1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục thường xuyên

27 696 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông miền núi tây bắc
Tác giả Nguyễn Thị Nhung
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Lê, PGS.TS. Bùi Văn Quân
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử giáo dục
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 461,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục thường xuyên cho học sinh THPT miền núi Tây Bắc

Trang 1

Trường đại học sư phạm hμ nội

Trang 2

tại Trường Đại học Sư phạm Hμ Nội

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Văn Lê

2 PGS.TS Bùi Văn Quân

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp

Họp tại: Vào hồi: giờ ngày tháng năm 2008

Có thể tìm đọc luận án tại:

- Thư viện Quốc gia

- Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN

1 Nguyễn Thị Nhung (2004), “Những nhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các thành tố của tiềm năng nghề và định hướng nghề nghiệp

của học sinh THPT”, Kỷ yếu hội thảo nghiên cứu thực trạng tiềm năng và

định hướng nghề nghiệp của học sinh phổ thông Việt Nam- chương trình KHCN cấp nhà nước KX 05- 09

2 Nguyễn Thị Nhung (2006), “Nhận thức của giáo viên Trung học phổ thông huyện Thuận Châu (Sơn La) về giáo dục hướng nghiệp trong

nhà trường phổ thông”, Tạp chí Giáo dục (số 147, tr 44- 45)

3 Nguyễn Thị Nhung (2008), “Hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở

trường trung học phổ thông tại các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Yên Bái”, Tạp

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thứ nhất: Xuất phát từ mâu thuẫn giữa yêu cầu bức xúc về nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, cho sự phát triển của vùng Tây Bắc với trình độ nguồn nhân lực hiện nay còn hạn chế; giữa yêu cầu chọn nghề phù hợp, phát triển tiềm năng nghề nghiệp (TNNN) để học sinh sẵn sàng bước vào cuộc sống lao động xã hội với chất lượng giáo dục phổ thông, giáo dục hướng nghiệp (GDHN) còn hạn chế

Thứ hai: Xuất phát từ sự bất cập giữa một bên là khả năng hướng nghiệp của nhà trường phổ thông rất lớn với thực tiễn phát huy tiềm năng

đó trong việc hướng dẫn học sinh chọn nghề khoa học và phát triển tiềm năng nghề nghiệp của học sinh THPT miền núi Tây Bắc

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa tiềm năng nghề nghiệp của

học sinh với nội dung GDHN trong nhà trường THPT và thực trạng tổ chức hoạt động GDHN hiện nay trong các trường THPT ở các tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam, đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động GDHN nhằm phát triển tiềm năng nghề nghiệp cho học sinh và nâng cao hiệu quả

hoạt động GDHN trong các trường THPT trên địa bàn miền núi Tây Bắc

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Cấu trúc, vận hành của hoạt động giáo dục hướng nghiệp và tác động của nó tới tiềm năng nghề nghiệp của học sinh các trường THPT trên địa bàn miền núi Tây Bắc Việt Nam

4 Giả thuyết khoa học

Nếu các trường THPT trên địa bàn miền núi Tây Bắc tổ chức hoạt động GDHN theo hướng gắn với việc phát triển tiềm năng nghề nghiệp, bao quát các khía cạnh: nâng cao nhận thức cho các lực lượng tham gia GDHN, đổi mới nội dung, phương pháp tổ chức hoạt động và tăng cường các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động GDHN thì hiệu quả hoạt động GDHN trong các trường THPT được nâng cao

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục hướng nghiệp, tiềm năng nghề nghiệp và phát triển tiềm năng nghề nghiệp cho học sinh THPT

Trang 5

5.2 Đánh giá thực trạng tổ chức giáo dục hướng nghiệp, tiềm năng nghề nghiệp của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn miền núi Tây Bắc hiện nay và những vấn đề có liên quan

nhằm góp phần phát triển tiềm năng nghề nghiệp cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn miền núi Tây Bắc

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1.Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp (nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức) ở 9 trường trung học phổ thông của Sơn La, Điện Biên, Yên Bái

thông của Sơn La, Điện Biên, Yên Bái

hướng nghiệp nhằm phát triển tiềm năng nghề nghiệp cho học sinh trung học phổ thông sát thực với điều kiện của địa bàn miền núi Tây Bắc

Thực nghiệm sư phạm được thực hiện để kiểm chứng tác động của một số biện pháp đã đề xuất

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp trao đổi, phỏng vấn theo chủ đề

- Phương pháp trắc nghiệm

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp thống kê xã hội học, sử dụng phần mềm SPSS

Ngoài ra chúng tôi sử dụng một số phương pháp bổ trợ như trò chuyện, quan sát, chuyên gia để thu thập các tư liệu thực tiễn sinh động

về vấn đề GDHN trong các trường THPT

8 Những đóng góp mới của luận án

+ Về lý luận: Làm sáng tỏ ý nghĩa, lý luận về GDHN cho học sinh THPT trong bối cảnh hiện nay, mối quan hệ giữa GDHN và phát triển tiềm năng nghề nghiệp - một trong những vấn đề cốt lõi của việc bồi dưỡng nhân cách, phát triển sức lao động

+ Về thực tiễn: Đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động GDHN trong mối quan hệ với mức độ phát triển TNNN của học sinh THPT miền núi Tây Bắc, nguyên nhân của thực trạng Đề xuất các biện pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả GDHN, góp phần phát triển TNNN cho học sinh THPT miền núi Tây Bắc

Trang 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP NHẰM PHÁT TRIỂN

TIỀM NĂNG NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT

1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về GDHN ở nước ngoài

Giáo dục hướng nghiệp là sự tiếp nối và triển khai trong thực tiễn quan điểm kết hợp giáo dục với lao động sản xuất và giáo dục kỹ thuật tổng hợp trong nhà trường đã tồn tại trong lịch sử phát triển giáo dục

C.Mác và Ph Enghen là những người đầu tiên đã chỉ ra cơ sở vật chất khách quan làm xuất hiện tính tất yếu xã hội của sự kết hợp giáo dục với lao động sản xuất Ở Mỹ, năm 1908, tại Boston, F Parson đã thành lập

phòng hướng nghiệp đầu tiên trên thế giới,

Ngày nay các nước đang phát triển như Đức, Pháp, Mỹ, Anh, Úc, Nhật, Ý…đều quan tâm đến GDHN cho học sinh phổ thông Trong đó đáng chú ý là các công trình của Wolfgang, Ulrich Johannes Kledzik (Đức), Magumi Nishino (Nhật Bản) Theo Magumi Nishino, học sinh trung học phải được: “Bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của ngành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và có khả năng lựa chọn ngành nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân”

Điểm chung của những công trình nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp ở nước ngoài đều chú ý đến việc cải cách mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ sở vật chất - kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả dạy học lao động chuẩn bị nghề nghiệp cho học sinh, đặc biệt là học sinh ở những năm học cuối của chương trình giáo dục phổ thông

1.1.2 Ở trong nước

Ngày 19 tháng 3 năm 1981 Chính phủ đã ban hành quyết định 126/CP

về “Công tác hướng nghiệp và sử dụng hợp lý học sinh các cấp PTCS, PTTH tốt nghiệp ra trường” Tiếp đó Bộ trưởng Bộ Giáo dục đã ký ban hành thông

tư số 31/TT ngày 17 tháng 8 năm 19981 của Bộ Giáo dục về việc hướng dẫn thực hiện quyết định 126/CP Nhiều văn bản chỉ đạo khác của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh đã được ban hành

Những hướng nghiên cứu chính về giáo dục hướng nghiệp ở nước ta trong giai đoạn vừa qua có thể được khái quát như sau:

- Khẳng định cơ sở khoa học và thực tiễn của nguyên lý giáo dục kết hợp với lao động sản xuất và tính tất yếu của công tác GDHN

- Thiết kế mô hình, xây dựng nội dung và phương thức triển khai hoạt động GDHN cho học sinh phổ thông

- Nghiên cứu xây dựng tài liệu giảng dạy phục vụ hoạt động GDHN

- Nghiên cứu về phát triển tiềm năng nghề nghiệp của học sinh

Trang 7

Những tác giả tiên phong trong các lĩnh vực trên có thể kể tới các nhà giáo dục như: Phạm Tất Dong, Phạm Huy Thụ, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Thế Trường, Nguyễn Minh Đường, Lê Đức Phúc, Đoàn Chi, Nguyễn ánh Tuyết, Nguyễn Viết Sự, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Văn

Lê, Nguyễn Văn Hộ, Hoàng Đức Nhuận, Trần Khánh Đức, Trần Đức Xước, Hà Thế Truyền, Nguyễn Đức Trí…Tác giả Nguyễn Công Khanh đã xây dựng bộ trắc nghiệm TNNN cho học sinh THCS, THPT

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Hướng nghiệp

Khái niệm hướng nghiệp được xác định nội hàm cụ thể tuỳ theo tiếp cận của các khoa học khác nhau (giáo dục học, tâm lý học, luật gia ) với khái niệm này Theo tác giả Phạm Tất Dong: “Hướng nghiệp như là một

hệ thống tác động của xã hội về giáo dục, về y học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân” Dưới góc độ giáo dục phổ

thông, tác giả luận án thống nhất với quan niệm trên đây

1.2.2 Giáo dục hướng nghiệp

GDHN không phải là một môn học, nó phải được thực hiện thông qua việc thiết kế và tổ chức các hoạt động giáo dục đặc thù theo chương trình

đã hoạch định với sự tham gia của nhiều lực lượng giáo dục, trong đó giáo dục nhà trường và đội ngũ giáo viên giữ vai trò chủ đạo

Trong nhà trường phổ thông, giáo dục hướng nghiệp là quá trình tác động tự giác của nhà trường, gia đình và xã hội nhằm mục đích giúp học sinh phát hiện và bồi dưỡng tiềm năng sáng tạo của cá nhân, giúp họ hiểu mình, hiểu yêu cầu của nghề, chuẩn bị cho thanh niên tâm lí sẵn sàng đi vào những nghề mà các thành phần kinh tế đang cần nhân lực, trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp nghề

1.2.3 Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Tổ chức là một hoạt động nhằm thiết lập và vận hành các quan hệ con người trong mối quan hệ với các nguồn lực của một tổ chức, một hoạt động

cụ thể Theo đó, biện pháp tổ chức hoạt động GDHN được hiểu là cách tiến hành hoạt động GDHN với nội dung, chương trình xác định, phương pháp và hình thức tổ chức cụ thể để thực hiện các mục tiêu GDHN đã đặt ra

Biện pháp tổ chức hoạt động GDHN bao gồm những tác động cụ thể

để tác động đến học sinh và các hoạt động của học sinh trong quá trình tham gia vào các hoạt động GDHN do giáo viên tổ chức và điều khiển Các biện pháp này có tác dụng làm cho các thành tố của hoạt động GDHN được sắp xếp trong một cấu trúc chặt chẽ, tạo nên ảnh hưởng qua lại và kết

Trang 8

quả thể hiện ở sự phát triển nhận thức nghề nghiệp, thái độ tích cực trong tìm hiểu, lựa chọn và chuẩn bị các phẩm chất tâm lý cơ bản, cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp tương lai của học sinh

1.2.5 Tiềm năng nghề nghiệp của học sinh THPT

Tiềm năng nghề nghiệp của học sinh THPT là những khả năng vốn có

của các em, bao gồm những phẩm chất, năng lực chung cần thiết cho mọi ngành nghề và đáp ứng được những đòi hỏi chung nhất từ tình huống việc làm này sang tình huống việc làm khác giúp học sinh THPT có thể lựa chọn nghề, học nghề một cách thuận lợi

Xét về cấu trúc, TNNN của học sinh THPT chính là những năng lực, phẩm chất, nội dung thuộc phạm vi tiền đào tạo nghề, bao gồm năng lực xã hội, các năng lực tổng hợp, ứng phó, động cơ, thể chất và sự ổn định về tâm thần Mỗi năng lực nêu trên lại bao gồm nhiều yếu tố cấu thành và có các biểu hiện cơ bản trong đời sống tâm lý con người

1.2.6 Phát triển tiềm năng nghề nghiệp

Phát triển TNNN là quá trình biến đổi các phẩm chất, năng lực trong cấu trúc TNNN (năng lực ứng phó, năng lực xã hội, các năng lực tổng hợp, động cơ, sức khoẻ, thể chất và có sự ổn định trong tâm lý), giúp cá nhân đáp ứng được ngày càng cao những yêu cầu, đòi hỏi chung nhất của mọi ngành nghề Sự phát triển biểu hiện ở chỗ cá nhân đạt được giá trị cao trong các mặt thuộc cấu trúc TNNN

1.3 GDHN trong nhà trường phổ thông trong bối cảnh hiện nay

1.3.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông

- Nhiệm vụ GDHN trong nhà trường phổ thông: Giáo dục thái độ

đúng đắn đối với lao động và nghề nghiệp, tổ chức cho học sinh làm quen với một số nghề; Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất; Động viên, hướng dẫn học sinh đi vào những nghề, những nơi

đang cần lao động trẻ tuổi có văn hoá

Trên bình diện xã hội muốn làm tốt nhiệm vụ hướng nghiệp cần thực hiện cả ba nội dung có quan hệ chặt chẽ là: Định hướng nghề, tư vấn nghề

và tuyển chọn nghề

- GDHN cho học sinh phổ thông được thực hiện qua bốn con đường:

+ Qua hoạt động dạy học các môn văn hoá

+ Hoạt động dạy học môn Công nghệ

+ Hoạt động giáo dục hướng nghiệp

+ Các hoạt động tham quan ngoại khoá, các phương tiện thông tin đại chúng và các tổ chức xã hội

Trang 9

Mỗi con đường đều có tác dụng GDHN, trong đó hoạt động GDHN

là con đường quan trọng vì nó giúp cho học sinh nắm được một cách hệ thống các thông tin về sự phát triển ngành nghề của xã hội, các yêu cầu của các nhóm nghề đối với người lao động, định hướng nghề nghiệp và chuẩn bị các phẩm chất cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp tương lai

1.3.2 Ý nghĩa của GDHN

GDHN là một hoạt động chính của nhà trường phổ thông, có ý nghĩa giáo dục, kinh tế, chính trị và xã hội Hiện nay, GDHN cần góp phần điều chỉnh

việc chọn nghề của thanh niên theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế; phát

huy tác động giáo dục ý thức chính trị và lí tưởng nghề nghiệp cho người lao động; Hướng nghiệp gắn với việc học tập làm chủ công nghệ mới và chuẩn

bị con người năng động thích ứng với thị trường

1.3.3 Một số đặc điểm của hoạt động GDHN trong các trường THPT miền núi

- Giáo viên đã nhận thức được sự cần thiết thực hiện GDHN cho học sinh Tuy nhiên, hầu hết giáo viên chưa được trang bị đầy đủ, hệ thống về lý luận và phương pháp tiến hành hoạt động GDHN trong trường phổ thông

- Lựa chọn nghề nghiệp đã trở thành công việc khẩn thiết của học sinh THPT Tuy nhiên, việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh THPT nói chung còn mang nặng tính chất cảm tính, gặp nhiều khó khăn và thiếu những chỉ dẫn mang tính khoa học

- Do điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, trình độ dân trí của vùng còn thấp, các ngành nghề phát triển chưa đa dạng, thông tin hạn hẹp nên đa

số học sinh THPT miền núi Tây Bắc chưa có điều kiện thuận lợi để tìm hiểu thế giới nghề nghiệp, xu hướng phát triển ngành nghề và các yêu cầu của nghề đối với người lao động trong thời kỳ CNH- HĐH Đây là vấn đề cần hết sức quan tâm trong GDHN cho học sinh các trường THPT trên địa bàn miền núi Tây Bắc

1.3.4 Kinh nghiệm GDHN trên thế giới

Kinh nghiệm ở các nước: Pháp, Trung Quốc, Mỹ, Ý, Đức, Malaixia cho thấy họ rất chú trọng GDHN trong trường phổ thông, họ đã xây dựng các tổ chức chuyên trách đồng thời huy động các cơ sở sản xuất tham gia GDHN, dạy nghề cho học sinh Điểm chung của những công trình nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp ở nước ngoài đều chú ý đến việc cải cách mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ sở vật chất - kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả dạy học lao động chuẩn bị nghề nghiệp cho học sinh, đặc biệt là học sinh ở những năm học cuối của chương trình giáo dục phổ thông Đây

là những kinh nghiệm quí giá đối mà chúng ta cần nghiên cứu, học tập và

vận dụng để nâng cao chất lượng GDHN

Trang 10

1.4 Mối quan hệ giữa GDHN với sự phát triển TNNN của học sinh

Hoạt động GDHN có khả năng rất lớn có thể ảnh hưởng tới tất cả các mặt trong cấu trúc TNNN của học sinh Thực hiện tốt các nội dung GDHN (định hướng nghề, tư vấn nghề )với các hình thức, phương pháp đặc thù của hoạt động sẽ giúp học sinh lĩnh hội hệ thống thông tin về thị trường lao động, xu hướng phát triển nghề nghiệp của xã hội và địa phương, hiểu biết về các nhóm nghề và những yêu cầu cơ bản, thiết yếu của nghề đối với người lao động…Trên cơ sở đó học sinh có ý thức tìm hiểu bản thân, đánh giá các mặt biểu hiện trong cuộc sống, học tập của bản thân, so sánh đối chiếu các phẩm chất tâm lý của cá nhân với yêu cầu của nghề nghiệp để hình thành và phát triển các yếu tố cơ bản, thiết yếu nhất cho bản thân mình Tác dụng trước hết của GDHN đối với học sinh là giúp các em xác định động cơ học tập đúng đắn, mong muốn học tập để sau này giúp ích cho xã hội, có những biểu hiện tính tự giác, tích cực, sáng tạo trong học tập, từ đó các em hình thành động cơ nghề nghiệp, điều chỉnh động cơ chọn nghề thích ứng với điều kiện hiện nay

Như vậy, nếu làm tốt GDHN ngay trong nhà trường phổ thông sẽ đặt nền tảng bước đầu cho việc phát triển tiềm năng nghề nghiệp của học sinh

Mối quan hệ giữa GDHN và TNNN được thể hiện qua sơ đồ:

Sơ đồ 1.3: Mối quan hệ giữa GDHN với sự phát triển TNNN của học sinh

Các năng lực cần thiết cho mọi ngành nghề

và điều kiện thích ứng với tình huống việc làm

Định hướng nghề

Tư vấn nghề

Động cơ học tập

Động cơ nghề nghiệp

Động cơ thành đạt

Nhu cầu địa vị

Thay đổi cấu trúc tiềm năng nghề nghiệp của học sinh THPT

Trang 11

1.5 Mối quan hệ giữa nhà trường phổ thông và các cơ sở đào tạo, dạy nghề, sản xuất, các doanh nghiệp trong công tác GDHN cho học sinh

Thực hiện mối liên kết này sẽ giúp cho học sinh mở rộng nguồn thông tin về ngành nghề của xã hội và địa phương, hiểu rõ hơn yêu cầu của nghề đối với người lao động, quy trình đào tạo, những điều kiện tham gia lao động nghề nghiệp, mở rộng sự tiếp xúc trực tiếp với những người lao động trong nghề…Trên cơ sở đó hình thành cảm xúc, hứng thú, động cơ nghề nghiệp, tác động đến sự phát triển các yếu tố trong TNNN của học sinh

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI TIỀM NĂNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH THPT MIỀN NÚI TÂY BẮC 2.1 Đối tượng, phương pháp và tổ chức khảo sát

2.1.1 Đối tượng khảo sát

Đề tài đã khảo sát 755 học sinh và 170 giáo viên của 9 trường Trong

đó, trường THPT Thị trấn Thuận Châu, Tông Lệnh, Tô Hiệu thuộc tỉnh Sơn La; Trường THPT Thành phố Điện Biên, Thanh Chăn, Tuần Giáo thuộc tỉnh Điện Biên và các trường: Nguyễn Huệ, Hoàng Quốc Việt, Trần Nhật Duật thuộc tỉnh Yên Bái

2.1.2 Phương pháp và tổ chức khảo sát

* Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng câu hỏi

Gồm 2 bảng dành cho các nhóm nghiệm thể điều tra

Bảng câu hỏi 1: Trưng cầu ý kiến giáo viên về giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT

Bảng câu hỏi 2: Phiếu trưng cầu ý kiến của học sinh về vấn đề chọn nghề và hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT

* Phương pháp trao đổi theo chủ đề

* Phương pháp trắc nghiệm: Sử dụng trắc nghiệm TNNN cho học sinh THPT của tác giả Nguyễn Công Khanh gồm 200 item, chia làm 6 thang đo nhằm đánh giá thực trạng TNNN của đối tượng

2.2 Kết quả khảo sát

2.2.1 Đánh giá thực trạng tổ chức GDHN ở các trường THPT miền núi Tây Bắc

* Hầu hết các trường THPT trên địa bàn miền núi Tây Bắc đã tổ chức GDHN cho học sinh với hình thức phổ biến là giáo viên giới thiệu các chủ đề trong chương trình theo khối lớp, phối hợp với các TTKTTH - HNDN để dạy nghề phổ thông cho học sinh

* Phần lớn giáo viên chưa nhận thức đầy đủ, chính xác về vị trí, tầm quan trọng, nội dung và các con đường thực hiện GDHN cho học sinh, có 33,5% giáo viên nhận thức đầy đủ các con đường GDHN

Trang 12

2.2.2 Thực trạng nhận thức về nghề nghiệp của học sinh THPT

* Mức độ hiểu biết nghề nghiệp của đối tượng điều tra

Bảng 2.4: Mức độ hiểu biết về nghề nghiệp dự định chọn

của học sinh THPT miền núi Tây bắc

Mức độ hiểu (%) STT Nội dung cần hiểu Hoàn toàn

chưa biết

Biết rất ít

Biết vừa phải

Biết khá nhiều

Biết rất

Học sinh biết rất ít hoặc vừa phải về các yếu tố của nghề nghiệp Không có

học sinh đạt được mức độ biết rất rõ, có tỉ lệ rất ít học sinh hiểu khá nhiều về

năng lực cần cho người lao động (0,7%), thời gian làm việc của nghề (1,5%)

* Mức độ học sinh sử dụng nguồn thông tin trong lựa chọn nghề

Bảng 2.6: Ý kiến của học sinh về mức độ sử dụng nguồn

thông tin trong lựa chọn nghề nghiệp

Mức độ sử dụng

Không

Dùng rất nhiều

STT Nguồn thông tin

Trang 13

Các nguồn thông tin học sinh sử dụng nhiều là: cha mẹ, anh chị em,

bạn bè, các phương tiện thông tin đại chúng, tuỳ hứng theo phong trào Giáo

viên bộ môn được trên 50% học sinh sử dụng nhiều Các nguồn không hoặc

ít sử dụng: ngoại khoá, chuyên gia tư vấn, những người làm trong nghề

2.2.2 Thực trạng TNNN của học sinh THPT miền núi Tây Bắc

Quá trình xử lý kết quả trắc nghiệm cho thấy: hệ số tin cậy của tiểu

thang đo trong cấu trúc TNNN đều ở mức khá, các phân phối điểm đảm

bảo tính chuẩn cho phép dùng các phương pháp thống kê mô tả (tính điểm

trung bình, độ lệch chuẩn, phương sai…) trên những số liệu của mẫu điều

tra này để suy đoán, dự báo

Bảng 2.8: Hệ số tin cậy của các tiểu thang đo trong cấu trúc TNNN

trên mẫu học sinh THPT miền núi Tây bắc

Thang đo Tiểu thang đo Hệ số tin cậy alpha

Ngày đăng: 11/04/2013, 20:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.3: Mối quan hệ giữa GDHN với sự phát triển TNNN của học sinh - Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục thường xuyên
Sơ đồ 1.3 Mối quan hệ giữa GDHN với sự phát triển TNNN của học sinh (Trang 10)
Bảng 2.4: Mức độ hiểu biết về  nghề nghiệp  dự định chọn - Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục thường xuyên
Bảng 2.4 Mức độ hiểu biết về nghề nghiệp dự định chọn (Trang 12)
Bảng 2.9: Điểm trung bình các thang đo tiềm năng nghề nghiệp - Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục thường xuyên
Bảng 2.9 Điểm trung bình các thang đo tiềm năng nghề nghiệp (Trang 14)
Bảng 2.13: Sự khác biệt điểm trung bình trên các thang đo TNNN - Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục thường xuyên
Bảng 2.13 Sự khác biệt điểm trung bình trên các thang đo TNNN (Trang 15)
Bảng 3.3: Sự khác biệt về điểm số trên các thang đo của   trắc nghiệm TNNN ở học sinh lớp thực nghiệm - Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục thường xuyên
Bảng 3.3 Sự khác biệt về điểm số trên các thang đo của trắc nghiệm TNNN ở học sinh lớp thực nghiệm (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w