Cho đến nay, Bộ luật lao động 2012 đã quy định khá chi tiết về đình công và giải quyết đình công nhằm hướng đến sự hài hòa trong quan hệ lao động, đảm bảo quyền đình công trong khuôn kh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
- 0 0 0 -
NGUYỄN THI ̣ NGỌC NGHĨA
ĐÌNH CÔNG VÀ GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM - THƢ̣C TRANG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ NGỌC NGHĨA
ĐÌNH CÔNG VÀ GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM – THỰC TRẠNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Hoài Thu
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thi ̣ Ngo ̣c Nghi ̃a
Trang 4MỤC LỤC Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, đồ thị
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài 4
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 4
5 Mục đích và đối tượng nghiên cứu 4
6 Bố cục của luận văn 5
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG 6
1.1 Những vấn đề cơ bản về đình công 6
1.1.1 Khái niệm đình công 6
1.1.2 Các dấu hiệu cơ bản của đình công 10
1.1.3 Phân loại đình công 16
1.2 Khái quát chung về giải quyết đình công 18
1.2.1 Khái niệm giải quyết đình công 18
1.2.2 Các phương thức giải quyết đình công 21
1.2.3 Mục đích của việc giải quyết đình công 24
1.3 Pháp luật về đình công và giải quyết đình công của một số nước trên thế giới và những kinh nghiê ̣m cho Viê ̣t Nam 26
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG, GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG VÀ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 37
2.1 Thực tra ̣ng pháp luâ ̣t về đình công 37
2.1.1 Phạm vi, đối tượng được phép đình công 37
Trang 52.1.2 Thời điểm có quyền đình công 41
2.1.3 Tổ chức và lãnh đạo đình công 44
2.1.4 Trình tự, thủ tục đình công 47
2.1.5 Những hành vi bị cấm trước, trong và sau khi đình công 50
2.1.6 Đình công bất hợp pháp và hậu quả pháp lý 54
2.2 Thực tra ̣ng pháp luâ ̣t về giải quyết đình công 61
2.2.1 Thẩm quyền xét tính hợp pháp của cuộc đình công 61
2.2.2 Quyền yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công 62
2.2.3 Chuẩn bị giải quyết đình công 63
2.2.4 Thủ tục giải quyết đình công 64
2.3 Thực tiễn đình công và giải quyết đình công trong các doanh nghiê ̣p trên đi ̣a bàn thành phố Đà Nẵng 66
2.3.1 Thực tra ̣ng đình công 68
2.3.2 Thực tiễn giải quyết đình công 80
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 85
3.1 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiê ̣u quả pháp luật đình công và giải quyết đình công ở Viê ̣t Nam 85
3.2 Một số kiến nghi ̣ nhằm nâng cao hiê ̣u quả pháp luâ ̣t đình công và giải quyết đình công qua thực tiễn ta ̣i thành phố Đà Nẵng 90
3.2.1 Về các quy định pháp luật 90
3.2.2 Về tổ chức thực hiện 99
KẾT LUẬN 103 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC CHƢ̃ VIẾT TẮT
Lao đô ̣ng - Thương binh và Xã hô ̣i: LĐ - TB & XH
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, ĐỒ THỊ
Số hiệu Tên bảng, sơ đồ, đồ thị Trang
doanh nghiệp
73
Sơ đồ 2.1 Quy trình các bước giải quyết tranh chấp lao đô ̣ng tâ ̣p
thể về lợi ích p hải thực hiện trước khi tiến hành các thủ tục đình công
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự phát triển sôi động của kinh tế thị trường, đình công là một hiện tượng xã hội tất yếu Quyền đình công được người lao động sử dụng như một biện pháp nhằm đấu tranh với người sử dụng lao động để bảo vệ quyền lợi của mình trong quá trình thực hiện quan hệ lao động
Về phương diện pháp lý, đình công được đề cập đến trong các công ước quốc tế như là một trong những quyền cơ bản của người lao động Ngoài ra, vấn đề đình công còn được ghi nhận trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới Những quy định về đình công và giải quyết đình công từng bước được ghi nhận, sửa đổi, bổ sung trong pháp luật Việt Nam qua từng giai đoạn nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới Cho đến nay, Bộ luật lao động 2012 đã quy định khá chi tiết về đình công và giải quyết đình công nhằm hướng đến
sự hài hòa trong quan hệ lao động, đảm bảo quyền đình công trong khuôn khổ pháp luật, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực của đình công
Những năm qua, tình hình đình công diễn ra ở nhiều nơi trong cả nước với nhiều vấn đề phức tạp như sử dụng bạo lực trong đình công, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người lao động, đập phá tài sản, máy móc, nhà xưởng, lôi kéo, tụ tập, kích động, gây mất trật tự…và ngày càng có xu hướng gia tăng Cùng với quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế, thành phố Đà Nẵng đang trên đà phát triển khá mạnh mẽ Hiện nay, thành phố Đà Nẵng tập trung khá nhiều khu công nghiệp, phát triển đa dạng về ngành nghề và thu hút một
số lượng lớn người lao động đã đóng góp rất nhiều vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương Tuy vậy, thành phố Đà Nẵng cũng là một trong nhiều địa phương diễn ra các cuộc đình công trái luật, phức tạp với đông người tham gia gây ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế, trật tự an ninh xã hội,
Trang 9môi trường đầu tư…Thực tế cho thấy, việc giải quyết hậu quả của đình công trái luật là vấn đề nan giải, mất rất nhiều thời gian, nhân lực, vật lực của toàn
xã hội Chính vì thế, hiện tượng đình công diễn ra ở nhiều doanh nghiệp trên địa bàn thành phố trong thời gian qua đã đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu
và giải quyết trong quá trình thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Xuất phát từ thực tế đó, việc nghiên cứu lý luận về đình công và giải quyết đình công, đánh giá tác động của pháp luật hiện hành về vấn đề này trên thực tế địa bàn thành phố Đà Nẵng là thực sự cần thiết và góp phần nâng cao
hiệu quả pháp luật Với những lý do đó, tác giả chọn đề tài “Đình công và
giải quyết đình công trong pháp luật lao động Việt Nam – Thực trạng tại thành phố Đà Nẵng” để làm luận văn thạc sỹ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến thời điểm hiện nay, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về pháp luật đình công và giải quyết đình công, điển hình là một số công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và bài viết như:
- Luận án tiến sĩ với đề tài “ Pháp luật về đình công và giải quyết đình
công ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”
(2006) của tác giả Đỗ Ngân Bình Luận án này đã nghiên cứu những vấn đề
về lý luận, thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
- Về luận văn thạc sỹ có: đề tài “Đình công và giải quyết đình công theo
Bộ luật lao động năm 2012” (2013) của tác giả Hà Thị Hoa Phượng; đề tài
“Những điểm mới về tranh chấp lao động và đình công trong Bộ luật lao động 2012” (2013) của tác giả Chử Thị Xuyên
- Đề tài khoa học “Pháp luật về quan hệ lao động Việt Nam – Thực trạng
Trang 10và phương hướng hoàn thiện” (2012) của PGS.TS Lê Thị Hoài Thu - Khoa
luật Đại học quốc gia Hà Nội
- Về các bài viết đề cập đến vấn đề đình công và giải quyết đình công
trên các tạp chí nghiên cứu như: “Đánh giá quy định của Bộ luật lao động về
đình công và giải quyết đình công” của tác giả Nguyễn Xuân Thu (Tạp chí
Luật học, số 09/2009); “Thực trạng và hướng giải quyết đình công” của tác giả Đào Văn Hộ (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 77/2006); “Mấy ý kiến về
tranh chấp lao động và đình công ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Kim
Phụng (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4/2004); “Thực trạng tranh chấp lao
động và đình công ở Việt Nam nhìn từ góc độ quản lý doanh nghiệp và vai trò của tổ chức công đoàn” của tác giả Lê Văn Hảo (Tạp chí Tâm lý học, số
5/2011); “Sử dụng hành động công nghiệp trong thương lượng tập thể ở Thụy
Điển và việc sử dụng đình công ở Việt Nam” của tác giả Hoàng Thị Minh
(Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 204/2011)
Các công trình nghiên cứu trên đây đã giải quyết những vấn đề cơ bản
về đình công, giải quyết đình công cả trên bình diện lý luận và thực tiễn Dưới nhiều góc độ khác nhau, các tác giả đã đi sâu vào phân tích một vài khía cạnh của vấn đề; hoặc nghiên cứu trên cơ sở các quy định của Bộ luật lao động
1994 hay gần đây là các nghiên cứu, bài viết về những nội dung mới theo Bộ Luật lao động 2012 Tuy vậy, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về vấn đề đình công và giải quyết đình công trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Chính vì thế, kế thừa những giá trị khoa học của các công trình nghiên cứu trước đó, luận văn này nghiên cứu những nội dung pháp lý cơ bản về đình công và giải quyết đình công theo quy định của pháp luật hiện hành (Bộ luật lao động 2012) và đánh giá tác động của nó trong quá trình thực thi tại thành phố Đà Nẵng nhằm đưa ra những giải pháp cụ thể cho vấn đề này
Trang 113 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về đình công và giải quyết đình công và đặc biệt những nội dung cơ bản về đình công và giải quyết đình công trong Bộ luật lao động 2012 Đồng thời, luận văn còn làm rõ thực trạng đình công, giải quyết đình công trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về định hướng phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như: phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, diễn giải, qui nạp…làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu
5 Mục đích và đối tượng nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về đình công và giải quyết đình công – vấn đề đang được xã hội quan tâm Đồng thời, luận văn còn đánh giá thực trạng, phân tích những nguyên nhân, vướng mắc trong thực tiễn
áp dụng các quy định về đình công và giải quyết đình công trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất những giải pháp mang tính khả thi trong việc áp dụng các quy định về đình công và giải quyết đình công trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng
* Đối tượng nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về đình công và giải quyết đình công;
Trang 12- Thực trạng đình công và thực tiễn giải quyết đình công trên địa bàn thành phố Đà Nẵng;
- Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề đình công có hiệu quả
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về đình công và giải quyết đình công
Chương 2: Thực tra ̣ng pháp luâ ̣t về đình công , giải quyết đình công và thực tiễn ta ̣i thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Mô ̣t số giải pháp và kiến nghi ̣ nhằm nâng cao hiê ̣u quả thực
tại thành phố Đà Nẵng
Trang 13Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ GIẢI QUYẾT
ĐÌNH CÔNG
1.1 Như ̃ng vấn đề cơ bản về đình công
1.1.1 Khái niệm đình công
Trên bình diê ̣n quốc tế , Công ước về các quyền kinh tế , xã hội và văn hóa (1966) của Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã ghi nhận quyền đình công như
là một trong những đảm bảo quan trọng cùng với quyền làm việc , quyền của
Theo Điều 8 Công ước quốc tế về quyền kinh tế , xã hội và văn hóa của Liên hợp quốc (1966): “…quyền đình công được thực hiê ̣n với điều kiê ̣n phù hợp với pháp luâ ̣t của mỗi quốc gia”
Bên ca ̣nh đó, Tổ chức Lao đô ̣ng quốc tế (ILO) cũng nhìn nhận đình công
là biểu hiện của quyền tự do liên kết , quyền tổ chức của người lao đô ̣ng trong các Công ước số 87 về quyền tự do hiê ̣p hô ̣i và về viê ̣c bảo vê ̣ quyền được tổ chức (1948), Công ước số 98 về áp du ̣ng những nguyên tắc của quyền tổ chức
và thương lượng tập thể (1949) Theo quan điểm của ILO , “Quyền đình công
là một trong những biện pháp thiết yếu của người lao động và các tổ chức
mình, không chỉ nhằm đạt tới những điều kiê ̣n làm viê ̣c tốt hơn hoặc có những yêu cầu tập thể mang tính chất nghề ngh iê ̣p, mà còn nhằm tìm ra những giải pháp cho những vấn đề chính sách kinh tế và xã hội và các vấn đề lao động bất kỳ loại nào mà người lao động trực tiếp quan tâm ” [46, tr.199] Dưới góc
đô ̣ của mô ̣t tổ chức quốc tế , nhâ ̣n đi ̣nh của ILO về đình công có nô ̣i hàm khá
rô ̣ng, không giới ha ̣n ở viê ̣c mô tả các dấu hiê ̣u đă ̣c thù để phân biê ̣t đình công với các hành đô ̣ng công nghiê ̣p khác mà chủ yếu nhấn ma ̣nh đến pha ̣m vi ,
Trang 14mục đích của đình công Với những quy đi ̣nh mở , quan điểm của ILO vì vâ ̣y
có ý nghĩa định hướng , bởi xét đến cùng , viê ̣c ghi nhâ ̣n , điều chỉnh vấn đề đình công còn phải tính đến các điều kiê ̣n kinh tế, chính trị, xã hội, yếu tố đă ̣c thù trong văn hóa pháp lý…của mỗi quốc gia
Mô ̣t số nước như Đức , Australia, Anh vấn đề đình công được xem xét qua án lê ̣ Trong khi đó , nhiều nước trên thế giới la ̣i “mô hình hóa” thành những quy đi ̣nh cu ̣ thể và có sự khác nhau khi đưa ra quan niê ̣m về đình
công Hoa Kì cho rằng: “đình công bao gồm mọi cuộc đình công do người lao
động tiến hành hoặc những hành vi ngừng viê ̣c khác (bao gồm hành vi ngừng viê ̣c do thỏa ước tập thể quá hạn ) và mọi cuộc đình công của người lao động hoặc những hành vi làm gián đoạn sản xuất” [46, tr.188] Hoă ̣c đơn giản hơn
khi không đưa ra những liê ̣t kê chi tiết , Luâ ̣t quan hê ̣ lao đô ̣ng của Thái Lan
quy đi ̣nh về đình công như sau : “Đình công là viê ̣c những người lao động
ngừng công viê ̣c đồng loạt với tính chất tạm thời do có tranh chấp lao động”
[46, tr.187] Một cách cu ̣ thể hơn, Bô ̣ luâ ̣t lao đô ̣ng của Liên bang Nga đưa ra
khái niệm: “Đình công là viê ̣c tập thể lao động tự nguyê ̣n từ chối tạm thời đối
với viê ̣c thực hiê ̣n trách nhiê ̣m lao động của mình (một phần hoặc toàn bộ ) nhằm mục đích giải quyết tranh chấp lao động tập thể” [46, tr.189] Mă ̣c dù
vẫn chưa thể đưa ra mô ̣t sự nhìn nhâ ̣n nhất quán và khái quát về mặt khoa học đối với thuâ ̣t ngữ đình công , nhưng các quan niê ̣m về đình công nói trên ít nhiều cũng đã đề câ ̣p đến mô ̣t số dấu hiê ̣u như ngừng viê ̣c ta ̣m thời , tự nguyê ̣n, mục đích giải quyết tranh chấp lao động
Ở Việt Nam , theo Từ điển luật học : “Đình công là đỉnh cao của tranh
chấp lao động tập thể , được biểu hiê ̣n ở sự ngừng viê ̣c tập thể Đình công là biê ̣n pháp mạnh mẽ, quyết liê ̣t của tập thể lao động để đòi người sử dụ ng lao động thực hiê ̣n đúng nghĩa vụ của mình trong quan hê ̣ lao động, đòi thỏa mãn các yêu sách và các vấn đề trong quan hệ lao động” [45, tr.160]
Trang 15Trong pháp luâ ̣t Viê ̣t Nam , quyền đình công lần đầu tiên được ghi nhâ ̣n trong Bô ̣ luâ ̣t lao đô ̣ng 1994 và được bổ sung , chỉnh sửa năm 2006 Đến Bô ̣
luâ ̣t lao đô ̣ng 2012, đình công tiếp tu ̣c được ghi nhâ ̣n và được hiểu là : “sự
ngừng viê ̣c tạm thời , tự nguyê ̣n và có tổ chức của tập thể lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động” (Điều 209)
Không thể không thừa nhâ ̣n rằng đình công là mô ̣t hiê ̣n tượng khá phức tạp, tác động của nó không chỉ giới hạn trong phạm vi đối với “quan hệ chủ – thợ” cũng như không phải chỉ diễn ra trong lĩnh vực kinh tế Chính vì vậy , vấn đề đình công cần được phân tích, đánh giá dưới nhiều góc đô ̣ khác nhau
Dưới góc độ kinh tế , đình công được xem là biê ̣n pháp đấu tranh của
NLĐ trong nền kinh tế thi ̣ trường nhằm bảo vê ̣ các lợi ích phát sinh từ
QHLĐ…Trong QHLĐ, các bên vừa mâu thuẫn vừa thống nhất về mặt lợi ích : NSDLĐ luôn theo đuổi lợi nhuâ ̣n tối đa , trong khi đó , lợi ích thiết thân mà NLĐ hướng tới chủ yếu và trước hết là tiền lương , thời giờ làm viê ̣c , nghỉ ngơi, các chế độ bảo hiểm xã hội , bảo hiểm y tế… Vì vậy , các bên trong QHLĐ có xu hướng đấu tranh với nhau để quyết đi ̣nh lợi ích kinh tế của
chính mình Tuy nhiên, nếu xét mô ̣t cách toàn cu ̣c thì giữa các bên vẫn tồn ta ̣i
mô ̣t lợi ích chung đòi hỏi cần có sự hợp tác bền vững , lâu dài trong QHLĐ Chính vì thế , NLĐ phải lựa cho ̣n mô ̣t giải pháp phù hợp nhằm đảm bảo vẫn
có thể vừa duy trì quan hệ lao động vừa bảo vệ được lợi ích của mình một khi không thể đa ̣t được những thỏa thuâ ̣n cần thiết
Với giải pháp đình công , hâ ̣u quả là tình tra ̣ng sản xuất bi ̣ đình trê ̣ , hoạt
đô ̣ng điều hành sản xuất kinh doanh sẽ gặp nhiều trở ngại, doanh nghiê ̣p gánh chịu những tổn thất trước khi ổn định lại trật tự Như vâ ̣y, với khả năng gây ra thiê ̣t ha ̣i về kinh tế hay đe do ̣a gây thiê ̣t ha ̣i về kinh tế , đình công ta ̣o ra áp lực đối với NSDLĐ, đòi hỏi phải có sự cân nhắc về mă ̣t lợi ích trước những yêu sách của tập thể lao động Chính vì vậy, tuy không phải là biê ̣n pháp duy nhất
Trang 16để bảo vệ lợi ích kinh tế hoặc lợi ích nghề nghiệp , nhưng trong nhiều trường hợp khi mâu thuẫn về mă ̣t lợi ích đã trở nên đỉnh điểm , tranh chấp lao đô ̣ng rơi vào bế tắc , tâ ̣p thể lao đô ̣ng sử du ̣ng đình công như là phương thức đấu
tranh kinh tế với NSDLĐ Bởi vâ ̣y, có quan điểm cho rằng: “Từ góc nhìn của
lý thuyết mặc cả, đình công là một thủ thuật trong một chiến lược có tính toán
thánh hay xấu xa , nó chỉ là một phương cách mà một nhóm thường yếu thế hơn dùng để đòi hỏi lợi ích cho mình” [31]
Dưới góc độ xã hội , đình công là sự thể hiê ̣n mang tính xã hô ̣i của mô ̣t
vấn đề kinh tế Trước hết , đình công là hiê ̣n tượng tâ ̣p thể , bởi lẽ, nó được thực hiê ̣n thông qua hành vi ngừng viê ̣c của nhiều người lao đô ̣ng với ý chí tự nguyê ̣n Các cuộc đình công có xu hướng tập hợp sự tham gia đông đảo của những NLĐ, thể hiê ̣n khả năng liên kết và tổ chức Điều này cũng phù hợp
với nhâ ̣n xét của mô ̣t nghiên cứu về đình công ở Viê ̣t Nam : “Mặc dù đình
công tự phát nhưng các cuộc đình công lại được tổ chức rất tốt , thể hiê ̣n sự đoàn kết cao trong công nhân” [15, tr.6] Trên thực tế , các cuộc đình công
được tổ chức đã thu h út hàng trăm đến hàng ngàn người tham gia như các cuô ̣c đình công ở các công ty Sam Yang (thành phố Hồ Chí Minh ), Doanh Đức (Bình Dương), Keyhinge Toy’s (Đà Nẵng)…
Nghiên cứu về mă ̣t tác đô ̣ng xã hô ̣i thì đình công, mô ̣t mă ̣t đem lại những
QHLĐ lành ma ̣nh , bảo vệ những giá trị tiến bộ xã hội trong lĩnh vực lao
đô ̣ng…Nhưng mă ̣t khác , đình công cũng tiềm ẩn khả năng gây ra các tác
đô ̣ng tiêu cực về mă ̣t xã hô ̣i Trong nhiều trường hợp , đình công với đông người tham gia diễn biến rất phức ta ̣p gây nên tình tra ̣ng mất an ninh trâ ̣t tự , rối loa ̣n xã hô ̣i và thâ ̣m chí như Ai Câ ̣p khủng hoảng chính tri ̣ bắt đầu từ đình công lan rô ̣ng và không thể kiểm soát
Trang 17Dưới góc độ pháp lý , trước hết cần phải khẳng đi ̣nh : đình công là mô ̣t
trong những quyền cơ bản của con người Thứ hai, là quyền của cá nhân NLĐ nhưng đình công chỉ được thừa nhâ ̣n khi nó được thực hiê ̣n thông qua hành vi mang tính tâ ̣p thể: sự ngừng viê ̣c của tâ ̣p thể lao đô ̣ng mô ̣t cách tự nguyê ̣n , có tổ chức với những mu ̣c tiêu chung Ngoài ra, quyền đình công được sử du ̣ng như là “vũ khí cuối cùng” tron g những điều kiê ̣n nhất đi ̣nh , do vâ ̣y, nó phải đảm bảo trong khuôn khổ pháp luâ ̣t và phải tuân theo những trình tự , thủ tục nhất đi ̣nh do pháp luâ ̣t quy đi ̣nh
Từ những vấn đề trên cho thấy , đình công là hiê ̣n tượng khách quan trong nền kinh tế thi ̣ trường Sự phát sinh, tồn ta ̣i và thay đổi của nó gắn liền với các điều kiê ̣n kinh tế – xã hội và trong một chừng mực nhất định nó có sự
tranh chấp lao đô ̣ng tâ ̣p thể Mă ̣t khác, đình công xảy ra sau khi tranh chấp lao
đô ̣ng tâ ̣p thể đã được giải quyết theo những thủ tu ̣c nhất đi ̣nh mà tâ ̣p thể lao
đô ̣ng không thỏa mãn Do vâ ̣y, đình công là hâ ̣u quả củ a quá trình giải quyết tranh chấp lao đô ̣ng tâ ̣p thể không thành Đình công là phương tiê ̣n pháp lý hữu hiê ̣u để tâ ̣p thể lao đô ̣ng buô ̣c người sử du ̣ng lao đô ̣ng phải thực hiê ̣n đúng, đầy đủ các nghĩa vu ̣ theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t , các thỏa thuận với người lao đô ̣ng và các quy chế do người sử du ̣ng lao đô ̣ng ban hành hoă ̣c phải đáp ứng các yêu sách do họ đưa ra Tuy nhiên, về mă ̣t nhâ ̣n thức , không được coi đây là phương thức duy nhất để giải quyết tranh chấp lao đô ̣ng Đình công chỉ được coi là “vũ khí” cuối cùng , bất đắc dĩ của người lao đô ̣ng trong cuô ̣c đấu tranh kinh tế với người sử du ̣ng lao đô ̣ng
1.1.2 Các dấu hiệu cơ bản của đình công
Đình công được nhâ ̣n diê ̣n qua mô ̣t số dấu hiê ̣u cơ bản sau:
Thứ nhất , đình công biểu hiê ̣n thông qua sự ngừng viê ̣c tạm thời của nhiều NLĐ
Trang 18Đình công trước hết biểu hiê ̣n qua viê ̣c NLĐ phản ứng bằng cách không thực hiê ̣n nghĩa vu ̣ lao đô ̣ng mà không được sự đồng ý của NSDLĐ Như vâ ̣y, khác với việc chấm dứt QHLĐ , sự ngừng viê ̣c trong đình công xuất phát từ ý chí của NLĐ , theo đó NLĐ tự đưa ra quyết đi ̣nh cho chính mình chứ không phải là hậu quả của một sự áp đặt từ bên ngoài Mă ̣t khác, sự ngừng viê ̣c này mang tính chất ta ̣m thời và NLĐ vẫn mong muốn tiếp tu ̣c trở la ̣i làm viê ̣c sau khi tranh chấp được giải quyết Về lý thuyết , QHLĐ vẫn tồn ta ̣i nhưng dĩ nhiên là với mô ̣t nô ̣i dung mới sau đình công Do đó , có ý kiến cho rằng :
“Đình công có thể được coi là những cuộc khủng hoảng nhất thời và lành
mạnh của một mối quan hệ hợp tác lâu dài” [31]
Mô ̣t vấn đề nữa đă ̣t ra khi nghiên cứu về các biểu hiê ̣n của sự ngừng viê ̣c trên t hực tế đó là : tính triệt để hay mức độ cầm chừng trong ngừng việc
thừa nhâ ̣n sự ngừng viê ̣c không triê ̣t để như lãn công , làm việc cầm chừng nhằm đối phó la ̣i NSDLĐ cũng là biểu hiê ̣n của đình công Ngược la ̣i, nhiều nước trong đó có Viê ̣t Nam chỉ thừa nhâ ̣n ngừng viê ̣c triê ̣t để là dấu hiê ̣u của đình công Ngừng viê ̣c triê ̣t để hay có nơi go ̣i là ngừng viê ̣c hoàn toàn là vi ệc
tâ ̣p thể lao đô ̣ng sau khi tuyên bố đình công đã không thực hiê ̣n nghĩa vu ̣ lao
đô ̣ng trong thời gian đình công cho đến khi yêu sách được đáp ứng hay khi có
lê ̣nh quay trở la ̣i làm viê ̣c của tổ chức lãnh đa ̣o đình công hoă ̣c của c ơ quan nhà nước có thẩm quyền Còn đối với hiện tượng lãn công nhằm đối phó với NSDLĐ, pháp luật nhiều nước xem đây là hành vi vi phạm kỷ luật lao động kèm theo nguy cơ phải gánh chịu các hình thức kỷ luật lao động
Thư ́ hai, đình công phải có sự tự nguyê ̣n của NLĐ
Đình công là quyền của NLĐ và viê ̣c thực hiê ̣n quyền phải thực sự xuất phát từ ý chí của NLĐ Trong quá trình giải quyết tranh chấp lao đô ̣ng, NLĐ có quyền lựa cho ̣n các biê ̣n pháp khác hoặc sử dụng quyền tự vệ tập thể như đình
Trang 19công Dấu hiê ̣u này đã loa ̣i trừ các trường hợp ngừng viê ̣c của NLĐ không trên
cơ sở tự nguyê ̣n , tham gia đình công do bi ̣ cưỡng ép , bắt buô ̣c Thường thì trong các cuô ̣c đình công xuất hiê ̣n các hiê ̣n tượng kêu go ̣i, thu hút và vâ ̣n đô ̣ng những NLĐ khác tham gia, theo tôi điều này là phổ biến và có thể chấp nhâ ̣n Nhưng đối với các hành vi đe do ̣a, cưỡng ép, lừa dối, sử du ̣ng ba ̣o lực…nhằm buô ̣c NLĐ tham gia đình công hoă ̣c ngược la ̣i ngăn cản NLĐ thực hiê ̣n quyền đình công mô ̣t cách trái với ý chí tự nguyê ̣n của ho ̣ bi ̣ xem là hành vi vi pha ̣m pháp luật, vi pha ̣m nguyên tắc tự nguyê ̣n của đình công
Thứ ba, đình công có tính tập thể
Tính tập thể là một trong những căn cứ để có thể phân biệt đình công – biê ̣n pháp phản ứng của tâ ̣p thể lao đô ̣ng với sự đơn phương ngừng viê ̣c của
cá nhân Và lẽ dĩ nhiên cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với từng trường hợp là khác nhau Hành vi cá nhân NLĐ ngừng việc nhằm gây sức ép đối với
NSDLĐ là vi pha ̣m kỷ luâ ̣t lao đô ̣ng và bi ̣ xử lý kỷ luâ ̣t Mă ̣t khác, nếu chỉ đơn thuần là sự ngừng viê ̣c của nhiều người lao đô ̣ng nhưng giữa ho ̣ không có sự phối hợp cùng nhau , không có sự gắn kết bởi mu ̣c đích chung thì đó cũng chỉ là hiện tượng phản ứng mang tính cá nhân và phải chịu hậu quả pháp lý nhất đi ̣nh Điều đó nhấn ma ̣nh rằng tính tâ ̣p thể trong đình công được thể hiê ̣n không chỉ ở sự tham gia của nhiều NLĐ mà giữa ho ̣ phải có sự liên kết mâ ̣t
thiết, hành động vì mục tiêu chung Chẳng ha ̣n Cô ̣ng hòa Pháp thừa nhâ ̣n “sự
ngừng viê ̣c của một cá nhân người lao động vì n hững mục đích tập thể là đình công” [14, tr.34] Song hầu hết pháp luâ ̣t các nước quy đi ̣nh về số lượng
người tham gia đình công dựa trên tổng số NLĐ ta ̣i đơn vi ̣ sử du ̣ng lao đô ̣ng nơi diễn ra đình công và thường là theo mô ̣t tỷ lê ̣ xác đi ̣nh Ví dụ như Luật
Lao đô ̣ng của Chilê quy đi ̣nh cuô ̣c đình công phải được 2/3 đoàn viên công
đoàn trở lên đồng ý đình công [46, tr.189]
Trang 20Thứ tư, đình công có tính tổ chức
Đình công không phải là những phản ứng tức thì, bô ̣c phát bởi những
trước, có người lãnh đạo , có sự phối hợp hành động trong phạm vi những
NLĐ Tính tổ chức cũng biểu hiện qua việc xây dựng phương án hành đô ̣ng ,
nô ̣i dung yêu sách , nguyên tắc thực hiê ̣n , phân công nhiê ̣m vu ̣ , ấn định thời điểm đình công mô ̣t cách cu ̣ thể Trong quá trình chuẩn bi ̣ và tiến hành đình công luôn có sự lãnh đa ̣o, điều hành thống nhất của mô ̣t hay mô ̣t nhóm người Những người này đóng vai trò quan tro ̣ng , có khả năng tập hợp , thu hút sự ủng hộ của NLĐ…Tập thể lao động sẽ tuân thủ sự chỉ đạo của họ trong quá
trình đình công Trên thực tế, lãnh đạo đình công có thể là tổ chức công đoàn hay nghiê ̣p đoàn hoă ̣c cũng có thể do tâ ̣p thể lao đô ̣ng bầu ra ta ̣i thời điểm
chuẩn bi ̣ đình công Sức ảnh hưởng của nhân tố này đối với kết quả của cuô ̣c đình công và những vấn đề liên qu an là không thể phủ nhâ ̣n Chính vì thế, tư cách pháp lý của chủ thể lãnh đạo đình công được hầu hết pháp luâ ̣t các nước ghi nhâ ̣n Hiê ̣n nay, quyền tổ chức và lãnh đa ̣o đình công của tổ chức công
đoàn được nhiều nước thừa nhâ ̣n
Thứ năm, mục đích của đình công là nhằm đạt được yêu sách gắn với
lợi ích của tập thể lao động
Ngừng viê ̣c tâ ̣p thể là cách thức gây áp lực đối với NSDLĐ để đa ̣t được mu ̣c đích của cuô ̣c đình công Mục đích của những người tham gia đình công chính là mong muốn đa ̣t được những yêu sách về quyền và lợi ích mà ho ̣ quan tâm
Trong các cuô ̣c đình công , những yêu sách mà tâ ̣p thể lao đô ̣ng đưa ra thông thường là các quyền và lợi ích đ ang tranh chấp nằm trong pha ̣m vi của quan hê ̣ lao đô ̣ng , gắn với lợi ích nghề nghiê ̣p của ho ̣ Những yêu sách đó có thể là tiền lương , tiền thưởng, chế đô ̣ bảo hiểm y tế , bảo hiểm xã hội , điều kiê ̣n lao đô ̣ng , an toàn lao đô ̣ng , quyền tham gia hoa ̣t đô ̣ng công đoàn…Tuy
Trang 21vâ ̣y, những yêu sách của tâ ̣p thể lao đô ̣ng cũng có khi không nằm trong pha ̣m
vi quan hê ̣ lao đô ̣ng (xét theo nghĩa hẹp) như đình công hưởng ứng để ủng hô ̣ cho những yêu sách của cuô ̣c đình công khác, đình công để phản kháng chính sách của đảng cầm quyền, đưa ra những yêu sách về chính tri ̣…
Nhìn chung, pháp luật các nước đều rất quan tâm đến việc phân định phạm vi yêu sách trong các cuộc đình công Bởi lẽ, đình công là biê ̣n pháp
đấu tranh kinh tế – mô ̣t “vũ khí đặc biê ̣t” mà pháp luật trao cho NLĐ -
thường là bên yếu thế trong QHLĐ nhằm bảo vê ̣ các lợi ích kinh tế , lợi ích nghề nghiê ̣p, do vâ ̣y, sẽ là không phù hợp khi sử dụng quyề n đình công để đưa ra những yêu sách chính tri ̣ Chính vì vậy, mă ̣c dù hầu hết đều thừa nhâ ̣n quyền đình công của NLĐ, song các nước không thừa nhâ ̣n đình công vì mu ̣c đích chính tri ̣ Theo các án lê ̣ của tòa án lao đô ̣ng Pháp, mô ̣t cuô ̣c đình công
phải thể hiện yêu sách nghề nghiệp và do đó “những cuộc đình công thuần
túy chính trị cần được coi là bất hợp pháp” [51, tr.1186]
Nhìn nhận ở góc độ hẹp hơn , đối với những yêu sách của NLĐ trong
khách quan trong nền kinh tế thị trường , bản chất của đình công thường thay đổi qua các giai đoa ̣n, phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế – xã hội mà nó tồn tại Trong giai đoa ̣n đầu , đình công xuất phát chủ yếu từ các tranh chấp lao
đô ̣ng phát sinh phần lớn do NSDLĐ vi pha ̣m quyền hợp pháp của NLĐ , do
vâ ̣y các yêu sách đưa ra nhằm bảo vê ̣ quyền Nhưng mô ̣t khi năng lực thực thi pháp luâ ̣t trong lĩnh vực lao đô ̣ng của chính phủ được cải thiê ̣n cô ̣ng với tác
đô ̣ng của quá trình ca ̣nh tranh, sự khan hiếm nguồn nhân lực , sức ép ta ̣o ra từ các cuộc đình công…đã thúc đẩy tiến trình thực hiện các quyền hợp pháp của NLĐ trên thực tế thì lúc này tính chất những yêu sách của các cuô ̣c đình công cũng thay đổi NLĐ sẽ không còn hành đô ̣ng mô ̣t cách thu ̣ đô ̣ng để tự vê ̣ khi quyền hợp pháp bi ̣ vi pha ̣m mà sẽ đình công với mu ̣c đích nhằ m tăng cường
Trang 22lợi ích của mình Cụ thể, yêu sách trong đình công hướng tới những lợi ích cao hơn , điều kiê ̣n làm viê ̣c tốt hơn so với pháp luâ ̣t quy đi ̣nh hoă ̣c những
thỏa ước trước đó Hiê ̣n nay , xu hướng đòi thực hiê ̣n các quy ền được quy
đi ̣nh đang có chiều hướng giảm dần trong khi các yêu sách về nâng cao lợi ích xuất hiê ̣n ngày càng nhiều trong các cuô ̣c đình công Về mă ̣t tư tưởng , trong lĩnh vực lao động, những quan điểm về thực hiê ̣n quyền con n gười ngày càng
tiến đến những giá tri ̣ tiến bô ̣ mang tính nhân văn “Sự bảo vê ̣ lao động ngày
nay không còn đơn thuần và cổ điển theo kiểu chỉ chú trọng đến viê ̣c chống lại sự xâm hại từ phía chủ sử dụng lao động Điều quan trọng là tạo ra những điều kiê ̣n lao động tốt hơn cho sự phát triển những giá tri ̣ của con người đối với lao động” [34, tr.33] Thực tế này cũng nhâ ̣n được sự quan tâm của các
nhà nghiên cứu và tác động đến định hướng điều chỉnh của các nhà làm luâ ̣t
Những dấu hiê ̣u cơ bản trên không những có ý nghĩa trong viê ̣c nhâ ̣n diê ̣n đình công mà còn là cơ sở để có thể phân biê ̣t đình công với các hiê ̣n
tượng xã hô ̣i khác:
- Đi ̀nh công và lãn công: Lãn công cũng là một cách thức phản ứng của
tâ ̣p thể lao đô ̣ng khi có bất đồng với NSDLĐ và cũng có hình thức biểu hiê ̣n bên ngoài bằng hành vi ngừng việc tập thể Tuy vâ ̣y, xét về bản chất , đình công và lãn công có mộ t sự khác biê ̣t căn bản không thể đồng nhất Bởi lẽ, đình công biểu hiê ̣n qua sự ngừng viê ̣c triê ̣t để , có tổ chức Ngược la ̣i, lãn công là hiện tượng làm viê ̣c cầm chừng , nghỉ việc lẻ tẻ, không sử du ̣ng hết thời gian , công suất máy móc, không tuân theo kỷ luâ ̣t lao đô ̣ng , “bao gồm sự giảm sút về nỗ
lực làm viê ̣c hoặc kết quả công viê ̣c chứ không ngừng công viê ̣c hoàn toàn”
[43, tr.62] Mặt khác, hiê ̣n tượng lãn công trên thực tế rất khó kiểm soát và vì thế viê ̣c xử lý nó mang tính tình thế , đối phó Chính việc giải quyết không triê ̣t để này làm cho bất đồng, xung đô ̣t kéo dài, mục đích lãn công của tập thể lao đô ̣ng cũng khó đa ̣t được Hâ ̣u quả của lãn công vì thế tạo ra sự thiếu lành
Trang 23mạnh, nguy cơ làm phá vỡ QHLĐ Bàn về vấn đề này , theo TS Đỗ Ngân
Bình: “Xét trên phương diê ̣n lý luận , không thể đồng nhất đình công với bãi
công” [14, tr.43] Quan điểm không thừa nhâ ̣n lãn công là mô ̣t dạng biểu hiện
của đình công , không xem lãn công là quyền của NLĐ cũng thường thấy trong pháp luâ ̣t của nhiều nước trên thế giới
- Đi ̀nh công và bãi công: về cơ bản, đình công và bãi công đều là hình
thức đấu tranh có tổ chức của tâ ̣p thể lao đô ̣ng bằng cách ngừng viê ̣c ta ̣m thời
và đồng thời kèm theo những yêu sách Mă ̣c dù vâ ̣y, nếu như đình công xuất phát từ mục đích kinh tế thì bãi công mang màu sắc chính trị Bãi công được nhâ ̣n diê ̣n là hình thức đấu tranh chính trị của giới lao động và chủ yếu liên quan đến mu ̣c đích chính tri ̣ Do đó, bãi công không được ghi nhận là quyền của người lao động
- Đi ̀nh công và biểu tình : Về tính chất , đình công như trên đã ph ân
tích chỉ đơn thuần nhằm mục đích đạt được yêu sách về kinh tế trong phạm vi quan hê ̣ lao đô ̣ng Đối với biểu tình , phạm vi các yêu sách bao trùm lên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Dưới góc đô ̣ pháp lý , quyền đình côn g thuô ̣c nhóm các quyền kinh tế - xã hội và chủ thể của quyền đình công thuộc về NLĐ Trong khi đó, biểu tình là mô ̣t trong những quyền chính tri ̣ cơ bản của mọi công dân trong đó bao gồm cả NLĐ , do vâ ̣y nó không thuô ̣c lĩnh vự c điều chỉnh của pháp luâ ̣t lao đô ̣ng
1.1.3 Phân loại đình công
Đình công diễn ra trên thực tế với những đô ̣ng cơ , cách thức, quy mô, tính chất hết sức đa dạng và tác động của chúng đến các mối quan hệ nội tại ở những mức đô ̣ rất khác nhau Vì thế, phân loa ̣i đình công không chỉ cần thiết về mă ̣t lý luâ ̣n mà rất có ý nghĩa trong viê ̣c điều chỉnh pháp luâ ̣t Qua đó , chúng ta có thể nhìn nhận một cách đầy đủ hơn về vấn đề này và có cách th ức giải quyết một cách phù hợp, hiê ̣u quả Đình công được phân loa ̣i dựa trên các
Trang 24căn cứ khác nhau
Căn cƣ́ vào pha ̣m vi , đình công gồm : đình công doanh nghiê ̣p , đình
công bô ̣ phâ ̣n, đình công ngành, khu vực và tổng đình công
- Đình công doanh nghiệp là các cuộc đình công của tập thể lao động trong pha ̣m vi mô ̣t doanh nghiê ̣p tiến hành
- Đình công bô ̣ phâ ̣n là các cuô ̣c đình công của tâ ̣p thể lao đô ̣ng trong phạm vi bộ phận thuộc doanh nghiệp tiến hành
trong pha ̣m vi mô ̣t ngành, mô ̣t khu vực tiến hành
- Tổng đình công là các cuô ̣c đình công do giới lao đô ̣ng trong pha ̣m vi nhiều ngành hoă ̣c nhiều khu vực trong toàn quốc tiến hành
Tùy thuộc vào đặc điểm tình hình chính trị , kinh tế, xã hội, đi ̣nh hướng điều chỉnh của pháp luâ ̣t mà các quốc gia thừa nhâ ̣n tính hợp pháp hay không
hợp pháp đối với từng loa ̣i đình công nói trên “Thông thường, phạm vi đình
công được thừa nhận cũng tương đồng với phạm vi hoạt động công đoàn và phạm vi ký kết thỏa ước tập thể trong mỗi nước” [44, tr.537]
Căn cƣ́ vào mu ̣c đích, đình công có thể được phân chia thành đình
- Đình công yêu sách là các cuô ̣c đình công nhằm đa ̣t được yêu sách về quyền và lợi ích cho chính những NLĐ tham gia đình công
- Đình công hưởng ứng là các cuô ̣c đình công nhằm ủng hô ̣ , tỏ thái độ đồng tình để hỗ trợ cho các cuô ̣c đình công khác trong khi những người tham
Cùng quan điểm này , mô ̣t số nước như Thu ̣y Điển , Ý, Pháp cũng thừa nhận tính hợp pháp của đình công hưởng ứng
Trang 25Căn cƣ́ vào các quy đi ̣nh của ph áp luật về đình công , đình công có
thể được phân chia thành đình công hợp pháp và đình công bất hợp pháp
Đình công hợp pháp là cuô ̣c đình công tuân thủ các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t Đình công bất hợp pháp là cuô ̣c đình công vi pha ̣m các điều kiê ̣n luâ ̣t đi ̣nh về đình công, cụ thể về mục đích đình công , đối tượng được phép đình công , thời điểm có quyền đình công , trình tự, thủ tục đình công , phương thức đình công, quyền lãnh đa ̣o cuô ̣c đình công Viê ̣c đưa ra các quy đi ̣nh này nhằm kiểm soát đình công, hạn chế những cuộc đình công không cần thiết cũng như những tác động tiêu cực của đình công đối với đời sống kinh tế – xã hội
Căn cƣ́ vào tính chất của cuô ̣c đình công, đình công có thể được
phân chia thành đình công về quyền và đình công về lợi ích
- Đình công về quyền là những cuô ̣c đình công đưa ra các yêu sách đòi thực hiê ̣n quyền của NLĐ do luâ ̣t đi ̣nh hoă ̣c được quy đi ̣nh trong th ỏa ước lao
đô ̣ng tâ ̣p thể, nô ̣i quy lao đô ̣ng, quy chế
- Đình công về lợi ích là những cuô ̣c đình công đưa ra các yêu sách nhằm nâng cao lợi ích, xác lập các điều kiện làm việc tốt hơn so với luật định hoă ̣c tốt hơn những thỏa ước trước đó
1.2 Khái quát chung về giải quyết đình công
1.2.1 Khái niệm giải quyết đình công
Theo nghĩa he ̣p, giải quyết đình công được hiểu là “hoạt động do tòa
án tiến hành nhằm xác định tính hợp pháp hoặc bất hợp pháp của cuộc đình công trên cơ sở các quy đi ̣nh của pháp luật” [44, tr.550] Với quan niê ̣m này,
cơ quan có thẩm quyền giải quyết đình công là tòa án Trên cơ sở các quy
đi ̣nh của pháp luâ ̣t về trình tự , thủ tục, mục đích, đối tượng được phép đình công…tòa án sẽ phán quyết cuô ̣c đình công hợp pháp hay không hợp pháp Phán quyết của tòa án không đề cập đến việc giải quyết nội dung tranh chấp trong đình công : giải quyết nguyên nhân , xem xét hâ ̣u quả của cuộc đình
Trang 26công Tuy nhiên, nếu quan niê ̣m hoa ̣t đô ̣ng giải quyết đình công chỉ đơn thuần
là xét tính hợp pháp thì những mâu thuẫn giữa các bên sẽ không được giải quyết, vì thế mâu thuẫn lại tiếp tục và tiềm ẩn nguy cơ tái diễn đình công Mă ̣t khác, ở góc độ thực tế, trong thời gian qua, đình công thường được giải quyết theo thủ tu ̣c hành chính với sự phối hợp của các cơ quan chức năng đi ̣a
phương Điều này đã ch o thấy mô ̣t thực tế rằng phương thức giải quyết đình công ta ̣i tòa án đã không được cho ̣n Do vâ ̣y, quan niê ̣m giải quyết đình công chỉ là xét tính hợp pháp và thẩm quyền giải quyết duy chỉ thuộc tòa án đã tự giới ha ̣n và loa ̣i bỏ các phương thức khác cũng như khả năng giải quyết đình công của các nhân tố khác mô ̣t cách không cần thiết
Theo nghĩa rô ̣ng , giải quyết đình công “bao gồm viê ̣c xét tính hợp
pháp của cuộc đình công, giải quyết nội dung của đình công và giải quyết hậu quả của cuộc đình công” [11, tr.4] Những hoa ̣t đô ̣ng này được tiến hành
nhằm giải quyết những bất ổn do đình công gây ra , tiến tới chấm dứt đình công, bình ổn quan hệ lao động Tùy thuộc vào từng giai đoạn cụ thể của quá trình giải quyết đình công , các chủ thể tham gia vào quá trình này với cách thức, tính chất khác nhau chứ không phải chỉ có tòa án Về vấn đề này , có
quan điểm cho rằng: “Sự dàn xếp này có thể do các bên tự thương lượng hoặc
có sự can thiệp của một chủ thể khác đóng vai trò trung gian hòa giải hay ra phán quyết về tính hợp pháp của cuộc đình công” [14, tr.50]
- Về hoa ̣t động xét tính hợp pháp của cuộc đình công
Xét tính hợp pháp của cuô ̣c đình công là vấn đề mấu chốt khi giải quyết đình công Hoạt động này là việc cơ quan có thẩm quyền xem xét các vấn đề về trình tự, thủ tục, phạm vi, đối tượng, mục đích của cuộc đình công có đảm bảo tuân thủ theo quy định của pháp luật hay không để đưa ra phán quyết về tính hợp pháp của cuộc đình công Hê ̣ quả của nó sẽ đưa đến viê ̣c cơ quan có thẩm quyền sẽ yêu cầu chấm dứt đình công nếu xét thấy cuô ̣c đình công bất
Trang 27hợp pháp hoă ̣c ngược la ̣i cho phép tiếp tu ̣c đình công nếu cuô ̣c đình công được phán quyết là hợp pháp Về thẩm quyền, cơ quan có thẩm quyền ra phán quyết về tính hợp pháp của cuô ̣c đình công là Tòa án Nhìn chung, hầu hết các quốc gia có thừa nhâ ̣n đình công đều xác đi ̣nh vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh pháp luật , thể hiê ̣n vai trò đi ̣nh hướng của nhà nước đối với vấn đề đình công Luâ ̣t Lao đô ̣ng Campuchia (1997) quy đi ̣nh:
“Đình công bất hợp pháp là những cuộc đình công không tuân thủ các thủ tục
quy đi ̣nh hoặc đình công không hòa bình Trong trường hợp này , Tòa án có
công” [46, tr.197]
- Về gia ̉ i quyết nguyên nhân của cuộc đình công
“Mối quan hê ̣ lao động trong nền kinh tế thi ̣ trường luôn tiềm ẩn và
Những xung đột n ày không được giải quyết thỏa đáng sẽ là nguyên nhân chính dẫn đến đình công” [25, tr.47] Chính vì vậy, mô ̣t khi đình công đã xảy
ra, việc giải quyết nguyên nhân của cuô ̣c đình công là mô ̣t đô ̣ng thái hết sức cần thiết nhằm t háo gỡ những mâu thuẫn , xung đô ̣t giữa các bên , tiến tới chấm dứt đình công , tiếp tu ̣c thực hiê ̣n QHLĐ Đáng chú ý là hoa ̣t đô ̣ng này thường được thực hiê ̣n theo phương thức thương lượng trực tiếp hoă ̣c hòa giải thông qua vai trò của người trung gian Xét ở một mức độ nào đó , ưu điểm
Bởi vâ ̣y, giải quyết nguyên nhân của cuộc đình công bằng con đường thương lượng, hòa giải được áp du ̣ng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, kèm theo đó , nó cũng đặt ra nhiều vấn đề thách thức về kỹ năng thương lượng, hòa giải, khả năng nắm bắt thông tin, cơ chế thực hiê ̣n…để có thể đem lại hiệu quả thực tế
Trang 28- Về gia ̉ i quyết hậu quả của cuộc đình công và những vấn đề có liên quan tới quá trình đình công
Viê ̣c giải quyết hâ ̣u quả của cuô ̣c đình công thường đă ̣t ra các vấn đề
liên quan đến trách nhiê ̣m của các bên , tùy từng trường hợp có thể là vấn đề viê ̣c làm của NLĐ sau đình công , tiền lương cho NLĐ , bồi thường thiê ̣t ha ̣i cho NSDLĐ…Vấn đề này có liên quan đến phán quyết về tính hợp pháp của cuô ̣c đình công Ngoài việc buộc phải dừng đình công, NLĐ phải gánh chi ̣u những hâ ̣u quả pháp lý theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t nếu cuô ̣c đình công là bất hợp pháp Nhưng mô ̣t khi đình công được giải quyết bằng phương thức thương
lượng, hòa giải thì thông qua việc đạt được cá c thỏa thuâ ̣n chung giữa các bên, những mâu thuẫn , xung đô ̣t giữa các bên được giải quyết , đình công cũng sẽ chấm dứt Như vâ ̣y, viê ̣c giải quyết hâ ̣u quả đã nằm ngay trong quá trình giải quyết nguyên nhân đình công
1.2.2 Các phương thức giải quyết đình công
Trong từng trường hợp cu ̣ thể , đình công có thể được giải quyết bằng những phương thức sau:
Một là, giải quyết đình công thông qua thương lượng trực tiếp giữa các bên
Nhìn chung, thương lượng được biế t đến là hình thức giải quyết tranh chấp tự nguyê ̣n giữa các bên mà không có sự tham gia của bên thứ ba Trong viê ̣c giải quyết đình công , phương thức thương lượng được xem là cơ chế tự giải quyết, các bên tự đưa ra đề xuất v à quyết định giải pháp cho các vấn đề
mà không có sự trợ giúp của bên thứ ba
Về ưu điểm , giải quyết đình công bằng phương thức thương lượng có thể giữ được uy tín cho các bên , mang tính linh hoa ̣t , mềm dẻo , ít đưa đến nguy cơ làm đổ vỡ quan hê ̣ lao đô ̣ng Mă ̣t khác, phương thức này đề cao tối
đa quyền tự do đi ̣nh đoa ̣t của các bên Các bên có quyền tự do ý chí trong việc quyết đi ̣nh có tham gia thương lượng hay không , có quyền đưa ra quan điểm ,
Trang 29đề xuất các khả năng giải quyết những mâu thuẫn , bất đồng nhằm đi đến giải pháp thống nhất để giải quyết đình công Do đó , khả năng các bên tự giác thực hiê ̣n các thỏa thuâ ̣n rất lớn nếu thương lượng đa ̣t kết quả
Tuy vâ ̣y, phương thức thương lượng phu ̣ thuô ̣c vào sự tự giác của các bên, đòi hỏi các bên phải có thiê ̣n chí và sự nhượng bô ̣ cần thiết mới có thể đi đến kết quả trong việc giải quyết đình công Ngược la ̣i, nếu các bên không có thiện chí trong quá trình thương lượng : không mong muốn tham gia thương lượng, không tự giác chấp hành thỏa thuâ ̣n , bảo vệ quan điểm của mình một
hoạt động thương lượng cũng là viê ̣c chia phần “một chiếc bánh lợi ích”, nên không phải khi nào các bên cũng dễ dàng thống nhất được với nhau về mọi vấn đề; cũng sẵn sàng nhượng bộ để cuộc thương lượng thành công nhanh chóng” [29, tr.58]
Trong giải quyết đình công , thương lượng không đă ̣t ra vấn đề xét tính hợp pháp của cuô ̣c đình công mà chỉ nhằm giải quyết nguyên nhân của cuô ̣c đình công Thông qua viê ̣c dàn xếp những mâu thuẫn giữa các bên , mục đích cuối cùng của thương lượng trong đình công là tiến tới viê ̣c chấm dứt đình công, NLĐ quay trở la ̣i công viê ̣c , tiếp tu ̣c thực hiê ̣n quan hê ̣ lao đô ̣ng giữa hai bên Ngoài việc dàn xếp những yêu sách của NLĐ để họ chấm dứt việc ngừng viê ̣c, các bên còn có thể thương lượng với nhau để giải quyết các vấn
đề về quyền lợi trong thời gian đình công hay vấn đề bồi thường thiệt hại do đình công gây ra
Hai là, giải quyết đình công thông qua hòa giải
Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ
ba đô ̣c lâ ̣p do hai bên cùng chấp nhâ ̣n hay chỉ đi ̣nh giữ vai trò trung gian để hỗ trợ cho các bên tìm kiếm giải pháp thích hợp , giúp chấm dứt những mâu thuẫn, xung đô ̣t đang tồn ta ̣i giữa các bên Trong giải quyết đình công , hòa
Trang 30giải “thực chất là giải quyết nội dung của cuộc đình công trên cơ sở ý chí tự
nguyê ̣n của các bên và sự giúp đỡ của người thứ ba trung lập không có quyền quyết đi ̣nh” [11, tr.3-4] Hòa giải hướng đến việc chấm dứt tình trạng ngừng
viê ̣c của NLĐ thông qua viê ̣c dàn xếp nguyên nhân dẫn đến đình công bằng cách tìm kiếm các giải pháp cho những vấn đề đang mâu thuẫn Không những vậy, hòa giải cũng có thể giải quyết những vấn đề như quyền lợi và trách nhiê ̣m các bên trong quá trình đình công
Trong quá trình hòa giải, người trung gian với cái nhìn khách quan hơn về những mâu thuẫn , bất đồng sẽ phân tích cho các bên nhìn nhận rõ hơn về những lợi ích chung của các bên , những giá tri ̣ các bên có thể đa ̣t được cũng như các vấn đề pháp lý liên quan Bên ca ̣nh đó , vai trò của người trung gian cũng được thể hiện qua việc đưa ra các ý kiến, gợi ý các giải pháp để các bên tham khảo, cân nhắc nhưng không có quyền quyết đi ̣nh về viê ̣c giải quyết nô ̣i dung của cuô ̣c đình công Như vâ ̣y, với phương thức hòa giải , mă ̣c dù có chủ thể trung gian nhưng các bên vẫn đảm bảo quyền tự đi ̣nh đoa ̣t của mình trong giải quyết đình công
Về ưu điểm , cũng như thương lượng , thủ tục hòa giải tương đối đơn
phương thức hò a giải trong giải quyết đình công , các bên có thể tận dụng được sự giúp đỡ từ bên ngoài , vẫn giữ được thế chủ đô ̣ng và có nhiều cơ hô ̣i hơn trong viê ̣c duy trì mối quan hê ̣ giữa các bên Bên cạnh đó , cũng như thương lượng, điểm ha ̣n chế của phương thức giải quyết đình công bằng hòa giải là các thỏa thuận đạt được trong hòa giải không có tính ràng buộc pháp
lý, phụ thuộc rất nhiều vào sự tự giác của các bên
Ba là, giải quyết đình công thông qua tòa án
Với những yếu tố đă ̣c thù: được tiến hành theo thủ tu ̣c tố tu ̣ng chă ̣t chẽ, thực hiê ̣n bởi thẩm phán – những người có kinh nghiê ̣m , chuyên môn trong lĩnh vực pháp luật lao động và đặc biệt là phán quyết được đả m bảo thi hành bằng sức ma ̣nh cưỡng chế nhà nước đã cho thấy viê ̣c giải quyết đình công
Trang 31thông qua tòa án có những ưu viê ̣t nhất đi ̣nh so với các phương thức khác
Chính vì vậy , có ý kiến cho rằng : “vẫn không thể thiếu vai t rò của tòa án
trong viê ̣c giải quyết đình công” [22, tr.21] Đây là phương thức giải quyết
đình công được chính thức quy đi ̣nh trong pháp luâ ̣t của nhiều quốc gia như : Nga, Philippin, Pháp…
Về mă ̣t bản chất , khác với việc giải qu yết tranh chấp lao đô ̣ng thông thường, giải quyết đình công tại tòa án không giải quyết nguyên nhân của cuô ̣c đình công Trên cơ sở các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t , tòa án xem xét và ra
Bình Nhưỡng cho rằng: “Nó không phải là giải quyết một vấn đề tranh chấp
hay một vụ kiê ̣n thông thường mà là xác đi ̣nh đình công , một hành động công nghiê ̣p (industrial action), cách thức gây sức ép của người lao động có phù hợp với pháp luật không” [33, tr.63]
Bên ca ̣nh đó, giải quyết đình công thông qua tòa án cũng có những hạn chế nhất đi ̣nh: thủ tục phức tạp, thời gian giải quyết kéo dài, có thể ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiê ̣p , gây căng thẳng trong QHLĐ sau khi giải quyết đình công Đây cũng là mô ̣t trong những lý do khiến cho các bên không mong muốn giải quyết đình công ta ̣i tòa án
1.2.3 Mục đích của việc giải quyết đình công
Thứ nhất, giải quyết đình công góp phần ngăn chặn , hạn chế những cuộc đình công bất hợp pháp
Căn cứ vào quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t , trên cơ sở yêu cầu của mô ̣t hoă ̣c các bên, tòa án sẽ xem xét và ra phán quyết cu ộc đình công là bất hợp pháp nếu nó vi pha ̣m các điều kiê ̣n luâ ̣t đi ̣nh Mô ̣t khi cuô ̣c đình công bi ̣ tòa án tuyên bố là bất hợp pháp , thì tập thể lao động phải ngừng ngay cuộc đình công để trở lại làm việc Nếu NLĐ vẫn tiếp tu ̣c ngừng viê ̣c , không thực hiê ̣n
Như vâ ̣y , viê ̣c thực hiê ̣n quyền đình công của NLĐ trong thực tế đã được
Trang 32kiểm soát thông qua viê ̣c giải quyết đình công Bên ca ̣nh đó , hoạt động này nhằm đảm bảo sự định hướng của nhà nước trong việc xác định tính hợp pháp của cuộc đình công ; góp phần hạn chế , ngăn chặn những cuô ̣c đình công bất hợp pháp cũng như những ảnh hưởng tiêu cực của nó gây ra đối với các bên
có liên quan và xã hội
bên trong quan hê ̣ lao động
Đối với NSDLĐ , đình công ảnh hưởng rất nhiều đến hoa ̣t đô ̣ng sản xuất kinh doanh Không những vâ ̣y, đình công càng kéo dài , thiê ̣t ha ̣i sẽ càng lớn, doanh nghiê ̣p sẽ rơi vào tình thế khó khăn , khủng hoảng Chính vì vậy, giải quyết đình công một cách ki ̣p thời , hiê ̣u quả sẽ giúp doanh nghiê ̣p khắc phục khủng hoảng, đưa hoa ̣t đô ̣ng sản xuất trở lại bình thường, ổn định trật tự, nề nếp kỷ luâ ̣t trong doanh nghiê ̣p Về phía NLĐ , cùng với quá trình gi ải quyết đình công , những yêu sách của tâ ̣p thể lao đô ̣ng được xúc tiến đưa ra giải quyết Mă ̣t khác, giải quyết đình công cũng quan tâm đến quyền lợi của NLĐ trong thời gian đình công , những thiê ̣t ha ̣i do hành vi trái pháp luâ ̣t của NLĐ gây ra cho NSDLĐ và vấn đề bồi thường thiê ̣t ha ̣i…Do vâ ̣y , hoạt động giải quyết đình công góp phần bảo vê ̣ lợi ích chính đáng của các bên trong quan hê ̣ lao đô ̣ng
Thứ ba, giải quyết đình công góp phần ổn đi ̣nh quan hê ̣ lao động
Có thể nói rằng , quan hê ̣ lao đô ̣ng mang tính kinh tế – xã hội đặc biệt : vừa tự nguyê ̣n hợp tác vừa tiềm ẩn mâu thuẫn , xung đô ̣t về lợi ích giữa NLĐ
và NSDLĐ “Sự bất đồng về lợi ích giữa các bên nếu không được giải quyết
sẽ là nguyên nhân cơ bản dẫn đến những phản kháng tiêu cực của người lao động ở dạng này hay dạng khác, trong đó có đình công” [12, tr.15] Khi đã
xảy ra, đình công không những gây thiê ̣t ha ̣i cho NSDLĐ mà cả NLĐ (tham gia hoă ̣c không tham gia đình công ) Những “tổn thương” trong mối quan hê ̣
Trang 33giữa tâ ̣p thể lao đô ̣ng với NSDLĐ , giữa NL Đ tham gia đình công và NLĐ
quyết đình công là rất cần thiết để dàn xếp những xung đô ̣t về quyền và lợi ích giữa các bên Có như vậy, NLĐ mới quay trở la ̣i làm viê ̣c và với nhu cầu hợp tác để ta ̣o ra lợi ích , các bên tiếp tục thực hiện QHLĐ Cho nên, có thể thấy viê ̣c giải quyết đình công có vai trò nhất đi ̣nh góp phần tái lâ ̣p sự ổn đi ̣nh của QHLĐ
Thứ tư, giải quyết đình công góp phần bảo vê ̣ các lợi ích công cộng
Đình công là quyền cơ bản của NLĐ được pháp luâ ̣t ghi nhâ ̣n Tuy vâ ̣y, quá trình thực hiện quyền này trong thực tế cũng cho thấy đình công là hiện tượng nha ̣y cảm, có diễn biến khá phức tạp và những tác động của nó đối với
xã hội đôi khi khó có thể kiểm soát được Đã từng diễn ra những cuô ̣c đình công đông người tham gia như cuô ̣c đình công của 20.000 công nhân công ty
công kéo dài nhiều ngày Thâ ̣m chí, những hành đô ̣ng quá khích, gây rối, đâ ̣p phá máy móc , nhà xưởng của doanh nghiệp…xảy ra ở nhiều cuộc đình công Ngược la ̣i , NSDLĐ cũng có những hàn h xử ba ̣o lực đáp trả như hành hung gây thương tích cho những NLĐ tham gia đình công [17, 18, 20]
Ngoài ra , cũng không loại trừ việc đình công có thể bị lợi dụng biến tướng với mu ̣c đích chính tri ̣, ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, tình hình kinh tế - xã hội Bởi vâ ̣y, giải quyết đình công không những làm ổn định quan hệ lao đô ̣ng mà còn góp phần giữ vững trâ ̣t tự an ninh xã hô ̣i , bảo vệ các lợi ích
Trang 34trong nền kinh tế thi ̣ trường đã có những tác đô ̣ng đa chiều tích cực lẫn tiêu cực đến đời sống xã hô ̣i Đình công với ý nghĩa là quyền cơ bản của NLĐ đòi hỏi cần phải được đảm bảo thực hiện trên thực tế như là bi ện pháp đấu tranh
để bảo vệ quyền lợi của NLĐ Nhưng mă ̣t khác, đình công dưới góc đô ̣ là mô ̣t vấn đề phức ta ̣p và nha ̣y cảm cần phải được kiểm soát nhằm b ảo vệ quyền lợi hợp pháp của NSDLĐ, bảo vệ lợi ích của các chủ thể tham gia QHLĐ, lợi ích
quy đi ̣nh trong pháp luâ ̣t của nhiều nước trên thế giới nhằm điều chỉnh vấn đề này một cách phù hợp và hiệu quả theo định hướng của nhà nước
Thực tiễn về pháp luâ ̣t đình công và giải quyết đình công ở các nước trên thế giới khá đa da ̣ng , phong phú theo các xu hướng khác nhau , ở những mức đô ̣ khác nhau Nhìn chung, đa số các nước đều thừa nhâ ̣n quyền đình công Nhưng bên ca ̣nh đó cũng có mô ̣t số nước không quy đi ̣nh về đình công
do áp du ̣ng cơ chế giải quyết tranh chấp lao đô ̣ng chỉ bằng hòa giải và tro ̣ng
Ngay trong số những quốc gia thừa nhâ ̣n quyền đình công cũng có
những khác biê ̣t nhất đi ̣nh thể hiê ̣n xu hướng khác nhau trong viê ̣c đối diê ̣n với vấn đề liên qu an đến lợi ích Mô ̣t số nước thừa nhâ ̣n quyền đình công về nguyên tắc nhưng trên cơ sở nhấn ma ̣nh đến viê ̣c bảo vê ̣ lợi ích công cô ̣ng , tôn tro ̣ng quyền quản lý lao đô ̣ng của NSDLĐ nên đã quy đi ̣nh hết sức chă ̣t chẽ về điều kiện, thủ tục nhằm hạn chế đình công Tuy nhiên, mô ̣t số nước la ̣i xem đình công là quyền đương nhiên của NLĐ , quy đi ̣nh về đình công theo hướng ta ̣o điều kiê ̣n để quyền này được thực hiê ̣n trên thực tế
Mô ̣t thực tế là “Ở những nước công nghiê ̣p già, sau hàng trăm năm đấu
mặc cả rất lớn” [31] Điều này đã để la ̣i nhiều bài ho ̣c, kinh nghiê ̣m cần được
Trang 35tìm hiểu, nghiên cứu trong thực tiễn xây dựng, thực hiê ̣n pháp luâ ̣t về đình công
và giải quyết đình công Nhìn chung, pháp luật về đình công và giải quyết đình công của mô ̣t số quốc gia trên thế giới thể hiê ̣n qua mô ̣t số vấn đề sau:
Quy đi ̣nh về mục đích đình công
Nhiều nước trên thế giới đều thừa nhâ ̣n đình công kinh tế là hợp pháp
mă ̣c dù viê ̣c xác đi ̣nh pha ̣m vi đình công kinh tế có thể khác nhau theo quy
đi ̣nh của từng nước Ngược la ̣i, các cuộc đình công nhằm gâ y sức ép để phản đối chính quyền nhà nước hoă ̣c các đảng cầm quyền nhằm đa ̣t được mu ̣c đích chính trị không được các nước thừa nhận Về đình công chính tri ̣, nhiều nước
mă ̣c nhiên coi đây là hành vi bất hợp pháp hoă ̣c có n ước gián tiếp không thừa nhâ ̣n khi quy đi ̣nh mu ̣c đích đình công không được vượt ra ngoài lĩnh vực lao
đô ̣ng Xuất phát từ quan niê ̣m đình công là quyền kinh tế xã hô ̣i của NLĐ ,
trong pha ̣m vi của nguyên tắc tự do liên kết Tuy vâ ̣y , điểm đáng lưu ý là , quan điểm về tính chất kinh tế trong đình công mà ILO đưa ra rất rô ̣ng, không những liên quan đến vấn đề về điều kiê ̣n làm viê ̣c , về những yêu cầu mang
tính chất nghề nghiệp mà nó còn “ nhằm tìm ra những giải pháp cho những
vấn đề chính sách kinh tế và xã hội và các vấn đề lao động bất kỳ loại nào mà người lao động trực tiếp quan tâm” [46, tr.199]
trung tâm tâ ̣p trung lao đô ̣ng hoă ̣c có kí kết thỏa ước theo ngành như Pháp , Đức, Thụy Điển, Italia…thừa nhâ ̣n đình công hưởng ứng của NLĐ Ở những nước này, NLĐ có quyền đình công để ủng hộ, bày tỏ thái độ đồng tình để hỗ trợ cho cuô ̣c đình công khác (miễn là cuô ̣c đình công được ủng hô ̣ đó không
bị xem là bất hợp pháp)
Quy đi ̣nh về đối tượng đình công
Vấn đề đối tượng được phép đình công cũng là một nội dung quan
Trang 36trọng trong pháp luật về đình công của các quốc gia Mô ̣t điểm chung nhất có thể nhâ ̣n thấy đó là hầu như các nước đều đưa ra những quy đi ̣nh nhằm giới hạn, khu trú đối tượng được ph ép đình công trong một phạm vi nhất định Giới ha ̣n này rô ̣ng hay he ̣p , ít hay nhiều tùy thuộc vào đặc điểm tình hình của mỗi nước và thường được thể hiê ̣n thông qua các quy đi ̣nh về đối tượng cấm đình công hoă ̣c ha ̣n chế đình công
Trước hết, giới ha ̣n đầu tiên đó là đình công không được thừa nhâ ̣n là
quyền của các công dân nói chung Để quyền đình công không bi ̣ la ̣m du ̣ng phục vụ cho mục đích chính trị , gây mất ổn đi ̣nh xã hô ̣i , quyền đình công được xác đi ̣nh là quyền của NLĐ Đây là điểm tương đồng có thể nhâ ̣n thấy trong pháp luâ ̣t của các quốc gia trên thế giới
Thứ hai, giới ha ̣n tiếp theo liên quan đến nô ̣i hàm của khái niê ̣m NLĐ
Theo tác giả Đỗ Ngân Bình, “NLĐ thường được hiểu là người đang tiến hành
các hoạt động lao động và hưởng lương từ những hoạt động đó” [14, tr.83]
Khái niệm NLĐ nêu trên bao gồm bộ phận NLĐ làm công ăn lương thuần túy trong quan hê ̣ lao đô ̣ng và bô ̣ phâ ̣n NLĐ là công chức, viên chức nhà nước
pháp luật các nước đều thừa nhận đây là nhóm đối tượng có quyền đình công (tất nhiên trừ trường hợp lao đô ̣ng thuô ̣c các ngành thiết yếu mà pháp luâ ̣t cấm hoă ̣c ha ̣n chế đình công)
hướng khác nhau trong pháp luâ ̣t của các nước đối với viê ̣c xác đi ̣nh quyền đình công của nhóm đối tượng này
Mô ̣t số nước th ừa nhận quyền đình công của công chức nhà nước như
nhân viên ngoại giao Canada nhằm tìm ki ếm sự bình đẳng về tiền lương với các nhân viên chính phủ liên bang khác ở nư ớc này đã x ảy ra tại các trung
Trang 37tâm xét và cấp thị thực lớn nhất của Canada tại 15 đại sứ quán và lãnh sự quán khắp thế giới: các trung tâm tại Paris, London, Moscow, Mexico City, Cairo, Abu Dhabi, Riyadh, Ankara, Bắc Kinh, Thượng Hải, Hong Kong, New Delhi, Chandigarh, Manila, Sao Paulo [30]
Tuy nhiên, bên ca ̣nh đó, xuất phát từ những yêu cầu trong viê ̣c quản lý nhà nước, nhiều quốc gia như Hoa Kỳ , Thái Lan, Đức lại quy định cấm đình công đối với NLĐ là công chức nhà nước
Thứ ba, đánh giá về tầm ảnh hưởng , tác động của một số ngành nghề
đến đời sống dân sinh , an ninh xã hô ̣i , nhiều nước đưa ra các quy đi ̣nh c ấm,
hạn chế đình công đối với NLĐ làm việc trong các ngành thiết yếu Costa Rica “cấm quyền đình công trong ngành vận tải đường sắt , hàng hải và hàng
không” [50, tr.51] Trong khi đó , Singapore cấm đình công trong ba ngành
thiết yếu là nước , khí đốt và điện Nước này cũng ha ̣n chế đình công đối với các công việc thiế t yếu như: dịch vụ kiểm soát không lưu và hàng không dân dụng, dịch vụ ngân hàng , dịch vụ phát thanh và vô tuyến truyền hình , phân phối xăng dầu , công viê ̣c kiểm soát ma túy của Cu ̣c ma túy trung ương , cứu hỏa, các dịch vụ th ông tin, các dịch vụ trong cảng , kho cảng và bến bãi , các dịch vụ bưu điện và viễn thông , nhà tù , vâ ̣n tải công cô ̣ng và di ̣ch vu ̣ hàng không, dịch vụ y dược của Bộ Y tế Thái Lan quy định cấm đình công trong các doanh nghiệp thiết yếu và doanh nghiê ̣p công cô ̣ng như : đường sắt, cảng, điê ̣n thoa ̣i , viễn thông , sản xuất hoặc phân phối năng lượng điện cho công chúng, nước, sản xuất hoặc lọc dầu; bê ̣nh viê ̣n; xí nghiệp vận tải, du li ̣ch, bán dầu, trường tiểu ho ̣c và trung ho ̣c [46, tr.193-194]
Như vâ ̣y, ngành thiết yếu được xác đi ̣nh trong pháp luâ ̣t của mỗi nước
là khác nhau, và thậm chí đối với từng nước , danh mu ̣c ngành thiết yếu cũng được xác đi ̣nh cu ̣ thể trong từng giai đo ạn tùy thuộc vào tình hình thực tế Hơn thế nữa, mô ̣t số quốc gia thâ ̣m chí còn đưa ra danh mu ̣c những công viê ̣c thiết yếu trong doanh nghiê ̣p bi ̣ cấm đình công Trong trường hợp này , mă ̣c dầu tâ ̣p thể lao đô ̣ng ta ̣i doanh nghiê ̣p được phép đình công nhưng NLĐ ở
Trang 38những bô ̣ phâ ̣n đảm trách công viê ̣c thiết yếu trong doanh nghiê ̣p vẫn phải duy trì hoa ̣t đô ̣ng liên tu ̣c
Về vấn đề này , ILO khuyến nghi ̣ chỉ nên cấm đình công với những ngành hoạt động mang tính t hiết yếu , ảnh hưởng lớn đến xã hội mà nếu bị đình chỉ sẽ gây nguy cơ cho đời sống , an toàn cá nhân hoă ̣c sức khỏe của dân chúng (trước hết là khu vực bê ̣nh viê ̣n và kiểm soát không lưu ) Vấn đề quan trọng là đi cùng với n hững ha ̣n chế hoă ̣c cấm đình công trong lĩnh vực thiết yếu thì đồng thời cần phải có những giải pháp nhằm bảo vê ̣ cho những NLĐ đã bi ̣ mất quyền đình công - mô ̣t trong những biê ̣n pháp thiết yếu để có thể tăng cường và bảo vệ lợi ích của mình Cụ thể, trình tự hòa giải và trọng tài
vô tư, nhanh chóng, thích đáng với các phán quy ết có giá tri ̣ ràng buô ̣c các bên và được đảm bảo thực hiện sẽ là những giải pháp trong những tình huống này [46, tr.200]
Từ những vấn đề nêu trên, có thể đi đến nhận xét rằng việc giới hạn đối tượng đình công phải xuất phát từ mu ̣c đích nhằm đảm bảo cho hoa ̣t đô ̣ng quản lý nhà nước , các hoạt động sản xuất , dịch vụ thiết yếu có ảnh hưởng quan tro ̣ng đến sự an toàn của xã hô ̣i, cô ̣ng đồng dân cư được duy trì và thông suốt Trên cơ sở đó, viê ̣c xác đi ̣nh đối tượng cấm hoă ̣c ha ̣n chế đình công căn cứ vào tính chất công viê ̣c cũng như mức đô ̣ tác đô ̣ng đến sự ổn đi ̣ nh, phát triển của xã hô ̣i nếu như bi ̣ đình trê ̣ Nhưng mă ̣t khác, pháp luật cần thiết phải
có một cơ chế phù hợp, hiê ̣u quả, hiê ̣u lực để giải quyết những tranh chấp, bất đồng nhằm đảm bảo quyền lợi cho NLĐ
Quy đi ̣nh về phạm vi đình công
Đối với một số quốc gia, phạm vi đình công không phải là điều kiện để xác định tính hợp pháp của cuộc đình công Ở những nước phát triển và có lịch sử đình công lâu đời , tâ ̣p thể lao đô ̣ng và tổ chức đa ̣ i diê ̣n của ho ̣ có thể tiến hành đình công ở pha ̣m vi doanh nghiê ̣p , phạm vi ngành hoặc tổng đình công toàn quốc và vẫn được thừa nhâ ̣n là hợp pháp nếu như nó tuân thủ các điều kiê ̣n hợp pháp khác của cuô ̣c đình công Ở Ai Câ ̣p, Câu lạc bộ Thẩm
Trang 39phán - tổ chức đại diện cho hơn 90% thẩm phán tại Ai Cập đã quyết đi ̣nh đình công vào ngày 25/9/2013 nhằm phản đối dự luâ ̣t tư pháp đã ảnh hưởng đến quyền lợi của ho ̣ (dự luâ ̣t này quy đi ̣nh tu ổi nghỉ hưu của các thẩm phán sẽ bị rút ngắn từ 70 xuống còn 60 tuổi, do đó buộc 1/4 trong tổng số 13.000 thẩm phán hiện nay phải về hưu) [48]
Tuy vâ ̣y, mô ̣t số quốc gia khác như Philippin, Thái Lan thường đưa ra các quy định giới hạn phạm vi đình công và coi đó l à một trong các điều kiện xét tính hợp pháp của cuộc đình công với mu ̣c đích nhằm hạn chế sự lan rộng
và giảm thiểu tác động tiêu cực của các cuộc đình công đối với xã hội
Quy đi ̣nh về chủ thể lãnh đạo đình công
“Đình công là quyền của NLĐ được pháp luật quốc tế ghi nhận gắn liền với quyền của tổ chức đại diê ̣n lao động (công đoàn)” [16, tr.16] Nhiều
nước trên thế giới quy đi ̣nh tổ chức đa ̣i diê ̣n lao đô ̣ng (công đoàn hay nghiê ̣p đoàn) là chủ thể hợp pháp có tư cách lãnh đạo đình công như Phần Lan , Đức, Hàn Quốc…Các án lệ của Đức chỉ thừa nhận vai trò của các tổ chức công đoàn trong viê ̣c lãnh đa ̣o và chi ̣u trách nhiê ̣m về đình công mă ̣c dù ở nước này
Tại Hàn Quốc , bất kỳ mô ̣t cuô ̣c đình công nào cũng phải do mô ̣t công đoàn hợp pháp (có đăng ký ) đứng ra tổ chức ; linh hoa ̣t hơn trong vấn đề này Philippin quy đi ̣nh chủ thể lãnh đa ̣o đình công là người đa ̣i diê ̣n thương lượng
có giấy chứng nhận hoặc được công nhận hợp lệ Đối với Cộng hòa Pháp , có
khi đối với khu vực nhà nước , vai trò lãnh đa ̣o của công đoàn có tính chất bắt buô ̣c thì ở khu vực tư nhân , công đoàn không đóng vai trò quan tro ̣ng trong viê ̣c xác đi ̣nh tính hợp pháp của cuô ̣c đình công [49, tr.37]
Quy đi ̣nh về thủ tục chuẩn bị đình công
Nhiều quốc gia quy đi ̣nh trong các văn bản pháp luâ ̣t khá cu ̣ thể về thủ tục chuẩn bị đình công Theo quy đi ̣nh của Luâ ̣t Lao đô ̣ng ChiLê, thủ tục đình công bi ̣ coi là bất hợp pháp nếu không trải qua các b ước: công tác chuẩn bi ̣,
Trang 40hòa giải bắt buộc , trọng tài tự nguyện , đình công hoă ̣c ngừng làm viê ̣c Bên
cạnh đó, cuô ̣c đình công phải thỏa mãn các yêu cầu : thông báo thời ha ̣n thỏa ước đã hết, có 2/3 đoàn viên công đoàn trở lên bỏ phiếu kín đồng ý đình công,
hô ̣i đồng hòa giải thường trực chứng nhâ ̣n đã thực hiê ̣n đầy đủ các thủ tu ̣c và công viê ̣c hòa giải chính thức theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t Trong khi đó, Bô ̣ luâ ̣t lao đô ̣ng của Liên bang Nga (2001) cũng quy định các thủ tục lấy ý kiến
tâ ̣p thể lao đô ̣ng , tỷ lệ NLĐ đồng ý đình công , thủ tục tuyên bố đình công , thời ha ̣n thông báo đình công cho NSDLĐ [46, tr.189-190] Philippin cũng quy đi ̣nh chỉ được đình công sau khi thư ơng lượng đã bế tắc và thực hiê ̣n các thủ tục: hòa giải, lấy ý kiến tâ ̣p thể lao đô ̣ng, thông báo đình công Tuy vâ ̣y, ở
mô ̣t số nước như Đức , Pháp thủ tục đình công được tiến hành theo tập quán hoă ̣c theo hướng dẫn của điều lê ̣ công đoàn
Nhìn chung, đa số các quốc gia đều quy đi ̣nh mô ̣t số thủ tu ̣c như : lấy ý kiến tâ ̣p thể lao đô ̣ng , thông báo đình công , hòa giải hoặc trọng tài trước khi được phép đình công Mục đích của việc quy định các thủ tục này nhằm: tạo thời gian cần thiết làm di ̣u tình hình để tránh mô ̣t cuô ̣c đình công không cần thiết xảy ra; tạo điều kiện để tập thể lao động có sự cân nhắc hoặc chuẩn bị kỹ lưỡng; về phía NSDLĐ có cơ hô ̣i xem xét la ̣ i những yêu sách của tâ ̣p thể lao
đô ̣ng, cân nhắc những thiê ̣t ha ̣i do đình công gây ra ; các cơ quan chức năng biết trước khả năng xảy ra đình công để chủ đô ̣ng các biê ̣n pháp xử lý , hạn chế tác đô ̣ng tiêu cực mô ̣t khi đình công xả y ra Ở tầm vĩ mô , điều này xuất phát từ sự định hướng của nhà nước đối với vấn đề này Hoă ̣c nhà nước muốn hạn chế , ngăn chă ̣n đình công bằng cách ta ̣o ra mô ̣t hành lang pháp lý châ ̣t hẹp với các quy định mang tính cấm đoán nghiêm ngă ̣t , các thủ tục quá chặt chẽ, rườm rà, thiếu khả thi Hoă ̣c nhà nước cho phép và ta ̣o điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi để NLĐ thực hiê ̣n quyền đình công trên thực tế bằng viê ̣c quy đi ̣nh các thủ tục đơn giản, khả thi, không mất quá nhiều thời gian Tác giả rất đồng tình với
quan điểm của ILO : “Những thủ tục này không rườm rà đến nỗi khiến cho
đình công hợp pháp không sao tiến hành được trên thực tế” [46, tr.201]