Di dân tự do của người Hmông ở miền tây Thanh Hoá và Nghệ An hiện nay
Trang 2Viện Dân tộc học-Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Tập thể hướng dẫn khoa học:
1 PGS, TS Lê Sỹ Giáo
2 PGS, TS Khổng Diễn
Phản biện 1: GS, TS Ngô Văn Doanh, Viện Nghiên cứu Đông
Nam á-Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Khoa học Xã hội và Nhân văn
Phản biện 3: PGS, TS Lê Ngọc Thắng, Trường Bồi dưỡng nghiệp
vụ cán bộ dân tộc-Uỷ ban dân tộc
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước họp tại Viện Dân tộc học-Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Vào hồi 8 giờ 30 ngày 21 tháng 7 năm 2009
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Hà Nội
- Thư viện Viện Dân tộc học
Trang 3Danh mục công trình đ∙ công bố của tác giả
liên quan đến luận án
1 Đậu Tuấn Nam (2005), “Di cư tự do của người Hmông ở miền Tây
Nghệ An (Thực trạng và những vấn đề đặt ra)”, Dân tộc học, (6),
tr 44-48
2 Đậu Tuấn Nam (2006), “Tình hình di dân tự do của người Hmông
ở miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An hiện nay”, Dân tộc học, (3),
tr 30-35
3 Đậu Tuấn Nam (2007), “Giải quyết vấn đề di cư tự do của người
Hmông ở miền núi hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An”, Dân tộc
học, (5), tr 17-23
4 Đậu Tuấn Nam (2009), “Đặc điểm di dân tự do của người Hmông
ở miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An”, Dân tộc học, (3), tr 15-23
Trang 4mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Di dân là một hiện tượng phổ biến trong sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia Miền núi Việt Nam là địa bàn cư trú của nhiều tộc người có tập quán di cư Từ khi thực hiện Đổi mới (năm 1986), đặc biệt là sau năm 1990, di dân tự do ở các tộc người thiểu số diễn ra với quy mô và tốc độ lớn; điều kiện, bản chất của các cuộc chuyển cư cũng khác trước, trở thành vấn đề cần phải được xem xét
Miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An là nơi có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội, nhưng cũng là nơi cư dân đói nghèo chiếm tỷ lệ cao Trong lịch sử, vùng đất này vừa là nơi nhập cư, vừa là nơi xuất cư của nhiều tộc người thiểu số Và, hiện nay đây là khu vực thường diễn ra các hoạt động di dân tự do của người Hmông khá phức tạp ở miền Tây Thanh Hóa có hàng ngàn người Hmông nhập cư đến từ các tỉnh miền núi phía Bắc, một bộ phận trong số họ tiếp tục di cư vào Tây Nguyên và một số khác di cư sang Lào Trong khi đó, ở miền Tây Nghệ An có hàng ngàn người Hmông xuất cư tự
do sang Lào Di dân tự do của người Hmông không những tác động tới đời sống kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh; mà còn làm cho mối liên kết tộc người ở vùng biên giới trở nên rất phức tạp, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà liên quốc gia Tuy nhiên, việc nghiên cứu về di dân ở đây lại chưa
được quan tâm đầy đủ, cần phải được đặt ra như là một vấn đề cấp bách
Do vậy, nghiên cứu “Di dân tự do của người Hmông ở miền Tây Thanh
Hóa và Nghệ An hiện nay” không chỉ có giá trị về lý luận, còn có ý nghĩa
về thực tiễn
2 Mục đích nghiên cứu của luận án
Một là, tìm hiểu thực trạng di dân tự do của người Hmông ở miền Tây
hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An hiện nay
Hai là, xác định nguyên nhân và những tác động về kinh tế, xã hội, văn
hóa tộc người, an ninh quốc phòng, môi trường sinh thái của di dân tự do
Ba là, xây dựng cơ sở khoa học cho việc đề xuất các kiến nghị, giải pháp
nhằm điều tiết, ổn định di dân tự do phù hợp với tình hình phát triển kinh
tế - xã hội vùng miền núi, dân tộc thiểu số hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An
3 Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề có liên quan đến di dân tự do của người Hmông ở miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An
- Phạm vi nghiên cứu của luận án là vấn đề di dân tự do của người Hmông ở miền Tây hai tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An Khung thời gian nghiên cứu được giới hạn từ khi thực hiện Đổi mới đến nay
Trang 5- Địa bàn nghiên cứu là miền Tây hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu điền dã chúng tôi chọn: Mường Lát (Thanh Hóa) - nơi có nhiều người Hmông nhập cư; Kỳ Sơn (Nghệ An) - nơi
có nhiều người Hmông xuất cư sang Lào làm điểm nghiên cứu
4 Đóng góp của luận án
- Cung cấp cho chuyên ngành Nhân học và các bộ môn có liên quan nhiều tư liệu mới, phong phú và có hệ thống về di dân tự do của người Hmông ở miền Tây hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An
- áp dụng các lý thuyết “lực hút - lực đẩy”, lý thuyết mạng xã hội vào thực tế nghiên cứu di dân tự do của người Hmông ở miền Tây hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An, luận án làm rõ quá trình di dân tự do của dân tộc này chịu sự tác động/chi phối của các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội và vai trò của các yếu tố (gia đình, dòng họ, đồng tộc, tôn giáo) tạo nên mạng lưới quan hệ xã hội giữa các cộng đồng ở nơi đi và nơi đến, khiến cho mối liên kết tộc người trở nên hết sức phức tạp, không chỉ trong phạm vi quốc gia
mà còn liên quốc gia
- Khẳng định di dân tự do của người Hmông ở miền Tây hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An là loại hình di dân mang tính đặc thù Đó là loại hình di dân tự do đa chiều và phức tạp Sự đa chiều ở đây bao gồm nhiều hướng di cư: Bắc - Nam, Đông - Tây và ngược lại; trong phạm vi quốc gia
và liên quốc gia Tính phức tạp thể hiện di dân tự do của người Hmông ở vùng này chịu tác động của rất nhiều yếu tố: kinh tế, xã hội, văn hóa, quan
hệ tộc người, tôn giáo, cơ chế chính sách, âm mưu của các thế lực thù địch
- Khuyến nghị một số giải pháp đặc thù cho cả nơi đi và nơi đến của người Hmông, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi
và đặc điểm văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay
5 Nguồn tài liệu của luận án
- Trước hết, là nguồn tư liệu điền dã thông qua quan sát, phỏng vấn sâu,
thảo luận nhóm và các kết quả điều tra xã hội học tại địa bàn nghiên cứu
- Hai là, các công trình, bài viết có liên quan đến di dân và di dân tự do
của các dân tộc thiểu số được các học giả trong và ngoài nước công bố
- Ba là, một số tài liệu về địa lý dân cư, báo cáo tình hình kinh tế - xã
hội; những số liệu về dân số, dân tộc của hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An
- Bốn là, các báo cáo và văn bản của Đảng và Nhà nước, các Bộ, ngành
ở Trung ương
6 Bố cục luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án
được cấu trúc gồm 5 chương
Trang 6Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về di dân, cơ sở lý thuyết vμ phương pháp nghiên cứu 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về di dân ở Việt Nam
Căn cứ vào mục tiêu, phạm vi nghiên cứu có thể chia các công trình nghiên cứu về di dân thành hai nhóm vấn đề chính: 1) Các nghiên cứu về
di dân và di dân tự do nói chung; và 2) Các nghiên cứu về di dân của các tộc người thiểu số, trong đó có di dân tự do của người Hmông
1.1.1 Các nghiên cứu về di dân và di dân tự do
Nhìn chung, vấn đề di dân và di dân tự do đã được các nhà nghiên cứu phân tích khá toàn diện Trong đó, Đặng Nguyên Anh là tác giả có nhiều bài viết chuyên sâu, bàn về vai trò của mạng lưới xã hội đối với quá trình di cư, quyết định di chuyển, sự lựa chọn nơi đến, quá trình thích ứng của người
di cư, những khác biệt về vai trò giới trong di cư… Bên cạnh những bài viết
kể trên, nhiều công trình về di dân có quy mô lớn đã được công bố Đó là các dự án điều tra do Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tài trợ: Dự án VIE/89/P03 (Điều tra di cư ở Đồng bằng sông Cửu Long và Thành phố Hồ Chí Minh);
Dự án VIE/93/P02 (Điều tra về di dân tự do ở một số vùng nông thôn tỉnh
Đồng Nai, Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh; Dự án VIE/01/P12 (Điều tra di cư Việt Nam năm 2004)… Ngoài ra, còn một số nghiên cứu khác của các tác giả: Đỗ Văn Hòa (1998), Trịnh Khắc Thẩm (1999), Hoàng Văn Chức (2004)… Tuy còn có những hạn chế, nhưng những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về di dân đã được các nghiên cứu kể trên trình bày khá toàn diện, góp phần giúp luận án có cái nhìn hệ thống về vấn đề nghiên cứu
1.1.2 Các nghiên cứu về di dân của các tộc người thiểu số, trong đó
có di dân tự do của người Hmông
Có thể phân thành ba nhóm: 1) Các công trình không lấy vấn đề di dân làm chủ đích nghiên cứu; 2) Các nghiên cứu về nông nghiệp du canh
và định canh, định cư; 3) Những công trình chuyên khảo về di dân của các dân tộc thiểu số, trong đó có di dân tự do của người Hmông
1) Thuộc nhóm công trình không lấy di dân làm chủ đích nghiên cứu chính, vấn đề di dân thường được các nhà khoa học kết hợp trình bày trong các nghiên cứu chung về lịch sử tộc người, văn hóa và đời sống tâm linh Trong đó, đáng chú ý là công trình “Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam” của tác giả Khổng Diễn, bàn về sự di cư phức tạp và ngày một gia tăng của các dân tộc thiểu số phía Bắc Tuy nhiên, do không lấy di dân làm chủ đích nghiên cứu chính, nên nhiều vấn đề đưa ra bàn luận, phân tích còn thiếu tính chuyên sâu, song đều có giá trị tham khảo quan trọng đối với luận án
Trang 72) Thuộc nhóm các nghiên cứu về nông nghiệp du canh và vấn đề định canh định cư, cho đến nay đã có một số công trình và khá nhiều bài báo
được công bố (Nguyễn Anh Ngọc: 1981, 1990…; Đặng Nghiêm Vạn: 1975, 1982…) Phần lớn các nghiên cứu vừa nêu đều khẳng định: định canh định cư là một chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, có thể coi: “Nghiên cứu về định canh, định cư ở Việt Nam” (Viện Dân tộc, 2006)
là công trình nghiên cứu khá toàn diện và khách quan về các vấn đề trên Quan điểm này cũng được chia sẻ phần nào trong: “Kế hoạch định canh
định cư ở vùng miền núi của Việt Nam: Chính sách, hình thức và hiệu quả” (Nguyễn Văn Chính, 2005) Ngoài những đánh giá khách quan về định canh định cư, việc thực thi chính sách, tác giả bài viết cho rằng: việc canh tác di cư của các nhóm thiểu số sống ở vùng núi là một dạng thức để đối phó và khai thác hợp lý các nguồn thiên nhiên Vì thế, sẽ là vội vã khi kết luận, canh tác di cư là phương thức lạc hậu trong sản xuất Tuy nhiên, vấn
đề nông nghiệp du canh ngày nay không thể tiếp tục như trước đây và can thiệp là cần thiết
3) Thuộc nhóm các công trình chuyên khảo bàn về di dân ở các tộc người thiểu số cho đến nay có rất ít nghiên cứu được công bố Trong đó phải kể đến các công trình cấp Bộ của tác giả Khổng Diễn (1999) và Nguyễn Bá Thủy (2001) khảo sát về di dân tự do của một số dân tộc, trong
đó có di dân tự do của người Hmông từ các tỉnh miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên Tuy nhiên, các công trình này cũng chưa phải là những nghiên cứu chuyên sâu về di dân tự do của người Hmông Vấn đề di dân của người Hmông mới chỉ được một vài tác giả công bố dưới dạng: báo cáo khoa học (Vũ Trường Giang, 2006); bài tạp chí (Trần Hữu Sơn, 1997)… Gần đây,
Đậu Tuấn Nam - tác giả luận án này mới thực hiện một số nghiên cứu mang tính hệ thống về di dân tự do của người Hmông ở miền Tây hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An Tuy vậy, các bài viết nói trên vẫn còn có những hạn chế nhất định Song những hạn chế vừa nêu sẽ là bài học kinh nghiệm cho các nghiên cứu tiếp theo của luận án
Như vậy, di dân tự do của người Hmông là một vấn đề khoa học còn chưa được quan tâm đúng mức, cả về lý luận và thực tiễn Cần thiết phải
có một nghiên cứu chuyên sâu về di dân tự do của dân tộc này
1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản về di dân
Theo nghĩa rộng, di dân là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong
một không gian và thời gian nhất định ở đây, di dân được đồng nhất với
sự di động của dân cư, không chú ý đến sự thay đổi nơi cư trú
Trang 8Theo nghĩa hẹp, di dân là sự di chuyển của dân cư từ một đơn vị lãnh
thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định
Di dân có tổ chức (còn gọi là di dân kế hoạch) là sự di chuyển dân cư
được thực hiện theo kế hoạch và các chương trình mục tiêu nhất định do nhà nước và chính quyền các cấp vạch ra và tổ chức, chỉ đạo thực hiện
Di dân không có tổ chức (còn gọi là di dân tự do) là sự di chuyển
mang tính cá nhân của người di cư hoặc bộ phận gia đình, dòng họ, cộng
đồng quyết định, không phụ thuộc vào kế hoạch, sự hỗ trợ của nhà nước Trong luận án này, thuật ngữ “Di dân tự do của người Hmông ở miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An” được hiểu là di dân không có tổ chức, do người Hmông tự phát di cư theo nhiều luồng hết sức phức tạp (từ miền núi phía Bắc vào miền Tây Thanh Hóa; từ miền Tây hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ
An sang Lào, vào Tây Nguyên; và ngược lại)
1.2.2 Một số hướng tiếp cận lý thuyết
Luận án áp dụng các lý thuyết “lực hút - lực đẩy”, lý thuyết mạng xã hội vào thực tế nghiên cứu di dân tự do của người Hmông ở miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An áp dụng lý thuyết “lực hút - lực đẩy”, chúng tôi hướng tới
đích làm rõ sự tác động/chi phối của các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội đến
di dân tự do của người Hmông; lý thuyết mạng xã hội là nhằm xem xét vai trò của các yếu tố (gia đình, dòng họ, tôn giáo…) tạo nên mối quan hệ mạng lưới xã hội trong di dân của dân tộc này Lẽ dĩ nhiên, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi luôn xem xét vấn đề di dân tự do của người Hmông trong mối liên hệ với nền kinh tế nông nghiệp du canh của họ, nhằm có được những
đánh giá khách quan, thay vì những nhận xét định kiến có thể xảy ra
1.2.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận án là điền dã dân tộc học, với các thao tác cơ bản như quan sát, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Ngoài ra, luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như
điều tra xã hội học, tranh thủ ý kiến chuyên gia…
Tiểu kết chương 1
Tuy có nhiều công trình nghiên cứu về di dân được công bố, trong đó có
di dân tự do của các tộc người thiểu số Nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về di dân tự do của người Hmông với toàn
bộ tính đặc thù của nó Luận án áp dụng các lý thuyết “lực hút - lực đẩy”, lý thuyết mạng xã hội và sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, liên ngành để làm rõ thực trạng, nguyên nhân và những tác động đặc thù trong di dân tự do của người Hmông ở miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An
Trang 9Chương 2 Khái quát địa bμn nghiên cứu: miền tây
Thanh Hóa vμ Nghệ An 2.1 Điều kiện tự nhiên
Các đặc trưng về địa lý tự nhiên (địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu…) của miền Tây hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An cho thấy, đây là một khu vực khá thống nhất - vùng chuyển tiếp giữa hai khối Tây Bắc và Trường Sơn - Tây
của hai tỉnh), có nhiều tài nguyên để phát triển nông - lâm nghiệp và công nghiệp; tuy nhiên, do địa hình chia cắt nên việc khai thác chúng gặp rất nhiều trở ngại
2.2 Đơn vị hành chính, dân số và dân tộc
Miền Tây hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An là nơi có nhiều đơn vị hành chính Tính đến tháng 12/2007, khu vực này có 411 xã, phường, thị trấn thuộc 22 huyện, thị (Thanh Hóa: 11 huyện, 194 xã; Nghệ An: 11 huyện, thị
và 217 xã); ngoài ra, còn có 70 xã miền núi thuộc các huyện giáp ranh Dân
số cả vùng là 2.054.371 người (Thanh Hóa: 908.023; Nghệ An: 1.146.348)
Có thể nói, miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An là nơi tụ cư của nhiều tộc người thiểu số Trong đó, một số dân tộc có quy mô dân số tương đối lớn như dân tộc Thái là 502.516 người, Mường - 339.869 người, Thổ - 78.070 người, Hmông - 44.204 người và Khơ - mú là 33.745 người
2.3 Người Hmông ở Thanh Hóa và Nghệ An
2.3.1 Vài nét về lịch sử tộc người
Các nghiên cứu về dân tộc học/nhân học ở miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An cho rằng, người Hmông ở khu vực này có nguồn gốc từ Lào và Tây Bắc Việt Nam Tuy nhiên, trong thực tế, ít thấy có mối liên hệ giữa người Hmông ở miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An với người Hmông ở miền núi phía Bắc Trong khi, mối quan hệ đồng tộc giữa người Hmông ở đây,
đặc biệt là người Hmông Nghệ An với người Hmông ở Lào lại rất gần
2.3.2 Dân số và địa bàn cư trú
Năm 2007, ở Thanh Hóa có 14.755 người Hmông, nhưng tập trung chủ yếu ở huyện Mường Lát: 13.140 người (chiếm 89,05%) Hai huyện Quan Sơn và Quan Hóa có 1.615 người (chiếm 10,05%) ở Thanh Hóa, người Hmông cư trú tại 46 bản, 9 xã, của 3 huyện vùng cao biên giới (Mường Lát: 41 bản, 5 xã, Quan Sơn: 3 bản, 2 xã; Quan Hóa: 2 bản, 2 xã)
Năm 2007, ở Nghệ An có 29.449 người Hmông, nhưng tập trung chủ yếu ở huyện Kỳ Sơn: 24.046 người (chiếm 81,65%) Hai huyện Tương Dương và Quế Phong có 5.403 người (chiếm 18,35%) ở Nghệ An, người
Trang 10Hmông cư trú tại 92 bản, 20 xã, của 3 huyện biên giới (Kỳ Sơn: 74 bản,
ông tổ 4 - 5 đời sinh ra, mà còn là cộng đồng những người “cùng ma” Chính mối liên kết này khiến cho mối quan hệ dân tộc ở người Hmông vượt qua ranh giới lãnh thổ quốc gia
2.3.4 Hiện trạng kinh tế - x∙ hội
Trong cơ cấu kinh tế vùng dân tộc Hmông, nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu Trong đó, kinh tế nương rẫy có vai trò quan trọng trong đời sống của đồng bào Tuy nhiên, do phương thức canh tác đơn giản, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên năng suất không cao Công nghiệp ở vùng
người Hmông chưa hình thành, thủ công nghiệp chỉ là những hoạt động sản
xuất nhỏ lẻ trong các gia đình (đan lát, rèn, xay xát) Cơ sở hạ tầng còn rất yếu kém cả về giao thông, thủy lợi, trường học, các công trình phúc lợi xã hội khác
Số người Hmông di cư không biết chữ chiếm tỷ lệ rất cao (Mường Lát là 84,4%) Tình trạng nghiện hút, tái trồng thuốc phiện vẫn còn ở nhiều nơi Bản sắc văn hóa tộc người chưa được phát huy Đói nghèo vẫn là tình trạng phổ biến ở vùng dân tộc Hmông (Thanh Hóa: 87,8%; Nghệ An: 57,72%)
Tiểu kết chương 2
Miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An là vùng phụ cận của Tây Bắc, điều kiện
tự nhiên tuy thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, nhưng cũng có không ít khó khăn Đặc biệt, vùng người Hmông cư trú, địa hình chia cắt, khí hậu phức tạp, không thuận lợi cho cuộc sống con người, cây trồng và vật nuôi Trên con đường thiên di, một bộ phận người Hmông từ các tỉnh phía Bắc đã dọc theo biên giới Việt - Lào xuống đến miền Tây Thanh Hóa; một
bộ phận di cư sang Lào, rồi sau đó di chuyển vào miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An Hiện nay, đời sống kinh tế - xã hội của người Hmông ở đây tuy
có được nâng cao hơn trước, nhưng tốc độ phát triển kinh tế còn rất chậm; vấn đề an ninh lương thực chưa được đảm bảo; điều kiện sống của một bộ phận người Hmông di cư chưa được cải thiện, thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn trước, tỷ lệ đói nghèo cao
Trang 11Chương 3 Thực trạng di dân tự do của người Hmông
ở miền Tây Thanh Hóa vμ Nghệ An
3.1 Tổng quan tình hình di dân tự do ở Việt Nam
Từ những năm 60 và sau năm 1975 của thế kỷ trước, Nhà nước đã đưa dân vùng đồng bằng, thành thị đi xây dựng kinh tế mới ở các vùng miền núi, biên giới, hải đảo Cùng với dòng di dân đó, luôn tồn tại dòng di dân tự
do với quy mô ngày càng lớn và hình thức phổ biến là: di dân từ nông thôn tới đô thị; di dân theo hướng Bắc - Nam, chủ yếu là dân di cư từ các tỉnh miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên
Từ sau Đổi mới, bên cạnh dòng di dân tự do đến các tỉnh Tây Nguyên gồm nhiều dân tộc (chủ yếu là Tày, Nùng, Hmông, Dao), còn xuất hiện dòng di cư của người Hmông đến các khu rừng cấm, vùng đầu nguồn ở Mường Lát (Thanh Hóa), Chợ Đồn (Bắc Kạn)… Cùng với các dòng di cư trong nước, còn xuất hiện dòng di cư qua biên giới Việt - Lào, Việt - Trung
mà cư dân di chuyển chủ yếu là người Hmông Phương thức di chuyển khá
đa dạng: theo dòng họ hoặc theo hộ gia đình và có khi đơn lẻ Khi đến nơi ở mới, họ sống thành từng nhóm nhỏ, ở sâu trong rừng rất khó kiểm soát
3.2 Tình hình di dân tự do của người Hmông ở miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An
Từ năm 1991 đến nay, tình hình di dân tự do của người Hmông ở miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An bắt đầu phát triển cả về số lượng và quy mô các luồng di dân Trong 18 năm (1991 - 2008) ở miền Tây Thanh Hóa, Nghệ
An có 4.790 hộ, 31.519 người Hmông di dân tự do (Thanh Hóa: 3.024 hộ, 21.488 khẩu; Nghệ An: 1.766 hộ, 10.031 khẩu), với nhiều luồng di cư khác nhau và diễn biến hết sức phức tạp ở miền Tây Thanh Hóa, Mường Lát là
địa bàn nhập cư chủ yếu của người Hmông đến từ các tỉnh phía Bắc (11.206 người - chiếm 90,42%); ở miền Tây Nghệ An, Kỳ Sơn là địa bàn xuất cư chủ yếu của người Hmông sang Lào (5.301 người - chiếm 71,59%) Và trong mỗi dòng di cư nói trên đều có dòng di chuyển ngược; đặc biệt, với dòng di cư từ miền núi phía Bắc vào miền Tây Thanh Hóa, không chỉ có dòng di chuyển ngược mà một bộ phận trong số họ sau khi đến Thanh Hóa còn tiếp tục di cư vào Tây Nguyên, một thời gian sau lại trở về miền Tây Thanh Hóa
Theo báo cáo của các địa phương có người Hmông di dân tự do, thời
kỳ 1991 - 2008, ở miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An có 1.582 hộ, 13.012 người Hmông nhập cư tự do Trong đó, miền Tây Thanh Hóa là khu vực có
số lượng người nhập cư khá lớn: 1.461 hộ, 12.393 khẩu (chiếm 92,3% số hộ,
Trang 1295,2% số người nhập cư toàn vùng), chủ yếu là người Hmông di cư đến từ các tỉnh miền núi phía Bắc (1.413 hộ, 12.124 khẩu; chiếm 96,7% số hộ, 97,8% số người nhập cư vào Thanh Hóa), các luồng nhập cư khác vào địa bàn này không đáng kể (24 hộ, 121 khẩu từ Tây Nguyên về, chiếm 1,6% số
hộ và 0,98 số khẩu; 24 hộ, 148 khẩu từ Lào về, chiếm 1,6% số hộ và 1,94% số khẩu) ở miền Tây Nghệ An, trước năm 1993, số người nhập cư vào địa bàn - theo báo cáo của các địa phương có người di cư là không nhiều Nhưng từ sau năm 1994, trên địa bàn miền Tây tỉnh Nghệ An xuất hiện luồng nhập cư của người Hmông từ Lào về Tuy nhiên, số lượng người Hmông nhập cư vào Nghệ An không nhiều, tính đến năm 2008 mới có 121
hộ, 619 khẩu (chiếm 7,6% số hộ; 4,8% số người nhập cư toàn vùng), bình quân mỗi năm có khoảng 8 hộ, 41 khẩu
Theo báo cáo của các địa phương có người Hmông di dân tự do, thời
kỳ 1991 - 2008, ở miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An có 2.648 hộ, 14.863 khẩu di cư sang Lào, vào Tây Nguyên và trở về các tỉnh miền núi phía Bắc (Thanh Hóa: 1.296 hộ, 7.269 khẩu; Nghệ An: 1.352 hộ, 7.594 khẩu), bình
quân mỗi năm có 147 hộ, 826 khẩu Có thể chia thành 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1994 - 1998: Tình hình xuất cư của người Hmông có nhiều
diễn biến khá phức tạp ở miền Tây Nghệ An, người Hmông di cư sang Lào với quy mô và số lượng lớn (179 hộ, 1.006 người), bình quân mỗi năm
có 36 hộ, 201 khẩu Trên địa bàn miền Tây Thanh Hóa, tình hình người Hmông di cư sang Lào, vào Tây Nguyên số lượng không nhiều (có 31 hộ,
120 khẩu sang Lào; vào Tây Nguyên là 11 hộ, 66 khẩu); nhưng đã xuất hiện dòng di chuyển ngược về các tỉnh miền núi phía Bắc Ngoài 87 hộ,
602 người Hmông được Thanh Hóa trả về các tỉnh Sơn La, Lào Cai, Yên Bái những năm 1993 - 1994 còn có 74 hộ, 286 khẩu chuyển cư trở về các tỉnh miền núi phía Bắc vào các năm 1996 - 1997
- Giai đoạn 1999 - 2008: Tình hình xuất cư của người Hmông tiếp tục
diễn ra với quy mô và số lượng lớn Trong 10 năm (1999 - 2008), ở miền Tây Nghệ An có 1.138 hộ, 6.398 người Hmông di cư sang Lào (bình quân mỗi năm có 114 hộ, 640 người) Trên địa bàn miền Tây Thanh Hóa, dòng chuyển cư trở về các tỉnh miền núi phía Bắc có quy mô và số lượng lớn hơn trước (giai đoạn 1999 - 2008, có 624 hộ, 3.564 người, bình quân mỗi năm
có 62 hộ, 356 khẩu) Các luồng di cư từ miền Tây Thanh Hóa sang Lào và vào Tây Nguyên cũng diễn ra với số lượng nhiều hơn (có 311 hộ, 1.767 khẩu
di cư vào Tây Nguyên, mỗi năm có 31 hộ, 177 khẩu; và 158 hộ, 864 khẩu
di cư sang Lào, mỗi năm có 16 hộ, 86 khẩu)
Trang 133.2.3 Tình hình di dân nội tỉnh
Theo báo cáo của các địa phương có người Hmông di dân tự do, thời kỳ
1991 - 2008, ở miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An có 568 hộ, 3.665 người Hmông di cư nội tỉnh (Thanh Hóa: 267 hộ, 1.826 khẩu; Nghệ An: 293 hộ, 1.818 khẩu), bình quân mỗi năm có 57 hộ, 367 người Trước năm 1995, di dân nội tỉnh ở miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An hầu như không xảy ra Nhưng từ sau năm 1996, cùng với các luồng nhập cư từ miền núi phía Bắc
đến; Tây Nguyên và Lào về, di dân nội tỉnh ở miền Tây Thanh Hóa, Nghệ
An mới bắt đầu trở nên phức tạp Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có 186 hộ, 1.310 người Hmông di cư nội tỉnh; bình quân mỗi năm có 19 hộ, 131 khẩu Trên địa bàn tỉnh Nghệ An, tình hình di dân tự do nội tỉnh của người Hmông diễn ra liên tục và chưa thấy có dấu hiệu tạm ngừng Từ năm 1996
đến nay, ở Nghệ An có 293 hộ, 1.818 người Hmông di dân tự do nội tỉnh; bình quân mỗi năm có 16 hộ, 101 khẩu
3.3 Đặc điểm di dân tự do của người Hmông ở miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An
Qua khảo sát thực tế tại địa bàn nghiên cứu, luận án bước đầu nêu lên một số đặc điểm về di dân tự do của người Hmông ở miền Tây hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An như sau:
Thứ nhất, hoạt động di dân tự do của người Hmông ở miền Tây
Thanh Hóa, Nghệ An không chỉ diễn ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia với sự đan xen phức tạp giữa các luồng nhập cư, xuất cư mà còn diễn ra trên phạm vi giữa nhiều quốc gia
Thứ hai, thành phần tham gia di dân tự do trên địa bàn miền Tây
Thanh Hóa, Nghệ An khá đa dạng, trong đó chủ yếu là người dân lao
động dựa vào nông nghiệp
Thứ ba, thời gian di chuyển của người Hmông trên địa bàn các tỉnh
Thanh Hóa, Nghệ An không có sự đồng nhất giữa các luồng di cư
Thứ tư, hướng di chuyển của người Hmông di dân tự do ở miền Tây
Thanh Hóa, Nghệ An theo nhiều chiều hết sức phức tạp
Thứ năm, phương thức di chuyển cư của đồng bào Hmông ở miền Tây
Thanh Hóa, Nghệ An khá đa dạng
Thứ sáu, hoạt động di dân tự do của người Hmông ở miền Tây Thanh
Hóa, Nghệ An trong những năm gần đây có những dấu hiệu không bình thường, với nhiều diễn biến khó lường
Thứ bảy, phần lớn người Hmông nhập cư tự do vào miền Tây hai tỉnh
Thanh Hóa và Nghệ An đều có nhu cầu cải đạo để theo Tin Lành hoặc Công giáo