa và trả lời, khoảng 10-15 lần như thế là xongtiết học Bằng phương pháp này, giờ học lịch sử đã trở thành giờ kể chuyệnlịch sử, các sự kiện, hiện tượng lịch sử được trình bày một cách trừu tượng,qua loa, chưa đạt tới mức độ có thể giúp học sinh hình dung về quá khứ, các
Trang 9kĩ năng thực hành bộ môn, khả năng quan sát, suy luận, trình bày các vấn đềlịch sử… của học sinh đã không được chú trọng theo đúng yêu cầu đổi mớicủa mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình sách giáo khoa và phương phápdạy học Với việc sử dụng đó đồ dùng trực quan, khai thác kênh hình chỉ cógiá trị được dùng để minh họa cho lời giảng của giáo viên nên giá trị sử dụngcủa đồ dùng trực quan trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học không caohoặc không cần thiết (không sử dụng cũng được) Đây chính là kiểu dạy học
“cầm tay chỉ việc” có tính cách “học hộ” và áp đặt, làm cho người học trở nênthụ động, mất khả năng và hứng thú tìm tòi, sáng tạo
Phương pháp dạy học truyền thống vẫn tiếp tục được áp dụng Hiệntượng thuyết giảng một chiều, thầy đọc, trò chép diễn ra khá phổ biến trongcác giờ học môn lịch sử Đồ dùng dạy học chưa sử dụng triệt để, đôi khi trongtiết dạy giáo viên chỉ đưa ra một số bức tranh, sơ đồ minh hoạ không đủ sứccuốn hút, hấp dẫn học sinh Đôi khi các sơ đồ lược đồ được sử dụng khôngđảm bảo tính sư phạm
Sách giáo khoa lịch sử hình ảnh để minh họa cho bài học màu sắckhông sinh động (đen - trắng) Giáo viên lịch sử lại không chú trọng việchướng dẫn học sinh khai thác các kênh hình trong sách giáo khoa để các emhiểu biết kĩ hơn về kiến thức có liên quan tới bài học và ít hướng dẫn các emsưu tầm tư liệu thêm để giúp bài học thêm sinh động
Phân phối chương trình bộ môn lịch sử chỉ có 1,5 tiết / tuần, mà kiếnthức lịch sử trong SGK lại rất giàn trải, và đặc biệt với số lượng thời gian ítnên không có tiết sửa bài kiểm tra Giáo viên ra đề kiểm tra lại chưa hìnhthành đáp án rõ ràng
Phương thức lĩnh hội chủ yếu của học sinh là nghe và ghi nhớ, kĩ nănghọc tập lịch sử của học sinh đang còn rất mơ hồ, đơn điệu về lịch sử Tổ chứchoạt động cho học sinh học tập theo nhóm, thảo luận, trình bày theo sơ đồ tư
Trang 10duy không sinh động mang tính hình thức, học sinh thường là đọc lại sáchgiáo khoa để trả lời, thiếu sự khai thác bản chất vấn đề.
Việc giáo viên hướng dẫn cho học sinh khai thác kênh hình trong sáchgiáo khoa và dặn dò các em về nhà làm bài tập, đi sưu tầm những tài liệu cóliên quan tới bài học cũng rất ít xảy ra, và chỉ xảy ra ở một số giáo viên có sựchuẩn bị, có tâm huyết với nghề, với bộ môn của mình
Hiện nay, xã hội và nhà trường xem nhẹ môn lịch sử đã là một khókhăn, giáo viên dạy môn lịch sử chưa thật sự yêu nghề, đồng lương chưa đảmbảo cuộc sống, giáo viên còn làm thêm việc khác để cải thiện đời sống giađình họ chưa đem hết lòng tận tuỵ với học sinh Vì thế chưa tận dụng hết thờigian để nghiên cứu nắm bắt tình hình thời sự chính trị, biến đổi về địa lý, kinh
tế tài chính, điều mà mỗi giáo viên môn lịch sử cần kịp thời nắm bắt ở thôngtin báo chí, trên internet…
2.2 Thực trạng học tập lịch sử của học sinh
Có thể nói, đối tượng các em học sinh lớp 10, là lớp đầu cấp 3 nên các
em có nhiều thay đổi môi trường học, phương giảng dạy của nhiều thầy cômới, cần có một thời gian để thích nghi hình thành cách học mới
Hiện nay tâm lý giới trẻ trong thời kỳ công nghiệp hoá các em thiên vềcác môn khoa học tự nhiên, xem nhẹ các môn khoa học xã hội khiến nhiềuhọc sinh không có hứng thú đối với môn lịch sử, việc học tập môn học nàychưa được các học sinh thực sự say mê và muốn khám phá, tìm tòi Đặc biệtgia đình không quan tâm, không ủng hộ các em (ví dụ như năm học 2012-
2013 tôi có ôn thi học sinh giỏi lớp 12, có một trường hợp phụ huynh khi tôigọi điện xin cho em học sinh đó đi ôn thi học sinh giỏi môn lịch sử thì phụhuynh này không ngần ngại và nói thẳng với tôi rằng “học cái môn không ra
gì đó để làm gì cô”
Chương trình lịch sử hiện nay còn nặng, còn nhiều về ghi nhớ số liệu,sách giáo khoa môn lịch sử quá nhấn mạnh sự kiện, con số, ngày tháng, hình
Trang 11ảnh chưa phong phú “không gợi nhớ”, học sinh có cảm giác mệt mỏi khi phảihọc và nhớ, đọc sau sẽ quên trước Nhưng một thực trạng hiện nay là học sinhthiếu động cơ học lịch sử bởi việc nhớ quá nhiều sự kiện là ác mộng với nhiềuhọc sinh và nhớ một cách máy móc, đa số học sinh học vẹt chiếm tỷ lệ cao
Với việc khai thác kênh hình trong sách giáo khoa và sưu tầm thêm tưliệu thì học sinh chỉ biết nhìn vào đó thấy có những hình ảnh, những lược đồcủa trận đánh, hình ảnh những nhân vật lịch sử… có thể để cười, hoặc có một
số em còn vẽ thêm lên những hình ảnh đó Các em cũng không biết phải trìnhbày như thế nào nếu không có sự hướng dẫn của giáo viên
Trong xã hội hiện nay, công nghệ thông tin rất phát triển nhưng ít cóhọc sinh giành thời gian lên Internet vào những trang lịch sử mà truy cập, đểtìm hiểu và khám phá thêm về lịch sử nước nhà, mà đa số các em đi vào cáctrang mạng xã hội khác
Với những thực trạng trên, việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sửnói chung là rất cấp thiết, cần phải nhanh chóng khắc phục sự xem nhẹ bộmôn lịch sử trong xã hội Trước sự du nhập nhiều luồng văn hóa cần phảihình thành cho các em lòng tự hào dân tộc để các em có bản lĩnh trụ vững,
để đấu tranh không cho cái xấu xâm nhập vào mình
Hiện nay, việc sử dụng và khai thác các kênh hình trong sách giáo khoa
và việc sưu tầm thêm tài liệu trong mỗi bài giảng Lịch sử đã nhiều thay đổi
và theo hướng tích cực, cần phải có nhiều tiết học sử dụng kênh hình: hìnhảnh, lược đồ……các tài liệu liên quan cùng với những lời giảng của thầy cô
sẽ tạo được sự hứng thú, tích cực, sự tìm tòi và sáng tạo của học sinh, tạo rakhả năng nâng cao chất lượng học tập lịch sử
CHƯƠNG II: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC TẾ TRONG VIỆC “ KHAI THÁC KÊNH HÌNH VÀ SƯU TẦM TƯ LIỆU ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNH DẠY LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 10 BAN CƠ BẢN”
1 Yêu cầu đối với giáo viên và học sinh.
Trang 121.1 Đối với giáo viên:
Giáo viên là người tổ chức tiết học, dẫn dắt học sinh chinh phục tri thức,nhất là với đặc điểm môn lịch sử, bên cạnh việc đổi mới phương pháp, đưaphương tiện hiện đại vào giảng dạy thì việc khai thác kênh hình là việc cầnthiết vừa làm phong phú bài giảng vừa giúp học sinh khắc sâu kiến thức Đểtiết học đạt hiệu quả và nâng cao được hiệu quả học tập, giáo viên cần làmnhững việc sau đây:
- Yêu cầu học sinh chuẩn bị bài học, đọc và trả lời các câu hỏi sáchgiáo khoa
- Hướng dẫn học sinh tìm tư liệu và hình ảnh liên quan đến bài học và
tự khai thác kênh hình (quan sát, mô tả, nhận xét)
- Trong tiết học, giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác kênh hìnhsách giáo khoa và tư liệu cùng những hình ảnh học sinh tự tìm và hình ảnh
do giáo viên cung cấp để học sinh chủ động tiếp nhận kiến thức bài học và
mở rộng thêm những nội dung có liên quan
Trên cơ sở có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của đồ dùng dạyhọc, cơ sở lý luận về đổi mới giáo dục trong việc sử dụng khai thác kênh hìnhcủa giáo viên, từ kinh nghiệm thực tế của bản thân qua quá trình dạy học xinđược trình bày phương pháp sử dụng kênh hình trong quá trình dạy học lịch
sử một cách có hiệu quả:
- Việc khai thác kênh hình sách giáo khoa phải được thực hiện theo
các bước sau:
Bước 1: Cho học sinh quan sát tranh, ảnh, lược đồ để xác định một
cách khái quát nội dung tranh, ảnh cần khai thác
Bước 2: Giáo viên đưa ra câu hỏi nêu vấn đề và tổ chức, hướng dẫn học
sinh tìm hiểu nội dung tranh ảnh, lược đồ
Trang 13Bước 3: Học sinh trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh, ảnh, lược
đồ sau khi đã quan sát, kết hợp gợi ý của Giáo viên và tìm hiểu nội dung trongbài học
Bước 4: Nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của học sinh, hoàn thiện nội
dung khai thác tranh, ảnh cho học sinh
- Giáo viên phải hiểu được nội dung cần khai thác từ kênh hình của
1.2 Đối với học sinh:
Trước tiên học sinh cần có thái độ học tập nghiêm túc, có cái nhìn đúngđắn đối với môn học, có sự chuẩn bị cho bộ môn trước khi bài học bắt đầunhư trả lời trước câu hỏi trong sách giáo khoa, trong bài có những kênh hìnhnào, có nhắc đến những địa danh nào, nhân vật lịch sử nào hoặc những lược
đồ, bản đồ…… thì học sinh tự tìm tư liệu tham khảo để khai thác kênh hình
đó, chủ động tiếp nhận tri thức
2 Nội dung giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình và sưu tầm
tư liệu học tập (Phần Lịch sử Việt Nam trong Sách giáo khoa Lịch sử lớp
10 cơ bản).
2.1 Trước hết tôi giúp học sinh phân loại các kênh hình: Trong sách
giáo khoa Lịch sử lớp 10 chương trình chuẩn có rất nhiều kênh hình, có thểphân thành ba loại sau đây :
- Tranh, ảnh lịch sử: Là kênh hình có khả năng khôi phục lại hình ảnh của
những con người, đồ vật, sự kiện lịch sử, biến cố một cách cụ thể sinh động
và khá xác thực
Trang 14- Lược đồ lịch sử: Là kênh hình nhằm xác định địa điểm của những sự kiện
trong thời gian và không gian nhất định Đồng thời giúp học sinh suy nghĩ vàgiải thích các hiện tượng Lịch sử về mối quan hệ liên hệ nhân quả, có tínhquy luật và trình độ phát triển của quá trình Lịch sử, giúp các em học sinh ghinhớ những kiến thức đã học
- Biểu đồ: Là kênh hình dùng để diễn tả quá trình phát triển, sự vận động của
một sự kiện Lịch sử, trên cơ sở sử dụng số liệu, tài liệu thống kê trong bài
học Biểu đồ thường được biểu diễn trên trục hoành (ghi thời gian) và trục
tung (ghi sự kiện).
2.2 Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình.
Thứ nhất: Trước khi hướng dẫn học sinh khai thác, tìm hiểu về kênh hình,
tôi chuẩn bị thật kĩ Tôi tìm hiểu, nắm vững nội dung của kênh hình đó bằngviệc đọc sách tham khảo, báo, mạng Internet, ti vi
Thứ hai: Để chuẩn bị cho một giờ học mới, tôi yêu cầu học sinh đọc trước
bài ở nhà, tự tìm hiểu về kênh hình trong bài học đó
Thứ ba: Khi giảng dạy, tôi yêu cầu các em học sinh quan sát kênh hình để
xác định một cách khái quát nội dung kênh hình cần khai thác.Tôi giải thíchbảng chú giải trong kênh hình, đặt câu hỏi để các em thảo luận, tự trình bày
về sự kiện, hiện tượng Lịch sử Sau đó tôi nhận xét, bổ sung nội dung trả lờicủa học sinh, hoàn thiện nội dung khai thác kênh hình cung cấp cho học sinh.Đồng thời qua nghiên cứu, tìm hiểu kênh hình sẽ dễ dàng giáo dục tư tưởng,tình cảm, đạo đức cho học sinh Khi học sinh trả lời câu hỏi đúng, tôi chođiểm luôn vào sổ để khích lệ tinh thần học tập của các em
2.2.1 Đối với tranh, ảnh Lịch sử: Đây là một bộ phận quan trọng trong kênh
hình của sách giáo khoa, giúp cho học sinh làm việc với sách giáo khoa
-Về tranh, ảnh lịch sử: Tôi hướng dẫn học sinh quan sát và đưa ra các
câu hỏi để phát huy tính tích cực, thông minh sáng tạo của các em
Trang 15- Về ảnh chân dung các nhân vật Lịch sử: Tôi không chỉ cho học sinh
quan sát, miêu tả hình dạng bên ngoài mà còn hướng dẫn các em phân tích nộitâm, tài, đức, quan điểm thể hiện ở hành động của nhân vật
- Về ảnh thể hiện sự kiện lịch sử: Tôi hướng dẫn học sinh quan sát, tìm
hiểu thông tin, từ đó rút ra nhận xét, đánh giá
2.2.2 Đối với lược đồ: Trước tiên tôi yêu cầu học sinh quan sát lược đồ Tôi
giới thiệu khái quát lược đồ, giải thích các ký hiệu trên bảng chú giải Sau đótôi đặt câu hỏi yêu cầu học sinh lên bảng trình bày những kiến thức thể hiện
trên lược đồ Lược đồ về các cuộc khởi nghĩa: Đây là lược đồ diễn tả những
sự kiện riêng lẻ hay một mặt của quá trình lịch sử
2.3 Biện pháp tiến hành cụ thể (Phần Lịch sử Việt Nam trong Sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 cơ bản).
* Tiết thị phạm : Bài 16 Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc
lập dân tộc( tiếp theo), phần II, mục 2.
Trong bài này có 2 kênh hình để khai thác: hình 34- đền thờ Hai Bà Trưng ở
Mê Linh (Vĩnh Phúc) trong mục khởi nghĩa Hai Bà Trưng đây là loại kênhhình tranh ảnh lịch sử và hình 35- Lược đồ chiến thắng Bạch Đằng năm 938trong mục d, Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đây là loại kênhhình lược đồ lịch sử
- Khi dạy mục a, khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở phần 2, một số cuộc
khởi nghĩa tiêu biểu tôi đã hướng dẫn cho học sinh khai thác hình 34 - đền thờHai Bà Trưng ở Mê Linh (Vĩnh Phúc) trong sách giáo khoa
Trang 16Hình 34- Đền thờ Hai Bà Trưng ở Mê Linh( Vĩnh Phúc)
Tôi hướng dẫn học sinh quan sát bức tranh “đền thờ Hai Bà Trưng” ở
Mê Linh (Vĩnh Phúc), đặt câu hỏi đàm thoại, gợi mở để học sinh suy nghĩ trảlời Đó là: Em biết gì về đền thờ Hai Bà Trưng?
Quan sát bức tranh em cảm nhận được điều gì?
Sau khi học sinh trả lời, tôi nhận xét, bổ sung và chốt ý về hình ảnh
“đền thờ Hai Bà Trưng”: ảnh trong sách giáo khoa chụp đền thờ Hai BàTrưng tại làng Hạ Lôi, xã Mê Linh,Vĩnh Phúc Ban đầu đền được dựng bằngtre lá Đến thời nhà Đinh (968-979) đền được xây lại bằng gạch Năm 1889,đền được trùng tu lớn và đổi hướng như ngày nay
Trang 17Cùng với với việc hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình tôi hướngdẫn để học sinh sưu tầm thêm một số hình ảnh liên quan tới đền thờ Hai BàTrưng như:
Đền thờ Hai Bà Trưng ngày nay (ảnh minh họa)
Đền được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc, xung quanh làtường gạch Khu sân rộng 9000m2, cửa đền nhìn ra hướng tây là tam quan.Trong đền còn lưu giữ được nhiều cổ vật quý, trong đó đặc biệt là ba mươiđạo sắc phong của các triều đại phong kiến Việt Nam Từ thời Lê Cảnh Hưng(1787-1788) đến thời Khải Định (1916-1925) Các sắc phong cho Hai BàTrưng cũng chỉ cho nhân dân Hạ Lôi nói riêng và toàn nhân dân ta nói chungphải biết chăm sóc, giữ gìn đền thờ Hai Bà Trưng
Trang 18Qua việc hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình trên có ý nghĩa giáo
dục cao đối với các em tinh thần yêu nước, ý chí quật cường bất khuất củadân tộc ta, vai trò to lớn của người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử vẻ vang củadân tộc lời thề Trưng Trắc vẫn còn lưu truyền đến ngày nay:
“Một xin rửa sạch nước thùHai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồngBốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”
- Tư liệu về Hai Bà Trưng:
Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai chị em sinh đôi (sinh vào ngày mồng một tháng tám năm Giáp Tuất, năm 14 sau công nguyên), là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh (người đứng đầu bộ lạc huyện Mê Linh, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay) thuộc dòng dõi Hùng Vương Mẹ là bà Man Thiện Hai Bà mất mồ côi cha sớm nhưng được mẹ quan tâm nuôi nấng, dạy cho nghề trồng dâu, nuôi tằm, dạy con lòng yêu nước, rèn luyện sức khoẻ, rèn luyện võ nghệ Chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách, con trai Lạc tướng huyện Chu Diên (tỉnh Hà Tây ngày nay) Lúc bấy giờ nhà Đông Hán đang cai trị hà khắc nước Việt, viên Thái thú Tô Định là người vô cùng bạo ngược, tham lam Hai bà cùng Thi Sách chiêu mộ nghĩa quân, chuẩn bị
Trang 19khởi nghĩa, nhưng Thi Sách bị Tô Định giết chết Hận giặc hãm hại nhân dân, giết hại chồng mình, Trưng Trắc đã cùng em gái Trưng Nhị phát độngcuộc khởi nghĩa ở cửa Sông Hát trên Sông Hồng (thuộc địa phận huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây) với lời thề trước giờ xuất binh:
“Một xin rửa sạch nước thù Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kêu oan ức lòng chồng Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”
(Theo Thiên Nam ngữ lục)
- Khi dạy mục b Cuộc khởi nghĩa Lý Bí và sự thành lập nhà nước Vạn
Xuân.
Giáo viên yêu cầu học sinh tìm hiểu và trình bày cuộc khởi nghĩa Lý Bínăm 542 Sau khi học sinh trình bày xong giáo viên nhận xét và cung cấpthêm cho học sinh hình ảnh và tư liệu về Lý Bí và cuộc khởi nghĩa do ônglãnh đạo
Lý Bí là một hào trưởng địa phương, quê ở huyện Thái Bình (có lẽ thuộc vùng hai bên bờ sông Hồng, phía trên thị xã Sơn Tây) Có tài,
Chân dung Lý Bí(tranh vẽ)
Võ giỏi mưu cao, ông còn là người rấtmực yêu nước, thương dân
Một thời gian, Lý
Bí có giữ một chức quan nhỏ, coi việc quân ở Châu Đức
Trang 20(Hà Tĩnh) Nhận thấy tình cảnh cơ cực của dân, ông đem lòng chán ghét chínhquyền đô hộ Cuối cùng, ông từ chức về quê nhà, mưu tính việc lớn Nhân lòng oán hận quân Lương của mọi người, Lý Bí đã chiêu mộ được nhiều quân, trữ được nhiều lương thực Ông còn liên kết với hào kiệt các nơi chuẩn
bị cùng nổi dậy
Theo sử cũ, bấy giờ Triệu Túc và con là Triệu Quang Phục ở vùng Chu Diên hưởng ứng đầu tiên Tiếp theo là Tinh Thiều, Phạm Tu cùng hào kiệt nhiều nơi khác Tinh Thiều cũng quê ở Thái Bình Học giỏi, văn hay, nhưng vì không thuộc dòng dõi quý tộc nên Tinh Thiều chỉ được phong chức "canh cổng thành" Bất bình, ông không nhận chức, về quê cùng Lý Bí mưu tính khởi nghĩa Lão tướng Phạm Tu, người Thanh Trì (Hà Nội), bấy giờ đã ngoài sáu mươi, vẫn cùng lớp trai làng hăng say việc nước
Mùa xuân năm 542, Lý Bí phất cờ nổi dậy Khởi nghĩa thành công nhanh chóng Trong vòng chưa đầy 3 tháng, nghĩa quân đã chiếm được hầu hết các quận, huyện Thứ sử Tiêu Tư run sợ, vội vã bỏ thành Long Biên (Yên Phong - Bắc Ninh) rút chạy về Trung Quốc Lý Bí đem quân vào Long Biên, ổn định tình hình mọi mặt Được tin Long Biên thất thủ, vua Lương lập tức hạ lệnh cho quân phản công chiếm lại Bọn xâm lược vừa kéo sang đã bị Lý Bí cho quân mai phục đánh tan
Đầu năm sau (543), vua Lương lại lệnh cho quân sang xâm lược lần nữa Bọntướng chỉ huy quân Lương lúc này vừa khiếp sợ, vừa mệt mỏi, đang còn dùngdằng chưa dám tiến quân, Lý Bí chủ động ra quân đón đánh địch ở bán đảo Hợp Phố (bấy giờ thuộc châu Giao) Quân Lương mười phần chết đến bảy,
Trang 21tám Tướng địch bị giết gần hết, kẻ sống sót cũng bị vua Lương bắt phải tự tử.
- Khi dạy mục c Cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ.
Giáo viên gợi ý cho học sinh về cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo bằng cách đặt câu hỏi: Nêu diễn biến cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ? Em biết gì về ông?
Sau khi học sinh trả lời, giáo viê nhận xét, chốt ý, cung cấp tư liệu về Khúc Thừa Dụ cho học sinh
Khúc Thừa Dụ (? - 907) dựng nền độc lập
Việt sử thông giám cương mục (Tiền biên, quyển 5) viết : "Họ Khúc là một
họ lớn lâu đời ở Hồng Châu (*) Khúc Thừa Dụ tính khoan hòa, hay thương người, được dân chúng suy tôn Gặp thời buổi loạn lạc, nhân danh là hào trưởng một xứ, Thừa Dụ tự xưng là Tiết độ sứ " Mở đầu chính sách ngoại giao khôn khéo trong ứng xử với triều đình phong kiến phương Bắc: "độc lập thật sự, thần thuộc trên danh nghĩa", Khúc Thừa Dụ, sau khi đã nắm được quyền lực thực tế trên miền đất đai "An Nam" cũ trong tay, vẫn giữ danh nghĩa "xin mệnh nhà Đường" buộc triều đình nhà Đường phải công nhận sự
đã rồi Ngày 7-2-906 vua Đường phải phong thêm cho Tĩnh Hải quân Tiết độ
sứ Khúc Thừa Dụ tước "Đồng bình chương sự" Khúc Thừa Dụ phong cho con là Khúc Hạo chức vụ "Tĩnh Hải hành quân tư mã quyền tri lưu hậu" tức làchức vụ chỉ huy quân đội và sẽ thay thế cha nắm quyền hành Tiết độ sứ
Tuy còn mang danh hiệu một chức quan của nhà Đường, về thực chất, Khúc Thừa Dụ đã xây dựng một chính quyền tự chủ bãi bỏ quan lại chế độ cũ
Trang 22kết thúc về cơ bản ách thống trị hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc.
Lịch sử ghi nhớ công lao của Khúc Thừa Dụ như là một trong những người đặt cơ sở cho nền độc lập dân tộc Ngày 23-7-907, Khúc Thừa Dụ mất Mặc nhiên, Khúc Hạo nối nghiệp cha
- Khi dạy mục d Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938.
Trong sách giáo khoa hình 35 có Lược đồ chiến thắng Bạch Đằng năm
938
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh đọc và giải thích bảng chú giải trong lược
đồ, đặt câu hỏi để các em thảo luận, tự trình bày về trận đánh trên sông Bạch Đằng
Câu 1: Trình bày diễn biến chiến thắng Bạch Đằng năm 938 do Ngô Quyền lãnh đạo?
Câu 2: Đánh giá công lao của Ngô Quyền trong cuộc đấu tranh giành độc lập thời Bắc thuộc?
Câu 3: Nêu những hiểu biết của em về anh hung dân tộc Ngô Quyền?Học sinh thảo luận và lên trình bày, giáo viên nhận xét và chốt ý, cung cấp kênh hình và tư liệu cho học sinh
Ngô Quyền sinh vào năm Mậu Ngọ (898) niên hiệu Càn Ninh thứ năm
hoặc Quang Hóa, năm đầu đời Đường Chiêu Tông ở xứ Đường Lâm (nay là xã Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội) Cha Ngô Quyền là Ngô Mân, làm chức Châu mục ở châu Đường Lâm Họ Ngô của ông là dòng
họ hào trưởng có thế lực, đời đời là quí tộc
Trang 23Chân dung Ngô Quyền( tranh minh họa).
Năm 938, Ngô Quyền cùng với Dương Tam Kha (con trai Dương ĐìnhNghệ) và Đỗ Cảnh Thạc đem quân ra Đại La, giết chết Kiều Công Tiễn khi quân Nam Hán còn chưa kịp vào thành Thành Đại La trở thành trung tâm đầu não và chỉ huy của Ngô Quyền để nhanh chóng tổ chức kháng chiến chống quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng Trước mưu đồ xâm lược trở lại của phong kiến Trung Quốc, ngọn cờ cứu nước của Ngô Quyền trở thành ngọn cờ đoàn kết của cả dân tộc Đội quân Ngô Quyền, từ một đội binh Ái Châu đã nhanh chóng trở thành một đội quân dân tộc Truyền thuyết dân gian còn ghi nhớ chuyện 38 chàng trai làng Gia Viễn (Hải Phòng) do Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận dẫn đầu,
đã tự vũ trang, xin theo Ngô Quyền phá giặc Trai tráng các làng LâmĐộng
(Thủy Nguyên, Hải Phòng), Đằng Châu (Kim Động, Hải Hưng), người mang
vũ khí, kẻ mang chiến thuyền, tìm đến cửa quân xin diệt giặc Ba anh em Lý Minh, Lý Bảo, Lý Khả ở Hoàng Pha (Hoàng Động, Thủy Nguyên), ông tổ họ Phạm ở Đằng Giang (An Hải, Hải Phòng) cũng chiêu mộ dân binh, hăng hái
Trang 24Sơ đồ trận chiến Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938 trưng bày tại BTLSQG.
Trang 25Mô hình Trận thủy chiến lịch sử Bạch Đằng năm 938 do Ngô Quyền chỉ huy
tại hệ thống trưng bày BTLSQG
Trang 26Lăng thờ Ngô Quyền ở Đường Lâm (Sơn Tây).
Để tưởng nhớ công ơn của Đức Vương Ngô Quyền, hàng năm nhân dân địa phương tổ chức lễ hội truyền thống tại di tích trong 03 ngày từ 16- 18 tháng giêng đúng vào dịp kỷ niệm ngày mất của Ngô Quyền Ông mãi là niềm tự hào của dân tộc; người anh hùng đã khôi phục quốcthống sau nghìn năm Bắc thuộc
+ Ngoài các mục giáo viên và học sinh đã tìm hiểu, giáo viên đặt câu hỏithêm cho học sinh sau khi cung cấp các hình ảnh và tư liệu về các nhân vậtanh hùng Đặt câu hỏi cho học sinh: Những đóng góp của các nhân vật lịch sửHai Bà Trưng, Lý Bí, Khúc Thừa Dụ và Ngô Quyền?
Học sinh phát biểu, giáo viên nhận xét và chốt ý
- Hai Bà Trưng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa giành lại độc lập cho đất nước, lần đầu tiên khôi phục nền độc lập cho dân tộc
Trang 27- Lý Bí lãnh đạo cuộc khởi nghĩa giành độc lập, khôi phục nền độc lập tự chủcho dân tộc, thành lập được nhà nước Vạn xuân.
- Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa giành thắng lợi, buộc nhà Đường phải công nhận quyền tự chủ, thoát khỏi sự lệ thuộc vào nhà Đường
- Ngô Quyền: lãnh đạo nhân dân đánh tan quân Nam Hán, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc, mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước – kỷ nguyên độc lập tự chủ.+ Tư liệu ý nghĩa việc thành lập nhà nước Vạn Xuân:
- Khẳng định ý thức độc lập tự chủ , tự cường của dân tộc, đã sánh ngangvới các triều đại phong kiến phương Bắc
- Mong muốn nền độc lập lâu dài cho đất nước ; mong muốn xây dựng một
đất nước ấm no, hạnh phúc
- Là nguồn cỗ vũ lớn lao cho thế hệ sau trong cuộc chiến đấu vì độc lập của
Tổ quốc
+ Về ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa Ngô Quyền
- Khẳng định nền độc lập tự chủ của dân tộc, chấm dứt sự thống trị của các triều đại phong kiến phương Bắc
- Mở ra kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập tự chủ
Sau khi tìm hiểu xong về kênh hình trong sách giáo khoa cùng với hìnhảnh, tư liệu giáo viên cung cấp Giáo viên có thể đưa ra hệ thống các câu hỏi và bài tập theo định hướng phát triển năng lực của học sinh áp dụng trong năm học 2014 – 2015 như sau :
* Câu hỏi mức độ nhận biết:
Câu 1: Trình bày diễn biến chính và kết quả của cuộc khởi nghĩa Hai BàTrưng
Câu 2: Trình bày diễn biến chính và kết quả của cuộc khởi nghĩa Lý Bí Câu 3: Trình bày diễn biến chính và kết quả cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa
Dụ
Câu 4: Trình bày diễn biến chính và kết quả của chiến thắng Bạch Đằng
năm 938
* Câu hỏi mức độ thông hiểu:
Câu 5: Việc thành lập nhà nước Vạn Xuân có ý nghĩa gì?
Trang 28Câu 6: Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền có vai trò gì đối vớilịch sử dân tộc?
Câu 7: Ý nghĩa lịch sử của các cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân tachống ách đô hộ của phong kiến phương Bắc từ TK I – TKX?
* Câu hỏi mức độ vận dụng thấp:
Câu 8: Qua phong trào đấu tranh giành độc lập từ TK I – TKX, em hãy rút ranguyên nhân thắng lợi của các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu thời Bắc thuộc?
* Câu hỏi mức độ vận dụng cao:
Câu 9: Những đóng góp của Hai Bà Trưng, Lý Bí, Khúc Thừa Dụ, Ngô Quyền đối với lịch sử dân tộc
Câu 10: Từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Em có nhận xét gì về vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong quá trình đấu tranh giữ nước?
Câu 11: Thông qua bài học em hãy nêu trách nhiệm của HS trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay
Câu 12: Em hãy giới thiệu về tên đường phố/ trường học gần nơi sinh sống, học tập là lãnh đạo của các cuộc đấu tranh thời Bắc thuộc
Câu 13: Em hãy liên hệ mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc hiện nay qua phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc (TKI – TKX ) của nhân dân ta Giáo viên hướng dẫn học sinh gợi ý trả lời các câu hỏi đã đưa ra với 4 mức
độ nêu trên để học sinh nắm kĩ bài học và phát huy năng lực của học sinh
Qua việc sưu tầm thêm về các tư liệu liên quan tới bài học sẽ giúp học sinhchủ động hơn, tích cực và sáng tạo hơn trong việc lĩnh hội kiến thức, khắc sâuhơn những kiến thức cần nhớ và mở rộng hơn kiến thức mà ở trong sách giáokhoa không có
Một số bài ở chương trình lớp 10 cơ bản có cung cấp kênh hình, tư liệu.Ngoài ra giáo viên cũng cung cấp thêm kênh hình, tư liệu ngoài sách giáokhoa cho học sinh biết và nắm rõ bài học hơn Sau đây là một số bài mà giáoviên đề cập
* Bài 17: Quá trình hình thành và phát triển của nhà nước phong kiến
dân tộc (từ thế kỉ X đến thế kỉ XV).
- Ở bài này không có kênh hình trong SGK
Trang 29- Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu thêm:
+ Các hình ảnh và tư liệu về thành Thăng Long, thành nhà Hồ
Hoàng thành Thăng Long xưa Hoàng thành Thăng Long ngày nay
Giáo viên cung cấp tư liệu về kinh thành Thăng Long xưa và Hoàng thành Thăng Long ngày nay
Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành ThăngLong - Hà Nội bắt đầu từ thời kì trước Thăng Long (An Nam đô hộ phủ thế
kỷ VII) qua thời Đinh - Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn Đây là công trình kiến trúc đồ sộ, được các triều vua xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch sử và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích Việt Nam
Ngày 1/8/2010 di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long của Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới
Trang 30Toàn cảnh di sản văn hóa thế giới Thành Nhà Hồ
Thành nhà Hồ là công trình kiến trúc bằng đá cổ độc nhất vô nhị ở ViệtNam Thành nhà Hồ, còn được gọi là Thành Tây Đô, Thành Tây Giai, Thành
An Tôn, thuộc địa phận hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long (huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa), được Hồ Quý Ly cho xây dựng vào cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV, là kinh đô của nước Đại Việt - vương triều Trần từ năm (1389 - 1400) và kinh đô của nước Đại Ngu - vương triều Hồ từ năm (1400 - 1407).Trải qua hơn 600 năm, tòa thành kỳ vĩ này vẫn trường tồn với thời gian.tháng 6/2011, tại kỳ họp lần thứ 35 của tổ chức UNESCO tổ chức tại Paris (Pháp), Thành nhà Hồ được tôn vinh là Di sản văn hóa của nhân loại Đây là sự ghi nhận cho những nét đặc sắc mang tầm vóc và giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản, là niềm tự hào không chỉ của người dân xứ Thanh mà đó là sự minh chứng cho trình độ văn minh của người Việt đã phát triển từ rất sớm