Trong quá trình phát triển của con người, giai đoạn tuổi trẻ là giai đoạn các chức năng sinh lý trong cơ thể con người được xác lập, phân định để tiến tới hoàn thiện. Những bản năng tự nhiên được di truyền theo loài trong con người như ăn uống, sinh tồn, tự vệ
Trang 1Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là bình minh của cuộc đời, là hạnh phúc của gia đình, là tươnglai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Trẻ em do còn non nớt về thể chất và trí tuệ nên cần được bảo vệ và chăm sócđặc biệt, trong đó có sự chở che của pháp luật Để bảo vệ trẻ em, đại đa số cácquốc gia trên thế giới đã ký kết và tham gia Công ước của Liên hợp quốc về
quyền trẻ em Điều 34 Công ước về quyền trẻ em đã quy định: “Các quốc gia thành viên cam kết bảo vệ trẻ em chống tất cả các hình thức bóc lột và lạm dụng tình dục Vì mục đích này các quốc gia thành viên phải đặc biệt thực hiện tất cả các biện pháp quốc gia, song phương và đa phương thích hợp để ngăn ngừa việc xúi giục hay ép buộc trẻ em tham gia bất kỳ hành vi tình dục bất hợp pháp nào” Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu á và là nước thứ ba
trên thế giới phê chuẩn Công ước quyền trẻ em và đã thực hiện nhiều biệnpháp khác nhau để bảo vệ, chăm sóc trẻ em Tuy nhiên trong thời gian qua,tội phạm xâm hại trẻ em trong đó có tội hiếp dâm trẻ em ở nước ta vẫn diễnbiến rất phức tạp và luôn có chiều hướng gia tăng Nghị quyết số09/1998/NQ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ về tăng cường công tác
phòng chống tội phạm trong tình hình mới đã xác định:“Tội phạm xâm hại trẻ em là một trong những loại tội phạm gây những hậu quả hết sức nghiêm trọng, gây lo lắng cho toàn xã hội cần phải tập trung đấu tranh”.
Từ năm 1999 đến năm 2004, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai tội phạm hiếpdâm trẻ em xảy ra hầu hết các địa phương trong tỉnh Đáng chú ý là các vụ ánhiếp dâm trẻ em chiếm đa số trong các vụ xâm phạm tình dục trẻ em (172/300vụ- tỷ lệ 57,4%) Tội phạm hiếp dâm trẻ em đã gây ra những hậu quả rất nguyhại cho bản thân trẻ em, gia đình người bị hại và xã hội Tội phạm hiếp dâmtrẻ em không những xâm hại đến sức khỏe, danh dự nhân phẩm mà còn gây
Trang 2ảnh hưởng lâu dài tới tâm, sinh lý của các em trong suốt quá trình trưởngthành Những người phạm tội hiếp dâm trẻ em thể hiện sự suy đồi về lối sống,
sự xuống cấp về các giá trị về đạo đức và thuần phong mỹ tục Đồng thời, tộiphạm này còn ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang,
lo lắng cho một bộ phận dân cư trên địa bàn tỉnh
Nhận thức được tính nguy hiểm của tội phạm hiếp dâm trẻ em, trongnhững năm qua, Công an tỉnh Đồng Nai đã tập trung lực lượng đấu tranhchống loại tội phạm này và đã thu được những kết quả đáng khích lệ Tuynhiên, hoạt động điều tra các vụ án hiếp dâm trẻ em vẫn còn tồn tại vướngmắc do những nguyên nhân chủ quan và khách quan làm hạn chế hiệu quảđiều tra đối với loại tội phạm này: Việc thu thập dấu vết, tài liệu chứng cứ cógiá trị trực tiếp để chứng minh tội phạm và người phạm tội gặp rất nhiều khókhăn; người làm chứng chưa nhận thức được rõ trách nhiệm của mình nênchưa tự giác khai báo hoặc khai báo chưa đầy đủ; người bị hại do nhiềunguyên nhân khác nhau không trình báo hoặc trình báo không kịp thời Mặtkhác, do nhận thức của các em còn non nớt nên việc cung cấp thông tin thiếuchính xác, không đầy đủ Tổ chức bộ máy cũng như hoạt động điều tra các vụ
án hiếp dâm trẻ em của Cơ quan CSĐT còn có những hạn chế nhất định
Vì những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: “Điều tra các vụ án hiếp dâm trẻ em trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” làm đề tài luận văn Thạc sĩ luật học.
Trang 3- Luận văn cao học: Thực trạng và các giải pháp góp phần nâng caohiệu quả công tác đấu tranh chống tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em ở nước
ta hiện nay - Đặng Thị Thanh, năm 2001
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: Phòng ngừa tội phạm xâm hại trẻ
em ở Việt Nam theo chức năng của lực lượng CSND – Trần Phương Đạt, năm2004
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: Tội phạm xâm phạm tình dục trẻ
em ở các tỉnh thành phố phía Nam, thực trạng và giải pháp phòng ngừa đấutranh – Vũ Đức Trung, năm 2005
Tuy nhiên, những công trình trên mới chỉ tập trung nghiên cứu vềphương hướng phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm xâm hại trẻ em ở những góc
độ khác nhau, chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu hoạt động điềutra các vụ án hiếp dâm trẻ em và nghiên cứu vấn đề này trên địa bàn tỉnhĐồng Nai
3 MụC đích Và NHIệM Vụ NGHIÊN CứU
- Mục đích nghiên cứu của luận văn
Nhằm đánh giá thực trạng hoạt động điều tra các vụ án hiếp dâm trẻ emcủa cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Nai Từ đó đề xuất các giải pháp gópphần nâng cao hiệu quả điều tra đối với loại án này
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình nghiên cứu luận văn đặt ra
và giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
+ Khái quát về mặt lý luận để thống nhất nhận thức về trẻ em, bảo vệtrẻ em theo pháp luật Việt Nam; về điều tra các vụ án xâm hại trẻ em nóichung, hiếp dâm trẻ em nói riêng theo chức năng của lực lượng CSND
+ Khái quát đánh giá tình hình tội phạm và đặc điểm hình sự của tộiphạm hiếp dâm trẻ em tại Đồng Nai từ năm 1999 đến năm 2004
Trang 4+ Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động điều tra đối với các vụ ánhiếp dâm trẻ em tại địa bàn tỉnh Đồng Nai.
+ Dự báo tình hình hoạt động của tội phạm hiếp dâm trẻ em trong thờigian tới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
+ Đề ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác điều tra các
vụ án hiếp dâm trẻ em trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
4 ĐốI TƯợNG Và PHạM VI NGHIÊN CứU
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động điều tra các vụ án hiếp dâm trẻ em
do cơ quan điều tra của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Công an tỉnh Đồng Naitiến hành
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tình hình tội phạm hiếp dâm trẻ em
từ năm 1999 đến năm 2004 tại địa bàn tỉnh Đồng Nai và hoạt động điều tracác vụ án hiếp dâm trẻ em của cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Nai từ năm
1999 đến năm 2004
5 PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
- Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phép biện chứng duy vật của
triết học Mác - Lê nin; các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nhiệm vụđấu tranh phòng, chống tội phạm; các tri thức khoa học của bộ môn luật, tộiphạm học, tâm lý học và khoa học điều tra tội phạm
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
+ Phương pháp thống kê so sánh đối chiếu
+ Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp
+ Phương pháp chuyên gia
+ Phương pháp điều tra xã hội học
6 ý NGHĩA Lý LUậN Và THựC TIễN
Trang 5- Luận văn là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cáchtoàn diện có hệ thống về hoạt động điều tra, xử lý các vụ án hiếp dâm trẻ emtrên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
- Dự báo có cơ sở khoa học tình hình tội phạm hiếp dâm trẻ em trongthời gian tới và đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm góp phần nâng caohiệu quả hoạt động điều tra các vụ án hiếp dâm trẻ em ở tỉnh Đồng Nai
7 ĐIểM MớI CủA LUậN VĂN
- Việc nghiên cứu, rút ra những giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệuquả công tác điều tra các vụ án hiếp dâm trẻ em trên địa bàn tỉnh Đồng Nai sẽlàm giàu thêm kho tàng kinh nghiệm điều tra khám phá các loại tội phạm củalực lượng CAND góp phần bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nhằm tăngcường pháp chế xã hội chủ nghĩa
- Đối với hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học của cáctrường CAND, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo sinh động về tình hình tộiphạm hiếp dâm trẻ em và công tác điều tra loại tội phạm này ở một tỉnh thuộctam giác kinh tế khu vực phía Nam của Tổ quốc
8 Bố CụC CủA luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được cấu trúc thành 3chương
Chương 1: Nhận thức cơ bản về tội phạm hiếp dâm trẻ em và công tác
điều tra các vụ án hiếp dâm trẻ em
Chương 2: Tình hình tội phạm hiếp dâm trẻ em và thực trạng công tác
điều tra các vụ án này trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 1999 đến năm 2004
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả
công tác điều tra các vụ án hiếp dâm trẻ em trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Trang 6Chương 1 nhận thức cơ bản về TộI PHạM HIếP DÂM TRẻ EM
Và công tác điều tra các vụ án HIếP DÂM TRẻ EM
1.1 Khái niệm và đặc điểm pháp lý của tội phạm hiếp dâm trẻ em
1.1.1 Trẻ em và quan điểm chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ trẻ em
1.1.1.1 Khái niệm về trẻ em
Trong quá trình tồn tại và phát triển, đời người được chia thành hai giaiđoạn: Giai đoạn trẻ em và giai đoạn người lớn Mỗi giai đoạn có những đặcđiểm đặc trưng về sinh lý, tâm lý và xã hội
Trẻ em, là khái niệm dùng để chỉ giai đoạn phát triển đầu tiên của cuộcđời con người Theo Điều 1 của Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ
em, được thông qua ngày 20/11/1989 tại Viên (áo) và có hiệu lực từ ngày
02/9/1990 thì: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn” Như vậy,
để xác định một người nào đó có phải là trẻ em hay không, phải căn cứ vào
tuổi của chính người đó mà không có tiêu chí nào khác nữa.
Các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã phê chuẩn Côngước này đều phải tuân thủ về tuổi của trẻ em là dưới 18 tuổi ở Việt Nam,chưa có quy định thống nhất về độ tuổi của trẻ em và người chưa thành niên.Định nghĩa về trẻ em được đề cập ở nhiều văn bản luật khác nhau:
Điều 1, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định:
“Trẻ em là công dân Việt nam dưới 16 tuổi” Theo quy định trên, trẻ em Việt
Nam là tất cả những ai từ chưa đủ 16 tuổi trở xuống Đó có thể là những trẻ
sơ sinh, là những bé thơ trong nhà trẻ, mẫu giáo, là các em học sinh trong cáctrường tiểu học, trung học cơ sở hoặc trường trung học phổ thông với điều
Trang 7kiện duy nhất là các em chưa đủ 16 tuổi (tính theo tháng) Trong trẻ em cũng
có thể phân chia thành các lứa tuổi khác nhau: Trẻ em dưới 2 tuổi; trẻ em từ 2tuổi đến dưới 6 tuổi; trẻ em từ 6 tuổi đến dưới 12 tuổi; trẻ em từ 12 tuổi đếndưới 16 tuổi
Luật Lao động nước ta quy định: Trẻ em là người dưới 15 tuổi Theoquy định của Chương X, Bộ luật Hình sự năm 1999 thì người chưa thành niên
là người từ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi Cũng tại Bộ luật này, khi nói đến trẻ emvới tính cách là đối tượng bị xâm hại, luật quy định là người dưới 16 tuổi.Trong Hiến pháp năm 1992 và một số văn bản pháp luật khác, khi đề cập đếncác quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam như quyền bầu cử, quyền kếthôn, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, tuổi đăng ký nghĩa vụ quân sự …thì quyđịnh giới hạn độ tuổi trẻ em là dưới 18 tuổi
Khái niệm “trẻ em” và “người chưa thành niên” là hai khái niệm khác
nhau, được xác định căn cứ vào độ tuổi Nếu giới hạn tuổi của trẻ em chỉdừng lại ở mức dưới 16 tuổi thì giới hạn tuổi của người chưa thành niên lại ở
mức cao hơn Theo Điều 20 Bộ luật Dân sự năm 1995 thì “người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi” Như vậy trẻ em và người chưa thành niên là
hai thuật ngữ, hai khái niệm pháp lý khác nhau nhưng gắn bó mật thiết vớinhau, hòa quyện vào nhau và trong nhiều trường hợp mối quan hệ này không
có sự khác biệt bởi vì: Tất cả trẻ em đều là người chưa thành niên nhưngkhông phải mọi người chưa thành niên đều là trẻ em
Như vậy, trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có quy địnhthống nhất về ranh giới độ tuổi giữa trẻ em và người trưởng thành Tuy nhiên,các văn bản pháp luật đều đã thừa nhận trẻ em là lứa tuổi cần được bảo vệ,chăm sóc và giáo dục nhằm tạo ra những điều kiện tốt nhất để trẻ em pháttriển toàn diện
Trang 8Để có căn cứ đưa ra khái niệm về trẻ em, cần phải khái quát một số đặcđiểm đặc trưng của lứa tuổi này
Sự phát triển về thể chất và nhận thức của con người theo quy luậtkhách quan từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện Cùng với sựphát triển về thể chất, thông qua hoạt động thực tiễn, nhận thức của con ngườicũng dần được hoàn thiện Chỉ đến khi đạt độ tuổi nhất định, con người mới
có đầy đủ năng lực trách nhiệm về hành vi của mình
hướng dẫn để trở thành chủ nhân tương lai của xã hội Trẻ em có trở thànhngười chủ thực sự của đất nước hay không phụ thuộc vào việc trẻ em đượcchuẩn bị như thế nào? Gia đình, nhà trường và xã hội đã định hướng cho trẻ
em theo những chuẩn mực nào? Mọi hành vi của các thế hệ đi trước đều ảnhhưởng tới sự phát triển của các em Trẻ em có quyền đòi hỏi người lớn chămsóc, giáo dục và giúp đỡ Mọi thiếu sót trong việc chăm sóc giáo dục trẻ emđều có thể dẫn đến những hậu quả khó lường, tất cả các hành vi xâm hại đếnquyền lợi của trẻ em đều đáng bị lên án
Trang 9- Đặc điểm về sự phát triển sinh lý
Trong quá trình phát triển của con người, giai đoạn tuổi trẻ là giai đoạncác chức năng sinh lý trong cơ thể con người được xác lập, phân định để tiếntới hoàn thiện Những bản năng tự nhiên được di truyền theo loài trong conngười như ăn uống, sinh tồn, tự vệ…nếu để các quy luật sinh vật chi phối tựphát mà không được xã hội định hướng, chỉ dẫn thì trẻ không tự tồn tại, pháttriển được hoặc phát triển theo hướng tiêu cực và sẽ dẫn đến các hành vi lệchchuẩn ở trẻ em
Muốn cho trẻ em có được sự phát triển sinh học đúng hướng thì ngườilớn(xã hội) phải tạo ra những tiền đề vật chất, tinh thần thuận lợi cho sự pháttriển về mặt sinh lý để trẻ em có điều kiện phát triển hài hòa, cân đối
- Đặc điểm về tâm lý của trẻ em
Những phẩm chất tâm lý của trẻ em không tự nhiên mà có, nó bắtnguồn từ thực tiễn, trong môi trường sống và môi trường giáo dục ở lứa tuổinày, trẻ em sẽ tiếp thu, lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội, lịch sử để hìnhthành những phẩm chất tâm lý nói chung và nhân cách nói riêng Lúc này, trẻ
em chưa có khả năng phân tích đánh giá một cách đúng đắn khách quan vềcác sự việc, hiện tượng xảy ra trong tự nhiên và xã hội Vì vậy, việc hướngdẫn, giúp đỡ trẻ em nhận biết những yếu tố đúng, sai trong môi trường sống
sẽ giúp trẻ em có thái độ đúng đắn đối với các mối quan hệ xung quanh
Trong giai đoạn này, nếu người lớn bỏ mặc cho trẻ em tự phát triển,không giáo dục, hướng dẫn theo các chuẩn mực đã định thì các phẩm chấttâm lý của trẻ em sẽ phát triển phiến diện, nhân cách của trẻ hình thành vàphát triển chậm chạp Những nét tâm lý lệch lạc nếu không được phòng ngừa
sẽ chèn ép những phẩm chất tâm lý tích cực trong nhân cách của trẻ em Nếungười lớn áp đặt và xâm hại trẻ em một cách thô bạo thì sẽ dẫn đến những
Trang 10chấn động tâm lý ở trẻ Cũng trong giai đoạn này, trẻ em thường tò mò làmtheo những hành vi của người lớn.
Từ những đặc điểm về độ tuổi, về tâm, sinh lý và các đặc điểm về mặt
xã hội của trẻ em; căn cứ các quy định của luật pháp quốc tế và ở Việt Nam,
chúng tôi đưa ra khái niệm về trẻ em như sau:“Trẻ em là người phát triển chưa đầy đủ về thể chất và trí tuệ; ở độ tuổi dưới 16 tuổi”.
1.1.1.2 Quan điểm, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ trẻ em
* Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ trẻ em
Đảng ta luôn quan tâm đến việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em.Quan điểm đó được thể hiện trong các văn kiện Đại hội VI, VII, VIII, IX vàcác nghị quyết của Đảng Trước những tác động của các mặt tiêu cực trongnền kinh tế thị trường, tình hình tội phạm xâm hại trẻ em có chiều hướng giatăng Ngày 30/5/1991 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra chỉ thị số 38 về tăng
cường công tác bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em Chỉ thị nêu rõ: “Trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia đình, là tương lai của dân tộc, là lớp người kế tục
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần được ưu tiên bảo vệ, chăm sóc và giáo dục” Sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của
Đảng, Nhà nước, các đoàn thể quần chúng và mỗi gia đình Trong phạm vikhả năng của mình, phải tạo ra những điều kiện tốt nhất cho trẻ em được pháttriển toàn diện về đức, trí, dũng, thể…
Chỉ thị đã đề ra 5 công tác trọng tâm cho các cấp ủy Đảng phải thựchiện để bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em đó là:
1 Tuyên truyền phổ biến phổ biến rộng rãi các chủ trương chính sáchcủa Đảng, Nhà nước về công tác trẻ em; Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻem; Luật phổ cập giáo dục tiểu học; Công ước quốc tế về quyền trẻ em, cácmục tiêu vì trẻ em
Trang 112 Nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi kịp thời các điều khoản luật pháp, cácchính sách có liên quan đến trẻ em, ban hành luật đối với trẻ em vị thành niên,
xử lý kịp thời các hành vi vi phạm quyền trẻ em hoặc lợi dụng lôi kéo, xúigiục trẻ em làm trái pháp luật
3 Tăng cường đầu tư ngân sách cho các chương trình, mục tiêu vì trẻem
4 Phát triển phong trào toàn dân chăm sóc, giáo dục trẻ em
5 Kiện toàn hệ thống ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em các cấp…
Để thực hiện các cam kết theo công ước quốc tế về quyền trẻ em, ngày16/8/1991 Nhà nước đã ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em(đã được thay thế bằng Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004).Ngày 14/11/1991 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghịđịnh số 374/HĐBT cụ thể hóa Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Điều 19 nghị định này quy định: “Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) có trách nhiệm phối hợp với Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp Phụ nữ Việt nam cùng các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan, tổ chức hữu quan có kế hoạch hướng dẫn, tổ chức thực hiện việc bảo vệ các quyền và lợi ích của trẻ em Ngăn chặn việc lôi kéo, xúi giục trẻ em làm điều phạm pháp, có biện pháp phòng ngừa hành vi phạm pháp luật của trẻ em, giáo dục
và cải tạo trẻ em phạm pháp Xử lý nghiêm khắc đối với các hành vi giam giữ trái pháp luật, đánh đập trẻ em, xâm phạm đến sức khỏe, danh dự trẻ em…”
Trang 12* Quy định của pháp luật về bảo vệ trẻ em
Điều 65, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy
định: “Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục” Sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước ta đối với tuổi thơ còn được thể hiện
trực tiếp và gián tiếp trong hàng loạt điều khoản khác của Hiến pháp năm
1992 Đây chính là cơ sở pháp lý, là tiền đề quan trọng để quyền trẻ em ViệtNam được quy định cụ thể trong những văn bản luật và dưới luật có tính chấtchung hoặc riêng một cách đầy đủ và toàn diện nhất
Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 2004 quy định: “Các quyền của trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện; mọi hành vi vi phạm quyền của trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em đều bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật” (điều 6) và“nghiêm cấm các hành vi xâm hại tình dục trẻ em”
(điều 7)
Trong quá trình phát triển của đất nước, trên cơ sở thực tiễn đặt ra, Nhànước ta đã đổi mới, bổ sung hoàn thiện Bộ luật hình sự năm 1985 làm công cụpháp lý để bảo vệ các quyền của trẻ em Bộ luật hình sự sửa đổi đã tách một
số tội phạm xâm hại trẻ em thành điều luật riêng như tội hiếp dâm trẻ em, tộicưỡng dâm người chưa thành niên Tăng mức hình phạt đối với một số tộiphạm xâm hại trẻ em
Do đòi hỏi của thực tiễn cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trongtình hình mới, ngày 21/11/1999, Quốc hội nước ta đã thông qua Bộ luật hình
sự (gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 1999), có hiệu lực từ 01/7/2000, nhằm thaythế Bộ luật hình sự 1985 và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật của Bộluật hình sự đã được Quốc hội thông qua các ngày 28/12/1989; 12/8/1991;22/12/1992 và 10/5/1997 Trong Bộ luật này, các tội phạm xâm hại tình dụctrẻ em trong đó có hiếp dâm trẻ em được quy định thành các điều luật cụ thể
Trang 13như: Điều 112 “Tội hiếp dâm trẻ em”, Điều 114 “Tội cưỡng dâm trẻ em”, Điều 115 “Tội giao cấu với trẻ em”, Điều 116 “Tội dâm ô với trẻ em”.
Ngoài các quy định trong Hiến pháp và Bộ luật Hình sự, vấn đề bảo vệtrẻ em còn được thể hiện trong rất nhiều ngành luật như:
Bộ luật TTHS năm 2004 quy định nguyên tắc xử lý đối vớingười chưa thành niên phạm tội đó là: Việc xử lý người chưa thành niênphạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lànhmạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Chương XI, Bộ luật Lao độngquy định về độ tuổi lao động thể hiện: cấm nhận trẻ chưa đủ 15 tuổi vào làmviệc trừ một số nghề cụ thể được quy định tại Điều 120…Trong các ngànhluật: Dân sự và Tố tụng dân sự, Luật Hành chính, Luật Hôn nhân gia đìnhcùng với nhiều văn bản quy định khác cũng tiếp thu tinh thần dành cho trẻ emnhững gì có lợi và tốt nhất
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm pháp lý của tội phạm hiếp dâm trẻ em
1.1.2.1 Khái niệm tội phạm hiếp dâm trẻ em
Để đưa ra được khái niệm tội phạm hiếp dâm trẻ em, trước hết cần hiểukhái niệm hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em là gì? Theo từ điển tiếng Việt - HoàngPhê chủ biên do Trung tâm từ điển ngôn ngữ xuất bản năm 1992, khái niệm
“hiếp dâm” được hiểu là: “Dùng sức mạnh bắt phải để cho thỏa mãn sự dâm dục” Từ điển bách khoa CAND Việt Nam, Viện chiến lược và khoa học
Công an biên soạn, do nhà xuất bản CAND phát hành năm 2005 hành vi hiếp
dâm được hiểu là: “Dùng sức mạnh cưỡng bức người khác để thỏa mãn nhu cầu tình dục của mình”.
Theo các quan điểm trên thì hiếp dâm là hành vi dùng sức mạnh đểthỏa mãn nhu cầu tình dục trái pháp luật Hiếp dâm trẻ em chỉ khác hành vihiếp dâm nói chung ở tính chất đối tượng bị xâm hại đó là trẻ em Như vậy
Trang 14hiếp dâm trẻ em có nghĩa là: Trẻ em bị một ai đó dùng sức mạnh cưỡng bức nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục
Trên cơ sở nghiên cứu có kế thừa và phát triển những quan điểm trên,
chúng tôi xin đưa ra một khái niệm về hiếp dâm trẻ em như sau: Hiếp dâm trẻ
em là hành vi cưỡng bức hoặc lợi dụng sự phát triển chưa hoàn thiện về thể chất và trí tuệ của trẻ em để xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục, danh dự, nhân phẩm, sức khỏe và gây ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ em.
Tội phạm hiếp dâm trẻ em là một loại tội phạm cụ thể của tình trạng tộiphạm nói chung Do đó, để làm rõ khái niệm về tội phạm hiếp dâm trẻ em,trước hết phải hiểu khái niệm về tội phạm nói chung Theo Điều 8, Bộ Luật
hình sự thì: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong
Bộ Luật hình sự, do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng sức khỏe, danh dự nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lợi ích khác của trật tự pháp luật XHCN”.
Từ những phân tích trên, chúng tôi đưa ra khái niệm tội phạm hiếp dâm
trẻ em như sau: Tội phạm hiếp dâm trẻ em là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình
sự thực hiện một cách cố ý, xâm hại đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của trẻ em.
1.1.2.2 Đặc điểm pháp lý của tội hiếp dâm trẻ em
Điều 112, chương XII phần các tội phạm Bộ luật hình sự của NướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 quy định hành vi hiếp dâm
Trang 15trẻ em như sau: Là hành vi của một người dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lựchoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc dùng thủđoạn khác để giao cấu với người dưới 16 tuổi
Dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội hiếp dâm trẻ em là:
- Khách thể của tội phạm:
Tội phạm xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục, danh dự
và nhân phẩm của trẻ em, đến sự phát triển lành mạnh cả về thể chất và tinhthần của trẻ em Trong nhiều trường hợp còn xâm hại đến sức khỏe của trẻ em
và ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội
Mặt khách quan của tội phạm:
Là hành vi dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác giao cấu với người dưới
16 tuổi Trường hợp nạn nhân là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, Điều
112 Bộ luật hình sự đòi hỏi hành vi phạm tội phải là hành vi giao cấu trái ýmuốn với trẻ em bằng các thủ đoạn dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụngtình trạng không thể tự vệ được hoặc bằng thủ đoạn khác
Trường hợp nạn nhân là trẻ em chưa đủ 13 tuổi, Điều 112 Bộ luật hình
sự khẳng định “Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em” Hành vi giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi dù có dùng
các thủ đoạn quy định tại Điều 112 Bộ luật hình sự hay được sự đồng ý củanạn nhân điều bị coi là hành vi hiếp dâm trẻ em Sở dĩ luật quy định như vậy
là vì : ở độ tuổi dưới 13 tuổi, trẻ em còn hết sức non nớt, yếu ớt, chưa có đủkhả năng biểu lộ ý chí đúng đắn, đễ bị người khác lôi kéo rủ rê, mua chuộc.Hành vi lợi dụng độ tuổi để có được sự đồng ý của nạn nhân cũng là một dạng
cụ thể của thủ đoạn khác, thủ đoạn lợi dụng tình trạng không có khả năngbiểu lộ ý chí đúng đắn được của nạn nhân để thực hiện hành vi phạm tội
Trang 16- Chủ thể của tội phạm: là người từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách
nhiệm hình sự Chủ thể của tội hiếp dâm trẻ em chỉ có thể là nam giới, phụ nữ
có thể là đồng phạm tội hiếp dâm trẻ em với vai trò người giúp sức, người xúigiục, người tổ chức
- Mặt chủ quan của tội phạm: Tội hiếp dâm trẻ em, tội phạm được thực
hiện với lỗi cố ý trực tiếp
- Về hình phạt: Điều 112 BLHS quy định các mức hình phạt về tội này
đ, Tái phạm nguy hiểm
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a, Có tổ chức;
b, Nhiều người hiếp một người;
c, Phạm tội nhiều lần;
d, Đối với nhiều người;
đ, Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;
Trang 17e, Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;
g, Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;
4 Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm tù chung thân hoặc tử hình.
5 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Nhận thức đúng đắn về những đặc điểm pháp lý của tội phạm hiếp dâmtrẻ em là căn cứ để xác định tội phạm và người phạm tội; là cơ sở để xác địnhthẩm quyền điều tra và áp dụng các biện pháp, chiến thuật đảm bảo cho hoạtđộng điều tra đối với loại tội phạm này đạt hiệu quả cao và tuân thủ các quyđịnh của pháp luật
Chương 4
NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI
1 Nhận thức chung về nhân thân người phạm tội
1.1 Khái niệm nhân thân người phạm tội
Trong khoa học nghiên cứu tội phạm, khi phân tích tình trạng tội phạm,những nguyên nhân, điều kiện của nó và nhất là để đề ra các biện pháp phòngngừa tội phạm thì không thể không nghiên cứu về chính những đối tượng đãgây ra tình trạng phạm tội trong xã hội Những đối tượng đó là những conngười cụ thể sống trong xã hội mà chúng ta gọi họ đó là: Người phạm tội
Người phạm tội, trước hết họ cũng là con người của xã hội, cho dù tộiphạm mà họ thực hiện có nghiêm trọng đến đâu C Mác viết: “Nhà nước cầnphải thấy rằng kẻ vi phạm đó là một con người, một tế bào sống của xã hội, ởcon người đó cũng có quả tim đang đập và dòng máu đang chảy, một ngườilính mà họ cần phải trở thành chiến sĩ bảo vệ đất nước một thành viên củatập thể thực hiện các chức năng của xã hội, một người chủ gia đình mà sự tồn
Trang 18tại của họ là sự thiêng liêng và cuối cùng điều quan trọng nhất họ là công dâncủa nhà nước đó”.
Như vậy nghiên cứu nhân thân người phạm tội cũng chính là nghiêncứu con người cụ thể: nhân thân của những người đã thực hiện hành vi phạmtội, là chủ thể của tội phạm
Nhân thân con người, theo quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin, là mộtphạm trù xã hội lịch sử Nó là một sản phẩm của một thời đại nhất định, đượcquy định bởi những điều kiện lịch sử cụ thể của hiện thực xã hội Mỗi mộtthời đại khác nhau sản sinh ra những mẫu người không giống nhau, song dù ởthời đại nào thì bản chất của con người luôn luôn là “tổng hoà các mối quan
hệ xã hội” như C Mác đã khẳng định
Bản chất của con người bao gồm những nội dung về sinh học và xã hộibởi vì con người vừa là thực thể sinh học vừa là thực thể xã hội Và thực thểsinh vật vì con người là một cơ thể sống, cho nên trước tiên con người mangcác đặc tính của sinh vật Đặc tính sinh vật trong con người quy định sự hìnhthành những hiện tượng, quá trình tâm lý của con người Mặt khác, để tồn tạiđược đòi hỏi con người phải có quá trình hoạt động lao động sản xuất ra củacải vật chất để phục vụ nhu cầu sinh học của mình như ăn, uống, nghỉ ngơi,sinh hoạt đồng thời, trong bất kỳ xã hội nào con người không bao giờ sốngtách rời riêng lẻ mà luôn luôn có quan hệ với nhau trong quá trình lao độngsản xuất cũng như trong quá trình lao động sản xuất Mối quan hệ này khôngchỉ đơn thuần là quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, mà còn là quan hệ giữa cánhân với tập thể, với cộng đồng; không chỉ là quan hệ trong cùng một thế hệ
mà còn là quan hệ giữa nhiều thế hệ nối tiếp nhau trong quá trình lịch sử xãhội
Chính từ những mối quan hệ xã hội đa dạng, phong phú đó mà toàn bộđời sống sinh hoạt cá nhân, cùng những kinh nghiệm sống và phép “đối nhân
Trang 19xử thế” của riêng nó được định hình Tất cả những đặc điểm tâm, sinh lý cùngnhững gì biểu hiện các quan hệ xã hội có liên quan đến một con người, thểhiện bản chất riêng của họ, hợp thành nhân thân của con người đó.
Nói cách khác nhân thân con người là tổng hợp những đặc điểm, dấuhiệu thể hiện bản chất của con người tham gia vào các mối quan hệ xã hội
Khi đề cập đến nhân thân người phạm tội là nói đến nhân thân của conngười nói chung, còn có những đặc điểm, dấu hiệu đặc trưng của nhân thânngười phạm tội và chính những đặc điểm dấu hiệu này thể hiện tính nguyhiểm cho xã hội của nhân thân người phạm tội
Dấu hiệu đặc trưng trong nhân thân người phạm tội khác với nhân thâncon người bình thường trước hết ở chỗ trong nhân thân của họ có đầy đủ cácdấu hiệu chủ thể của tội phạm theo quy định của luật hình sự Có nghĩa rằngtại thời điểm thực hiện tội phạm họ là những con người cụ thể đang sống, cónăng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định, và đặc biệt là họ đãthực hiện hành vi phạm tội
Gắn liền với sự việc phạm tội của họ là cả một hệ thống các đặc điểm
có liên quan đến sự việc phạm tội đó như: mối tương quan giữa bản chất tốtxấu trong nhân thân con người đó, thể hiện ở phẩm chất đạo đức, các trạngthái tâm lý, ý thức pháp luật, thái độ xử sự nói chung cho đến các đặc điểm cụthể như động cơ mục đích thực hiện hành vi phạm tội, thái độ sửa chữa lỗilầm Những đặc điểm đó phần lớn được hình thành trước thời điểm thựchiện tội phạm trong đó đặc biệt phải chú ý đến các phảm chất tiêu cực của cánhân Việc nghiên cứu các đặc điểm đặc trưng này trong nhân thân ngườiphạm tội cho chúng ta cơ sở để áp dụng các biện pháp phòng ngừa sớm đốivới những người có phẩm chất cá nhân tiêu cực, có biểu hiện vi phạm đạođức, vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật, ngăn chặn hành vi phạm tội
Trang 20Từ những phân tích trên, có thể khẳng định nhân thân người phạm tộinhư sau:
Nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm dấu hiệu thểhiện bản chất xã hội của con người đã thực hiện tội phạm
1.2.Phân biệt khái niệm nhân thân người phạm tội với một số khái niệm
có liên quan
1.2.1 Nhân thân người phạm tội và cá nhân người phạm tội
Nói đến “cá nhân” là nói đến một con người cụ thể với tư cách là một
cá thể trong xã hội, là sản phẩm của sự phát triển xã hội là chủ thể của laođộng của mọi quan hệ xã hội và của nhận thức do những điều kiện lịch sử cụthể của đời sống xã hội quy định Trong cá nhân bao hàm cả nét chung và nétriêng biệt của mỗi con người Phạm trù cá nhân đặc trưng cho con ngườihoàn chỉnh trong sự thống nhất của những đặc điểm riêng biệt của mỗi conngười và những bản chất xã hội chung của cả cộng đồng người
Như vậy, “cá nhân người phạm tội” là khái niệm được dùng để chỉ một
cá thể người trong xã hội đã thực hiện tội phạm Mặc dù trong khái niệm cánhân người phạm tội có bao hàm cả những nét chung của con người xã hộinói chung cũng như con người phạm tội nói riêng, song đồng thời khái niệm
cá nhân người phạm tội lại còn bao hàm tất cả những đặc điểm riêng biệt củamỗi con người phạm tội Những đặc điểm riêng biệt đó nói lên tính cá biệtcủa cá nhân người phạm tội Cho nên, có thể nói rằng, khái niệm “nhân thânngười phạm tội” thuộc phạm trù cái chung, còn khái niệm “cá nhân ngườiphạm tội” chính là cái riêng cái đơn nhất vậy
1.2.2 Nhân thân người phạm tội và nhân cách người phạm tội
“Nhân cách” là tư cách làm người, là “tư cách và phẩm chất, đạo đứccủa con người’ Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “nhân cách”,song phổ biến nhất vẫn là được nhiều nhà khoa học chấp nhận là quan điểm
Trang 21“tâm lý hoá nhân cách”, quy rút nhân cách về cái tâm lý, và coi nhân cáchnhư một cá nhân, là cá thể so với tập thể, nhóm xã hội “Nhân cách là tổ hợpnhững thuộc tính tâm lý của một cá nhân, biểu hiện ở bản sắc và giá trị xã hộicủa người đó”.
“ Nhân cách người phạm tội” là một khái niệm được dùng để chỉ tổ hợpnhững thuộc tính tâm lý của một cá nhân đã thực hiện tội phạm, biểu hiện ởbản sắc và giá trị xã hội tiêu cực của cá nhân đó “Nhân cách người phạm tội”được hình thành trong quá trình hoạt động phạm tội, quá trình tác động qualại lẫn nhau giữa các cá nhân với môi trường sống đặc biệt là môi trường xãhội tiêu cực Nhân cách người phạm tội khác với nhân cách khác trong xã hội,
là “nhân cách không thích hợp”, không đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏicủa xã hội, là đặc trưng cho mặt trái của tâm lý con người trong xã hội Cácđặc điểm đặc trưng trong nhân cách người phạm tội thường được nghiên cứu
là những đặc trưng của nhu cầu, hứng thú, tính cách, năng lực, thói quen,niềm tin thế giới quan, lý tưởng sống của người phạm tội Như vậy “nhâncách người phạm tội’ là một nội dung quan trọng không thể thiếu được trongnghiên cứu “nhân cách người phạm tội’
1.2.3 Nhân thân người phạm tội và chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là khái niệm của khoa học pháp lý hình sự, là mộttrong bốn yếu tố bắt buộc của cấu thành tội phạm, là điều kiện tất yếu để truycứu trách nhiệm hình sự
Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể thực hiện hành vi nguy hiểmcho xã hội một cách cố ý hoặc vô ý, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự vàđạt độ tuổi theo luật định Ngoài ra đối với chủ thể đặc biệt của tội phạm cònphải có thêm các dấu hiệu như: giới tính, lứa tuổi, chức vụ, nghề nghiệp, quan
hệ gia đình, nghĩa vụ phải thực hiện
Trang 22Khái niệm nhân thân người phạm tội bao hàm tất cả các dấu hiệu màluật hình sự quy định cả về chủ thể thường cũng như chủ thể đặc biệt của tộiphạm nhưng trong khái niệm nhân thân người phạm tội thì những dấu hiệu đóđược thể hiện rộng hơn chi tiết hơn Chẳng hạn, dấu hiẹu độ tuổi của nhânthân người phạm tội không chỉ là yếu tố xác định năng lực hành vi của conngười (tuổi chịu trách nhiệm hình sự- Điều 12 BLHS) mà còn được xem làmột đặc điểm có liên quan tới những biến đổi về tâm, sinh lý, kinh nghiệmsống và các vai trò, vị thế xã hội khác nhau Đặc điểm tâm lý ( dấu hiệu bêntrong) của nhân thân người phạm tội là cả đời sống tam lý, sự hình thành vàphát triển nhân cách của họ với tất cả những xúc cảm, tình cảm, ý chí, xuhướng, tính cách, thói quen nhu cầu, ước vọng, những quan điểm đạo đức vàđộng cơ ứng xử còn trong chủ thể của tội phạm chủ yếu chỉ xem xét các dấuhiệu lý trí và ý chí biều hiện ở khả năng nhận thức và điều chỉnh hành vi làm
cơ sở để xác định năng lực trách nhiệm hình sự và lỗi của một người khi họthực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
Ngoài ra khái niệm nhân thân người phạm tội còn có cả những đặcđiểm dấu hiệu mà trong khái niệm chủ thể của tội phạm không có hoặc khôngcần thiết phải quy định về mặt pháp lý Chẳng hạn những dấu hiệu về trình độhọc vấn, dân tộc, tôn giáo, quan hệ xã hội và những dấu hiệu khác thể hiện vịtrí vai trò xã hội của người phạm tội, thái độ của họ đối với các giá trị xã hội
và với chính bản thân mình
1.3 Mối quan hệ giữa yếu tố xã hội và yếu tố sinh học trong nhân thânngười phạm tội
Trong lịch sử tội phạm học, xung quanh vấn đề mối quan hệ giữa yểu
tố xã hội và yếu tố sinh học trong nhân thân người phạm tội có nhiều quanđiểm khác nhau
1.3.1 Quan điểm của tội phạm học tư sản
Trang 23Vốn không có một phương pháp luận thống nhất trong nghiên cứu tộiphạm học, các nhà tội phạm học tư sản có những quan niệm rất khác nhau vềvai trò của yếu tố xã hội và yếu tố sinh học trong nhân thân người phạm tội.
Các học thuyết sinh vật học coi yếu tố sinh học là cái quyết định sựhình thành phát triển nhân cách, hệ thống nhu cầu, phẩm chất đạo đức, hành
vi ứng sử của con người Bằng hàng loạt các kiến thức sinh vật học, nhânchủng học, di truyền học, tâm thần học các nhà tội phạm học tư sản theokhuynh hướng này đã quy các nguyên nhân của tội phạm về các đặc điểmsinh học trong nhân thân người phạm tội Họ đã tuyệt đối hoá vai trò của sinhhọc trong nhân thân con người, phủ nhận vai trò của các điều kiện, hoàn cảnh
xã hội trong quá trình hình thành nhân cách, hành vi ứng xử của con người
Trái với các học thuyết sinh vật học tội phạm, các nhà tội phạm học tưsản theo thuyết xã hội học tội phạm đã hạ thấp và trên thực tế gần như phủnhận vai trò các yếu tố sinh học trong nhân thân con người, coi con ngườithuần tuý là sản phẩm của văn hoá, xã hội và kinh tế E.Saterlend (Mỹ) coi tộiphạm là kết quả của quá trình “giáo dục” đối với các cá nhân ở các tiểu nhóm,
ở gia đình, trên đường phố Ong cho rằng nhân tố “bắt chước làm theo” đòngvai trò cơ bản trong việc hình thành nên tác phong hành động phạm tội của cánhân Durkheim (Pháp) và những người theo thuyết chức năng coi con ngườidường như chỉ là những thực thể thụ động là những cái máy vận hành theonhững vai trò mà xã hội đã định trước nhằm đảm bảo hài hoà có trật tự của xãhội Theo họ, xã hội sẽ hoạt động một cách bình thường trong “sự cố kết xãhội” và được điều chỉnh bởi các quy phạm xã hội, mà trước hết là các quyphạm pháp luật Do vậy, chính trình trạng thiếu quy phạm hoặc quy phạmkhông rõ ràng, không được thông tin đầy đủ sẽ làm cho con người mấtphương hướng, gây rối loạn chức năng xã hội (mất đi sự cố kết xã hội) Cáchọc thuyết khác như thuyết đô thị hoá, công nghiệp hoá, xung đột văn hoá
Trang 24đều coi yếu xã hội là cơ bản trong nhân thân người phạm tội, là nguyên nhânchính gây ra tội phạm trong xã hội.
Ngoài ra, trong tội phạm học tư sản còn tồn tại các học thuyết nào thìcác nhà Tội phạm học tư sản vẫn chưa khám phá bản chất thực sự của conngười phạm tội, chưa chỉ ra được nguyên nhân đích thực dẫn đến hành viphạm tội của con người Các quan điểm đó, dù trực tiếp hay gián tiếp, suy chocùng điều nhằm các mục đích: che dấu sự bất bình đẳng giữa con người trong
xã hội tư bản, phủ nhận nguồn gốc, bản chất giai cấp của tội phạm; khẳngđịnh tội phạm và nguyên nhân của nó có trong ở mọi xã hội, xã hôị chỉ có thểhạn chế chứ không thể loại trừ được tội phạm ra khỏi đời sống xã hội củamình
1.3.2 Quan điểm của tội phạm học xã hội chũ nghĩa
Tội phạm học xã hội chủ nghĩa đánh giá vai trò của các yếu tố xã hội vàsinh học trong nhân thân người phạm tội xuất phát từ quan điểm của chủnghĩa Mác-Lênin về bản chất và quá trình hình thành, phát triển nhân cáchcon người Trong lịch sử của nền văn minh nhân loại, con người vừa là chủthể của xã hội lại vùa là chủ thể sinh học có mối quan hệ rất mật thiết và phứctạp, trong đó sự tiến hoá sinh học tạo tiền đề cho tiến hoá xã hội, sự tiến hoá
xã hội quy định bản chất của con người Trong mổi con người cụ thể luônluôn có sự thống nhất biện chứng giữa các yếu tố xã hội và sinh học Yếu tố
xã hội quyết định, còn yếu tố sinh học alf điều kiện vâtỵ chất, tiền đề cho sựhình thành, phát triển bản chất xã hội và nhân cách con người
Như vậy giải thích nguyên nhân và điều kiện của tội phạm không chỉthuần tuý dựa vào yếu tố sinh học hay yếu tố xã hội trong nhân thân ngườiphạm tội, nhưng cũng không nên kết hợp 1 cách chiết trung cả 2 yếu tố đó
“yếu tố sh và yếu tố xã hội không phải là song song tồn tại trong con người
mà là môi giới cho nhau, thân nhạp vào nhau và in dấu ấn lên toàn bộ hoạt
Trang 25động của con người” (CNXH và nhân cách – NXB sách giáo khoa mác lênin,
HN 1983, Tr 26)
Tộ phạm học XHCN nhấn mạnh vai trò quyết định của yếu tố xã hội vàkhông thừa nhận có hiện tượng bẩm sinh, di truyền tội phạm trong nhân thânngười phạm tội Tội phạm là hiện tượng xã hội nên không thể giải thích bằngcác quy luật sinh học Dĩ nhiên các đặc điểm thần kinh, các nét cơ bản của khíchất, tính cáh có ảnh hưởng đến hành vi con người, nhưng đó không phải làyếu tố quyết định Con người sinh ra không phải để trở thành người phạm tội,nhưng con người có thể trở thành người phạm tội Tính cách có ảnh hưởngđến hành vi con người, nhưng đó không phải là các yếu tố quyết định Conngười sinh ra không phải để trở thành người phạm tội Tính cách con ngườikhông phải là phẩm chất bẩm sinh và bất biến, chúng được hình thành từ ảnhhưởng của môi trường bên ngoài Nhà sinh lý học người Nga Xểtênôp trongcông trình nghiên cứu “ phản xạ của nảo “ đã khẳng định: Lượng thần kinhhoạt động của con người có tới 999/1000 sinh ra do sự giáo dục theo nghĩarộng của từ này, và chỉ 1/1000 phụ thuộc vào tính cá thể Do đó, tội phạm họcXHCN tin tưởng rằng có thể giáo dục cải tạo người phạm tội, tội phạm khôngphải là hiện tượng vĩnh hằng, nếu những nguyên nhân của tội phạm hoàn toàn
bị loại bỏ thì tội phạm cũng tiêu vong
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tội phạm học XHCN bỏ qua haycoi nhẹ các yếu tố sinh học, nhất là các yếu tố có ý nghĩa trong việc hìnhthành hành vi phạm tội Khoa học ngày nay đã phát hiện sự liên quan của cácđặc điểm tâm sinh lý trong quá trình sống có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vicủa con người và đóng vai trò như những điều kiện thúc đẩy hoặc kìm hãm sựhình thành một hành vi nào đó Trong thực tế, có những hành vi gây nguyhiểm cho xã hội nhưng không phải là tội phạm như hành vi do người mắcbệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả
Trang 26năng điều kiển hành vi của mình Đây là trường hợp người thực hiện hành vinguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự nên không phải
là chủ thể của tội phạm, họ không phải chịu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị ápdụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh( điều 13 và 14 BLHS) Lại cũng có nhữngngười có khuyết tật về thể chất hoặc tinh thần mà ảnh hưởng đến cách xử sự,khả năng tự kìm chế các quyết định, hành vi không đúng đắn Chẳng hạnngười bị bệnh thái nhân cách, bị tổn thương nảo, nghiện ma tuý, say rượuhoặc các chất kích thích mạnh khác những người này tuy không bị mất khảnăng nhận thức và khả năng điều kiện hành vi nhưng lại giảm khả năng chống
đỡ đối với các tác động, của hoàn cảnh, khả năng tự kìm chế kém dễ dẫn đếnviệc thực hiện hành vi phạm tội Trong những trường hợp đó họ vẫn có nănglực trách nhiệm hình sự ( năng lực trách nhiệm hình sự hạn chế) nên vẫn phảichịu trách nhiệm hình sự ( điều 14 BLHS)
Tòm lại, trong nhân thân người phạm tội, yếu tố xã hội đóng vai tròquyết định nhưng không phải là yếu tố duy nhất dẫn đến hình thành hệ thốngđộng cơ xử sự của người phạm tội Yếu tố sinh học tuy không phải là yếu tốquyết định, nhưng nó là tiền đề của các yếu tố xã hội và trong chừng mựcnhất định nó cũng có ảnh hưởng tới việc hình thành hành vi của con người
Do đó, nghiên cứu một cách toàn diện tội phạm và con người tội phạm khôngchỉ nghiên cứu vai trò quyết định của các yếu tố xã hội mà còn phải phát hiện
ra những đặc điểm về các thuộc tính sinh học của nhân thân người phạm tội
có liên quan đến việc thực hiện tội phạm Cóa như vậy chúng ta mới xác địnhchính xác những nguyên nhân và điều kiện thúc đẩy con người thực hiện hành
vi phạm tội, từ đó đề ra được các biện pháp phòng ngừa tội phạm một cáchtriệt để
1.4 ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội
Trang 27Nhân thân người phạm tội là đối tượng được nhiều ngành khoa họcnghiên cứu Tuy nhiên với những mục đích khác nhau và bằng những phươngpháp nghiên cứu khác nhau nên góc độ tiếp cận đối với vấn đề nhân thânngười phạm tội của mổi ngành khoa học cũng không giống nhau Tội phạmhọc với tư cách là một khoa học chuyên nghiên cứu về tội phạm và ngườiphạm tội cùng những nguyên nhân và điều kiện của nó để đề ra các biện phápphòng ngừa, cho nên vấn đề nhân thân người phạm tội được nghiên cứu mộtcách khá toàn diện và mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thựctiển.
Trước hết việc nghiên cứu làm rõ nhân thân người phạm tội góp phầnphát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận của chính ngành tội phạm học Bằngmnhững nghiên cứu tổng quát về nhân thân người phạm tội nòi chung vànhững số liệu về các loại người phạm tội cụ thể góp phần làm rõ thực trạng cơcấu, diển biến của tình trạng tội phạm và dự đoán xu hướng của nó trongtương lai Nghiên cứu cụ thể về các dấu hiệu đặc trưng của nhân thân ngườiphạm tội cho thấy rõ mnhững ảnh hưởng tác động của các yếu tố sinh học và
xã hội trong bản thân con người phạm tội cũng như những hoàn cảnh xã hộibên ngoài vẫn đến việc hình thành nhân cách sai lệch, với những phẩm chấtcác nhân tiêu cực là những nguyên nhân điều kiện làm nảy sinh hành vi phạmtội Từ những kết quả nghiên cứu cụ thể đó mà tội phạm học đề ra biện phápphòng ngừa tội phạm đối với từng loại mngười một cách thích hợp
Nghiên cứu nhân thân người phạm tội còn góp phần cung cấp nhữngthông tin hữu ích cho các ngành khoa học pháp lý khác sử dụng làm tài liệu
để tiếp tục đi sâu nghiên cứu, xem xét các đối tượng của mình, đồng thời là cơ
sở để áp dụng các phương pháp, biện pháp trong thực tế đấu tranh phòng,chống tội phạm
Trang 28Đói với khoa học luật hình sự, nhữnh thông tin về những các đặc điểmdấu hiệu trong nhân thân người phạm tội được khoa học luật hình sự khái quáthoá để nghiên cứu đưa ra những quy phạm pháp luật cụ thể quy định về như:dấu hiệu chủ thể của tội phạm, vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự, nhữngtình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, những trường hợp đượcmiễn, giảm hình phạt, hoãn chấp hành hình phạt hoặc áp dụng các biện pháp
tư pháp,… ngoài ra ,cũng nhớ rằng nhân thân người phạm tội là một trongnhững chứng cớ để Toà án quyết định hình phạp đối với người có tội (điều 45– Bộ luật hình sự 1999 của nước cộng hoà XHCNVN)
Khoa học luật tố tụng hình sự dựa vào những thông tin phản náh vafnhân thân người phạm tội như độ tuổi, giới tính, dân tộc, đặc điểm tâm sinh
lý, tiền án, tiền sự ….đề ngiên cứu đưa ra những quy phạm pháp luật quy địnhtrình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố xét xử, thi hành ánđối với người phạm tội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,
xử lý đúng người đúng tội, đãm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Nhànước ta
Dấu hiệu pháp lý về tội phạm và chủ thể của tội phạm được quy địnhthống nhất, song mổi vụ phạm tội luôn luôn mang tính cá biệt do tính cá biệtcủa hoàn cảnh và đối tượng thực hiện tội phạm Khoa hoch Điều tra hình sựdựa trên cơ sở những thông tin về nhân thân người phạm tội như một trongnhững căn cứ để nghiên cứu phương pháp chiến thuật, những biện pháp điềutra thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội phù hợp vớitừng loại đối tượng Trong hoạt động điều tra vụ án, thông tin phản ánh vềnhân thân người phạm tội giúp cho việc sàng lọc đối tượng, phát hiện nhanhchóng, chính xác tội phạm và người phạm tội, áp dụng các biện pháp cần thiếtcũng như những biện pháp tác động tâm lý, cảm hoá đối tượng trong hỏicung, đối chất, khám xét thu giữ vật chứng…
Trang 29Khoa học quản lý, giáo dục người phạm tội dựa vào nhân thân ngườiphạm tội và những phương pháp phân loại người phạm tội để nghiên cứu cáchình thức, phương pháp giáo dục quản lý người phạm tội, lập phương án pháttriển trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, xây dựng quy chế tại cáctrại giam, cơ sở giáo dục đó… Việc thi hành hình phạt hoặc áp dụng các biệnpháp tư pháp đối với từng người phạm tội sẽ không đạt kết quả nếu không có
sự phân công hợp lý dựa vào đặc điểm nhân thân của họ Chẳng hạn như: Xếpphạm nhân vào buồng nào, trại nào, họ phải làm việc gì trong quá trình cảitạo, chế độ học tập sinh hoạt áp dụng đối với từng loại người, hoặc nhữngtrường hợp cải tạo không giam giữ, quản chế, bắt buộc chữa bệnh… cần phải
có quy chế quản lý giám sát, kết hợp sự giáo dục như thế nào…
Trong hoạt động phòng ngừa tội phạm, những kết quản mnghiên cứu
về nhân thân người phạm tôị sẽ cho chúng ta cơ sở để áp dụng các biện phápphòng ngừa thích hợp Biện pháp phòng ngừa chung trong từng lĩnh vực, địabàn, đối với từng loại người nhất định được tiến hành trên cơ sở nghiên cứu
về nhân thân người phạm tội nói chung và nhân thân của những người phạmtội có sự giống nhau về loại tội phạm được thực hiện hoặc theo nội dung củanhững đặc điểm có ý nghĩa trong nhân thân người phạm tội Chẳng hạn:Phòng mngừa tái phạm, phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội, phòngngừa tội phạm do nông dân, công nhân vueen chức nhà nước, học sinh, sinhviên, quân nhân, người không nghề nghiệp…gây ra
Các biện pháp phòng ngừa cá biệt được tiến hành dựa trên nhữngnghiên cứu nhân thân người phạm tội cụ thể, với những khám phá bí mật của
sự hình thành nhân cách người phạm tội, một thành tố quan trọng để thể hiệnbản sắc riên của từng con người phạm tội Việc làm rõ các phẩm chất cá nhântiêu cực vốn có của người phạm tội như các đặc điểm tâm lý, quan điểm, nhậnthức cuộc sống, nhu cầu sở trường, sở thích, thói quen… cùng những tác động
Trang 30thường xuyên của môi trường xã hội xunh quanh người phạm tội( gia đình,nhà trường, nơi làm việc, cư trú) giúp cho công tác soạn thảo các biện phápphòng ngừa và phân côn trách nhiệm cho từng chủ thể trong hoạt động phòngngừa tội phạm được cụ thể, rõ ràng, hợp lý, đạt hiệu quả cao.
Ngoài ra, nghiên cứu nhân thân người phạm tội còn góp phần đề ranhững chính sách kinh tế - xã hội, văn hoá, giáo dục… phục vụ con người,thực hiện chiến lược vì con người nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinhthần cho mọi thành viên trong xã hội, tạo tiền đề cho việc xây dựng con ngườimới theo định hướng XHCN
2.Những dấu hiệu đặc trưng của nhân thân người phạm tội
Dấu hiệu đặc trưng của nhân thân người phạm tội là tập hợp nhữngthông tin phản ánh những đặc điểm chủ yếu về người phạm tội, thể hiện bảnchất tiêu cực của con người đã thực hiện tội phạm
Trong tội phạm học, việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội thườngđược tiến hành ở ba mức độ khác nhau;
Mức độ cá biệt: nhân thân người phạm tội cụ thể( cá nhân người phạmtội) với những thông tin phản ánh những đặc điểm chủ yếu về một con người
cụ thể đã được thực hiện hành vi phạm tội
Mức độ nhóm: nghiên cứu loại, dạng người phạm tội được phân loạitheo sự giống nhau về loại tội phạm đã thực hiện hoặc theo nội dung củanhững dấu hiệu nhất định trong nhân thân người phạm tội
Mức độ chung: Ngiên cứu người phạm tội nói chung trong xã hội vớinhững thông tin tổng hợp phản ánh về những đặc điểm, dấu hiệu, những yếu
tố cấu tạo nên nhân thân người phạm tội một cách chung nhất, ở tầm vĩ môtrong phạm vi một lĩnh vực, một địa phương hay toàn quốc
Ơ mổi mức độ, việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội có chiều sâu
và độ khái quát khác nhau Tuy nhiên, điểm chung nhất khi mnghiên cứu
Trang 31nhân thân người phạm tội là cần phải nắm bắt được những nội dung cần thiết
về con người phạm tội, xác định được những yếu tố, điều kiện, môi trườnghình thành nhân thân người phạm tội Những nội dung đó được tập hợp trong
hệ thống cá dấu hiệu đặc trưng của nhân thân người phạm tội và có thể chialàm 3 nhóm như sau:
- Nhóm dấu hiệu xã hội - nhân khẩu
- Nhóm dấu hiệu đạo đức – tâm lý
- Nhóm dấu hiệu pháp luật hình sự
2.1 Nhóm dấu hiệu xã hội - nhân khẩu
Những đấu hiệu xã hội - nhân khẩu trong nhân thân người phạm tộicũng giống như trong nhân thân của con người nói chung bao gồm: giới tính,tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, địa vị xã hội… Những dấu hiệu xã hộinày bản thân chúng không có ý nghĩa về mặt hình sự, bởi chúng tồn tại trongnhân thân bất kỳ người nào Tuy nhiên, tập hợp những thông tin về đấu hiệu
xã hội – nhân khẩu thu được qua thống kê hình sự sẽ cho chúng ta những cơ
sở để rút ra kết luận quan trọng khi nghiên cứu nhân thân người phạm tội.Mặt khác, nếu kết hợp những dấu hiệu riêng biệt của người phạm tội thìnhững dấu hiệu xã hội - nhân khẩu sẽ giúp cho chúng ta hiểu trọn vẹn về nhânthân người phạm tội và có ý nghĩa quan trọng trong việc đề ra và thực hiệncác biện pháp giáo dục người phạm tội, phòng ngừa tội phạm
2.1.1 giới tính
Nghiên cứu dấu hiệu giới tính trong nhân thân người phạm tội cụ thể làviệc xác định người phạm tội thuộc giới tính nam hay nữ Ơ mức độ tổng hợp,dấu hiệu này cho thấy tỷ lệ phạm tội giữa các giới khác nhau Trong thực tếcuộc đấu tranh chống tội phạm ở nước ta hiện nay, tỷ lệ nữ giới phạm tội thấphơn nhiều hơn so với nam giới Trung bình cứ 100 người phạm tội thì cókhoảng từ 6- 10 người là nữ Điêudf này cho thấy nam giới dễ bị tácđộng bởi
Trang 32những yếu tố tiêu cực của môi trường và điều kiện sống, những thói hư tậtxấu trong xã hội, tư đó hình thành những phẩm chất cá nhân tiêu cực, cộngthêm khả năng điều chỉnh hành vi kém, dể đi vào con đường phạm tội.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây cơ cấu người phạm tội xét theogiới tính đang có sự thay đổi Tỷ lệ mnữ giới phạm tội có khuynh hướng tănglên và các loại tội phạm do họ thực hiện ngày càng đa dạng Ngoài những tộiphạm chủ yếu mà trước đây nữ giới thường phạm phải là: trộm cắp, lừa đảo,đầu cơ, buôn bán hàng cấm, làm hàng giả, buôn bán hàng giả, hành nghề mêtín dị đoan… thì nay trong danh mục đó có thêm nhiều loại tội phạm nguyhiểm như: Bắt cóc trẻ em, buôn bánphụ nữ, chứa mại dâm, môi giới mại dâm,tàng trữ, vận chuyển, mua bán các chất ma tuý… Đặc biệt đã xuất hiện một sốbăng nhóm tội phạm có sự tham gia của phụ nữ, thạm chí với vai trò cầm đầu,
đã gây ra nhiều vụ rất nghiêm trọng như :giết người, cướp tài sản, bắt cóctống tiền, cưởng đoạt tài sản, cố ý gây thương tích… làm cho tình hìnhTTATXH thêm phức tạp
2.1.2 Lứa tuổi
Trong đời sống con người phải trãi qua nhiều giai đoạn trưởng thànhsinh lý: ấu thơ, nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, trung niên, già Mỗi lứa tuổi
có những đặc điểm tâm sinh lý khác nhau, cùng với những kinh nghiệm sống
mà cá nhân tích luỹ được trong quá trình giao tiếp xã hội, có ảnh hưởng mạnh
mẽ tới hành vi của con người Vì vậy, nghiên cứu thông tin về độ tuổi của conngười phạm tội cho chúng ta thấy tính chất, mức độ, đặc điểm tội phạm củatừng lứa tuổi cũng như ảnh hưởng của lứa tuổi đến việc thực hiện tội phạm, từ
đó có cách sắp xếp thứ tự ưu tiên trong phòng ngừa và điều tra, xử lý tộiphạm đối với từng lứatuổi cho phù hợp
Thực tế cuộc đấu tranh chống tội phạm cho thấy người phạm tội ở độtuổi từ 18 đến 30 chiếm tỷ lệ cao nhất, sau đó những người từ 31 đến 45 tuổi
Trang 33và những người chưa thành niên (từ 14 đến 18 tuổi), còn những người trên 45tuổi phạm tội chiếm tỷ lệ ít hơn Đối với từng lứa tuổi khác nhau thì cơ cấutội phạm được thực hiện cũng có những đặc trưng khác nhau Chẳng hạn, cáctội phạm mà người chưa thành niên thực hiện nhiều nhất phải kể đến các tộixâm phạm sỡ hữu công dân trong đó chủ yếu là trộm cắp sau mới đến các tộicướp, cướp giật và lừa đảo Các tội sử dụng bạo lực thường được thực hiệnbởi những người có độ tuổi từ 18 đến 30 Còn các tội phạm kinh tếm, tộiphạm chức vụ và các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia chủ yếu do nhữngngười ở độ tuổi từ 30 trở lên thực hiện.
2.1.3 Trình độ học vấn
Trình độ học vấn là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ nhậnthức thế giới xung quanh và sự phát triển trí tuệ con người Nó ảnh hưởng rấtlớn đến hành vi ứng xử của con người trong các mối quan hệ xã hội nóichung và hành vi phạm tội nói riêng
Nghiên cứu trính độ học vấn của người phạm tội chẳng những giúp chochúng ta có cơ sở để tìm hiểu về quá trình hình thành nhân cách sai lệch của
họ (mà giáo dục là một trong những yếu tố nhất định) mà còn cho chúng tanhững thông tin về đặc điểm, tính chất, mức độ… của tình trạng tội phạm donhững người có trình độ học vấn khác nhau gây ra
Thực tế cho thấy, trình độ học vấn của người phạm tội nhìn chúng thấphơn so với những người không phạm tội cùng lứa tuổi (do nhiều nguyên nhânkhác nhau) đã làm biến dạng sự nhận thức về thế giới xung quanh, cản trở sựhiểu biết đầy đủ về những nghĩa vụ của cá nhân đối với xã hội, về sự tuan thủnguyên tắc ứng xử trong xã hội (kể cả những nguyên tắc đạo đức cũng nhưnguyên tắc được quy định trong luật pháp) Nghiên cứu về người chưa thànhniên phạm tội ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay cho thấy : Trong tổng số
Trang 34người phạm tội ở độ tuổi này thì có 44% đang học dở tiểu học; 43,3% đanghọc dở trung học cơ sở; 2,3% đang học dở trung học phổ thông và 5,4% hoàntoàn không bioết đọc bết viết Học lực của những người chưa thành niênphạm tội thường là yếu kém: 60,7% bị lưu ban từ một lần trở lên; 40,7% bịnhà trường thi hànhkỷ luật cảnh cáo hoặc bị đuổi học.
Những người có trình độ học vấn khác nhau thì loại tội phạm họthường phạm phải cũng khác nhau Chẳng hạn, những người có trình độ họcvấn thấp thường phạm các tội phạm có sử dụng bạo lực hoặc các tội phạmxâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng… còn những người có trình
độ học vấn cao thường phạm các tội phạm kinh tế, tội phạm có chức vụ
2.1.4.Trình độ học vấn
Địa vi xã hội của một người thường đi liền với nghề nghiệp của người
đó và phụ thuộc vào trình độ học vấn của chính họ Trình độ học vấn cao haythấp sẽ tạo khả năng thuận lợi hay khó khăn trong việc tiếp nhận sự đào toạnghề nghiệp, bố trí việc làm cho người lao động, và chính nghề nghiệp sẽ tạo
ra và củng cố địa vị của họ trong xã hội
2.1.4 Nghề nghiệp, địa vị xã hội
Địa vị xã hội của một người thường đi liền với nghề nghiệp của họ,trình độ học vấn của chính họ Trình độ học vấn cao hay thấp sẻ tạo khả năngthuận lợi hay khó khăn trong việc tiếp nhận sự đào tạo nghề nghiệp, bố tríviệc làm cho người lao động, và chính nghề nghiệp sẽ tạo ra và cũng cố địa vịcủa họ trong xã hội
Trong nhân thân con người nói chung, nghề nghiệp, địa vị xã hội cóảnh hưởng rất lớn đến hành vi ứng xử của mổi người và nó thường thể hiệnnhững nhân cách riêng của từng loại người xét theo nghề nghiệp, địa vị xãhội Đối với những người phạm tội cũng vậy, nghề nghiệp địa vị xã hội khácnhau thì khả năng “nhiểm tội” cũng khác nhau Theo thống kê tội phạm thì đa
Trang 35số người phạm tội là người không có nghề nghiệp, hoặc nghề nghiệp không
ổn định, do đó vị trí trong xã hội rất thấp Đắc biệt đối với những người phạmtội thuộc loại tái phạm, tái phạm nghuy hiểm thì chỉ số này thường rất cao.Đối với những người có nghề nghiệp phạm tội thì phần lớn rơi vào trườnghợp người lao động chân tay nặng nhọc và đơn giản như nông dân, công nhâncầu đường, xây dựng, bốc vác… Còn tri thức và người về hưu phạm tội íthơn
Nghiên cứu dấu hiệu nghề nghiệp, địa vị xã hội trong nhân thân ngườiphạm tội còn cho chúng ta những thông tin phản ánh về cơ cấu tội pạhmtrong từng ngành, từng lĩnh vực trong đời sống xã hội Từ đó cho thấy giảiquyết vấn đề tội phạm trong xã hội phải luôn chú trọng đến các hoạt độnggiáo dục, đào tạo nghề nghiệp cho người lao động, tạo cho họ khả năng laođộng, có thu nhập chính đáng để thoả mãn những nhu cầu của con ngườitrong cuộc sống Mặt khác trong các hoạt động phòng ngừa tôih phạm cũngcần tập trung vào loại nghề nghiệp nhất định, và từng loại người nhất định để
đề ra biện pháp phòng ngừa thích hợp
2.1.5 Hoàn cảnh gia đình
Hoàn cảnh gia đình và sự thay đổi của nó có ảnh hưởng sâu sắc đến sựhình thành nhân cách của con người Cùng với các môi trường giáo dục khác ,gia đình là nơi định hướng cho các hành vi ứng xử của mổi thành viên.Nghiên cứu dấu hiệu hoàn cảnh gia đình trong nhân thân người phạm tội lànghiên cứu ở các khía cạnh: Quan hệ gia đình, thành phần gia đình và hoàncảnh kinh tế gia đình với những tác động của nó tới người phạm tội
Về quan hệ gia đình: Đó là những thông tin phản ánh về tình trạng hônnhân của người phạm tội ( đã kết hôn hay chưa, quan hệ vợ chồng con cái…)
và quan hệ với các thành viên khác trong gia đình( On, bà, bố, mẹ, anh chị emruột…) Các nghiên cứu về người phạm tội cho thấy: nhìn chung những người
Trang 36có gia đình (đã kết hôn) phạm tội ít hơn những người chưa cs gia đình Phầnlớn các trường hợp chính nhân tố gia đình đã có tác đọng tích cực đến cách xử
sự của các thành viên, đồng thời gia đình giử vai trò kiểm soát hành vi củacác thành viên, hạn chế đến mức thấp nhất các hiện tượng tiêu cực Tuynhiên, cũng có không ít trường hợp người phạm tội sống trong gia đình có cơcấu không hoàn thiện (bố hoặc mẹ chết, ly hôn, ly thân), gia đình sống bất hoàhoặc có thành viên thường xuyên vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức
Về thành phần gia đình: thông tin về thành phần gia đình của ngườiphạm tội chủ yếu có ý nghĩa nghiên cứu các tội phạm xâm phạm an ninh quốcgia Những người phạm loại tội này thường rơi vào những gia đình thuộc tầnglớp của giai cấp bóc lột cũ hoặc người đã có thời gian làm việc cho chínhquyền cũ đã bị lật đổ
Về hoàn cảnh kinh tế gia đình: Đó là những thông tin về tình trạng kinh
tế gia đình của người phạm tội bao gồm: Nguồn thu nhập, mức thu nhập, kiềukiện nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, phương tiện đi lại… Nghiên cứu nhân thânngười chưa thành niên phạm tội cho thấy: 79% các em sống trong gia đìnhđông con; 32,3% sống trong gia đình có hoàn cảnh nghèo đói; 40,7% sốngtrong gia đình đủ ăn; 24,6% sống trong gia đình khá giả Điều đó cho thấyhoàn cảnh kinh tế khó khăn đã đẩy cho các em vào con đường phạm tội,nhưng trong những hoàn cảnh khác, chính sự thiéu quan tâm của bố mẹ cũnggóp phần nhuộm đen một phần đời của các em
2.1.6 Quan hệ xã hội
Nghiên cứu quan hệ xã hội của người phạm tội túc là chúng ta tìm hiểu
về sự gắn bó, ảnh hưởng qua lại giữa người phạm tội với những người xunhquanh (ngoài quan hệ gia đình) Đó là các quan hệ bạn bè thân thiết, quan hệtrong các nhóm, tổ chức, đoàn thể xã hội hay các câu lạc bộ mà người phạmtội có tham gia sinh hoạt Những thông tin phản ánh về quan hệ xã hội của
Trang 37một người trog chừng mực nhất định có thể giúp chúng ta lý giải pphần nào
về thái độ và hành vi xử sự của người đó trước những tình huống xảy ra trongcuộc sống, từ đó có những tác động tích cực nhằm ngăn chặn kịp thời hành viphạm tội Đối với mngười phạm tội, nghiên cứu quan hệ xã hội cần phải lưu ýtới những mối quan hệ bất bình thường của họ Điều đó giúp ích rất nhiều cảtrong định hướng điều tra cũng như trong phòng ngừa tội phạm
Ngoài những dấu hiệu chính kể trên, những dấu hiệu khác thuộc nhómdấu hiệu xã hội nhân khẩunhư: dân tộc, tôn giáo, nơi cư trú, những vị thế xãhội của người phạm tội… cũng có ý nghĩa quan trọng trong nhân thân ngườiphạm tội Tổng hợp mhiều dấu hiệu xã hội nhân khẩu học trong nhân thânngười phạm tội sẽ giúp chúng ta có những hiểu biết sâu sắc về người phạmtội, từ đó có các biện pháp phòng ngừa hứu hiệu
2.2 nhóm dấu hiệu đạo đức, tâm lý:
tổng hợp những thông tin về các dấu hiệu xã hội – nhân khẩu học chochúng ta cái nhìn bao quát về nhân thân người phạm tội Tuy nhiên, đó mớichỉ là những dấu hiêuụ ben ngoài, nó chưa cắt nghĩa được lý do tại sao người
đó lại phạm tội Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải đi sâu nghiên cứu nghiêncứu mặt bên trong của nhân thân người phạm tội được thể hiện trong nhâncách của người phạm tội mà hiện nat nó được nó đang được nhiều nhà tộiphạm học để tâm nghiên cứu
2.2.1 Đặc điểm phẩm chất đạo đức của người phạm tội
Phẩm cdhất đạo đức là 1 trong những những bộ phận cấu thành nhâncách con người Nó không phải là thứ có sẵn ngay từ khi con người mới đượcsinh ra mà được hình thành dần trong quá trình sống của mỗi con người dưới
sự tác đọng của môi trường gia đình, nhà trường, xã hội
Phẩm cất ddaoj đức của con người thể hiện ở hệ thống quan điểm, thái
độ, nhận thức của người đó đối với các giá trị đạo dức xã hội Chẳng hạn đối
Trang 38với tổ quốc, đối với nghĩa vụ của công dân, với lao động, với pháp luật, trật tự
kỷ cương của xã hội, của tập thể, đối với giua đi8nhf, với những ngươiù xungquanh và với chính bản thân Khi người đó định hướng với những các giá trịnào đó cho là chủ yếu thì chúng ta có thể đánh giá được khuynh hướng pháttriển của nhân cách mức độ biến dạng của nhân cách theo hiều hướng nào đốivới lợi ích của xã hội Phẩm chất đạo đức của con người thường được bộc lộ
ra bên ngoài thông qua các hành vi, cáh ứng xử cụ thể của người đó trongnhững điều kiện hoàn cảnh thực tế
Nghiên cứu về người phạm tội cho ta thấy đa số họ có sự nhận thứckhông đúng hoặc không đầy đủ về các giá trị đạo đức xã hội vì vậy, thường
có thái độ tiêu cực đối với các giá trị đó Đối với họ lợi ích cá nhân là trên hết,lợi ích chung chỉ được chiếu cố khi không ảnh hưởng đến lợi ích riêng mình,
vì vậy khái niệm tổ quốc chỉ là mơ hồ nghĩa vụ công dân thì tìm cách trốntránh không muốn lao động vất vả nhưng lại ham hưởng thụ sung sứơng…trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ công dân và các tộ xâm phạm sởhữu, đa số người phạm tội thuộc loại lười lao động ích kỷ tàn ác ở các loại tộiphạm khác, phần lớn trong số những người phạm tội có đạo đức kém, tuy ởmổi người có mức độ không giống nhau
2.2.2 đặc điểm tâm lý người phạm tội.
Cùng với đặc điểm về phẩm chất đạo đức, các đặc điểm tâm lýcủa người phạm tội cho chúng ta thấy rõ hơn vì sao những điều kiện hoàncảnh nhất định một con người lại thực hiện hành vi phạm tội
Những đặc điểm tâm lý của người phạm tội được nghiên cứu ở các gócđộ: Đặc điểm tâm lý cá nhân, đặc điểm tâm lý xã hội, đặc điểm tâm lý phápluật của người phạm tội Những đặc điểm tâm lý cá nhân của người phạm tộithể hiện ở nhu cầu, hứng thú, sở thích thói quen, niềm ham mê, ước vọng, xúccảm, tình cảm, kiểu khí chất… Những đặc điểm này cũng tồn tại ở những
Trang 39người biình thường khác, tuy nhiên ở những người phạm tội thì phần đông là
có nhu cầu, hứng thú thấp kém, với những thói hư tật xấu và đặc biệt là biệnpháp để thoả mãn những nhu cầu, hứng thú đó thường là trái pháp luật, kể cảpháp luật hình sự
Đối với mỗi loại tội phạm khác nhau thì đặc điểm tâm lý trng conngười họ cũng khác nhau, chẳng hạn, người phạm tội lần đầu tâm lýd khácvới những người tái phạm, tái phạm nguy hiểm; người phạm tội xâm phạm sởhữu có nhu cầu, hứng thú khác với những người phạm tội xâm phạm tínhmạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người; người phạm tội thuộc cáclứa tuổi, địa vị xã hội … khác nhau cũng có những đặc điểm tâm lý khácnhau
Do con người phạm tội luôn tham gia vào các mối quan hệ xã hội đadạng, phức tạp nên trong mỗi con người còn có cả các đặc điểm tâm lý xã hội,được thể hiện dưới các hình thức như: tình cảm cộng đồng, tâm trạng nhóm,phong tục tập quán, nghi lể… những đặc điểm này được hình thành trong quátrình giao tiếp giữa bản thân người phạm tội với cá nhân khác trong cùngquan hệ cộng đồng, tập thể, nhóm xã hội
Tâm lý pháp luật là một vấn đề quan trọng cần được nghiên cứu, xemxét đối với người phạm tội Đặc điểm tâm lý pháp luật trong nhân thân ngườiphạm tội thể hiện sự nhận thức về pháp luật, thái độ, tình cảm, xúc cảm… đốivới pháp luật của người phạm tội Nhìn chung người phạm tội có hiểu biết rấtthấp về pháp luật, trong khi đó lại có thái độ không tôn trọng pháp luật và các
cơ quan bảo vệ pháp luật Nhiều người trong số họ tin vào khả năng trốn tránhđược sự trừng phạt của pháp luật và luôn có hy vọng rằng cơ quan bảo vệpháp luật sẽ không phát hiện, làm rõ được hành vi của phạm tội của mình.Khi bị bắt , hầu hết người phạm tội tìm mọi cách phủ nhận hoặc giảm nhẹ tộicủa mình và đổ tội cho người khác Cá biệt có những người phạm tội nguy
Trang 40hiểm không công nhân pháp luật xuất phát từ tư tưởng chống đối chế độ,chống lại lợi ích xã hội nói chung.
Toàn bộ đời sống tâm lý của con người nói chung rất phức tạp và đangdạng, đối với người phạm tội cũng vậy Việc tìm hiểu khám phá những đặcđiểm tâm lý người phạm tội vì thế cũng khkông phải là điều dễ dàng Nó đòihỏi chúng ta phải có những kiến thức nhất định về tâm lý học, nhất là tâm lýhọc tội phạm
Cùng với những đặc điểm dấu hhiệu về xã hội – nhân khẩu, những đặcđiểm về đạo đức tâm lý của người phạm tội giúp cho hoạt động phòng ngừatội phạm tìm ra những biện pháp tác động phù hợp với từng loại đối tượng cónhững phẩm chất đạo đức tâm lý khác nhau Mặt khác, nghiên cứu tâm lý đạođức, tâm lý người phạm tội cũng phục vụ đắc lựccho hoạt động điều tra, xử lýngười phạm tội được nhanh chóng, chính xác cvà có biện pháp giáo dục, cảitạo người phạm tội đạt hiệu quả cao
2.3 Nhóm dấu hiệu pháp luật hình sự
Nhóm dấu hiệu pháp luật hình sự bao gồm những dấu hiệu thể hiện tínhchất nguy hiểm của tội phạm và của nhân thân người phạm tội Đối với nhữngngười bình thường khác thì đặc điểm nhân thân của họ không có những dấuhiệu này Vì vậy, đây là căn cứ để phân biệt giữa nhân thân người phạm tộivới nhân thân người bình thường (không phải là người phạm tội)
Các dấu hiệu pháp luật hình sự trong nhân thân người phạm tội baogồm:
- Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội;
- Động cơ, mục đích phạm tội;
- Phạm tội một mình hay đồng phạm;
- Phạm tội lần đầu hay tái phạm;
- Các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ khác