XÂY DỰNG VÀ VẬN DỤNG LINH HOẠT DÀN BÀI CHUNG CHO MỘT SỐ DẠNG ĐỀ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12 ______________________ I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Làm văn là một phân môn khó trong nhà trường phổ thông – một phân môn thực hành sáng tạo trên cơ sở một vốn tri thức khoa học nhất định, đặc biệt là khoa học xã hội và những hiểu biết về thực tế đời sống. Hoạt động dạy và học môn Ngữ văn nói chung, phân môn Làm văn nói riêng, là một trong những hoạt động quan trọng trong giáo dục học sinh rèn luyện cả đức lẫn tài. Bởi lẽ, hoạt động này không chỉ giúp người học nhận thức tri thức, sau đó vận dụng thực hành, mà trong quá trình rèn luyện ấy người học tự học tập được những bài học quý về cuộc sống giúp hoàn thiện nhân cách bản thân. Do đó, phân môn Làm văn thực sự là phân môn thiết yếu trong bộ môn Ngữ văn. Và đây cũng là phân môn hiện diện, đồng thời chiếm quỹ điểm lớn trong các đề thi của các kì thi từ trước đến nay. Tuy vậy, thời lượng dành cho phân môn này trong chương trình là chưa nhiều, nếu không muốn nói là rất ít. Phân môn khó, thời lượng lại ít, cho nên việc xây dựng và vận dụng linh hoạt một dàn bài chung cho mỗi dạng đề là rất cần thiết. Bởi vì dàn bài chung của mỗi dạng đề là cái sườn, cái khung, là nền tảng mà người học cần ghi nhớ để xây dựng một bài văn hoàn chỉnh. Còn vận dụng linh hoạt dàn bài chung của mỗi dạng đề là điều kiện quan trọng để người làm bài có được bài văn từ đúng đến hay, từ cơ bản đến sáng tạo… Vì thế, hòa vào xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học nói chung và dạy và học môn Ngữ văn nói riêng, người viết xin được đưa ra những kiến giải về vấn đề “Xây dựng và vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho một số dạng đề trong chương trình Ngữ văn 12” cho những bước đầu nghiên cứu của mình. Xây dựng và vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho từng dạng đề rất gần gũi với xu hướng đổi mới của chúng ta hiện nay là dạy học theo chuyên đề – dạy một trường hợp cụ thể đặc trưng mà có thể vận dụng nhiều trường hợp tương tự. Trong phạm vi sáng kiến kinh nghiệm này, người viết chỉ tập trung vào vấn đề “Xây dựng và vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho một số dạng đề trong chương trình Ngữ văn 12”. Thiết nghĩ, đây là một vấn đề có giá trị thực tiễn đối với dạy và học môn Ngữ văn nói chung và phân môn Làm văn nói riêng ở chương trình Ngữ văn trung học phổ thông nói chung và chương trình Ngữ văn 12 nói riêng, nên rất mong nhận được sự góp ý của nhiều đồng nghiệp để người viết hoàn thiện đề tài. II. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lí luận Xuất phát từ câu nói mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với cụ Huỳnh Thúc Kháng vào ngày 3151946, trước khi đi Pháp: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cụ Dĩ bất biến ứng vạn biến” (tức là lấy cái không thay đổi mà ứng phó với cái luôn thay đổi), người viết đã lấy đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài của mình.
Trang 1XÂY DỰNG VÀ VẬN DỤNG LINH HOẠT DÀN BÀI CHUNG CHO MỘT SỐ DẠNG ĐỀ TRONG CHƯƠNG
TRÌNH NGỮ VĂN 12
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Làm văn là một phân môn khó trong nhà trường phổ thông – một phân mônthực hành sáng tạo trên cơ sở một vốn tri thức khoa học nhất định, đặc biệt là khoahọc xã hội và những hiểu biết về thực tế đời sống
Hoạt động dạy và học môn Ngữ văn nói chung, phân môn Làm văn nói riêng,
là một trong những hoạt động quan trọng trong giáo dục học sinh rèn luyện cả đứclẫn tài Bởi lẽ, hoạt động này không chỉ giúp người học nhận thức tri thức, sau đóvận dụng thực hành, mà trong quá trình rèn luyện ấy người học tự học tập đượcnhững bài học quý về cuộc sống giúp hoàn thiện nhân cách bản thân Do đó, phânmôn Làm văn thực sự là phân môn thiết yếu trong bộ môn Ngữ văn Và đây cũng
là phân môn hiện diện, đồng thời chiếm quỹ điểm lớn trong các đề thi của các kìthi từ trước đến nay
Tuy vậy, thời lượng dành cho phân môn này trong chương trình là chưanhiều, nếu không muốn nói là rất ít Phân môn khó, thời lượng lại ít, cho nên việcxây dựng và vận dụng linh hoạt một dàn bài chung cho mỗi dạng đề là rất cần thiết.Bởi vì dàn bài chung của mỗi dạng đề là cái sườn, cái khung, là nền tảng mà ngườihọc cần ghi nhớ để xây dựng một bài văn hoàn chỉnh Còn vận dụng linh hoạt dànbài chung của mỗi dạng đề là điều kiện quan trọng để người làm bài có được bàivăn từ đúng đến hay, từ cơ bản đến sáng tạo…
Vì thế, hòa vào xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học nói chung và dạy
và học môn Ngữ văn nói riêng, người viết xin được đưa ra những kiến giải về vấn
đề “Xây dựng và vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho một số dạng đề trongchương trình Ngữ văn 12” cho những bước đầu nghiên cứu của mình
Xây dựng và vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho từng dạng đề rất gần gũi
với xu hướng đổi mới của chúng ta hiện nay là dạy học theo chuyên đề – dạy một
trường hợp cụ thể đặc trưng mà có thể vận dụng nhiều trường hợp tương tự Trongphạm vi sáng kiến kinh nghiệm này, người viết chỉ tập trung vào vấn đề “Xâydựng và vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho một số dạng đề trong chương trìnhNgữ văn 12” Thiết nghĩ, đây là một vấn đề có giá trị thực tiễn đối với dạy và họcmôn Ngữ văn nói chung và phân môn Làm văn nói riêng ở chương trình Ngữ văntrung học phổ thông nói chung và chương trình Ngữ văn 12 nói riêng, nên rấtmong nhận được sự góp ý của nhiều đồng nghiệp để người viết hoàn thiện đề tài
II CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lí luận
- Xuất phát từ câu nói mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với cụ Huỳnh ThúcKháng vào ngày 31-5-1946, trước khi đi Pháp: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phóphải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho
Trang 2Mong Cụ Dĩ bất biến ứng vạn biến” (tức là lấy cái không thay đổi mà ứng phó
với cái luôn thay đổi), người viết đã lấy đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tàicủa mình
Thật vậy, trong phân môn Làm văn của chương trình Ngữ văn, câu nói trêncủa Bác rất có ý nghĩa trong việc phải xây dựng được dàn bài chung cho mỗi dạng
đề để có cái bất biến thì mới có thể tính đến chuyện vận dụng linh hoạt nó vào từng đề bài cụ thể để ứng vạn biến được Việc vận dụng linh hoạt câu nói này của
Bác vào phân môn Làm văn của chương trình Ngữ văn 12 lại càng cần thiết Bởi
lẽ, điều này không chỉ giúp các em ứng phó trong hoàn cảnh bức bách của năm họccuối cấp mà còn giáo dục các em thấy được ý nghĩa của phong trào “Học tập vàlàm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đang diễn ra sôi nổi
- Cũng xuất phát từ câu thành ngữ mà cha ông ta thường hay nói “Có bột mớigột nên hồ” (nghĩa là muốn làm được việc, muốn tạo ra được sản phẩm, trước hếtphải có những điều kiện cơ bản, cần thiết lúc ban đầu – theo Từ điển trực tuyếnBách khoa tri thức), người viết đã thôi thúc bản thân nghiềm ngẫm về đề tài này.Đúng thế, kiểm tra, thi cử nói chung và kiểm tra, thi cử bộ môn Ngữ văn nóiriêng, việc “có bột” – có nền tảng kiến thức – là điều kiện tiên quyết để “gột nênhồ” – làm tốt được các kiểm tra, bài thi Vì thế, việc chuẩn bị “bột” – dàn bàichung để các em “gột nên hồ” trong bài kiểm tra, bài thi của mình là rất cần thiết,đặc biệt đối với học sinh yếu
- Thiết nghĩ, chúng ta muốn xây dựng được dàn bài thì cũng cần tìm hiểu kháiniệm dàn bài và vai trò của nó
+ Dàn bài là trình tự sắp xếp các ý chính của bài để dựa vào đó mà nói hoặc viết (theo nhóm tác giả Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2004,
trang 240)
+ Mỗi phần trong dàn bài đều có vai trò quan trọng đến sự thành công củabài văn
(+) Phần mở bài có vai trò đặt vấn đề Phần này có nhiệm vụ giới thiệu vấn
đề cần nghị luận đồng thời gây hứng thú cho người đọc, lôi cuốn sự chú ý củangười đọc đối với vấn đề đó Mở bài thường là một đoạn văn ngắn gọn, nội dungnêu lên những ý khái quát của đề bài và đôi khi định ra hướng giải quyết, phạm vigiải quyết vấn đề
(+) Phần thân bài có vai trò giải quyết vấn đề Phần này có nhiệm vụ triểnkhai đầy đủ các ý lớn (luận điểm chính), các ý nhỏ (luận điểm phụ) và các lí lẽ dẫnchứng (luận cứ) để giải quyết triệt để những yêu cầu của đề bài Tùy theo yêu cầucủa đề bài mà phần này cần phải sử dụng một hoặc kết hợp một số thao tác lậpluận cần thiết như: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ đểlàm rõ vấn đề nhằm thuyết phục người đọc Thân bài thường gồm một số đoạnvăn, mỗi đoạn văn triển khai một ý lớn hoặc một ý nhỏ Các đoạn văn tuy đượctrình bày tách bạch, độc lập với nhau nhưng phải nối tiếp nhau, liên kết hữu cơ vớinhau theo một trình tự hợp lí, chặt chẽ xoay quanh chủ đề chung của luận đề (vấn
đề cần nghị luận của đề bài)
Trang 3(+) Phần kết bài có vai trò kết thúc vấn đề Phần này có nhiệm vụ đóng bàilại để kết thúc vấn đề đã đặt ra ở phần mở bài và đã giải quyết ở phần thân bài.Phần này cũng giống như phần mở bài, thường gồm một đoạn văn nêu những ýkhái quát nhưng có chỗ khác Nếu như phần mở bài có nhiệm vụ giới thiệu vấn đềthì phần kết bài có nhiệm vụ tổng kết để rút ra kết luận chung: đánh giá chung vấn
đề, nêu lên những liên hệ, vận dụng vào cuộc sống…
2 Cơ sở thực tiễn
- Thực tế cho thấy, việc học môn Ngữ văn ngày nay của học sinh mang tínhchất đối phó, kiếm điểm Đó là hiện tượng đáng buồn cho việc dạy và học mônNgữ văn hiện nay Nó trở thành một trào lưu rộng khắp Vì thế, giống như việckhông cản được dòng nước lũ thì chúng ta cần phải tìm cách sống chung với lũ.Việc xây dựng dàn bài chung cho mỗi dạng đề là giải pháp cấp thiết để học sinhdựa vào đó mà làm được ít nhiều bài văn của mình trong các kì thi Đây cũng cóthể là giải pháp quan trọng để học sinh còn có cái gì đó lưu luyến với bộ môn này
- Một thực tế nữa mà người viết thấy cần thiết phải triển khai đề tài này là đềthi của các kì thi hiện nay đều thiên về làm văn Do đó, đề thi đã thiên về làm vănthì không có gì lợi ích hơn là xây dựng dàn bài chung cho các dạng đề để học sinh
có mô hình mà giải quyết các đề thi trong các kì thi của mình Đây là việc làm có ýnghĩa khoa học bởi người làm khoa học đều bắt đầu từ bắt chước, làm theo; sau đómới là tìm ra những phát kiến, sáng kiến mới Học sinh nếu được xây dựng dàn bàichung cho các dạng đề, người viết tin rằng các em từ chỗ làm đúng bài văn đếnchỗ vận dụng linh hoạt sáng tạo làm được bài văn hay Và sáng tạo văn học nóichung, làm văn nói riêng, thiết nghĩ, không chỉ cần chú ý đến nghệ thuật mà cònphải chú ý đến cả kĩ thuật nữa mà dàn bài chung là mô hình của kĩ thuật làm văn
- Thực tiễn tại trường trung học phổ thông mà người viết đang công tác chothấy khá nhiều học sinh không mặn mà với văn học (nếu không muốn nói là thờ ơ).Nhiều học sinh thậm chí bỏ giấy trắng trong các bài kiểm tra, bài thi Số khác họcvẹt được ít kiến thức thì viết một cách vô tội vạ, không biết sắp xếp theo một trật
tự hợp lí, không trình bày theo một bố cục rõ ràng Những trường hợp như thế,chúng tôi thường gọi vui là “tư duy rối loạn” Vì thế, vấn đề đặt ra là cần phải códàn bài chung cho các dạng đề để các em nhớ được các bước làm mà theo đó viếtđược bài văn, ít nhất cũng đảm bảo được bố cục, sau đó mới tính đến chuyện bànluận sâu rộng, sáng tạo phong phú…
- Những năm gần đây việc dạy học theo chuyên đề đang được quan tâm và
bước đầu ứng dụng Vì thế, người viết đưa ra giải pháp “Xây dựng và vận dụnglinh hoạt dàn bài chung cho một số dạng đề trong chương trình Ngữ văn 12” để
nâng cao hiệu quả làm văn cho học sinh theo hướng dạy học theo chuyên đề Đây
là giải pháp được cải tiến từ những giải pháp đã có
III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Đề làm văn của chương trình Ngữ văn 12 chủ yếu xoay quanh hai loại là nghịluận xã hội và nghị luận văn học Để học sinh làm tốt các bài làm văn của chươngtrình cuối cấp trung học phổ thông này, người viết xin đưa ra các giải pháp xây
Trang 4dựng dàn bài chung và vận dụng linh hoạt cho mỗi dạng đề để học sinh ghi nhớ cácbước làm như thể buộc phải nhớ hằng đẳng thức trong toán học.
1 Giải pháp 1: Xây dựng và vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho một số dạng đề nghị luận xã hội trong chương trình Ngữ văn 12
Nghị luận xã hội là nghị luận về một vấn đề xã hội Khái niệm xã hội đượchiểu theo nghĩa rộng, bao gồm những vấn đề thuộc mọi quan hệ, mọi hoạt độngcủa con người trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, giáo dục,đạo đức, môi trường, dân số,… Loại đề làm văn nghị luận xã hội trong chươngtrình Ngữ văn 12 có ba dạng chủ yếu là nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; nghịluận về một hiện tượng đời sống và nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tácphẩm văn học
Sau đây, người viết xin đưa ra cách xây dựng và vận dụng linh hoạt dàn bàichung cho mỗi dạng đề nghị luận xã hội đã nêu trên
a) Dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
* Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu tư tưởng, đạo lí cần bàn luận theo đề bài.
* Thân bài: (gồm 4 bước):
- Giải thích:
+ Giải thích từ ngữ, hình ảnh khó hiểu;
+ Nêu ra ý nghĩa của cả tư tưởng, đạo lí Từ đó, ta có thể nhận định mức
độ đúng/sai của tư tưởng, đạo lí đó (đúng hoàn toàn hay đúng một phần)…
- Phân tích – chứng minh:
+ Chỉ ra những biểu hiện của tư tưởng, đạo lí ấy trong cuộc sống (chú ý balĩnh vực: học tập, lao động sản xuất, chiến đấu);
+ Chỉ ra tính tích cực, tiêu cực của tư tưởng đạo lí ấy;
+ Lí giải vì sao đúng, vì sao sai đúng ở chỗ nào, sai ở chỗ nào…
- Bình luận – mở rộng:
+ Nêu quan điểm của người viết;
+ Đề xuất quan điểm bổ sung (nếu cần);
+ Biểu dương những tấm gương sáng làm theo tư tưởng, đạo lí đúng đắn
đề bài cụ thể, như sau:
Trang 5(Đề thi Tốt nghiệp – hệ Giáo dục trung học phổ thông năm 2011)
Vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo
lí, ta có thể xây dựng được dàn bài sau:
* Mở bài: Nêu được vấn đề cần nghị luận.
* Thân bài:
- Giải thích:
+ Trước nhiều ngả đường đi đến tương lai nghĩa là đi đến tương lai có
nhiều cách;
+ Chỉ có chính bạn mới lựa chọn được con đường đúng cho mình nghĩa là
sự sáng suốt lựa chọn của chính bản thân có vai trò quyết định thành công và hạnhphúc của mỗi người
- Phân tích – chứng minh:
Để lập thân, lập nghiệp, hướng đến một tương lai tốt đẹp, mỗi người cầnchủ động, sáng suốt lựa chọn một con đường cho chính mình dựa trên khả năng, sởthích của cá nhân
(Lí giải và lấy dẫn chứng cụ thể trong đời sống)
* Kết bài: Bài học nhận thức và hành động: Tuổi trẻ cần xác định được vai
trò quyết định của chính bản thân trong việc lựa chọn hướng đi; khi lựa chọn, cầncăn cứ vào những yếu tố cần thiết
Đề bài 2:
Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội.
Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ýkiến trên
(Đề thi Tốt nghiệp – hệ Giáo dục trung học phổ thông năm 2012)
Vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo
lí, ta có thể xây dựng được dàn bài sau:
* Mở bài: Nêu được vấn đề cần nghị luận.
Trang 6Trong một vài trường hợp, nói dối có thể để xoa dịu nỗi đau, trấn an tinhthần cho người khác, nhưng không phải vì thế mà cho rằng dối trá là có lợi…
- Bác bỏ – phê phán: Lên án, đấu tranh để loại bỏ thói dối trá trong mỗi cánhân và trong đời sống xã hội
* Kết bài: Bài học nhận thức và hành động: Cần thấy sự nguy hại của thói
dối trá; cần tu dưỡng, rèn luyện bản thân để sống trung thực
Đề bài 3:
Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về lòngbao dung của con người trong cuộc sống
(Đề thi Tốt nghiệp – hệ Giáo dục thường xuyên năm 2013)
Vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo
lí, ta có thể xây dựng được dàn bài sau:
* Mở bài: Nêu được vấn đề cần nghị luận.
+ Phê phán những người không có lòng bao dung, ích kỉ, hẹp hòi; thiếutrách nhiệm với gia đình, cộng đồng; …
* Kết bài: Bài học nhận thức và hành động: Thấy được ý nghĩa của lòng bao
dung trong cuộc sống; biết sống vị tha, rộng lượng
b) Dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
* Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu hiện tượng đời sống theo đề bài và nhận định
mức độ tốt/xấu của nó (cần phát huy hay khắc phục)…
* Thân bài: (gồm 4 bước):
- Trình bày thực trạng và biểu hiện của hiện tượng đời sống đó (hiện tượngphổ biến hay không phổ biến? Biểu hiện ở những khía cạnh nào?)
- Lí giải những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đời sống đó (nguyên nhânchủ quan: con người; nguyên nhân khách quan: gia đình, xã hội…)
- Phân tích những lợi ích hay tác hại của hiện tượng đời sống đó (đối vớibản thân, gia đình, xã hội…)
- Hướng giải quyết với những giải pháp (phát huy hay khắc phục) hiệntượng đời sống đó (đối với bản thân, gia đình, xã hội…)
* Kết bài: Đánh giá chung về hiện tượng đã bàn luận; rút ra bài học nhận
thức và hành động cho bản thân
Qua thực tiễn áp dụng giải pháp này vào giảng dạy tại đơn vị mình, ngườiviết xin đưa ra một số dẫn chứng minh hoạ đã thực hiện có hiệu quả trong việc vận
Trang 7dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống ởtừng đề bài cụ thể, như sau:
Đề bài 1:
Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về thựctrạng tai nạn giao thông ở nước ta hiện nay
(Đề thi Tốt nghiệp – hệ Giáo dục thường xuyên năm 2011)
Vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một hiện tượngđời sống, ta có thể xây dựng được dàn bài sau:
* Mở bài: Nêu được vấn đề cần nghị luận.
- Phân tích nguyên nhân:
+ Sự hiểu biết, ý thức chấp hành luật lệ giao thông của người tham giagiao thông còn hạn chế
+ Cơ sở hạ tầng, phương tiện giao thông chưa đảm bảo tiêu chuẩn
- Bàn luận về giải pháp:
+ Mỗi người cần nâng cao ý thức tìm hiểu và chấp hành luật lệ giao thông.+ Từng bước nâng cấp cơ sở hạ tầng và các phương tiện giao thông; tíchcực tuyên truyền Luật giao thông; nghiêm túc xử lí những người vi phạm
* Kết bài: Bài học nhận thức và hành động.
Đề bài 2:
Rác thải sinh hoạt hiện đang là một vấn nạn đe dọa cuộc sống của chúng ta.
Anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề trên?
(Đề bài này do người viết sưu tầm trên trang http://viettelstudy.vn)
Vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một hiện tượngđời sống, ta có thể xây dựng được dàn bài sau:
* Mở bài: Nêu được vấn đề cần nghị luận.
* Thân bài:
- Thực trạng, biểu hiện:
+ Số lượng rác thải ra quá nhiều: Lượng rác thải sinh hoạt được thải ra
hàng ngày trên cả nước khoảng 35.000 tấn
+ Xả rác bừa bãi ở khắp mọi nơi (khu dân cư, trường học, đường phố, nhà
ga, công viên,….)
- Nguyên nhân:
+ Ý thức trách nhiệm của mỗi người, chưa tự giác trong việc giữ gìn + Xử lí chưa hợp lí chủ yếu là chôn lấp, chưa có sự phân loại và tái chế…
- Hậu quả:
+ Đe dọa sự sống quốc gia dân tộc, ảnh hưởng đến sức khỏe mỗi người
+ Gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến khí hậu,…
Trang 8- Giải pháp:
+ Nâng cao ý thức của mỗi người bằng những chương trình giáo dục, quyđịnh xử phạt nghiêm minh với những hành vi xả rác bừa bãi
+ Cần phải có sự chung tay của nhiều người, nhiều cấp ban ngành
+ Có chiến lược thu gom và xử lí rác thải hợp lí
- Phần 1: Phân tích vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
- Phần 2: Bàn luận vấn đề xã hội trên trong đời sống theo một trong haitrường hợp:
+ Nếu vấn đề đó là một tư tưởng, đạo lí thì làm bài theo các bước nghịluận về một tư tưởng, đạo lí
+ Nếu vấn đề đó là một hiện tượng đời sống thì làm bài theo các bướcnghị luận về một hiện tượng đời sống
* Kết bài: Đánh giá chung về vấn đề đã bàn luận; rút ra bài học nhận thức
và hành động cho bản thân
Qua thực tiễn áp dụng giải pháp này vào giảng dạy tại đơn vị mình, ngườiviết xin đưa ra một số dẫn chứng minh hoạ đã thực hiện có hiệu quả trong việc vậndụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ratrong tác phẩm văn học ở từng đề bài cụ thể, như sau:
Đề bài 1:
Đọc đoạn văn sau:
Hai con người côi cút, hai hạt cát đã bị sức mạnh phũ phàng của bão tố chiến tranh thổi bạt tới những miền xa lạ… Cái gì chờ đón họ ở phía trước? Thiết nghĩ rằng con người Nga đó, con người có ý chí kiên cường, sẽ đứng vững được
và sống bên cạnh bố, chú bé kia một khi lớn lên sẽ có thể đương đầu với mọi thử thách, sẽ vượt qua mọi chướng ngại trên đường nếu như Tổ quốc kêu gọi.
(Ngữ văn 12, Tập hai, trang 123, NXB Giáo dục – 2008)
Từ việc đọc – hiểu đoạn văn trên, anh/chị hãy viết một bài văn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của mình về nghị lực của con người trong cuộc sống.
(Đề thi Học kì II năm học 2014 – 2015 của Sở Giáo dục – Đào tạo Đồng Nai)
Vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội(một tư tưởng, đạo lí) đặt ra trong tác phẩm văn học, ta có thể xây dựng được dànbài sau:
Trang 9+ Nghị lực: là sức mạnh tinh thần tạo cho con người sự kiên quyết tronghành động, không lùi bước trước khó khăn.
+ Đây là một phẩm chất tốt đẹp của con người sống không sợ gian nan,thử thách, có tinh thần dũng cảm, và bản lĩnh đáng được trân trọng
- Bàn luận, mở rộng vấn đề:
+ Cuộc sống luôn tiềm ẩn những khó khăn, phức tạp Để đạt được thànhcông, hạnh phúc và sống một cuộc sống có ý nghĩa, con người phải vượt qua nhiềuchông gai, thử thách, phải có ý chí, nghị lực vươn lên, sống thật đẹp và hào hùng
+ Những thử thách, gian nan chính là môi trường tôi luyện con người.+ Phê phán những người có thái độ sống ươn hèn, thụ động, không có ýchí, nghị lực vươn lên trong cuộc sống
(Lấy dẫn chứng thực tế và phân tích để làm sáng tỏ các luận điểm)
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Trong cuộc sống cũng như trong học tập phải biết vượt lên chính mình,không nên chùn bước trước những khó khăn, bất trắc Sống cần có lí tưởng, khátvọng và ước mơ
+ Khó khăn trong cuộc sống không chỉ là thử thách với cuộc đời của mỗicon người mà còn là thử thách với một dân tộc Hãy sống như nhân vật Xô-cô-lốp,một thế hệ đã dũng cảm vượt qua những bão táp của cuộc đời để đem lại cuộc sốngtươi đẹp cho đất nước của mình
* Kết bài:
Khẳng định lại vai trò quan trọng của nghị lực trong cuộc sống của con
người Khẳng định tác phẩm Số phận con người của Sô-lô-khốp đã xây dựng thành
công hình tượng con người Nga giàu ý chí nghị lực
Đề bài 2:
Đọc đoạn văn sau:
Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhau
họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”.
Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn.
(Ngữ văn 12, Tập hai, trang 71,72, NXB Giáo dục – 2008)
Từ việc đọc – hiểu đoạn văn trên, anh/chị hãy viết một bài văn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của mình về tình trạng bạo lực gia đình hiện nay.
Vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội(một hiện tượng đời sống) đặt ra trong tác phẩm văn học, ta có thể xây dựng đượcdàn bài sau:
* Mở bài:
Giới thiệu ngắn gọn về nhân vật người đàn ông vũ phu và người đàn bà hàng
chài trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu Từ đó, dẫn
vào vấn đề nghị luận: Tình trạng bạo lực gia đình hiện nay
Trang 10* Thân bài:
- Hiện tượng bạo lực gia đình trong đoạn trích: người chồng đánh vợ một
cách tàn nhẫn (hùng hổ, trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp,…); người vợ cam chịu, nhẫn nhục đến bạc nhược…
- Bàn luận, mở rộng vấn đề bạo lực gia đình hiện nay:
+ Hiện tượng này vẫn diễn ra trong cuộc sống hiện nay, biểu hiện như:chồng đánh vợ, chồng không cho vợ ăn mặc tử tế, chồng bắt vợ chỉ ở nhà, cấmđoán vợ trò chuyện với bạn bè,…
+ Nguyên nhân: gia đình nghèo khổ, thói gia trưởng vẫn tồn tại ở một sốngười đàn ông, người phụ nữ còn mang tâm lí cam chịu chưa dám đấu tranh để đòibình đẳng giới, một số người trong xã hội chưa thực sự quan tâm lên tiếng phảnđối, cơ quan chức năng chưa xử lí nặng người vi phạm,…
+ Tác hại: phá vỡ tình cảm, hạnh phúc gia đình, phá vỡ bình đẳng giới;thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng của người phụ nữ; làm mất đạo đức xã hội…
+ Giải pháp: tuyên truyền bình đẳng giới sâu rộng trong quần chúng, kêugọi sự quan tâm tố giác và xử lí nghiêm minh những trường hợp vi phạm,…
* Kết bài:
Quan đoạn văn trên, Nguyễn Minh Châu muốn rung lên hồi chuông báođộng về bạo lực gia đình và hậu quả không lường của nó Vì thế, loại bỏ bạo lựcgia đình là việc làm cần thiết cấp bách để xây nên những “tế bào” tốt đẹp cho xãhội
2 Giải pháp 2: Xây dựng và vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho một số dạng đề nghị luận văn học trong chương trình Ngữ văn 12
Nghị luận văn học là nghị luận về một vấn đề văn học như về một tác phẩm,một tác giả, một trào lưu, một giai đoạn, một quan điểm văn học,… Loại đề làmvăn nghị luận văn học trong chương trình Ngữ văn 12 tập trung ở ba dạng là nghịluận về một bài thơ, đoạn thơ; nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi
và nghị luận về một ý kiến bàn về văn học
Sau đây, người viết xin đưa ra cách xây dựng và vận dụng linh hoạt dàn bàichung cho mỗi dạng đề nghị luận văn học đã nêu trên
a) Dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
Dạng đề nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ thì yêu cầu của đề là làm rõ giá
trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ đó Có khi đề yêu cầu phân tích
một hình tượng trong bài thơ, đoạn thơ nhưng thực chất cũng là phân tích nghệthuật và nội dung của bài thơ, đoạn thơ ấy để thấy được hình tượng Vì thế, nắmchắc dàn bài chung, học sinh sẽ giảm bớt khó khăn khi đối mặt với dạng đề này.Dàn bài chung cho dạng đề này có mô hình như sau:
* Mở bài: Giới thiệu tác giả dẫn vào bài thơ Nêu vấn đề: Bài thơ có giá trị
sâu sắc về nội dung và nghệ thuật mà tiêu biểu là đoạn thơ sau đây:
(“Ghi nguyên văn đoạn thơ bỏ trong dấu ngoặc kép”)
Trang 11+ Lần lượt phân tích hình thức nghệ thuật để chỉ ra nội dung biểu hiện củatừng nhóm câu thơ (thường gọi là từng dẫn chứng) trong đoạn thơ cần phân tích.
+ Lưu ý:
☻Phân tích dẫn chứng (câu thơ, nhóm câu thơ) có ba công việc phải
làm: giới thiệu dẫn chứng – trích dẫn dẫn chứng – phân tích dẫn chứng
☻Phân tích nghệ thuật bao gồm: từ ngữ, hình ảnh; các phép tu từ: láy,điệp (âm, vần, thanh, từ ngữ), đối, ngắt nhịp, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa,cường điệu, nói tránh, câu hỏi tu từ, lặp cấu trúc, đảo trật tự, liệt kê,…
☻Phân tích nội dung bằng cách đặt và trả lời các câu hỏi: Nghệ thuậttrong câu thơ (nhóm câu thơ) nhằm thể hiện nội dung nào? Nội dung ấy được diễn
tả ra sao? Diễn tả như vậy có ý gì? Còn có ý nào nữa? Có dẫn chứng nào liên quan
để minh họa cho ý phân tích hay không?
☻Nếu đề bài yêu cầu phân tích hình tượng trong bài thơ, đoạn thơ đãcho thì cần nhấn mạnh hình tượng sau khi đã phân tích bài thơ, đoạn thơ đó
* Kết bài: Đánh giá chung về nghệ thuật, nội dung bài thơ, đoạn thơ; nêu
cảm nghĩ của người viết về một khía cạnh sâu sắc nhất của bài thơ, đoạn thơ, cũng
có thể kèm theo cảm nghĩ chung về tác giả, bài thơ
Qua thực tiễn áp dụng giải pháp này vào giảng dạy tại đơn vị mình, ngườiviết xin đưa ra một số dẫn chứng minh hoạ đã thực hiện có hiệu quả trong việc vậndụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ ở từng
đề bài cụ thể, như sau:
Đề bài 1:
Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.
(Ngữ văn 12, Tập một, trang 88, NXB Giáo dục – 2008)
Vận dụng linh hoạt dàn bài chung cho bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạnthơ, ta có thể xây dựng được dàn bài sau:
* Mở bài: Giới thiệu Quang Dũng và bài thơ “Tây Tiến” Nêu vấn đề: Bài
thơ có giá trị sâu sắc về nội dung và nghệ thuật mà tiêu biểu là đoạn thơ sau đây:
(“Ghi nguyên văn đoạn thơ bỏ trong dấu ngoặc kép”)
* Thân bài:
- Khái quát về bài thơ, đoạn thơ:
+ Giới thiệu đơn vị Tây Tiến, hoàn cảnh viết bài thơ
+ Tóm tắt nội dung, nêu bố cục bài thơ, vị trí đoạn thơ phân tích
- Phân tích nghệ thuật, nội dung đoạn thơ: