1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng được hệ thống tư liệu từ mạng Internet (gồm các tư liệu hình ảnh, mô hình và các video clip) và in xuất thành đĩa VCD, CD phục vụ cho việc dạy học chương trình Địa lí 10 THPT – phần tự nhiên.

42 324 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 265 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Đơn vị: Trường THPT Kiệm Tân Người thực hiện: Trần Ngọc Bảy Lĩnh vực nghiên cứu: Quản lí giáo dục Phương pháp giảng dạy bộ môn Phương pháp giáo dục Lĩnh vực khác. Có đính kèm: Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác Năm học: 20102011 A. PHẦN MỞ ĐẦU I – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Ngày nay việc vào mạng Internet để tìm kiếm tư liệu, thông tin phục vụ cho công việc và học tập đã trở nên thông dụng đối với mọi người bởi sự ứng dụng rộng rãi của công nghệ thông tin và chính bởi sự phong phú, cập nhật của các tư liệu trên mạng. Các tư liệu địa lí trên mạng Internet cũng hết sức phong phú, đa dạng, đặc biệt là các hình ảnh, mô hình, video clip hết sức sống động và bổ ích. Tuy nhiên nó phân bố rải rác ở nhiều địa chỉ website khác nhau, từ nhiều nguồn khác nhau. Trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học và hiện đại hóa các phương tiện dạy học hiện nay, người giáo viên địa lí ngày càng đưa vào bài dạy của mình nhiều hơn các tư liệu sống động này, ngày càng sử dụng nhiều hơn các tư liệu từ mạng phục vụ cho công tác giảng dạy. Chương trình địa lí 10 THPT bao gồm các nội dung địa lí làm cơ sở, nền tảng cho các học phần Địa lí Tự Nhiên và Địa lí KTXH nên có tính trừu tượng cao đòi hỏi nhiều tư liệu minh họa. Việc tìm kiếm, chọn lọc, hệ thống các tư liệu ở dạng kênh hình ( hình ảnh, mô hình, video clip…) từ mạng Internet làm tư liệu có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả dạy học chương trình địa lí 10. II – MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Xây dựng được hệ thống tư liệu từ mạng Internet (gồm các tư liệu hình ảnh, mô hình và các video clip) và in xuất thành đĩa VCD, CD phục vụ cho việc dạy học chương trình Địa lí 10 THPT – phần tự nhiên.

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Đơn vị: Trường THPT Kiệm Tân

Người thực hiện: Trần Ngọc Bảy

Lĩnh vực nghiên cứu:

Quản lí giáo dục Phương pháp giảng dạy bộ môn Phương pháp giáo dục

- Các tư liệu địa lí trên mạng Internet cũng hết sức phong phú, đa dạng, đặc biệt làcác hình ảnh, mô hình, video clip hết sức sống động và bổ ích Tuy nhiên nó phân bố

Trang 2

rải rác ở nhiều địa chỉ website khác nhau, từ nhiều nguồn khác nhau Trong xu thế đổimới phương pháp dạy học và hiện đại hóa các phương tiện dạy học hiện nay, ngườigiáo viên địa lí ngày càng đưa vào bài dạy của mình nhiều hơn các tư liệu sống độngnày, ngày càng sử dụng nhiều hơn các tư liệu từ mạng phục vụ cho công tác giảng dạy.

- Chương trình địa lí 10 THPT bao gồm các nội dung địa lí làm cơ sở, nền tảngcho các học phần Địa lí Tự Nhiên và Địa lí KT-XH nên có tính trừu tượng cao đòi hỏinhiều tư liệu minh họa Việc tìm kiếm, chọn lọc, hệ thống các tư liệu ở dạng kênh hình( hình ảnh, mô hình, video clip…) từ mạng Internet làm tư liệu có ý nghĩa rất lớn trongviệc nâng cao hiệu quả dạy học chương trình địa lí 10

II – MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Xây dựng được hệ thống tư liệu từ mạng Internet (gồm các tư liệu hình ảnh, môhình và các video clip) và in xuất thành đĩa VCD, CD phục vụ cho việc dạy họcchương trình Địa lí 10 THPT – phần tự nhiên

III – NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Xác định cơ sở lí luận và thực tiễn của việc chọn lọc các tư liệu dạy học Địa lí

Về nội dung: tư liệu dạy học địa lí từ mạng Internet

Phạm vi: chương trình địa lí 10 - phần Địa lí Tự Nhiên

V – LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

Trang 3

Trong giáo trình “Phương pháp dạy học Địa lí ở nhà trường phổ thông”,2004 củaNguyễn Trọng Phúc có đề cập đến các phương tiện dạy học hiện đại là phim giáo khoa

và băng video Trong cuốn này tác giả nêu lên những nét cơ bản nhất về ý nghĩa, tínhchất và phương pháp sử dụng phim giáo khoa và băng video

Trong các cuốn “ Kĩ thuật dạy học địa lí ở trường phổ thông, 2007, NXBGiáoDục” và “ Phương tiện dạy học Địa Lí ở trường THPT”, của PGS-TS Nguyễn Đức Vũ

có đề cập đến kĩ thuật sử dụng Internet trong dạy học địa lí và kĩ thuật sử dụng phầnmềm trình diễn Powerpoint trong dạy học địa lí Tác giả đã nêu lên những điểm cănbản khái quát về mạng Internet, giới thiệu những nét cơ bản về cách xây dựng các bàigiảng điện tử bằng Powerpoint, các tranh ảnh từ mạng Internet

Mặc dù những tài liệu này chỉ đề cập đôi nét về lí thuyết về các tư liệu dạy học địa

lí từ mạng Internet nhưng chúng là cơ sở để chúng em đưa ra ý tưởng cũng như lànhững tư liệu bổ ích cho việc thực hiện đề tài này

Trong cuốn “cẩm nang sử dụng các dịch vụ Internet”, 2003 của Nguyễn Đức Toàn

- Nguyễn Hùng đã đề cập những vấn đề về cách thức sử dụng các dịch vụ từ mạngInternet, đây là tư liệu quan trọng làm công cụ rất bổ ích cho việc tìm kiếm, chọn lọc

và xây dựng hệ thống tư liệu dạy học từ mạng Internet

Tác giả: Huỳnh Hải Sơn, “Hướng dẫn tìm kiếm thông tin trên Internet”, năm

2008, bài viết trên mạng http://giaoan.violet.vn

“Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy và học”, tài liệu chuyên khảo của "Mạnggiáo viên sáng tạo" được hỗ trợ bởi Microsoft, NXB Giáo Dục 2005

“Internet và khai thác Internet”,tài liệu chuyên khảo của "Mạng giáo viên sángtạo" được hỗ trợ bởi Micrisoft, NXB Giáo Dục 2007

Trần Đức Tuấn,“ Tăng cường sử dụng Internet trong dạy học Địa lí ở các trườngTHPT”, Kỉ yếu hội thảo khoa học- Đổi mới phương pháp dạy học với sự tham gia củacác thiết bị kĩ thuật, ĐHSP Huế, 2004

VI – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Phương pháp sưu tầm, phân tích, xử lí và tổng hợp tư liệu.

Trang 4

Trên cơ sở mục đích, yêu cầu của đề tài đề ra để sưu tầm tài liệu, số liệu liên quan.

Từ đó chọn lọc, sắp xếp, thống kê các tài liệu, số liệu đã thu thập được theo yêu cầunghiên cứu của đề tài

2 Phương pháp tìm kiếm, xử lí, tổng hợp tài liệu trên mạng Internet.

Trên cơ sở các tài liệu thu thập được từ mạng Internet, tiến hành phân tích tổng hợpcác yếu tố trong mối quan hệ tác động lẫn nhau nhằm rút ra những vấn đề phục vụ choviệc nghiên cứu

3 Phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin.

Là phương pháp sử dụng các thiết bị tin học, các phần mềm hỗ trợ, sử dụng các cácthông tin, các tài liệu liên quan đến đề tài từ mạng Internet để xây dựng hệ thống tưliệu

4 Phương pháp đối chiếu - so sánh

So sánh, đối chiếu, đánh giá những sự vật, hiện tượng để thấy được sự tươngđồng, khác biệt trong mối tương quan tổng thể, rút ra những nhận định cần thiết

Trang 5

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC TÌM KIẾM TƯ LIỆU DẠY HỌC TỪ MẠNG INTERNET

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Quan niệm về tư liệu dạy học từ mạng Internet

1.1.1.1 Tư liệu dạy học từ mạng Internet

Tư liệu dạy học là các tài liệu, thông tin sử dụng cho việc học tập, nghiên cứu vàtruyền thụ tri thức cho học sinh Tư liệu dạy học có nhiều nguồn khác nhau: từ nguồn

tư liệu truyền thống như sách giáo khoa, sách tham khảo, giáo trình chuyên môn, bản

đồ, tranh ảnh, các tài liệu từ các tạp chí khoa học,…Ngoài nguồn tư liệu kể trên, hiệnnay các tài liệu từ mạng Internet được sử dụng thường xuyên, rộng rãi và hết sức cầnthiết trong việc cung cấp các thông tin cập nhật cho giáo viên và học sinh

Tư liệu dạy học từ mạng Internet là các tài liệu, thông tin dưới dạng dữ liệu sốđược chọn lọc, xử lí, sắp xếp theo một hệ thống phù hợp với mục tiêu, nội dung,phương pháp dạy học nhằm chuyển tải những tri thức khoa học cho học sinh từ đónâng cao hiệu quả của việc dạy và học

Tư liệu dạy học từ mạng Internet cũng bao gồm các tài liệu ở hai dạng: kênh hình

và kênh chữ Các tài liệu này hết sức phong phú và đa dạng Các tài liệu ở dạng kênhchữ phong phú và được cập nhật liên tục đảm bảo cung cấp những thông tin mang tínhthời sự Các tư liệu ở dạng kênh hình đa dạng (hình ảnh, mô hình, video clip…) vớimàu sắc, âm thanh sống động có giá trị minh họa cho nội dung và chứa đựng nhiều giátrị nội dung ngoài phạm vi bài học

1.1.1.2.Đặc điểm của tư liệu dạy học từ mạng

Tư liệu dạy học từ mạng Internet chứa đựng khối lượng tri thức khổng lồ, phongphú, đa dạng Tư liệu mạng được tổ chức thành một hệ thống được gọi là tài nguyên,chúng được lưu ở các máy chủ, được kết nối và chia sẻ trên phạm vi toàn cầu Vớikhối lượng lớn người sử dụng, nhiều thành phần khác nhau, việc cung cấp và chia sẻtài liệu được diễn ra hằng ngày, trong đó nhiều công trình khoa học được công bố,

Trang 6

nhiều tài liệu quý, nhiều thông tin mới nhất được chia sẻ…thông qua các webside.Việc tiếp cận các thông tin cũng trở nên dễ dàng hơn với việc cùng một thông tin đượcđăng tải trên nhiều trang web khác nhau, dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau, do đóngười sử dụng có thể tiếp cận thông tin ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau, đadạng và đa chiều.

Từ đặc điểm trên làm cho việc lựa chọn các nguồn tài liệu chính thống, đảm bảotính khoa học lại là một khó khăn lớn cho người sử dụng, đặc biệt trong dạy học khicác tài liệu này được sử dụng cho việc truyền thụ tri thức cho cả thế hệ học sinh

Các tư liệu được tổ chức dưới dạng dữ liệu số, tức là các thông tin khi đưa vàomáy tính đã được mã hóa Mọi thông tin khi đưa vào máy tính đều được biểu diễn dướidạng hệ nhị phân (là hệ đếm chỉ dùng 2 kí hiệu 0 hoặc 1 để biểu diễn) Khi một thôngtin đươc đưa vào máy tính qua quá trình xử lí và được lưu trữ và sau đó thông tin đượcđưa ra khi người sử dụng truy cập Do quá trình này thống nhất nên các thông tin đưa

ra la thống nhất trên toàn cầu

Các tư liệu dạy học từ mạng có hình thức chuyển tải hết sức đa dạng với hình ảnh,

âm thanh sống động, màu sắc phong phú, các hiệu ứng mang tính trực quan sinh độngkích thích được hứng thú học tập cho học sinh

1.1.1.3 Vai trò của tư liệu mạng trong dạy học Địa lí

Theo báo cáo của Trung tâm nghiên cứu kỹ thuật máy tính của Mỹ vào năm 1993,(tạm dịch) “Con người lưu lại trong bộ nhớ được 20% những gì họ thấy và 30% những

gì họ nghe Nhưng họ nhớ 50% những gì họ thấy và nghe; và con số này lên đến 80%nếu họ thấy và nghe sự vật, hiện tượng một cách đồng thời.” Trên cơ sở của những sốliệu này và quá trình giảng dạy thực tế ở trường phổ thông chúng ta có thể thấy việcdạy học Địa lý chỉ với những phương tiện truyền thống như bảng đen, lời nói của thầygiáo và một ít phương tiện dạy học mang tính tĩnh (bản đồ, tranh ảnh, sơ đồ) chắc chắnhiệu quả sẽ không cao, mức độ ghi nhớ của học sinh sẽ thấp và chóng quên Trong khi

đó nếu học sinh được xem phim tư liệu, bản đồ, sơ đồ động (được thiết kế theo logic

sự kiện), tranh ảnh với màu sắc sinh động kết hợp với lời nói của giáo viên thì khảnăng ghi nhớ của các em sẽ tăng lên Không những thế, nếu làm được điều này chúng

ta sẽ tạo ra được một bầu không khí học tập sinh động, khơi gợi hứng thú học tập cho

Trang 7

các em đồng thời khắc sâu những kiến thức mà các em tiếp thu được Rõ ràng, việc kếthợp cùng một lúc hai hay nhiều phương tiện truyền thông sẽ giúp cho người học tiếpthu thông tin nhanh, chính xác và nhớ lâu hơn.

Các tư liệu dạy học từ mạng Internet giúp sinh động hóa, linh hoạt hóa bài dạy địa

lí Các hình ảnh, âm thanh sống động, màu sắc phong phú, có khả năng tăng sự thu hútđối với học sinh do có tác động đến nhiều giác quan cùng một lúc, thúc đẩy học sinh

tư duy để phán đoán, phân tích, tổng hợp

Góp phần phát triển động cơ, hứng thú học tập cho học sinh: việc sử dụng các tưliệu từ mạng Internet đặc biệt là các đoạn phim video, các mô hình động, các hình ảnh

là phương tiện dạy học hiện đại, được sử dụng trong các phương pháp dạy học mớikhác hẳn với các phương pháp, phương tiện truyền thống mà các em thường được tiếpxúc do đó luôn tạo cho các em một không khí mới trong quá trình học tập

Các tư liệu từ mạng có khả năng minh họa cho nội dung bài dạy địa lí và chứađựng các giá trị nội dung hiện đại, khoa học Sử dụng các tư liệu mạng giúp giáo viên

và học sinh tiếp cận, khai thác nguồn tri thức rộng lớn, hiện đại của nhân loại tránhtình trạng tụt hậu trong quá trình hội nhập vào nền giáo dục khu vực và thế giới

Các tư liệu dạy học từ mạng góp phần hình thành, rèn luyện kĩ năng địa lí cho họcsinh Do tính chính xác, đầy đủ, chi tiết, sống động của các tư liệu có thể giúp rènluyện cho học sinh nhiều kĩ năng như nhận biết, phân tích, tổng hợp, so sánh các đốitượng địa lí

Các tư liệu dạy học từ mạng có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương phápdạy học địa lí, chúng hỗ trợ giáo viên, học sinh sử dụng có hiệu quả thời gian của tiếthọc Do các tiện ích kể trên mà nếu được khai thác tốt, các tư liệu dạy học sẽ giúp giáoviên điều khiển hướng dẫn học sinh nhận thức nhiều đơn vị kiến thức, giúp học sinhtiếp thu một cách chủ động, sâu sắc và hứng thú với nội dung bài học

Ví dụ: đối với các kiến thức địa lí đòi hỏi phải tư duy trừu tượng, giáo viênthường phải mất nhiều thời gian để giải thích như các hiện tượng sóng, thủy triều, sựchuyển động biểu kiến của mặt trời…nay với tư liệu dạy học từ mạng mà cụ thể là các

mô hình, các đoạn phim video trực quan giúp phân tích ngắn gọn, dễ hiểu cơ chế của

Trang 8

đối tượng trong một thời gian ngắn hơn, đảm bảo sự cân đối giữa các nội dung cầntrình bày của tiết dạy.

Về phía học sinh, các hình ảnh trực quan này sẽ giúp các em dễ dàng hình thành

tư duy địa lí, từ đó tự tin hơn để tiếp tục lĩnh hội tri thức

1.1.2 Đặc điểm chương trình Địa lí 10

1.1.2.1 Về cấu trúc

Chương trình địa lí 10 gồm hai phần địa lí đại cương:

Phần I: Địa lí tự nhiên gồm 4 chương

Chương I: Bản đồ

Chương II: Vũ trụ Hệ quả các chuyển động của Trái Đất

Chương III: Cấu trúc của Trái Đất Các quyển của Lớp vỏ địa lí

Chương IV: Một số quy luật của Lớp vỏ địa lí

1.1.2.2 Về thời lượng

Chương trình được phân bố 1,5 tiết/tuần trong 35 tuần của năm Trong đó học kì 1

là 2 tiết/tuần, học kì 2 là 1 tiết/tuần

1.1.2.3 Nội dung chương trình

Chương trình gồm 2 phần: Địa lí tự nhiên đại cương và Địa lí kinh tế-xã hội đạicương

* Phần Địa lí tự nhiên đại cương:

- Về mặt lí thuyết, phần này tập trung vào 4 nội dung:

và đời sống

Trang 9

+ Vũ trụ

Các nội dung chính được đưa vào là Vũ Trụ, hệ Mặt Trời, Trái Đất và hệ quả củavận động tự quay cũng như hệ quả của sự chuyển động quay quanh Mặt Trời của TráiĐất

+ Cấu trúc của Trái Đất và các quyển của lớp vỏ địa lí

 Cấu trúc của Trái Đất

Thạch quyển, tác động của nội lực, ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái Đất

 Thổ nhưỡng và sinh quyển

Về thổ nhưỡng và sinh quyển chỉ tập trung vào 2 nội dung là khái niệm và cácnhân tố hình thành thổ nhưỡng; các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố củasinh vật, sự phân bố sinh vật và đất trên Trái Đất

 Một số quy luật chủ yếu của lớp vỏ địa lí

Sau khi giới thiệu khái quát về lớp vỏ địa lí, 3 quy luật chính được đưa vàochương trình là quy luật thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ địa lí, quy luật địa đới vàquy luật phi địa đới

- Về mặt thực hành, các nội dung đều tập trung vào việc làm rõ hơn lí thuyết vàrèn luyện kĩ năng đọc, phân tích bản đồ các thành phần tự nhiên cũng như vẽ và phântích các biểu đồ liên quan đến các hiện tượng tự nhiên

1.1.3 Đặc điểm sách giáo khoa địa lí 10

1.1.3.1 Về cấu trúc

Trang 10

Sách giáo khoa (SGK) Địa lí 10 ban cơ bản gồm 2 phần, 10 chương và 42 bàitrong đó có 7 bài thực hành và 35 bài lí thuyết Trong đó:

- Phần Địa lí tự nhiên gồm 4 chương, 21 bài (trong đó riêng bài 9 là 2 tiết, còn lạicác bài đều 1 tiết), bao gồm 18 bài lí thuyết và 3 bài thực hành

Bảng:

Lí thuyết Thực hành

2 Vũ trụ Hệ quả các vận động của trái đất 2 2 0

3.Cấu trúc của trái đất các quyển của lớp vỏ

* Kênh chữ

Kênh chữ trình bày tiêu đề của bài; trình bày các thông tin của bài trong từng

đoạn kiến thức ngắn; trình bày các câu hỏi giữa bài, câu hỏi kèm theo hình ảnh; câuhỏi và bài tập cuối bài; trình bày tóm tắt của bài; trình bày bài đọc thêm

Kênh chữ là phần quan trọng hàng đầu của SGK địa lí 10 Thông qua kênh này các khái niệm cơ bản, định nghĩa, quy luật…được trình bày rõ ràng giúp cho học sinh nhận thức được nội dung chính của bài học Đây có thể coi là kiến thức rất cơ bản, được chọn lọc kĩ lưỡng sao cho vừa cô đọng, khúc triết vừa phù hợp với trình độ của học sinh.

Trang 11

* Kênh hình

Kênh hình trong SGK địa lí 10 rất phong phú, đa dạng với các 49 sơ đồ, 34 bản đồ

và lược đồ, 32 tranh ảnh ,11 biểu đồ, 6 bảng kiến thức, 23 bảng số liệu

Hệ thống kênh hình trong SGK có ý nghĩa hết sức to lớn, trước hết nó bổ sung,minh hoạ cho kênh chữ, là kiến thức thực tiễn chứng minh cho kênh chữ bên cạnh đó

hệ thống kênh hình còn bổ sung cho những kiến thức còn thiếu, kênh hình trong SGKnhư nguồn tri thức thứ hai, khi khai thác kênh hình sẽ giúp học sinh tìm ra được nhữngkiến thức mới mẻ, bổ ích, mặt khác có thể rèn luyện khả năng tư duy và kĩ năng địa lícho học sinh

Hai hệ thống kênh hình và kênh chữ không tồn tại biệt lập mà chúng có mối quan

hệ mật thiết, đan xen, hoà quyện vào nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất, là công

cụ hữu ích cho học sinh tìm kiếm tri thức và rèn luyện kĩ năng địa lí

* Các câu hỏi và bài tập

Các câu hỏi và bài tập là một bộ phận hữu cơ trong SGK địa lí 10 Các câu hỏithường dưới 2 dạng: Dạng câu hỏi xen kẽ trong bài và dạng câu hỏi, bài tập ở cuối bài.Tuy mức độ có khác nhau nhưng dạng câu hỏi, bài tập cuối bài có tác dụng giúp chohọc sinh hệ thống hóa kiến thức và trong chừng mực nhất định góp phần tăng cườngrèn luyện kĩ năng, kĩ xảo địa lí

Sách có hệ thống câu hoỉ và bài tập hết sức phong phú và đa dạng với gần 200 câuhỏi và bài tập có các câu hỏi vận dụng trí nhớ để kiểm tra mức độ hiểu biết bài học,tập trung vào các vấn đề trọng tâm của chương trình; có các câu hỏi phát triển tư duycho học sinh, yêu cầu học sinh suy luận, giải thích các vấn đề nêu ra trong bài; có cáccâu hỏi và bài tập rèn luyện kĩ năng và củng cố kĩ năng đọc bản đồ, vẽ biểu đồ…

* Bài thực hành

Sách giáo khoa địa lí lớp 10 THPT có 7 bài thực hành, chiếm tỉ lệ 16,6%

Nội dung các bài thực hành rất đa dạng, rèn luyện cho học sinh nhiều kĩ năngkhác nhau như : kĩ năng bản đồ; kĩ năng xử lí, phân tích bảng số liệu, kĩ năng vẽ, nhậnxét, giải thích biểu đồ; kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh và viết báo cáo…

Trang 12

Với những đặc điểm trên, chương trình và SGK địa lí 10 đối với đề tài này cónhững thuận lợi và khó khăn nhất định:

Thuận lợi: SGK địa lí 10 được trình bày logic đảm bảo tính mỹ thuật, khoa học

và tính sư phạm Kênh hình, kênh chữ đan xen, bổ sung cho nhau để tạo nên một thểthống nhất về kiến thức và kĩ năng Đây là cơ sở để những người thực hiện đề tài tìmkiếm những tư liệu hình ảnh, video bám sát nội dung chương trình, SGK địa lí 10

Khó khăn: Hệ thống kiến thức và kĩ năng thông qua SGK địa lí 10 là không nhỏ

đặc biệt các nội dung thuộc hai phần địa lí đại cương ( ĐLTN đại cương) mang tínhkhái quát, trừu tượng cao Nên việc tìm kiếm các tư liệu từ mạng để vừa minh họa chocác nội dung này, vừa phát triển được tư duy địa lí cho học sinh không phải la côngviệc dễ dàng Đặc biệt trong phần địa lí tự nhiên nhiều kiến thức địa lí được đánh giá

là khó, đòi hỏi các em phải phát huy tối đa trí tưởng tượng của mình khi xem các tưliệu thì mới đạt được hiệu quả dạy học cao

1.1.4 Đặc điểm tâm lí học sinh lớp 10

Mỗi một con người đều trưởng thành từ ghế nhà trường, đều được tiếp nhậnnhững nội dung kiến thức phong phú Càng lên cao sự phong phú về kiến thức càngtăng, mức độ khó cao hơn

Đối với học sinh lớp 10 không còn là thiếu niên hầu hết các em đã là đoàn viên,thanh niên Các em đã trưởng thành nên có kinh nghiệm hơn trong cuộc sống thựctiễn Rèn luyện cho chính mình những kĩ năng, kĩ xảo nhất định và cả lòng nhiệt huyết.Một số em được sự hướng dẫn của giáo viên đã bắt đầu hình thành những tư tưởnghướng nghiệp nhất định, ý thức bản ngã cao

Ở lứa tuổi 14-15 tồn tại trong các em các tư tưởng trẻ con lẫn người lớn cho nêntâm sinh lí cực kì phức tạp Các em sẽ tiếp xúc nhiều môn đặc biệt ở lớp 10 các emđược làm quen với môi trường mới, được học những môn học có tính chất đại cươngvới nhiều khái niệm trừu tượng, khái quát và sâu sắc hơn Mặc dù vậy ở lứa tuổi nàycác em rất nhạy cảm và có sự phối hợp nhịp nhàng của các cơ quan vận động Các embắt đầu biết tư duy một cách độc lập, sáng tạo và có cả tính phê bình và tự phê bình.Chính những đặc điểm đó đã giúp học sinh thực hiện các thao tác tư duy phức tạp, đó

Trang 13

là cơ sở để hình thành thế giới quan.

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Xu hướng thay đổi phương pháp dạy học hiện nay

Nghị quyết Trung Ương 4 khoá VII đã xác định “Khuyến khích tự học” phải “Ápdụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duysáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”

Nghị quyết Trung Ương 2 khoá VIII tiếp tục khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽphương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tưduy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp dạy học tiên tiến vàphương tiện hiện đại vào trong quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tựhọc, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học

Điều 24.2, Luật giáo dục quy định: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải pháthuy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớphọc, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thứcvào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho họcsinh”

Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 (Ban hành kèm theo Quyết định số201/2001/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ Tướng Chính Phủ), ở mục 5.2ghi rõ: “ Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền thụ trithức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trongquá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thôngtin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển năng của mỗi cánhân, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh, sinh viên trong quá trình họctập,…”

Với những định hướng chung nêu trên dạy học nói chung và dạy học Địa lí nóiriêng đang có những thay đổi mạnh mẽ, cơ bản trên nhiều phương diện mà trước hết làtrong phương pháp dạy học Từ lối dạy học thầy đọc-trò chép sang thầy tổ chức, chỉđạo, hướng dẫn và học sinh chủ động, tích cực làm việc với nguồn tri thức mới dưới sựchỉ đạo của giáo viên

Trang 14

Trong giai đoạn hiện nay, xu hướng dạy học hiện đại với sự kết hợp những thànhtựu công nghệ thông tin đã và đang diễn ra một cách khá phổ biến ở các ngành học,cấp học Công nghệ thông tin với tư cách là một phương tiện hỗ trợ cho việc dạy họcđang chứng tỏ những ưu thế và hiệu quả trong quá trình dạy học nói chung và đối với

bộ môn Địa Lý nói riêng

Ngày nay, sự bùng nổ thông tin khoa học kỹ thuật trên toàn thế giới, kiến thứchình thành rất nhanh, do đó nhu cầu tiếp nhận thông tin tăng nhanh cả về chất lượng và

số lượng, để đáp ứng nhu cầu trên cần phải có đổi mới về mục tiêu và phượng phápđào tạo, những cải cách cả về nội dung, phượng pháp và hình thức đào tạo theo hướngtích cực hoá quá trình đào tạo

Nhằm đáp ứng yêu cầu, phát triển của khoa học kỹ thuật và đời sống xã hội, côngnghệ giáo dục đã xuất hiện và có vị trí nhất định trong lý luận dạy học hiện đại trong

đó việc sử dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật vào quá trình dạy học nhằm thựchiện mục đích dạy học với hiệu quả cao Trong những năm gần đây, Tin học đã pháttriển rất mạnh đã tạo nên cuộc cách mạng trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, chínhtrị, xã hội Xác định tầm quan trọng của Tin học, ngày 17-10-2000, Bộ chính trị đã rachỉ thị 58-CT/TW về đẩy mạnh và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Thực hiện việc nghiên cứu đổi mới phượngpháp dạy học nhằm bồi dưỡng cho học sinh các phương pháp nhận thức khoa học, pháttriển năng lực tự giải quyết vấn đề, thông qua hoạt động tự giác, tích cực, tự lực củabản thân học sinh để chiếm lĩnh kiến thức, hình thành năng lực của học sinh trong quátrình dạy và học đã thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà lý luận dạy học, cácgiáo viên phổ thông

Bởi vậy, việc đưa vào bài dạy địa lí các hình ảnh, mô hình động, các đoạn videoclip…từ mạng Internet có vai trò quan trọng trong việc giúp giáo viên đổi mới phươngpháp dạy học sang hướng tích cực Bởi lẽ, học sinh phải tăng cường hoạt động, sửdụng phối hợp nhiều giác quan vào việc lĩnh hội tri thức như vừa nghe, nhìn và phải tưduy phân tích, so sánh…Đồng thời giáo viên hạn chế lối dạy đọc-chép nhưng phảichuẩn bị bài dạy học một cách kĩ lưỡng hơn, đa dạng hơn về phương pháp dạy học,hình thức tổ chức dạy học, phương tiện dạy học…

Trang 15

1.2.2 Hiện đại hóa phương tiện dạy học

Phương tiện dạy học (PTDH) không chỉ đơn giản là những hình ảnh bên ngoài của

sự vật, hiện tượng mà là sự “ vật chất hóa” các tri thức địa lí PTDH còn là “hình ảnhkép” của phương pháp dạy học Mối phương pháp dạy học với đặc trưng là một hệthống các hoạt động của giáo viên và học sinh nhằm đạt mục đích nhất định, đòi hỏiphải có phương tiện và thiết bị dạy học phù hợp Có nghĩa là nói đến phương pháp dạyhọc là nói đến phương tiện, thiết bị dạy học và ngược lại Chúng có sự thống nhất hữu

cơ với nhau, hòa vào trong nhau, ở một khía cạnh nào đó phương tiện dạy học cũng làmột yếu tố quan trọng để đạt đến mục tiêu dạy học Nó vừa là công cụ dạy học vừa lànguồn tri thức cần tìm tòi, khám phá để rút ra những nội dung cần thiết cho nhân thứccủa mình

Thông qua việc sử dụng các phương tiện dạy học, giáo viên có điều kiện thuận lợi

để trình bày bài giảng một cách tinh giản, đầy đủ, sâu sắc…giúp học sinh đào sâunhững tri thức đã lĩnh hội, kích thích hứng thú nhận thức, năng lực quan sát, phân tích,tổng hợp để rút ra được những kết luận cần thiết có độ tin cậy Đặc biệt trong xu thếđổi mới phương pháp dạy học như hiện nay thì các phương tiện, thiết bị dạy học lạicáng đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.Nếu không có các phương tiện dạy học thì đồng nghĩa với việc “dạy chay” và lối dạyhọc “ thầy đọc-trò chép”

Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và kĩ thuật vi tính, càngngày các phương tiện, thiết bị kĩ thuật dạy học hiện đại càng được sử dụng thườngxuyên và phổ biến, do đó càng có điều kiện cho việc các giáo viên tăng cường sử dụngcác tài liệu từ mạng Internet trong bài dạy địa lí, và nhiều khi có thể nói việc tìm kiếm,

sử dụng tư liệu mạng Internet trở thành một nhu cầu tất yếu trong quá trình dạy học.Trong dạy học hiện nay có rất nhiều loại PTDH truyền thống lẫn hiện đại đượcđưa vào sử dụng khá phổ biến:

Bảng 1.1: So sánh giữa PTDH truyền thống và PTDH hiện đại

Các PTDH truyền thống Các PTDH hiện đại

- Bản đồ, biểu đồ, lược đồ, sơ đồ… - Phim video giáo khoa

Trang 16

- Các tài liệu tham khảo, SGK, tranh

ảnh, hình vẽ…

- Hình vẽ của giáo viên trên bảng

- Số liệu thống kê, bảng kiến thức,

phiếu học tập…

- Máy chiếu overhead

- Máy vi tính

1.2.3 Sự phát triển của mạng Internet

Internet là một hệ thống thông tin máy tính toàn cầu có thể được truy nhập côngcộng gồm các máy tính được liên kết với nhau trên phạm vi toàn thế giới hệ thống nàytruyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giaothức liên mạng đã được chuẩn hoá (giao thức IP)

Về danh nghĩa, Internet là một mạng phi thương mại, không có trạm điều hànhtrung tâm và không thuộc về một cá nhân, tổ chức hay chính phủ nào Internet có xuất

xứ từ mạng ARAPnet vào năm 1969 ( một mạng nội bộ thô sơ giữa Bộ quốc phòngHoa kì và một số trường đại học và phòng thí nghiệm của chính phủ) Mạng Internetmang lại rất nhiều tiện ích hữu dụng như hệ thống thư điện tử (email), trò chuyện trựctuyến (chat), truy tìm dữ liệu (search), các dịch vụ thương mại và chuyển ngân, cácdịch vụ về y tế giáo dục như chữa bệnh hoặc tổ chức các lớp học từ xa…

Từ những năm giữa thập kỉ 90, Internet đã phát triển cực kì mạnh mẽ và được ứngdụng rất rộng rãi trong nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá và giáo dục ở nhiều nước trênthế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển, Internet đã trở thành một công cụ rất hữuhiệu đối với dạy học địa lí hiện đại không chỉ trong các trường đại học mà còn cả trongcác trường phổ thông Với sự hỗ trợ của mạng Internet dạy học địa lí đã có những biếnđổi to lớn không chỉ về nội dung dạy học mà cả phương pháp và hình thức tổ chức dạyhọc

Hiện nay ở nước ta, hầu hết các trường từ trung học cơ sở (THCS) cho đến trunghọc phổ thông (THPT) ở các địa phương đều đã được trang bị phòng máy tính phục vụ

Trang 17

cho môn tin học Tuy nhiên, tùy mức độ phát triển kinh tế ở khu vực nơi trường “đóngđô” mà mức đầu tư có khác nhau.

Năm 2006, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức đưa môn tin học vào chương trìnhđào tạo ở 2 cấp THCS và THPT Ngoài ra, một số trường có điều kiện đưa thêm môntin học vào chương trình “hướng nghiệp dạy nghề” cho học sinh tự chọn chương trìnhtin học ở phần “hướng nghiệp dạy nghề” dạy tương tự hoặc một phần của chương trìnhđào tạo chứng chỉ tin học Việc đưa tin học trở thành một nhiệm vụ đào tạo đã buộccác trường đầu tư máy tính và các thiết bị

Hiện nay, nhiều trường ở các cấp học phổ thông đã trang bị được máy chiếu(projector) để giáo viên dùng vào tiết bài giảng điện tử Tuy nhiên, phần lớn nhữngtrường này thường mới chỉ có một máy chiếu và một máy tính xách tay (laptop) phục

vụ cho bài giảng điện tử Có trường để máy chiếu cố định trong phòng học đa chứcnăng, giáo viên đăng ký lịch sử dụng phòng này, đến giờ học bài giảng điện tử, toàn bộhọc sinh tập trung tại đây Tùy vào điều kiện nhà trường, số bài giảng điện tử trongmột học kỳ của một giáo viên có khác nhau, nhưng ít nhất phải có một bài giảng tronghọc kỳ Do không thành thạo trong việc sử dụng máy tính và khai thác nguồn thôngtin, tư liệu phục vụ cho bài giảng điện tử có sẵn trên mạng Internet nên việc soạn bàigiảng điện tử đối phần lớn giáo viên là cả một vấn đề, tốn nhiều thời gian và công sức.Đối với công tác quản lý, các trường đã bắt đầu sử dụng các phần mềm phục vụ chocác công việc hàng ngày

Trong báo cáo về tình hình công tác khoa học công nghệ năm học 2004-2005, BộGD-ĐT luôn khẳng định sau 30 tháng thực hiện bản thoả thuận, đã có 98% các trườngTHPT kết nối Internet và tính đến tháng 6/2005, cả nước có 33% trường THCS đượckết nối

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP TÌM KIẾM TƯ LIỆU DẠY HỌC TỪ MẠNG INTERNET

2.1 Tổng quan về các công cụ hỗ trợ tìm kiếm tư liệu mạng.

2.1.1 Phần mềm tin học

Trang 18

Phần mềm (tiếng Việt còn được gọi là nhu liệu; tiếng Anh: software) là một tậphợp những câu lệnh được viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình theo một trật tựxác định nhằm tự động thực hiện một số chức năng hoặc giải quyết một bài toán nào

đó (Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Sản phẩm phần mềm được phân loại như sau :

* Theo phương thức hoạt động :

- Phần mềm hệ thống dùng để vận hành máy tính và các phần cứng máy tính, ví

dụ như các hệ điều hành máy tính Windows XP, Linux, Unix, các thư viện động (còngọi là thư viện liên kết động; tiếng Anh: dynamic linked library - DLL) của hệ điềuhành, các trình điều khiển (driver), phần sụn(firmware) và BIOS Đây là các loại phầnmềm mà hệ điều hành liên lạc với chúng để điều khiển và quản lý các thiết bị phầncứng

- Phần mềm ứng dụng để người sử dụng có thể hoàn thành một hay nhiều côngviệc nào đó, ví dụ như các phần mềm văn phòng (Microsoft Offices, Lotus 1-2-3,FoxPro), phần mềm doanh nghiệp, phần mềm giáo dục, cơ sở dữ liệu, phần mềm tròchơi, chương trình tiện ích, hay các loại phần mềm ác tính

- Các phần mềm chuyển dịch mã bao gồm trình biên dịch và trình thông dịch: cácloại chương trình này sẽ đọc các câu lệnh từ các mã nguồn được viết bởi các lập trìnhviên bằng một ngôn ngữ lập trình và dịch nó sang dạng ngôn ngữ máy mà máy tính cóthể hiểu đưọc, hay dịch nó sang một dạng khác như là tập tin đối tượng (object file) vàcác tập tin thư viện (library file) mà các phần mềm khác có thể hiểu để vận hành máytính thực thi các lệnh

* Theo khả năng ứng dụng :

- Những phần mềm không phụ thuộc, nó có thể được bán cho bất kỳ khách hàngnào trên thị trường tự do Ví dụ: phần mềm về cơ sở dữ liệu như Oracle, đồ họa nhưPhotoshop, Corel Draw, soạn thảo và xử lý văn bản, bảng tính Ưu điểm: Thôngthường đây là những phần mềm có khả năng ứng dụng rộng rãi cho nhiều nhóm người

sử dụng Khuyết điểm: Thiếu tính uyển chuyển, tùy biến

Trang 19

- Những phần mềm được viết theo đơn đặt hàng hay hợp đồng của một kháchhàng cụ thể nào đó (một công ty, bệnh viện, trường học ) Ví dụ: phần mềm điềukhiển, phần mềm hỗ trợ bán hàng

Ưu điểm: Có tính uyển chuyển, tùy biến cao để đáp ứng được nhu cầu của mộtnhóm người sử dụng nào đó

Khuyết điểm: Thông thường đây là những phần mềm ứng dụng chuyên ngànhhẹp

2.1.2 Các phần mềm được sử dụng trong đề tài

Đa số các phần mềm được sử dụng trong đề tài đều là các phần mềm ứng dụng

Cụ thể:

2.1.2.1 Phần mềm hỗ trợ download Internet Download Manager (IDM)

IDM là phần mềm hỗ trợ download đứng đầu thế giới hiện nay, nó giúp người sửdụng tải các tài nguyên từ Internet về máy với tốc độ nhanh gấp 400-500%, có thể đặtlịch và khôi phục các file bị gián đoạn do mất kết nối, lỗi mạng, tắt máy, hoặc mất điệnđột ngột

Giao diện đồ họa đơn giản tạo cho người dùng cảm giác thân thiện và dễ dàng khi

sử dụng Internet Download Manager có nguyên lý tăng tốc download thông minh vớicông nghệ phân đoạn dữ liệu linh hoạt và tải nhiều phần an toàn để tăng tốc độdownload của bạn Không giống như các chương trình quản lý và tăng tốc khác,Internet Download Manager tự động phân đoạn trong suốt quá trình tải, xử lý và tái sửdụng các kết nối sẵn có mà không cần thêm giai đoạn kết nối và đăng nhập để đạtđược hiệu suất tăng tốc tốt nhất Các tính năng khác bao gồm hỗ trợ đa ngôn ngữ, xemtrước file nén, tải về theo chuyên mục, đặt lịch chuyên nghiệp, âm báo hiệu cho cácthao tác, hỗ trợ HTTPS, xử lý các file chờ, giúp đỡ và hướng dẫn bằng HTML, tăngcường bảo vệ máy khỏi virus khi tải dữ liệu hoàn thành, cải tiến quá trình với file códung lượng lớn (hữu ích cho các kết nối sử dụng chính sách cân bằng truy cập hoặcFAP như Direcway, Direct PC, Hughes, vv), và nhiều chức năng khác

Trang 20

Không những thế, IDM còn có thể giúp người dùng download dễ dàng các clip,các bài nhạc ở tất cả các trang, kể cả những trang dấu link download : YouTube,Google Video, MySpaceTV, chỉ với 1 click chuột.

Tầm quan trọng của phần mềm này đối với đề tài là rất lớn Vì ngoài những dạngtài liệu dưới dạng văn bản hoặc hình ảnh có thể sao chép trực tiếp, thì dạng tài liệuvideo clip và phim giáo khoa thì phải tải (download) về máy từ các đướng dẫn file.Tuy vậy nếu tải về bằng ứng dụng có sẵn của Windows thì tốc độ tải rất chậm, thêmvào đó dung lượng một video thường rất lớn (10-80Mb) và cần một thời gian khá dài,điều đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ của đề tài và tiền bạc Nhờ có phần mềm này,tốc độ tải video tăng lên rất nhanh, tải được nhiều dạng video và ở nhiều trình duyệtkhác nhau của bất kì ở trang Web nào Đa phần các video tải về thuộc dạng video FLV(Flash Video) Một điểm nữa là phần mềm này có thể tải cùng một lúc từ 10-20 videotùy theo cài đặt, nhờ vậy dạng tài liệu video khá phong phú và đa dạng

2.1.2.2 Pazera Free FLV to AVI Converter

Pazera Free FLV to AVI Converter là công cụ chuyển đổi video miễn phí giúpchuyển đổi các tập tin Flash Video (FLV, SWF) sang AVI hoặc MPEG Đó là các tậptin có thể chơi với bất kỳ máy nghe nhạc video các tập tin FLV thường được sử dụngtrong Internet bởi các dịch vụ như YouTube hoặc Google Video

Các tập tin FLV thường được sử dụng trong Internet của YouTube, Google Video

và các dịch vụ video khác Đó là các tập tin không được hỗ trợ bởi Windows MediaPlayer và các phương tiện truyền thông phổ biến khác chơi Để hiển thị FLV video bạncần phải chuyển đổi tập tin sang định dạng đáng tin cậy hơn, chẳng hạn như AVI hayMPG

The Pazera Free FLV to AVI Converter giao diện là một rất đơn giản và thânthiện Để chuyển đổi các tập tin flash video, chỉ cần kéo và thả chúng vào cửa sổ chính

Trang 21

dụng, không cần nhiều thời gian tìm hiểu Phần mềm này cũng thực hiện chuyển đổinhiều file video cùng một lúc Trong thời gian nó chuyển đổi chúng ta có thể làm đượcnhiều việc khác Đây cũng là một phần mềm khá quan trọng, bởi vì các video tải về đaphần là đuôi flv, rất khó sử dụng trong các ứng dụng khác Trong khi nhiều ngườidùng cấp cao có thể tùy chỉnh các thông số video và âm thanh mã hóa được sử dụngbởi bộ mã hóa: bitrate âm thanh và video codec, âm thanh và video, khung hình / giây,lấy mẫu tần số, độ phân giải, khối lượng và khác thì dùng phần mềm này rất tiện lợi vàtiết kiệm được thời gian

2.1.2.3 Windows Live Movie Maker for Windows 7

ãng Microsoft vừa tung ra trên mạng, phiên bản mới nhất Windows Live Moviemaker v14 Windows movie maker này là một công cụ hoàn toàn miễn phí từMicrosoft giúp bạn có thể biến đổi từ các hình ảnh, đoạn video clip của bạn thành racác video, slideshow thật đáng nể

Phiên bản Windows Live Movie Maker mới nhất này cho phép bạn tạo ra nhiềuvideo hay slideshow dạng HD`( nghĩa là 420p, 720p và cả 1080p) cũng như các độphân giải SD (bình thường) như trước đây Nó cũng có rất nhiều hiệu ứng chuyển tiếplàm cho phim bạn thêm sinh động, thật bắt mắt

Điều đáng tiếc duy nhất là phiên bản Windows Live Movie Maker mới này chỉchạy được trong Vista hay Windows 7, hoàn toàn không chạy trong Windows XP

* Các tính năng mới nhất là:

Làm phim nhanh và thật dễ dàng: Tự động biến đổi các video clip của bạn cũngnhư hình ảnh thành ra các phim cực kỳ hay Automovie thêm vào tựa đề, các đoạnchuyển tiếp và hiệu ứng và làm tương thích chúng lại tất cả cho bạn Nếu bạn cónhiều thì giờ, hãy chỉnh sửa lại các video clip thêm vào các hoạt hình, nhiều hiệu ứngthị giác cho thật sinh động Tất cả đều thực hiện sau không đầy 1 phút

Cải thiện chỉnh sửa: bạn có thể thay đổi các phim video clip của bạn bằng cáccông cụ chỉnh sửa của Movie maker Cắt tỉa lại video clip để còn lại những phần màbạn muốn trình diển, xem thôi Thêm vào để tựa, chuyển tiếp nhạc nền và hiệu ứnglàm mờ đi hay phóng to ra đều được

Ngày đăng: 16/07/2015, 22:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w