1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng thi hành pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện tại thành phố Đà Nẵng Luận văn ThS. Luật

90 1K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 895,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù mang tính chất tự nguyện nhưng BHXH tự nguyện là chính sách do Nhà nước ban hành nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia; Nhà nước quy định mức đóng góp để hình thành Quỹ BHXH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp lý thuyết, khảo sát tình hình thực tiễn ở thành phố Đà Nẵng và dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ

Lê Thị Hoài Thu

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là có cơ sở, dựa trên số liệu thống

kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bảo hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng và Cục thống kê thành phố Đà Nẵng Bản luận văn này chưa từng được công bố

Người cam đoan

Phan Võ Thị Hạnh Thuỷ

Trang 4

ii

MỤC LỤC Trang

Lời cam đoan i

Mục lục ii

Danh mục các chữ viết tắt iv

Mở đầu 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài 3

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 5

6 Đóng góp của luận văn 5

7 Kết cấu của luận văn 6

Chương 1 Khái quát chung về bảo hiểm xã hội tự nguyện và pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện 7

1.1 Khái quát chung về Bảo hiểm xã hội tự nguyện 7

1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa Bảo hiểm xã hội tự nguyện 7

1.1.2 Bản chất của Bảo hiểm xã hội tự nguyện 12

1.2 Khái quát chung về pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện 14

1.2.1 Khái niệm pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện 14

1.2.2 Nguyên tắc pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện 16

1.2.3 Nội dung pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện 18

1.2.4 Vai trò pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện 29

Chương 2 Thực trạng pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện và tình hình thực hiện tại thành phố Đà Nẵng 31

2.1 Thực trạng pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện 31

2.1.1 Về đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện 31

Trang 5

iii

2.1.2 Về các chế độ Bảo hiểm xã hội tự nguyện 34

2.1.3 Về nguồn hình thành quỹ và quản lý quỹ Bảo hiểm xã hội tự nguyện 45

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện ở thành phố Đà Nẵng 48

2.2.1 Những kết quả đạt được 48

2.2.2 Những hạn chế 54

Chương 3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện tại thành phố Đà Nẵng 59

3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về Bảo hiểm xã hội tự nguyện 59

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về Bảo hiểm xã hội tự nguyện 62

3.2.1 Bổ sung một số quy định trong Bảo hiểm xã hội tự nguyện 62

3.2.2 Hoàn thiện các quy định về mức đóng và phương thức đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện 65

3.2.3 Bổ sung các quy định về quản lý và mở rộng các đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện 68

3.2.4 Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, viên chức trong tổ chức thực hiện Bảo hiểm xã hội tự nguyện 69

3.2.5 Về tổ chức thực hiện 71

3.2.6 Một số kiến nghị khác 74

Kết luận 77

Danh mục tài liệu tham khảo 78

Phụ lục 83

Trang 6

iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

- ASXH: An sinh xã hội

- BHXH: Bảo hiểm xã hội

- BHYT: Bảo hiểm y tế

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta

đã đề ra những chủ trương, chính sách để phát triển kinh tế, ổn định đời sống

xã hội Đặc biệt, các chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến an sinh

xã hội luôn được Đảng, Nhà nước chú trọng Sự phát triển kinh tế thị trường trong những năm qua đã làm cho diện mạo của đất nước có những thay đổi sâu sắc về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng Kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng cao, đời sống kinh tế - xã hội của nhân dân từng bước được cải thiện Bên cạnh việc ban hành các chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và coi trọng thực hiện các chính sách xã hội đối với người lao động

Hệ thống an sinh xã hội được hình thành và phát triển rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau ở từng quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử, trong

đó “BHXH, BHYT trụ cột vững chắc của hệ thống An sinh xã hội” [34] Luật

BHXH đã được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua ngày 12/7/2006; trong đó Bảo hiểm xã hội bắt buộc có hiệu lực từ ngày 01/01/2007; BHXH tự nguyện có hiệu lực từ ngày 01/01/2008 và Bảo hiểm tự nguyện có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 Trong những năm qua, BHXH đã không ngừng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách ASXH của đất nước, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người lao động nói riêng và của toàn dân nói chung Bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng là một trong những chính sách an sinh xã hội đang được quan tâm thực hiện từ đầu năm 2008 và đã đạt được những kết quả bước đầu, góp phần ổn định đời sống

xã hội của nhân dân

Trang 8

2

Từ năm 2008, số lượng người tham gia BHXH tự nguyện là 6.110

người [21, tr.46], [30], [35], đến cuối 31/12/2013 “số người tham gia BHXH

tự nguyện là 170.600 người” [30], [35] Loại hình bảo hiểm này chưa thật sự

hấp dẫn đối với người lao động, vì mức đóng còn khá cao so với đại bộ phận người lao động tự do và nông dân, cũng như quy định số năm đóng góp tối thiểu để được hưởng lương hưu vẫn cao

Hiện nay, Việt Nam là quốc gia có cơ cấu “dân số vàng” “Năm 2009,

tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động (từ 15 đến 64 tuổi) là 68,4%, dự báo đến năm 2049 tỷ trọng này là 64,42%” [27, tr.1-2] Dân số Việt Nam hiện

nay trên 90 triệu người, số lượng người trong độ tuổi lao động đến tháng 6 năm 2013 có khoảng 53 triệu người [28], [35] Số lượng người tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện tính đến 31/12/2012 chỉ đạt 139.643 người [15, tr.13], [22, tr.26] tính đến 31/12/2013 số người tham gia BHXH tự nguyện đạt 170.600 người [30], [35], tăng 22% so với năm 2012 Tuy nhiên, số người tham gia BHXH tự nguyện như vậy còn khá khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng và số lượng người lao động ở các khu vực chính thức và phi chính thức

Qua hơn 6 năm triển khai thực hiện Bảo hiểm xã hội tự nguyện đã từng bước mang lại hiệu quả thiết thực cho người lao động Tuy nhiên, việc triển khai BHXH tự nguyện chưa đáp ứng được nhu cầu của người lao động, cũng như định hướng của Đảng, Nhà nước Vấn đề đặt ra là làm thế nào để người lao động nhận thức được sự cần thiết tham gia BHXH tự nguyện; thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ quản lý như thế nào để tạo điều kiện thuận lợi triển khai thực hiện Bảo hiểm xã hội tự nguyện Xuất phát từ

những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Thực trạng thi hành pháp luật Bảo

hiểm xã hội tự nguyện tại thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ luật học

của mình

Trang 9

3

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài

Luật BHXH ra đời có hiệu lực thi hành từ năm 2007, đối với chế độ BHXH tự nguyện được áp dụng từ năm 2008 Để chế độ BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện ngày càng hoàn thiện, phù hợp với người lao động, trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Trong đó

phải kể đến đề tài nghiên cứu khoa học như đề tài cấp bộ: "Nghiên cứu mở

rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đối với người lao động tự tạo việc làm và thu nhập”(2002) của tác giả Bùi Văn Hồng; “Giải pháp mở rộng đối tượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội khu vực kinh tế tư nhân theo đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước” (2003) của tác giả Kiều Văn Minh Đề

tài “Mô hình thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện ở một số nước trên thế giới

và những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam” (2007) của tác

giả Đào Thị Hải Nguyệt Có thể nói các đề tài này chủ yếu tập trung nghiên cứu các giải pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện và kinh nghiệm của nước ngoài trong việc thực hiện BHXH tự nguyện

Về luận văn thạc sĩ có thể thấy các công trình sau: “Phát triển bảo

hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức ở Việt Nam” của tác giả

Nguyễn Văn Khánh, Học viện Chính trị hành chính - quốc gia Hồ Chí Minh,

năm 2010; “Bảo hiểm xã hội tự nguyện - 5 năm thực hiện và một số kiến nghị

hoàn thiện” của tác giả Đặng Thị Vân Khánh, Đại học Luật Hà Nội, năm

2013; “Bảo hiểm xã hội tự nguyện thực trạng và một số giải pháp nâng cao

hiệu quả thực thi pháp luật” của tác giả Hoàng Quốc Đạt, Đại học Luật Hà

Nội, năm 2012

Về bài viết đăng trên tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành có các bài

viết sau: “cần xác định Bảo hiểm xã hội là lưới quan trọng”, Tạp chí Lao động và xã hội online ngày 19/6/2012; “số người tham gia Bảo hiểm xã hội tự

Trang 10

4

nguyện thấp”, Tạp chí Lao động xã hội 2008, Đăng Doanh (2009); “Định hướng hoàn thiện chính sách Bảo hiểm xã hội tự nguyện” trang web Bộ Lao

động - Thương binh và xã hội, Tạp chí Lao động xã hội

Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trong thời gian qua chỉ mới là những nghiên cứu bước đầu, thiếu tính hệ thống, đòi hỏi cần bổ sung những điểm mới, hệ thống các chính sách, pháp luật về BHXH tự nguyện nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

- Nghiên cứu lý luận pháp luật về Bảo hiểm xã hội tự nguyện và thực trạng thi hành pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện ở thành phố Đà Nẵng

- Đề xuất các giải pháp để phát triển Bảo hiểm xã hội tự nguyện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng

- Đề tài làm sáng tỏ những vấn đề lý luận pháp luật về BHXH tự nguyện, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật BHXH tự nguyện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thời gian qua, phân tích những vấn đề pháp luật và thực tiễn triển khai mô hình bảo hiểm này để đưa ra những kiến nghị, định hướng

và giải pháp thực hiện BHXH tự nguyện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về Bảo hiểm xã hội nói chung và Bảo hiểm xã hội tự nguyện nói riêng

Trang 11

Mác-5

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, diễn giải, quy nạp những phương pháp trên không sử dụng độc lập mà đan xen và kết hợp với nhau để làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề tài

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

* Đối tượng nghiên cứu

Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật BHXH tự nguyện hiện hành và đánh giá thực trạng pháp luật BHXH tự nguyện nói chung và việc áp dụng BHXH tự nguyện ở thành phố Đà Nẵng nói riêng

* Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chủ yếu đi sâu nghiên cứu về thực trạng thi hành pháp luật BHXH tự nguyện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để từ đó đưa ra các giải

pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của mô hình BHXH này

6 Đóng góp của luận văn

- Làm rõ thêm các vấn đề lý luận về pháp luật BHXH tự nguyện

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về BHXH tự nguyện cũng như quá trình tổ chức thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về BHXH tự nguyện, cũng như đề xuất một số kiến nghị nhằm thực hiện BHXH tự nguyện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng tiến tới đảm bảo quyền hưởng an sinh xã hội cho người dân

Trang 12

6

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương

Chương 1: Khái quát chung về Bảo hiểm xã hội tự nguyện và pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện

Chương 2: Thực trạng pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện và tình hình thực hiện tại thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện tại thành phố Đà Nẵng

Trang 13

7

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

VÀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

1.1 Khái quát chung về Bảo hiểm xã hội tự nguyện

1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa BHXH tự nguyện

Bảo hiểm xã hội có lịch sử hình thành, phát triển từ lâu đời và được

triển khai thực hiện rộng rãi trên thế giới, "chế độ bảo hiểm tai nạn lao động

và bệnh nghề nghiệp ra đời lần đầu tiên ở nước Phổ” (Cộng hòa liên bang

Đức) "Đến năm 1850 và năm 1861 các quỹ ốm đau được thành lập ở Đức,

Bỉ Năm 1883, nước Đức ban hành đạo luật đầu tiên về BHXH” [33] Khi

mới triển khai thực hiện BHXH, hầu hết các nước thường áp dụng BHXH bắt buộc cho các đối tượng có nhu cầu và có khả năng tham gia BHXH bắt buộc (dành cho những người tham gia quan hệ lao động)

Ở Việt Nam BHXH ra đời từ rất sớm Từ năm 1986, Việt Nam đã thực hiện chính sách cải cách kinh tế và chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, sự đổi mới về cơ chế kinh tế đòi hỏi có những thay đổi tương ứng về chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH nói riêng Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ: Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức Nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động Trong văn kiện Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ, cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách Ngay trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước giai đoạn 2011-2020, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra mục tiêu là

Trang 14

8

“tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo

hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống” [20, tr.228]

Hiện nay, ở nước ta Bảo hiểm xã hội được thực hiện với cơ chế Nhà nước - Người sử dụng lao động - Người lao động Trong đó, cơ quan nhà nước đóng vai trò tiến hành các hoạt động bảo hiểm, người sử dụng lao động và người lao động cam kết đóng góp cho nhà nước để được hưởng các chế độ bảo hiểm

BHXH là một trong những phương pháp được con người lựa chọn để nhằm bù đắp một phần thu nhập khi đối mặt với những rủi ro, biến cố trong cuộc sống như lũ lụt, hạn hán, động đất, hoả hoạn, bệnh tật, mất việc làm… Khi rơi vào những trường hợp rủi ro trên, con người có nhu cầu đòi hỏi khắc phục khó khăn về kinh tế, chữa bệnh, an dưỡng tuổi già, chăm sóc sức khoẻ… Chính vì vậy các nhà nghiên cứu chính sách xã hội đã đề ra chính sách bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội là bộ phận chủ yếu, trụ cột, đóng vai trò quyết định của hệ thống An sinh xã hội và được thể chế hoá bằng những văn bản quy định pháp luật của nhà nước Có nhiều khái niệm khác nhau về BHXH,

nhưng khái niệm theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đó là: BHXH là sự

đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi

họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung

do sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và cho gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội

Trang 15

9

Từ những nhu cầu của cuộc sống cần có sự san sẽ, giúp đỡ nhau, tương thân tương ái mà Bảo hiểm xã hội tự nguyện ra đời bên cạnh bảo hiểm xã hội bắt buộc là nhu cầu tất yếu Hiện nay, trên thế giới có hai mô hình BHXH tự

nguyện, đó là “BHXH tự nguyện áp dụng cho bất kì người lao động nào tự

nguyện tham gia và mô hình bảo hiểm bổ sung cho BHXH bắt buộc” [16,

tr.5] Mặc dù mang tính chất tự nguyện nhưng BHXH tự nguyện là chính sách do Nhà nước ban hành nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia; Nhà nước quy định mức đóng góp để hình thành Quỹ BHXH tự nguyện đảm bảo đủ kinh phí để chi trả cho người tham gia BHXH tự nguyện và xây dựng các chế độ mà người tham gia BHXH được hưởng (bao gồm điều kiện hưởng, mức hưởng) nhằm bảo đảm bù đắp rủi ro cho người tham gia BHXH tự nguyện

BHXH tự nguyện là loại hình BHXH được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của người lao động với tư cách là người tham gia cũng là người hưởng BHXH Giữa loại hình BHXH tự nguyện và loại hình BHXH bắt buộc

có những điểm giống nhau về mục tiêu, bản chất, mục đích hoạt động, sự hình thành và sử dụng quỹ Tuy nhiên, BHXH tự nguyện có những điểm khác

so với BHXH bắt buộc đó là mối quan hệ lao động của những người tham gia BHXH ở hai loại hình này

Trong những năm qua, cùng với BHXH bắt buộc, việc triển khai BHXH tự nguyện đã phát huy tác dụng trong việc hỗ trợ người lao động khi gặp những khó khăn, biến cố trong cuộc sống, trên cơ sở những đóng góp của người lao động trước khi xảy ra những rủi ro đó Có thể hiểu một cách khái quát về Bảo hiểm xã hội tự nguyện như sau:

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một loại hình BHXH do Nhà nước ban hành để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao

Trang 16

10

động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự tự nguyện đóng góp một phần thu nhập của người lao động, người sử dụng lao động, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và cho gia đình

họ, góp phần bảo đảm an sinh xã hội

Hoặc có thể nói: Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã

hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội

Từ những khái niệm trên đây, có thể thấy rằng người lao động có quyền lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình

và người lao động hoàn toàn tự nguyện tham gia BHXH tự nguyện để được hưởng các chế độ bảo hiểm theo quy định của nhà nước Khi tham gia vào BHXH tự nguyện thì mức đóng góp được chia cho người sử dụng lao động và người lao động; tỷ lệ đóng góp của các bên khác nhau tuỳ thuộc vào sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động khi tham gia BHXH tự nguyện thông qua việc người sử dụng lao động trả lương cho người lao động

để người lao động tự nguyện tham gia BHXH tự nguyện

BHXH tự nguyện không vì mục tiêu lợi nhuận, mà vì mục đích bảo đảm sự phát triển lâu bền của nền kinh tế, góp phần ổn định, thúc đẩy sự tiến

bộ của xã hội Cùng với BHXH bắt buộc, Bảo hiểm xã hội tự nguyện có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện qua các mặt sau đây:

Thứ nhất, BHXH tự nguyện góp phần thực hiện công bằng xã hội, tạo

sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trên thị trường lao động BHXH tự nguyện là công cụ phân phối lại thu nhập giữa những người có thu nhập cao, thấp khác nhau theo hướng có lợi cho những người có thu nhập thấp; là công

cụ phân phối thu nhập của những người mạnh khoẻ, may mắn, có việc làm ổn

Trang 17

11

định cho những người đau ốm, gặp phải những biến cố, rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống Ở các nước phát triển và đang phát triển, trong điều kiện kinh tế thị trường, sự phân hoá giàu nghèo ngày càng gia tăng Chính phủ các nước đều đưa ra các chính sách để giảm dần khoảng cách giàu, nghèo, chính vì vậy, chính sách BHXH tự nguyện là một trong những chính sách tạo sự bình đẳng cho người lao động, góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo

Thứ hai, BHXH tự nguyện có vai trò phân phối, sử dụng hiệu quả

nguồn quỹ dự phòng, tạo cơ chế chia sẻ, nhằm giảm bớt những rủi ro, góp phần phòng tránh và hạn chế tổn thất, đảm bảo an toàn cho sản xuất và đời sống xã hội và tạo động lực phát triển kinh tế, xã hội Quỹ BHXH tự nguyện được hình thành từ s ự đóng góp của người lao động và từ sự hỗ trợ của nhà nước để chi trả các chế độ cho người tham gia BHXH tự nguyện Quỹ BHXH phát triển sẽ góp phần tạo nguồn lực tài chính, cung ứng vốn cho việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, quỹ BHXH tự nguyện góp phần ổn định tài chính tiền tệ quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước

Thứ ba, BHXH tự nguyện giúp đảm bảo thu nhập cho người lao động

và gia đình họ khi gặp những khó khăn như ốm đau, tai nạn lao động, chết… Những người tham gia BHXH tự nguyện hầu hết là những người lao động tự

do, thu nhập thường thấp, không ổn định, bấp bênh như: những người nông dân, kinh doanh, buôn bán nhỏ… khi họ tham gia BHXH tự nguyện sẽ giúp

họ và gia đình họ đảm bảo được phần nào những rủi ro xảy ra trong cuộc sống

Thứ tư, BHXH tự nguyện góp phần nâng cao năng suất lao động xã

hội, thúc đẩy sản xuất phát triển Người tham gia BHXH tự nguyện được đảm bảo về thu nhập ổn định ở mức độ cần thiết, giúp họ tiết kiệm kinh phí đều

Trang 18

12

đặn để dự phòng khi già yếu, mất sức lao động… Chính vì vậy, BHXH tự nguyện tạo động lực cho người lao động phấn khởi, yên tâm làm việc, tạo điều kiện để thu hút các nguồn lực lao động vào nền sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển

Thứ năm, BHXH tự nguyện góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân,

giảm chi ngân sách nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội BHXH tự nguyện góp phần tạo cơ hội để thực hiện trách nhiệm tương trợ cho những khó khăn của các thành viên khác trong xã hội Người có thu nhập cao, có năng lực cao hơn

sẽ đóng góp nhiều hơn vào quỹ BHXH, họ trợ giúp cho những người yếu thế trong xã hội Những người lao động khi gặp phải rủi ro, họ sẽ nhận được trợ cấp từ BHXH để cải thiện cuộc sống

1.1.2 Bản chất của BHXH tự nguyện

BHXH ra đời là nhu cầu khách quan và là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế Ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển như Nhật, Đức, Anh, Canada… BHXH phát triển vững mạnh, cùng với hệ thống BHXH đa dạng, với nhiều loại hình BHXH phong phú BHXH nhằm bù đắp những thiệt hại, rủi ro cho người lao động và gia đình họ khi gặp những biến cố trong cuộc sống, BHXH nói chung và BHXH nói riêng mang bản chất kinh tế và mang bản chất xã hội

- Tính kinh tế của BHXH tự nguyện

Bản chất kinh tế của BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng thể hiện ở việc người tham gia BHXH tự nguyện đóng góp một khoản tiền

để hình thành nên quỹ dự trữ Nguồn quỹ dự trữ này được dùng để trợ cấp cho những người tham gia BHXH tự nguyện khi gặp rủi ro dẫn đến giảm hoặc mất thu nhập BHXH tự nguyện tạo ra một khoản thu nhập thay thế cho người lao động khi họ gặp phải các rủi ro thuộc phạm vi BHXH mà họ tham

Trang 19

13

gia Chính vì vậy, về mặt kinh tế BHXH tự nguyện là một hình thức tổ chức, phân phối lại thu nhập, góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ BHXH là một bộ phận cấu thành nên GDP của mỗi quốc gia, được phân phối lại cho những thành viên trong xã hội khi phát sinh nhu cầu về BHXH như ốm đau, sinh đẻ, già yếu, chết sự phân phối thu nhập có thể thực hiện giữa người trẻ và người già, giữa những người khỏe mạnh với người ốm đau, giữa người có thu nhập cao với người

có thu nhập thấp hoặc phân phối giữa bản thân người lao động và gia đình

họ Chính nhờ sự phân phối lại thu nhập mà đời sống của người lao động và gia đình họ luôn được bảo đảm trước những bất trắc, rủi ro xã hội

Tóm lại, bản chất kinh tế của BHXH tự nguyện chính là việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH tự nguyện góp phần tổ chức, phân phối lại thu nhập, nhằm bảo đảm đời sống của người lao động và gia đình họ trước những bất trắc, rủi ro xã hội

- Tính xã hội của BHXH tự nguyện

"Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội quan trọng,

là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế - xã hội" [11, tr.2] Về mặt xã hội, BHXH nói chung và BHXH tự nguyện với mục

tiêu không vì lợi nhuận, mà vì mục tiêu xã hội Người tham gia BHXH tự nguyện được chia sẻ rủi ro và được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động Quỹ BHXH tự nguyện thực hiện theo nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” đã góp phần trang trải những rủi ro khi xảy ra cho người lao động và gia đình họ Mặc dù người lao động đóng một khoản tiền nhỏ trong thu nhập của mình, nhưng được bồi hoàn một khoản thu nhập đủ lớn từ nguồn quỹ BHXH tự nguyện, nhờ đó đã chia sẻ, giúp cho

Trang 20

Tuy nhiên, giữa bản chất kinh tế và bản chất xã hội của BHXH tự nguyện đan xen lẫn nhau, không tách rời nhau Khi nói đến sự bảo đảm kinh

tế cho người lao động và gia đình của họ là đã nói đến tính xã hội của BHXH

tự nguyện, và ngược lại, khi nói đến sự đóng góp một khoản kinh phí nhỏ từ thu nhập nhưng lại đủ trang trải mọi rủi ro xã hội thì cũng đã đề cập đến tính kinh tế của BHXH tự nguyện

1.2 Khái quát chung về pháp luật BHXH tự nguyện

1.2.1 Khái niệm pháp luật BHXH tự nguyện

Bảo hiểm là một trong những phương pháp, công cụ hữu ích có vai trò quan trọng nhằm giúp con người phòng ngừa và vượt qua được những trở ngại rủi ro trong cuộc sống Ở Việt Nam, bảo hiểm xã hội được biết đến từ rất sớm và được xem là một trong những công cụ đắc lực trợ giúp cho người lao động trang trải khi gặp những biến cố đột xuất xảy ra trong cuộc sống, bằng cách sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình quân

do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động hoặc khi chết

BHXH tự nguyện có lịch sử hình thành và phát triển rất lâu đời, nó được thực hiện rộng rãi trên thế giới, xuất phát đầu tiên từ ở Đức và ở Anh,

Trang 21

15

với những quỹ khác nhau do các hội nghề nghiệp, hội tương tế quản lý Ở mỗi quốc gia khác nhau, có trình độ phát triển dân trí khác nhau thì chính sách, pháp luật về BHXH cũng có những điểm khác nhau Dù trình độ dân trí

có khác nhau nhưng loại hình BHXH tự nguyện là loại hình được xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện của người tham gia, bằng cách đóng góp một phần thu nhập của mình để được hưởng chế độ bảo hiểm nhằm giảm bớt những rủi ro, biến cố của người tham gia như mất việc làm, ốm đau, tai nạn,

tử tuất

Theo quy định của Luật BHXH, BHXH tự nguyện được định nghĩa

như sau: “BHXH tự nguyện là loại hình BHXH mà người lao động tự nguyện

tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng BHXH” (khoản 3, Điều 3)

Qua khái niệm này, có thể thấy người lao động tự nguyện tham gia hoặc không tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với khả năng kinh tế và thu nhập của mình, điều này đã tạo điều kiện cho người tham gia có thể cân đối nguồn tài chính trong gia đình để lựa chọn mức đóng phù hợp và có điều kiện để tham gia BHXH tự nguyện nhằm giảm bớt những rủi ro khi xảy ra cho bản thân và gia đình Nhà nước đã đề ra các quy định về mức đóng, quy định các chế độ của BHXH tự nguyện, điều kiện để hưởng và mức hưởng để đảm bảo bù đắp những rủi ro cho người tham gia BHXH tự nguyện Như vậy, Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một công cụ bảo đảm tối thiểu để người lao động duy trì và tái tạo khả năng lao động mà không phải là các khoản chi trả trực tiếp để người lao động chữa bệnh khi ốm đau, tai nạn, người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp để được hưởng các chế độ bảo hiểm

Trang 22

16

1.2.2 Nguyên tắc pháp luật BHXH tự nguyện

BHXH là một trong những chính sách an sinh xã hội của mỗi quốc gia Việc thực hiện chính sách BHXH đều tuân theo những nguyên tắc nhất định Nguyên tắc BHXH là những quy định nhằm đảm bảo cho các hoạt động BHXH diễn ra bình thường, đạt được mục tiêu mong muốn của nó

BHXH tự nguyện là một trong những bộ phận cấu thành nên BHXH, vì vậy BHXH tự nguyện tuân thủ theo những nguyên tắc chung của BHXH và tuân theo những nguyên tắc riêng Những nguyên tắc chung của BHXH được tổng hợp từ những văn bản của tổ chức lao động quốc tế (ILO) về BHXH và

từ những chính sách của các quốc gia có hệ thống an sinh tiên tiến trên thế giới Theo đó, nguyên tắc chung BHXH cụ thể như sau:

Thứ nhất, BHXH tự nguyện được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của người tham gia Đây là một trong những nguyên tắc đặc trưng của BHXH tự

nguyện Nguyên tắc này thể hiện sự tự nguyện của người lao động có quyền

tự do lựa chọn tham gia hoặc không tham gia BHXH tự nguyện Họ có quyền được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng BHXH tự nguyện phù hợp với thu nhập của mình Phí đóng BHXH tự nguyện dựa hoàn toàn vào sự đóng góp của người lao động mà không có sự đóng góp nào khác của người sử dụng lao động Nguyên tắc này xuất phát từ đối tượng của loại hình BHXH tự nguyê ̣n, những người tham gia BHXH thường là những người lao động có thu nhập thấp và không ổn định nên họ cần được tạo điều kiện phù hợp với nhu cầu để thuận lợi hơn cho họ khi tham gia BHXH tự nguyện

Thứ hai, các quy định BHXH tự nguyện phải linh hoạt trong giới hạn hợp lý của toàn hệ thống, nhằm đảm bảo cân đối, hài hoà lợi ích của các chủ thể trong quan hệ BHXH tự nguyện

Trang 23

17

Đa phần người lao động có nhu cầu thiết yếu về BHXH Song nhu cầu

đó phải dựa trên cơ sở kết hợp hài hòa lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ BHXH Trong BHXH tự nguyện, tính linh hoạt được thể hiện rõ nét nhất ở quy định về mức đóng, phương thức đóng và mức hưởng bảo hiểm Người lao động khi tham gia BHXH tự nguyện thường có quan hệ lao động không ổn định Hằng tháng, người lao động có thể làm nhiều công việc khác nhau, ở nhiều nơi khác nhau, với nhiều chủ sử dụng lao động, do đó mức thu nhập giữa các tháng cũng khác nhau Người lao động khi sử dụng thu nhập của mình, trước hết họ dành phần lớn chi cho các nhu cầu sinh sống hằng ngày của bản thân và gia đình, phần còn lại họ xem xét để đóng phí BHXH tự nguyện Phương thức đóng cũng cần phải linh hoạt để người lao động có thể đóng bảo hiểm hằng tháng, hằng quý, hoặc sáu tháng một lần, thậm chí một năm một lần Tuy nhiên, mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn, nhưng mức thu nhập này theo quy định của pháp luật Việt Nam thì mức đóng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung và cao nhất không quá 20 lần mức lương tối thiểu chung Việc quy định mức thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung và mức cao nhất bằng hai mươi lần lương tối thiểu nhằm tạo sự cân đối lợi ích của các chủ thể trong quan hệ BHXH tự nguyện Người lao động đóng BHXH ở mức thấp thì đương nhiên chỉ nhận được trợ cấp thấp; muốn được hưởng trợ cấp BHXH cao, điều đương nhiên người lao động sẽ phải đóng phí cao hơn Nếu người tham gia BHXH đóng phí BHXH thấp mà hưởng trợ cấp BHXH cao, sẽ ảnh hưởng đến an toàn của quỹ BHXH và tính lâu dài của chính sách BHXH sẽ không có khả năng thực thi Hiện nay nước ta đang ở trong tình trạng bội chi ngân sách, nhà nước cần có những chính sách phù hợp để đảm bảo sự an toàn của quỹ BHXH, đảm bảo quyền lợi của người tham gia BHXH tự nguyện

Trang 24

18

Người lao động tham gia BHXH tự nguyện thường có thu nhập không

ổn định, bấp bênh nên không thể có mức đóng ổn định, họ có thể tạm ngừng đóng BHXH tự nguyện không cần có lý do Vì vậy, người lao động có quyền

tự chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với khả năng của họ Mức hưởng BHXH tự nguyện cần đa dạng hơn và cần được tính toán trên cơ sở mức đóng, thời gian tham gia BHXH Quy định mức hưởng BHXH tự nguyện như vậy mới đảm bảo cân đối được lợi ích của người tham gia bảo hiểm và đảm bảo cân đối nguồn quỹ BHXH tự nguyện

Thứ ba, đảm bảo liên thông giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện

Mục đích chung của loại hình BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện là đảm bảo an sinh xã hội cho người tham gia Thông thường, người tham gia BHXH bắt buộc được hưởng nhiều chế độ hơn người tham gia BHXH tự nguyện Trên thực tế, tùy thuộc vào tính chất và đặc điểm của quan hệ lao động mà người lao động có thể có thời gian tham gia BHXH bắt buộc vừa có thời gian tham gia BHXH tự nguyện Pháp luật Việt Nam đã quy định khá chi tiết về việc chuyển đổi giữa hai loại hình bảo hiểm này và người lao động trong cùng một thời điểm chỉ có thể tham gia đóng BHXH bắt buộc hoặc BHXH tự nguyện Sự liên thông giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng cho người lao động khi họ vừa có thời gian tham gia BHXH tự nguyện, vừa có thời gian tham gia BHXH bắt buộc để họ có thể hưởng chế độ hưu trí, chế độ tử tuất theo quy định của pháp luật trên cơ sở thời gian đóng BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện

1.2.3 Nội dung pháp luật BHXH tự nguyện

Chủ thể tham gia BHXH tự nguyện

BHXH có mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách khác của quốc gia như các chính sách về an sinh xã hội và các chính sách xã hội Trong hệ thống

Trang 25

19

an sinh xã hội của một quốc gia thường bao gồm các chính sách về BHXH, trợ giúp xã hội, trợ cấp gia đình, các quỹ tiết kiệm xã hội, các dịch vụ xã hội khác được tài trợ bằng nguồn vốn công cộng… Trong đó, BHXH là một trụ cột cơ bản nhất và có mối quan hệ mật thiết với các bộ phận khác, nhằm góp phần thực hiện an sinh xã hội đất nước Việc thực hiện chính sách BHXH còn chịu tác động của nhiều yếu tố như: trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, khả năng tài chính, các yếu tố về cơ chế, chính sách, thể chế, pháp luật

và trình độ nhận thức của người dân Chính sách BHXH có mối quan hệ hữu

cơ với các chính sách xã hội khác như chính sách dân số, chính sách lao động

- việc làm, chính sách chăm sóc sức khỏe dân cư… Khi dân số tăng hoặc giảm sẽ làm cho cơ cấu dân số thay đổi Điều này sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu, quy mô của đối tượng tham gia BHXH

BHXH tự nguyện cũng là một trong những bộ phận cấu thành nên chính sách an sinh xã hội Quan hệ BHXH tự nguyện cũng tương tự như BHXH nói chung đều có sự tham gia của các chủ thể sau:

- Chủ thể tham gia BHXH tự nguyện

- Chủ thể được hưởng BHXH tự nguyện

- Chủ thể thực hiện BHXH tự nguyện

Chủ thể tham gia BHXH tự nguyện

Chủ thể tham gia BHXH tự nguyện là người đóng góp phí BHXH để bảo hiểm cho mình hoặc cho người khác được BHXH Theo quy định của pháp luật Việt Nam, chủ thể tham gia BHXH là người sử dụng lao động, người lao động và trong chừng mực nào đó có cả nhà nước Tuy nhiên hiểu theo nghĩa rộng thì người sử dụng lao động cũng có thể là người gián tiếp tham gia BHXH tự nguyện

Trang 26

20

Người sử dụng lao động có thể là tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ trang trại, cá nhân có sử dụng lao động Người sử dụng lao động tham gia gián tiếp BHXH tự nguyện bằng hình thức là trả một khoản cố định với tiền lương tháng cho người lao động để họ tham gia BHXH tự nguyện

Chủ thể tham gia BHXH chủ yếu là người lao động Người lao động có thể tự nguyện lựa chọn tham gia một hoặc một vài chế độ hoặc tất cả các chế

độ BHXH tự nguyện mà Nhà nước tổ chức Người lao động là tất cả những người trong độ tuổi lao động, kể cả những người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc Cụ thể gồm các đối tượng chính sau đây:

- Người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc nhưng thực tế họ lại không được tham gia vì nhiều lý do khác nhau

- Lao động làm việc trong các đơn vị không có quan hệ lao động, có nguyện vọng tham gia BHXH tự nguyện

- Lao động làm việc trong các doanh nghiệp có quan hệ lao động, không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc; những người làm công ăn lương theo hình thức hợp đồng lao động dưới 3 tháng

Luật BHXH Việt Nam quy định đối tượng tham gia của BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc đối tượng quy định tham gia BHXH bắt buộc (Điều 2 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28/12/2007 hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện và phần I Thông tư số 02/2008/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 190/2007/NĐ-CP) Như vậy, đối tượng người lao động không thuộc diện BHXH bắt buộc chiếm tỷ lệ khá cao Do đó, đòi hỏi chính sách BHXH tự nguyện cần phù hợp với nhu cầu và khả năng tham gia đóng góp của những người lao động Đồng thời, cần nghiên cứu cụ thể hơn những đặc điểm của từng ngành nghề, tính chất và mức độ thu nhập của

Trang 27

21

người lao động để xây dựng các chế độ BHXH tự nguyện phù hợp nhằm mở rộng hơn nữa các chủ thể tham gia BHXH tự nguyện

Chủ thể được hưởng BHXH tự nguyện

Chủ thể được hưởng Bảo hiểm xã hội là người lao động hoặc thành viên gia đình họ khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật Để được hưởng một chế độ BHXH tự nguyện, người lao động hoặc thân nhân của người lao động phải đảm bảo những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật như căn cứ vào thời gian tham gia BHXH tự nguyện, độ tuổi của người lao động Khi đảm bảo được các điều kiện theo quy định thì người lao động hoặc thành viên trong gia đình họ sẽ được hưởng các chế độ BHXH tự nguyện tương ứng Khi tham gia BHXH tự nguyện không chỉ bản thân người lao động được hưởng các chế độ BHXH tự nguyện mà những thành viên trong gia đình họ cũng được hưởng các chế độ tương ứng, với điều kiện những thành viên trong gia đình họ là người trực tiếp được hưởng thu nhập của người lao động

do nhà nước thành lập hoặc có thể do các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội hoặc tư nhân lập ra theo quy định pháp luật của mỗi quốc gia Ở Việt Nam hệ thống cơ quan BHXH được thống nhất từ trung ương đến địa phương Trong đó, hệ thống bảo hiểm xã hội ở cơ sở, ở địa phương có ý

Trang 28

Mức đóng và phương thức đóng BHXH tự nguyện

Mức đóng

Bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm nhiều loại hình lao động tham gia, với mức thu nhập của người lao động khác nhau, nên mức đóng cần tính toán sao cho phù hợp với thu nhập và khả năng của đa số người lao động nhằm thu hút nhiều đối tượng lao động tham gia và đảm bảo cho việc hạch toán cân đối thu chi BHXH tự nguyện

Mức đóng BHXH tự nguyện có vai trò quan trọng trong việc cân đối thu chi để đảm bảo tổ chức và hoạt động quỹ BHXH tự nguyện Mức đóng BHXH tự nguyện được xây dựng dựa trên cơ sở đáp ứng được các nhu cầu trợ cấp BHXH trong hiện tại và tương lai; đồng thời phải phù hợp với mức sống và điều kiện thu nhập của số đông người lao động trong từng thời kì phát triển của đất nước

Mức đóng BHXH tự nguyện xác định dựa trên cơ sở thu nhập và khả năng của đa số người lao động đang tham gia và sẽ tham gia BHXH tự nguyện Việc xây dựng tỷ lệ đóng góp BHXH tự nguyện được tính toán hợp

lý giữa nguồn tiết kiệm từ thu nhập sau khi đã chi cho các nhu cầu tiêu dùng tối thiểu của người lao động Mức đóng BHXH tự nguyện không nên chiếm

tỷ lệ quá cao hoặc quá thấp so với mức chi trả thực tế Mức đóng BHXH tự nguyện quá cao, như vậy sẽ không thu hút người lao động tham gia; mức

Trang 29

23

đóng cũng không nên quá thấp, sẽ không đảm bảo cân đối quỹ BHXH tự nguyện Xác định mức đóng BHXH tự nguyện cần dựa vào nhiều yếu tố như: giới tính, cơ cấu nguồn lao động theo độ tuổi, thu nhập, mức sống của người lao động và những yếu tố khác như: lạm phát, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội hằng năm của quốc gia, tuổi thọ bình quân… Việc xác định tỷ lệ mức đóng có vai trò quan trọng trong việc cân đối thu chi, đảm bảo duy trì tốt hoạt động, tổ chức của quỹ BHXH tự nguyện

Mức đóng BHXH tự nguyện phải cân đối với mức hưởng và đảm bảo nguyên tắc cân bằng trong BHXH tự nguyện Người lao động đóng BHXH tự nguyện với mức đóng cao nhưng mức hưởng thấp sẽ làm cho người lao động không muốn tham gia BHXH tự nguyện Ngược lại, người lao động đóng với mức thấp mà hưởng cao sẽ dẫn đến nguy cơ mất cân đối quỹ BHXH tự nguyện, ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chính sách BHXH tự nguyện Vì vậy, cần hạn chế tình trạng mức đóng BHXH quá cao hoặc quá thấp so với mức hưởng BHXH

Việc triển khai thực hiện chế độ BHXH tự nguyện ở Việt Nam được áp dụng từ năm 2008, số lượng người lao động tham gia BHXH tự nguyện còn thấp so với tiềm năng về lực lượng lao động Do đó, tỷ lệ đóng, mức đóng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển loại hình BHXH tự nguyện Để xác định mức đóng BHXH tự nguyện phù hợp, những nhà xây dựng chính sách cần nghiên cứu những kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới có những đặc điểm tương đồng về kinh tế, xã hội, văn hóa với Việt Nam

để đưa ra tỷ lệ, mức đóng phù hợp và từng bước điều chỉnh tăng (giảm) trong từng giai đoạn phát triển của đất nước

Hiện nay ở Việt Nam mức đóng được căn cứ trên mức lương tối thiểu chung theo quy định của nhà nước Mức đóng BHXH tự nguyện tối thiểu

Trang 30

24

bằng mức lương tối thiểu chung và tối đa bằng 20 tháng lương tối thiểu chung Mức đóng BHXH tự nguyện hằng tháng bằng tỷ lệ % theo quy định nhân với mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH do người tham gia BHXH tự nguyện lựa chọn Tỷ lệ đóng từ tháng 1/2014 trở đi bằng 22% mức

thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH tự nguyện (khoản 3, Điều 26 Nghị định

190/2007/NĐ-CP)

Phương thức đóng

Pháp luật về BHXH tự nguyện của từng quốc gia trên thế giới có những quy định khác nhau về phương thức đóng Có quốc gia quy định đóng BHXH

tự nguyện theo tuần, theo tháng, theo quý, theo năm hoặc nhiều năm một lần;

có những quốc gia đóng BHXH tự nguyện thông qua thuế, có quốc gia quy định đóng BHXH bằng hình thức trích từ thu nhập của người lao động thông qua tài khoản tại ngân hàng Tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mức thu nhập và nhu cầu của người lao động tham gia BHXH tự nguyện mà mỗi quốc gia đề ra những quy định, chính sách về BHXH tự nguyện

Phương thức đóng BHXH tự nguyện có thể được thực hiện thông qua dịch vụ ngân hàng, thẻ điện tử, nộp tại các cơ quan BHXH cơ sở hay có thể được nhân viên đến thu tại địa chỉ đăng kí Đồng thời, phương thức đóng BHXH vào quỹ BHXH tự nguyện được quy định cụ thể là người lao động

được lựa chọn đóng hằng tháng hoặc hằng quý hoặc sáu tháng một lần (khoản

2, Điều 100 Luật BHXH 2006)

Các chế độ BHXH tự nguyện

Công ước số 102 của ILO khuyến nghị mỗi quốc gia nên xây dựng chế

độ BHXH cho riêng mình và nên xây dựng các chế độ BHXH dài hạn như chế độ hưu trí, tử tuất và có thể thực hiện thêm các chế độ ngắn hạn như tai

Trang 31

25

nạn lao động, thai sản, ốm đau Việc tổ chức thực hiện các chế độ BHXH tự nguyện tùy thuộc vào điều kiện phát triển của mỗi nước, trình độ dân trí, đặc điểm lao động, truyền thống văn hóa của mỗi nước Các chế độ BHXH tự nguyện ở mỗi nước có khác nhau nhưng đều được tạo thành từ những yếu tố

cơ bản như: đối tượng được hưởng BHXH tự nguyện, mức hưởng, thời gian hưởng và điều kiện hưởng BHXH tự nguyện

Mức hưởng và thời gian hưởng BHXH tự nguyện tuỳ thuộc vào từng chế độ BHXH tự nguyện và được thực hiện dựa trên nguyên tắc: mức hưởng BHXH tự nguyện thấp hơn mức thu nhập làm căn cứ đóng BHXH lúc làm việc và mức hưởng thường tỷ lệ thuận với tiền lương, tiền công hoặc thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH Đối tượng được hưởng BHXH tự nguyện là cá nhân hoặc thân nhân của người lao động khi có đủ các điều kiện được hưởng BHXH tự nguyện theo quy định của pháp luật

Ở Việt Nam hiện nay đã thực hiện 7 chế độ BHXH bao gồm: ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, thai sản, tử tuất, hưu trí, chăm sóc y tế

và bảo hiểm thất nghiệp BHXH tự nguyện ở nước ta mới được triển khai gần đây nên chưa thực hiện nhiều chế độ BHXH tự nguyện mà chỉ mới thực hiện

2 chế độ BHXH tự nguyện đó là: chế độ hưu trí và chế độ tử tuất

Quỹ BHXH tự nguyện

Quỹ BHXH tự nguyện là một quỹ tập trung tiền tệ được hình thành từ

sự đóng góp của người lao động tham gia BHXH tự nguyện, sự hỗ trợ của Nhà nước và các nguồn khác, được sử dụng chủ yếu để chi trả trợ cấp cho những trường hợp được BHXH tự nguyện quy định Quỹ BHXH tự nguyện

có vai trò rất quan trọng trong hệ thống BHXH tự nguyện, đảm bảo tài chính cho hoạt động BHXH tự nguyện được triển khai thực hiện Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện được hình thành nhằm đối phó với những rủi ro mang tính chất

Trang 32

26

ngẫu nhiên như: làm giảm hoặc mất khả năng lao động thì đòi hỏi cần có một nguồn quỹ dự trữ đủ lớn được hình thành và sử dụng trong một thời gian nhất định trên cơ sở tính toán những rủi ro nảy sinh và nhu cầu bảo hiểm xã hội tự nguyện trong phạm vi quỹ phục vụ

Quỹ BHXH tự nguyện là quỹ được hạch toán độc lập, đảm bảo nguyên tắc vững chắc, bảo toàn và phát triển, không được phép thâm hụt hoặc đổ vỡ

và khi cần thiết nhà nước có thể bảo trợ Khác với BHXH bắt buộc, nguồn hình thành quỹ BHXH tự nguyện không có sự đóng góp của người sử dụng lao động Nguồn hình thành quỹ BHXH tự nguyện được hình thành chủ yếu

từ sự đóng góp của người lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước Ngoài ra quỹ BHXH tự nguyện còn có những nguồn thu khác như:

+ Nguồn thu từ hoạt động đầu tư quỹ BHXH tự nguyện, với nhiều hình thức khác nhau: trái phiếu, cổ phiếu, lãi tiền gửi ngân hàng, lãi cho vay, lãi cho thuê tài sản, lãi đầu tư vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ…

+ Nguồn tài trợ, hỗ trợ cho quỹ BHXH tự nguyện từ các tổ chức trong

và ngoài nước

Nguồn quỹ BHXH được sử dụng vào các mục đích:

- Chi trả các chế độ BHXH tự nguyện cho người lao động theo quy định; chi quản lý; chi đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ; chi dự phòng Trong đó, chi trả các chế độ BHXH tự nguyện là khoản chi quan trọng nhất, chiếm tỷ lệ lớn trong chi BHXH tự nguyện, nhằm thực hiện các chế độ trợ cấp BHXH tự nguyện Ở các nước trên thế giới, khoản chi lớn nhất trong số các khoản chi thực hiện chế độ BHXH tự nguyện là chi cho chế độ trợ cấp hưu trí

Chi phí quản lý là các khoản chi nhằm đảm bảo hoạt động của bộ máy quản lý của cơ quan BHXH, bao gồm các khoản chi như: chi lương và các khoản có tính chất lương cho cán bộ, nhân viên; chi nghiệp vụ chuyên môn;

Trang 33

27

chi quản lý hành chính

Chi cho hoạt động đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH tự nguyện thường được lấy từ khoản chênh lệch thu lớn hơn chi quỹ BHXH tự nguyện Các lĩnh vực đầu tư tăng trưởng quỹ được chọn lọc và theo những quy định đối với các lĩnh vực được đầu tư đối với quỹ BHXH tự nguyện, thông thường là đầu tư vào các lĩnh vực có độ rủi ro thấp Chi quản lý và chi đầu tư có thể được sử dụng một phần từ phí đóng góp BHXH tự nguyện hoặc

có thể sử dụng từ nguồn đầu tư tăng trưởng quỹ

Chi dự phòng: Đây là khoản chi được trích hằng năm trên tổng số chi theo một tỷ lệ nhất định nhằm đề phòng và ứng phó đối với những rủi ro và các chi phí có liên quan dự kiến có thể xảy ra trong quá trình chi trả các chế

độ BHXH tự nguyện

Việc hình thành, xây dựng và phát triển quỹ BHXH tự nguyện cần phải dựa vào những nguyên tắc chung của BHXH Nguyên tắc hoạt động của quỹ BHXH tự nguyện là "lấy số đông bù số ít”, hạch toán theo nguyên tắc cân bằng thu chi

- Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện được tổ chức Bảo hiểm xã hội quản

lý tập trung, thống nhất, minh bạch và tuân thủ các quy định của pháp luật về

tài chính, kế toán và thống kê Quỹ BHXH tự nguyện được hạch toán độc lập

với ngân sách nhà nước Quỹ BHXH tự nguyện và quỹ BHXH bắt buộc có cùng một cơ quan quản lý BHXH, do đó quỹ BHXH tự nguyện có thể được hạch toán như thành phần của quỹ BHXH Ngoài ra, quỹ BHXH tự nguyện cũng có thể tổ chức thành một hệ thống riêng biệt với quỹ BHXH bắt buộc, theo đó cơ quan BHXH không quản lý quỹ BHXH tự nguyện

Quản lý BHXH tự nguyện

Quản lý BHXH tự nguyện có thể được hiểu một cách khái quát đó chính

Trang 34

28

là sự tác động của các chủ thể nhân danh quyền lực nhà nước, theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện chức năng nhà nước trong lĩnh vực BHXH tự nguyện Quản lý BHXH tự nguyện cần thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp phù hợp với hệ thống quản lý chung đối với nền kinh tế Quản lý Nhà nước về BHXH tự nguyện được thể hiện thông qua các nội dung chủ yếu sau:

- Nhà nước thống nhất quản lý các hoạt động BHXH tự nguyện trên phạm vi toàn quốc, thông qua việc nhà nước ban hành các chính sách, pháp luật nhằm định hướng các hoạt động của BHXH tự nguyện Đồng thời, nhà nước thông qua các cơ quan chức năng, quyền lực của mình đề ra các văn bản pháp luật như Luật Bảo hiểm xã hội, các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện (nghị định, thông tư…) và các văn bản dưới luật để thực thi chính sách, pháp luật BHXH tự nguyện trên phạm vi toàn quốc

- Nhà nước bảo hộ và tài trợ cho các hoạt động của BHXH tự nguyện, thông qua việc hỗ trợ thêm nguồn quỹ BHXH tự nguyện để đảm bảo thực hiện chính sách

an sinh xã hội và đảm bảo cho BHXH tự nguyện không bị đổ vỡ trước những tác động của tình hình kinh tế - xã hội và những tác động của kinh tế thị trường

- Nhà nước quản lý BHXH tự nguyện thông qua việc định hướng các hoạt động BHXH tự nguyện phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kì Việc định hướng thông qua việc đề ra mô hình tổ chức hoạt động và định hướng tài chính BHXH tự nguyện

- Nhà nước thống nhất quản lý BHXH từ trung ương đến địa phương Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp đối với BHXH tự nguyện thông qua những nội dung cơ bản sau:

+ Quản lý quỹ BHXH tự nguyện nhằm đảm bảo cho quỹ được đảm bảo

an toàn; thực hiện thu - chi đúng quy định và hạn chế tối đa những thất thoát quỹ BHXH tự nguyện Quản lý quỹ chủ yếu là quản lý công tác thu – chi và

Trang 35

có những nhu cầu phát sinh Cơ quan BHXH có đầy đủ thông tin về người thụ hưởng BHXH tự nguyện để thực hiện các khoản chi đúng quy định và nhằm hạn chế những rủi ro và lạm dụng trong việc chi các chế độ BHXH tự nguyện Bên cạnh đó, cơ quan quản lý BHXH tự nguyện chịu trách nhiệm quản lý các nghiệp vụ thu - chi BHXH tự nguyện và thực hiện các nghiệp vụ kế toán - tài chính BHXH tự nguyện theo chính sách tài chính của quốc gia

+ Trên thế giới hiện nay có nhiều mô hình BHXH tự nguyện, việc áp dụng

mô hình quản lý như thế nào tùy thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia Tuy nhiên, dù quản lý theo mô hình nào thì mỗi quốc gia đều phải thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động BHXH tự nguyện Việc thanh tra, kiểm tra

do các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện Tuy nhiên, ngay trong các cơ quan BHXH vẫn có hoạt động thanh tra, kiểm tra để đảm bảo cho các hoạt động của BHXH tự nguyện được thực hiện đúng quy định của pháp luật

1.2.4 Vai trò pháp luật BHXH tự nguyện

Trong những năm gần đây, hệ thống các văn bản pháp luật về chính

sách ASXH được ban hành tương đối đầy đủ với phạm vi điều chỉnh bao quát

ở các lĩnh vực trợ giúp xã hội, bảo hiểm xã hội (Luật BHXH, Luật Bảo hiểm

y tế …) Luật Bảo hiểm xã hội được ban hành từ tháng 6 năm 2006 và có hiệu lực thi hành từ tháng 1 năm 2007, riêng BHXH tự nguyện có hiệu lực thi hành

Trang 36

cá nhân, tạo điều kiện để thu hút các nguồn lực lao động vào nền sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển

Pháp luật BHXH tự nguyện tạo cơ hội để thực hiện trách nhiệm trợ

giúp khó khăn cho các thành viên trong xã hội Nhờ đó, giảm bớt những rủi ro

trong lao động sản xuất, trong đời sống của người lao động và khắc phục bớt những hậu quả xảy ra ở mức độ cần thiết Ngoài ra, người tham gia BHXH tự nguyện không chỉ đảm bảo an toàn về mặt thu nhập cho bản thân họ khi gặp phải những rủi ro trong cuộc sống mà còn thực hiện tinh thần tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách, san sẻ với nhau trong cộng đồng

BHXH tự nguyện tạo điều kiện để người sử dụng lao động thể hiện trách nhiệm đối với người lao động Mặc dù người lao động không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc nhưng người sử dụng lao động có trách nhiệm gián tiếp trong việc trả lương đúng kì cho người lao động để người lao động tham gia BHXH tự nguyện

BHXH tự nguyện góp phần thực hiện công bằng xã hội, là công cụ phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH tự nguyện, nhờ đó tạo sự công bằng giữa những người tham gia BHXH bắt buộc và những người lao động tự do, tự hành nghề tham gia BHXH tự nguyện

Trang 37

31

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.1 Thực trạng pháp luật BHXH tự nguyện

2.1.1 Về đối tượng tham gia BHXH tự nguyện

Theo Quy định ta ̣i khoản 5, điều 2, Luật BHXH 2006: người tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc Như vậy, điều kiện tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi đối với nam và từ

đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi đối với nữ và họ không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc thì được pháp luật cho phép tham gia BHXH tự nguyện Những quy định như trên đã tạo điều kiện để mở rộng tối đa đối tượng tham gia BHXH tự nguyện và hạn chế sự trùng lắp với các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc

Đồng thời, theo Điều 2, Nghị định số 190/2007/NĐ-CP và Thông tư số 02/2008/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh và xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 190/2007/NĐ-CP đã quy định cụ thể đối tượng tham gia BHXH tự nguyện bao gồm:

- Người lao động làm việc hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng;

- Cán bộ không chuyên trách cấp xã, thôn và tổ dân phố;

- Người tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, kể cả xã viên không hưởng tiền lương, tiền công trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

- Người lao động tự tạo việc làm bao gồm những người tự tổ chức hoạt động lao động để có thu nhập cho bản thân;

Trang 38

32

- Người lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó chưa tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng đã nhận bảo hiểm xã hội một lần;

- Người tham gia khác

Mặc dù đối tượng thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện rộng, nhưng trên thực tế thì số người tham gia BHXH tự nguyện còn rất thấp (chiếm khoảng 0,22% số đối tượng thuộc diện tham gia) Thực trạng này có thể lý giải ở một số nguyên nhân sau:

+ BHXH tự nguyện được triển khai từ năm 2008, nhưng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật BHXH tự nguyện còn hạn chế, nên đa số người dân chưa biết nhiều đến chính sách này

+ Đối tượng của BHXH tự nguyện là lao động tự do và nông dân, đối tượng này có thu nhập hằng tháng thấp, thường không ổn định, trong khi đó mức đóng BHXH tự nguyện lại khá cao

+ Việc đăng ký tham gia BHXH tự nguyện tại cơ quan BHXH tự nguyện các quận, huyện cũng tạo cho người lao động có tâm lý ngại tham gia

Pháp luật của nước ta đã quy định khá cụ thể, chi tiết về đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, theo quy định này thì đối tượng những người nước ngoài không được tham gia BHXH tự nguyện mà phải là công dân Việt Nam Pháp luật BHXH của nước ta được xây dựng nhằm mục đích thực hiện chính sách giảm nghèo, trợ giúp khó khăn, đảm bảo an sinh xã hội của đất nước Chính vì mục tiêu này thì người nước ngoài không thuộc đối tượng tham gia BHXH tự nguyện Đồng thời, pháp luật cũng đã quy định đối tượng tham gia BHXH tự nguyện là những người lao động làm việc hợp đồng có thời hạn dưới 3 tháng, những người lao động tự tạo việc làm, những người tự tổ chức hoạt động lao động để có thu nhập cho bản thân đây là những người lao

Trang 39

33

động mà việc làm của họ bấp bênh, không ổn định, dễ xảy ra những rủi ro trong cuộc sống Việc tham gia BHXH tự nguyện sẽ giúp họ giảm bớt phần nào khó khăn khi xảy ra những rủi ro, bất trắc trong cuộc sống

Pháp luật Việt Nam đã quy định khá cụ thể về đối tượng tham gia BHXH tự nguyện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện pháp luật Tuy nhiên, việc liệt kê cụ thể, rõ ràng từng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện sẽ dễ xảy ra việc thiếu sót đối tượng Chính vì vậy, tùy vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mà luật pháp cần điều chỉnh, sửa đổi,

bổ sung đối tượng tham gia BHXH tự nguyện để đáp ứng được yêu cầu của người dân

Quy định nêu trên có thể thấy rằng đối tượng mà BHXH tự nguyện hướng đến là đông đảo người lao động làm việc ở khu vực phi chính thức Độ tuổi và thời gian tham gia giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện tuy có

sự tương đồng ở các đối tượng đặc thù như cán bộ không chuyên trách, nhưng việc thực hiện các chính sách hỗ trợ như ở tỉnh Bình Định, Quảng Nam tại Quyết định số 02/2010/QĐ-UB ngày 19/01/2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam và Quyết định số 22/2010/QĐ-UB ngày 8/9/2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Định đã làm giảm đi tính hấp dẫn đối với loại hình BHXH

tự nguyện Chính vì vậy, pháp luật của nước ta cần điều chỉnh để phù hợp đối với từng chế độ, nhất là đối với chế độ hưu trí, nhằm góp phần nâng cao số lượng người tham gia BHXH tự nguyện

Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện theo Luật BHXH 2006 là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc đối tượng quy định tham gia BHXH bắt buộc Như vậy, hầu hết lực lượng lao động là đối tượng tham gia BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện Số người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện năm 2013 cả nước chỉ đạt 170.600 người [30], [35],

Trang 40

34

con số này quá thấp so với số lượng 53 triệu người lao động ở nước ta [28] Riêng tại thành phố Đà Nẵng số người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện năm 2013 chỉ đạt 631 người [12, tr.12], con số này còn khá thấp so với số lượng 520.400 người lao động và so với 483.731 người lao động có việc làm ở thành phố Đà Nẵng [18, tr.32-33] Một trong những nguyên nhân dẫn đến số lượng người lao động tham gia BHXH tự nguyện thấp chính là do điều kiện thu nhập của người lao động không ổn định, nhiều rủi ro tiềm ẩn trong nghề nghiệp, do đó rất khó khăn cho người lao động trong việc thực hiện các cam kết đối với việc tham gia BHXH tự nguyện Mặc khác, người muốn tham gia phải trực tiếp liên hệ với các cơ quan bảo hiểm để thực hiện nghĩa vụ và chịu trách nhiệm đối với việc cam kết Hiện nay chưa có cơ quan nào được ủy quyền để trợ giúp cho người lao động trong việc thực hiện các thủ tục tham gia BHXH tự nguyện và trợ giúp cho người lao động trong những lúc người lao động bị thất nghiệp hoặc mất mùa… Chính vì vậy, chính sách BHXH tự nguyện cần được triển khai rộng rãi hơn nữa để gia tăng số lượng người dân Việt Nam nói chung và người dân thành phố Đà Nẵng nói riêng được thụ hưởng BHXH và cần có cơ chế khuyến khích các cơ quan, hiệp hội trợ giúp cho người lao động trong việc thực hiện các cam kết về BHXH tự nguyện Làm được điều này sẽ làm giảm đi sự bất bình đẳng giữa quyền và nghĩa vụ của công dân, giữa các thành phần kinh tế trong xã hội và góp phần thực hiện tốt hơn chính sách an sinh xã hội, xoá đói giảm nghèo, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước

2.1.2 Về các chế độ BHXH tự nguyện

Pháp luật Việt Nam quy định BHXH tự nguyện gồm chế độ hưu trí và chế độ tử tuất Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách BHXH tự nguyện đối với chế độ hưu trí và chế độ tử tuất như hiện nay là phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước Trong thời gian đến, tuỳ theo tình hình thực hiện BHXH tự

Ngày đăng: 16/07/2015, 15:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 2: Số thu BHXH tự nguyện - Thực trạng thi hành pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện tại thành phố Đà Nẵng  Luận văn ThS. Luật
Bảng s ố 2: Số thu BHXH tự nguyện (Trang 89)
Bảng số 3:  Số chi BHXH tự nguyện                                                                                                                                       ĐVT: đồng - Thực trạng thi hành pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện tại thành phố Đà Nẵng  Luận văn ThS. Luật
Bảng s ố 3: Số chi BHXH tự nguyện ĐVT: đồng (Trang 90)
Bảng số 4: Số đối tượng đã tham gia BHXH bắt buộc nhưng chưa - Thực trạng thi hành pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện tại thành phố Đà Nẵng  Luận văn ThS. Luật
Bảng s ố 4: Số đối tượng đã tham gia BHXH bắt buộc nhưng chưa (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w