Đối với nguồn thu này còn nhiều tiềm năng khai thác bởi thực trạng quản lý thuế còn sót hộ, doanh thu tính thuế còn chưa tương xứng với doanh thu thực tế kinh doanh của hộ… Do đó, vấn đề
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
PGS.TS Lê Danh Tốn
Hà Nội - Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài: “Hoàn thiện quản lý thuế đối
với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh” hoàn
toàn là kết quả nghiên cứu của chính bản thân tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng quy định
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình.\
Hà Nội, ngày 25 tháng 3 năm 2015
Tên tác giả
Đặng Thị Thùy Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết hợp với kinh nghiệm trong quá trình thực tiễn công tác, với sự nỗ lực của bản thân
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Trần Việt Tiến là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn cho tôi cả về chuyên môn, phương pháp nghiên cứu và chỉ bảo tôi nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị cán bộ Chi cục Thuế huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu
và cung cấp thông tin của luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Trường Đại học kinh
tế - Đại học Quốc gia Hà Nội và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn thiện luận văn này
Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn
Mặc dù với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý Thầy, quý
Cô, đồng nghiệp và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 25 tháng 03 năm 2015
Học viên
Đặng Thị Thùy Trang
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ iii
MỞ ĐẦU 1
1.1.Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp của luận văn 3
1.5 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 4
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.2.Thuế và quản lý thuế 6
1.2.1 Quan niệm và vai trò của thuế đối với phát triển kinh tế - xã hội 6
1.2.2 Quan niệm và vai trò của quản lý thuế 9
1.3 Một số vấn đề cơ bản về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 11
1.3.1 Quan niệm và đặc điểm quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 11
1.3.2 Đối tượng, mục tiêu quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 14
1.3.3 Tổ chức thực hiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 16
1.3.4 Kiểm tra, giám sát thực hiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 21
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 22
1.4.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 22
Trang 61.4.2 Sự cần thiết quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 26
1.5 Kinh nghiệm về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể của một số địa phương trong nước 28
1.5.1 Tổng quan kinh nghiệm về quản lý thuế của một số địa phương trong nước 28
1.5.2 Những bài học kinh nghiệm về quản lý thuế đối với Chi cục Thuế huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 33
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 36
2.1 Cách tiếp cận 36
2.1.1 Các phương pháp luận 36
2.1.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thuể 37
2.2 Thiết kế nghiên cứu 38
2.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 38
2.2.2 Khung nghiên cứu 39
2.3 Phương pháp thu thập số liệu, thông tin 40
2.3.1 Thu thập thông tin thứ cấp 40
2.3.2 Thu thập thông tin sơ cấp 41
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 42
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH 43
3.1 Điều kiện kinh tế - xã hội và khái quát hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ 43
3.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 43
3.1.2 Khái quát hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ 45
3.2 Hiện trạng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 47
3.2.1 Xác định mục tiêu, đối tượng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể47 3.2.2 Tổ chức thực hiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 48
Trang 73.2.3 Kiểm tra, giám sát thực hiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 62
3.3 Đánh giá chung về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 66
3.3.1 Những thành tựu 66
3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế 71
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH 77
4.1 Bối cảnh và xu hướng phát triển hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 77
4.1.1 Bối cảnh trong nước và địa phương ảnh hưởng đến quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 77
4.1.2 Xu hướng phát triển của hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ 80
4.2 Phương hướng hoàn thiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 81
4.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý thuế đối hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 86
4.3.1 Xác định đúng mục tiêu, đối tượng quản lý thuế 86
4.3.2 Tổ chức tốt việc thực hiện quản lý thuế 87
4.3.3 Nâng cao hiệu lực bộ máy và trình độ đội ngũ cán bộ quản lý thuế 93
4.3.4.Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 94
4.3.5 Thực hiện tốt việc áp dụng công nghệ hiện đại vào quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 96
4.3.6 Tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ về thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 97 4.4 Kiến nghị của tác giả 100
KẾT LUẬN 101
Trang 8TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Tiếng Việt: 102
Website: 104
PHỤ LỤC 1 105
PHỤ LỤC 2 108
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
1 CNXH Chủ nghĩa xã hội
2 CN-TTCN Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
3 ĐKKD Đăng ký kinh doanh
4 CQT Cơ quan thuế
5 GTGT Giá trị gia tăng
6 HKD Hộ kinh doanh
7 KBNN Kho bạc nhà nước
8 KK-KTT Kê khai – Kế toán thuế
9 KVKTNQD Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1 Danh sách chọn hộ điều tra 43
2 Bảng 3.1 Số lượng hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn
huyện Quế Võ từ năm 2010 đến năm 2014 47
3 Bảng 3.2 Thống kê tình hình cấp mã số thuế hộ kinh
doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ 50
4 Bảng 3.3 Kết quả điều tra doanh thu 50 hộ khoán trên địa
8 Bảng 3.7 Bậc thuế môn bài đối với hộ kinh doanh cá thể 60
9 Bảng 3.8 Tỷ lệ thu nhập chịu thuế TNCN ấn định 62
10 Bảng 3.9 Kết quả giải quyết đơn, thư khiếu nại 65
11 Bảng 3.10 Kết quả công tác ủy nhiệm thu 67
12 Bảng 3.11 Số tiền thuế thu được năm 2010 - 2014 69
13 Biểu đồ 3.1: Kết quả thực hiện dự toán thu NSNN các năm 70
Trang 11Sơ đồ 3.1 Bộ máy quản lý thuế đối với hộ kinh doanh
cá thể tại Chi cục Thuế huyện Quế Võ
57
Trang 12MỞ ĐẦU 1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, thông qua nguồn thu này để Chính phủ chi tiêu cho các công trình công cộng, cải thiện hệ thống an ninh xã hội Vì vậy, vấn đề quản lý thuế sao cho thu đúng, thu đủ luôn được đặt ra để tạo nguồn thu cho ngân sách và đảm bảo sự công bằng trong nghĩa vụ đóng góp của người dân
Trong thời gian qua, công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần hạn chế thất thu, tăng thu cho Ngân sách Nhà nước với tỷ lệ tăng năm sau cao hơn năm trước Tuy nhiên, ý thức tự giác chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của các hộ kinh doanh cá thể vẫn còn thấp, tình trạng vi phạm pháp luật thuế vẫn luôn xảy ra ở nhiều hình thức, với mức độ khác nhau, nợ thuế ngày càng tăng Đối với nguồn thu này còn nhiều tiềm năng khai thác bởi thực trạng quản lý thuế còn sót hộ, doanh thu tính thuế còn chưa tương xứng với doanh thu thực tế kinh doanh của hộ… Do đó, vấn đề cần thiết đặt ra là phải hoàn thiện chính sách và công cụ quản lý để nâng cao hiệu lực của công tác quản lý thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ nhằm hướng tới 2 mục tiêu cơ bản là:
- Về phía cơ quan thuế: Thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế
vào ngân sách Nhà nước, đảm bảo nguồn thu ổn định và tăng thu qua các năm
- Về phía hộ kinh doanh cá thể: Nâng cao ý thức chấp hành nghĩa vụ
thuế của hộ kinh doanh đối với NSNN, tạo cơ sở pháp lý giải quyết đầy đủ các quyền lợi của người nộp thuế
Huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh là huyện thuộc địa bàn có điều kiện kinh
tế - xã hội còn tương đối khó khăn có số thu từ thuế không nhiều, chưa đủ đáp
Trang 13ứng nhu cầu chi tiêu hằng năm của huyện, nhưng nguồn thu thuế chủ yếu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tỷ trọng số thuế từ khu vực này chiếm từ 50% đến 60%, trong đó từ hộ kinh doanh cá thể chiếm từ hơn 30% đến 40% trong tổng thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Xuất
phát từ những ý nghĩa thực tiễn trên tác giả đã chọn đề tài: “Hoàn thiện Quản
lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh” để thực hiện xây dựng luận văn thạc sỹ kinh tế
1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về thuế và quản lý thuế; hộ kinh doanh cá thể và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
1.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên
địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nội dung: Nghiên cứu tình hình thực hiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh, bao gồm: hộ nộp thuế theo phương pháp khai thuế và hộ nộp thuế theo phương pháp ổn định thuế (phương pháp khoán) Trong phạm vi luận văn này chỉ nghiên cứu
hộ nộp thuế theo phương pháp khoán
+ Thời gian nghiên cứu từ năm 2010 đến nay
+ Không gian: Huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Trang 141.4 Những đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về thuế, quản
lý thuế và vai trò của quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể, từ đó nhằm xác định rõ cách thức quản lý thuế thích hợp đối với hộ kinh doanh cá thể
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010 – 2014, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, phục vụ cho việc sơ kết, đánh giá về công tác quản lý thuế nói chung và công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể nói riêng và làm cơ sở để xây dựng một số kế hoạch,
đề án… về công tác quản lý thuế, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm,
bố trí, sắp xếp và thực hiện chính sách đối với đội ngũ cán bộ quản lý hộ giai đoạn từ nay đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
- Luận văn cũng có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập và giảng dạy cho đội ngũ cán bộ, công chức thuế mới ở Trường Nghiệp vụ Thuế, chủ yếu về chuyên đề thuế và quản lý thuế
1.5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý thuế đối với
hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Trang 15Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI
VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Qua nghiên cứu, tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố trong lĩnh vực thuế có thể nêu một số công trình điển hình sau:
“Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay” (2003) là một đề tài cấp Bộ có chất lượng của tập thể tác giả,
gồm PGS.TS Nguyễn Thị Bất là chủ nhiệm đề tài và các cộng sự Đề tài đã hệ thống hóa những lý thuyết cơ bản về quản lý thuế và phân tích thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam Đồng thời, đề tài đưa ra các giải pháp mang tính đột phá, phù hợp với tình thực tiễn của Việt Nam Tuy nhiên, nghiên cứu của đề tài mới chỉ dừng lại ở mốc thời gian 2003
“Đổi mới và hoàn thiện hệ thống quản lý thu thuế ở Việt Nam” của tác
giả Nguyễn Thị Mai Hương (2003) là một đề tài cấp Viện Khoa học Tài chính Đóng góp chủ yếu của đề tài là đã khai quát thực trạng công tác quản
lý thuế ở Việt Nam và đánh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế trên 2 góc độ: thực trạng công tác tổ chức bộ máy quản lý thu thuế và thực trạng công tác hành thu Từ phân tích kinh nghiệm quản lý thu thuế của một số nước trên thế giới và thực trạng của Việt Nam, đề tài rút ra một số bài học kinh nghiệm và nêu ra các giải pháp khá phù hợp với Việt Nam Tuy nhiên,
đề tài chưa đề cập đến được một số vấn đề lý thuyết cơ bản như khái niệm quản lý thuế, nội dung và các phương thức quản lý thuế Một số nhận xét về cải cách quản lý hành chính thuế ở một số nước trên thế giới được tác giả nêu
ra là phong phú nhưng các bài học cho Việt Nam chưa rõ Các giải pháp chưa
có tính đột phá để cải thiện về cơ bản công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay
Trang 16“Đổi mới quản lý thuế trong điều kiện hội nhập kinh tế ở Việt Nam” là
luận án tiến sĩ của tác giả Lê Duy Thành, bảo vệ năm 2006 Bên cạnh nhiều điểm thành công, luận án còn có những hạn chế như: Chưa phân tích và làm
rõ được những tác động của gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc đối với quản lý thuế (vì luận án hoàn thành trước thời điểm Việt Nam gia nhập WTO); Các phân tích hoàn toàn mang tính định tính, chưa có công cụ phân tích định lượng hỗ trợ nên kết quả phân tích chưa mang tính khách quan; và chưa đề cập được kinh nghiệm quản lý thuế hiện đại ở các nước tiên tiến trên thế giới
Ngoài ba công trình khoa học lớn trên còn một số công trình khoa học
khác đề cập đến quản lý thu thuế nói chung có đề tài “Nâng cao hiệu quả
quản lý thu thuế ở Việt Nam trong quá trình đổi mới”, Luận văn Thạc sỹ kinh
tế Hoàng Đình Cơ
- Nhóm quản lý thu thuế đối với một hoặc một vài sắc thuế trên địa bàn
tỉnh, thành phố như: Đề tài “Những giải pháp nâng cáo hiệu quả quản lý thu
thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa”, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế của Mai Đình Tú; đề tài “Công tác quản lý thu thuế ngoài quốc doanh trên địa bàn Thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc
sỹ của Vũ Thị Toản; đề tài “Các giải pháp tăng cường quản lý thuế hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu trong tiến trình gia nhập AFTA của Việt Nam”, Luận án
Tiến sĩ Kinh tế của Nguyễn Danh Hưng
- Nhóm chống thất thu thuế như: đề tài “Một số vấn đề sử dụng công cụ
thuế và chống thất thu thuế ở các địa bàn tỉnh biên giới phía Bắc”, Luận văn
Thạc sỹ của Đặng Hồng Trung; đề tài “Thất thu thuế và giải pháp chống thất
thu thuế trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế của Nguyễn
Duy Long; đề tài “Chống thất thu thuế trên địa bàn quận Đống Đa”, Luận
Trang 17văn Thạc Sỹ của Nguyễn Viết Tuấn; đề tài “Chống gian lận thuế giá trị gia
tăng trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sỹ của Viên Viết Hùng
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở những mức độ khác nhau, trên nhiều khía cạnh khác nhau đã đề cập đến quản lý thuế Tuy nhiên, chưa có đề
tài nào nghiên cứu về Hoàn thiện công tác Quản lý thuế đối với hộ kinh
doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Vì vậy, đền tài vẫn
mang tính cấp thiết và có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn
1.2 Thuế và quản lý thuế
1.2.1 Quan niệm và vai trò của thuế đối với phát triển kinh tế - xã hội
1.2.1.1 Quan niệm về thuế
Thuế là hình thức huy động tài chính cho Nhà nước Khi Nhà nước ra đời, thuế là công cụ để Nhà nước có nguồn thu nhằm trang trải các chi tiêu của Nhà nước Nhà nước dùng quyền lực của mình ban hành các luật thuế để bắt buộc dân cư và các đối tượng khác trong nền kinh tế đóng góp cho Nhà nước
Thuế là khoản đóng góp theo luật định của người nộp thuế cho Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Thuế là hình thức động viên mang tính chất bắt buộc trên nguyên tắc luật định Đặc điểm này được thể chế hóa trong hiến pháp của mỗi quốc gia Nhà nước dùng quyền lực và sức mạnh để ấn định các thứ thuế, bắt buộc các
tổ chức kinh tế và công dân thực hiện các nghĩa vụ thuế để nhà nước có nguồn thu ổn định, thường xuyên đảm bảo trang trải các khoản chi trong hoạt động thường xuyên của Nhà nước mà vẫn ổn định được Ngân sách Nhà nước
Tổ chức hoặc cá nhân nào không thực hiện đúng nghĩa vụ nộp thuế của mình tức là họ đã vi phạm pháp luật của quốc gia đó
Trang 18Đặc điểm này phân biệt sự khác nhau giữa các khoản thuế với các khoản đóng góp mang tính tự nguyện cho Ngân sách Nhà nước và thuế đối với các khoản vay mượn của Chính phủ
Thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp Thuế vận động một chiều, trên cơ sở các số thuế thu được Nhà nước sẽ sử dụng cho những chi tiêu công cộng, phục vụ cho nhu cầu của Nhà nước và mọi cá nhân trong xã hội Số thuế mà các đối tượng phải nộp cho Nhà nước được tính toán không dựa trên khối lượng lợi ích công cộng họ nhận được mà dựa trên những hoạt động cụ thể và thu nhập của họ Đặc điểm này cũng phân biệt giữa thuế với phí và lệ phí
1.2.1.2 Vai trò của thuế đối với phát triển kinh tế - xã hội
Thứ nhất, thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước
Nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa vào chủ yếu nguồn thu nội
bộ từ nền kinh tế quốc dân Một ngân sách lành mạnh trước hết phải dựa vào nguồn thu trong nước, mà trong đó thuế là nguồn thu chủ yếu (từ 80 đến 90%) Nguồn thu của thuế lấy từ thu nhập quốc dân sản xuất, khả năng động viên của thuế phụ thuộc cơ bản vào sự phát triển và hiệu quả sản xuất, trình
độ và ý thức tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng của doanh nghiệp và người dân Vì vậy, chính sách động viên về thuế phải được đặt trong mối quan hệ chung theo hướng xóa bỏ các khoản chi bao cấp, không tận thu để đảm bảo chi, phải thu đúng thu đủ nhằm bồi dưỡng phát triển nguồn thu lâu dài trên nguyên tắc phân phối hợp lý thu nhập quốc dân giữa nhà nước và xã hội
Muốn vậy hệ thống thuế và chính sách thuế mới phải được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế, phải bao quát được hết các hoạt động sản xuất kinh doanh, các nguồn thu nhập của doanh nghiệp và xã hội để đảm bảo yêu cầu vốn, thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao hơn
Thứ hai, thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô của nền kinh tế
Trang 19Thuế không chỉ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu Ngân sách Nhà nước hàng năm mà còn là công cụ của Nhà nước để quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân Thông qua thuế, Nhà nước có thể chi phối đến việc lựa chọn và sản xuất
“cái gì”, sản xuất “như thế nào”, “sản xuất cho ai”… Hay dựa vào công cụ thuế, Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc tích lũy, đầu tư và tiêu dùng Từ chính sách thuế phân biệt theo thuế suất cao, thấp khác nhau đối với từng ngành nghề kinh doanh, đối với từng sản phẩm dịch vụ, tùy thuộc vào sự cần thiết của sản xuất và đời sống xã hội, tự nó đã có tác dụng điều chỉnh việc phân bổ nguồn vốn trong xã hội Việc áp dụng các hình thức ưu đãi (thuế suất, thời gian miễn giảm thuế…) đối với hàng hóa dịch vụ sẽ làm cho giá cả hàng hóa đó giảm xuống Khi giá cả hàng hóa, dịch vụ giảm thì lượng cầu sẽ tăng lên Để đáp ứng cho sự gia tăng về cầu hàng hóa các doanh nghiệp sẽ mở rộng quy mô sản xuất nhằm thu lợi nhuận nhiều hơn Ngược lại, khi áp dụng thuế suất cao, giá tăng sẽ có sự giảm sút về cầu, thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ tìm lĩnh vực đầu tư mới phù hợp để có thể tạo ra nhiều lợi nhuận
Thứ ba, thuế góp phần tạo môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế
Việc áp dụng chính sách thuế thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế trong phạm vi cả nước đã góp phần tạo nên sân chơi bình đẳng, thúc đẩy cạnh tranh và khuyến khích phát triển mọi thành phần kinh tế trong phạm vi cả nước Trong quá trình triển khai thực hiện, chính sách thuế luôn được điều chỉnh linh hoạt, kịp, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và hội nhập kinh tế quốc
tế
Thứ tư, thuế góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Ảnh hưởng của chính sách thuế thông qua các mức thuế, các chế độ miễn giảm, các chế độ quản lý thu thuế khác nhau có vai trò quan trọng đến
Trang 20việc tạo nên tổng cầu theo hai hướng, khuyến khích phát triển hay hạn chế Thuế cũng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới cung của thị trường Đó
là việc đánh thuế cao hay thấp và các yếu tố sản xuất, tiêu dùng, thu nhập Bên cạnh sự can thiệp của thuế vào cả hai lĩnh vực cung và cầu, chính sách thuế cũng có tác động đến lạm phát trong nền kinh tế, cũng có nghĩa là can thiệp vào môi trường chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.2.2 Quan niệm và vai trò của quản lý thuế
1.2.2.1 Quan niệm về quản lý thuế
Để đảm bảo mục tiêu thu đúng, đủ thuế nhằm phát huy đầy đủ vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội, Nhà nước phải đề ra các quy định, luật pháp nhằm tạo một hành lang thống nhất, buộc mọi tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thực hiện theo
Để Luật pháp về thuế được đảm bảo thực hiện, Nhà nước phải tổ chức
ra bộ máy để quản lý thu thuế và giám sát thực hiện đối với bộ máy này Do bản chất của thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp nên việc yêu cầu người nộp thuế tự giác khi không có hệ thống luật pháp để bắt buộc là điều không thể thực hiện, thậm chí kể cả khi có hệ thống luật pháp về thuế, nhiều tổ chức
cá nhân nộp thuế vẫn cố tình không thực hiện hoặc lợi dụng kẽ hở của chính sách để tư lợi Vì vậy, vai trò quản lý thuế của Nhà nước mang tính áp đặt và
là một tất yếu khách quan trong quá trình quản lý
Từ những cơ sở lý luận trên ta có thể định nghĩa một cách khái quát về quản lý thuế như sau:
Quản lý thuế là việc Nhà nước sử dụng các phương tiện, cách thức, biện pháp nhằm thực hiện việc thu thuế sao cho đạt hiệu quả, đúng mục tiêu, mục đích đề ra trong việc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ Được biểu hiện cụ thể thành một hệ thống: Từ việc Nhà nước ban hành chính sách, tổ chức bộ máy, triển khai thực hiện, kiểm tra
Trang 21giám sát kết quả đến việc chỉnh sửa chính sách và ban hành chính sách mới cho phù hợp với thực tiễn đang quản lý
1.2.2.2 Vai trò của quản lý thuế
Thứ nhất, quản lý thuế là thực hiện một chức năng quan trọng của Nhà
nước trong lĩnh vực tài chính: Đó là điều tiết vĩ mô nền kinh tế Đây là một trong những nội dung quan trọng nhất nhằm đảm bảo phát huy tối đa những chức năng, vai trò của thuế trong phát triển kinh tế - xã hội Ngoài ra, quản lý thuế còn thực hiện một mục tiêu quan trọng nữa là huy động số thu cho Ngân sách Nhà nước Thể hiện quyền lực tối cao và sự độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý và điều hành đất nước
Thứ hai, giúp Nhà nước kiểm soát việc nộp thuế của người nộp thuế
Dù bất kỳ ở xã hội nào, lợi ích của người kinh doanh luôn được đặt lên hàng đầu đối với bản thân mỗi cá nhân nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất Vì vậy, với vai trò kiểm tra, giám sát, vai trò của Nhà nước về Quản lý thuế định hướng, sửa chữa những sai sót trong quá trình thực hiện các Luật thuế dù vô tình hay cố ý sai phạm Đều phải duy trì bình đẳng xã hội trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế
Thứ ba, giúp Nhà nước quản lý được bộ máy thu thuế Một mặt, đảm
bảo bộ máy quản lý thuế vận hành trơn tru, không sai sót; mặt khác, cũng xuất phát từ lợi ích cá nhân, con người trong bộ máy quản lý thu thuế của Nhà nước cũng có những cá nhân hám lợi sẵn sàng bắt tay với người nộp thuế nhằm giúp họ trốn thuế và thu những mối lợi bất chính làm thất thu cho ngân sách, hoặc cố tình gây khó dễ, sách nhiễu để vòi vĩnh Điều đó đòi hỏi quản lý thuế với chức năng kiểm tra, giám sát sẽ hạn chế và xử lý các trường hợp này
Vì vậy, việc quản lý bộ máy thu thuế chặt chẽ cũng là yêu cầu cực kỳ cấp thiết, nhất là trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các tác động xấu của mặt trái kinh tế thị trường
Trang 22Thứ tư, tạo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, công bằng thúc
đẩy đầu tư phát triển kinh tế Với vai trò hướng dẫn người nộp thuế, thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục sẽ nâng cao ý thức người dân trong việc chấp hành các Luật thuế, đảm bảo việc thực hiện các Luật thuế được nghiêm chỉnh Mặt khác, việc xử lý các sai phạm đảm bảo nghiêm minh, đúng người, đúng việc nhằm răn đe những đối tượng vi phạm, đồng thời làm gương cho các đối tượng khác
1.3 Một số vấn đề cơ bản về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
1.3.1 Quan niệm và đặc điểm quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
1.3.1.1 Hộ kinh doanh cá thể và quan niệm về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Trước khi có Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh,“hộ kinh doanh” được gọi là “hộ kinh doanh
cá thể”, bao gồm hai hình thức:
Một là, hộ cá thể: Tư liệu sản xuất và các vốn khác là sở hữu của người
chủ đứng tên đăng ký kinh doanh Chủ đăng ký kinh doanh phải là người lao động trực tiếp Những người lao động khác phải là bố mẹ, vợ chồng, các con
và nếu là người thân thì phải có tên trong sổ đăng ký hộ khẩu của người chủ đăng ký kinh doanh Thu nhập sau khi đóng thuế thuộc sở hữu của chủ hộ
Hai là, hộ tiểu công nghiệp (xưởng, cửa hàng…): Tư liệu sản xuất và
các vốn khác thuộc sở hữu của chủ hộ Được thuê mướn lao động theo hợp đồng thỏa thuận giữa chủ và người làm thuê Chủ hộ là người lao động trực tiếp hoặc đóng vai trò chính về kỹ thuật sản xuất và tự điều hành sản xuất kinh doanh Thu nhập sau khi đóng thuế và trả công cho người làm thuê thuộc
sở hữu của chủ hộ
Tên gọi “hộ kinh doanh cá thể” được ghi nhận tại hai Nghị định của Chính phủ về đăng ký kinh doanh là Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày
Trang 2303/02/2000: “Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc một hộ gia đình làm
chủ, kinh doanh tại một địa điểm cố định, không thường xuyên thuê lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” (khoản 1 Điều 17)
Và Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02/04/2004 Nghị định số
109/2004/NĐ-CP: “Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình
làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” (khoản 1, Điều 24)
Đến khi Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 của Chính phủ
về đăng ký kinh doanh ra đời, thống nhất với tên gọi “hộ kinh doanh” và được
sử dụng từ đó đến nay
Đứng trên góc độ Quản lý thuế: Hộ kinh doanh là hộ gia đình, cá nhân,
nhóm cá nhân thực hiện sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế theo quy định tại các Luật thuế hiện hành hoặc/và có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân
Hộ kinh doanh cá thể có đặc điểm là:
Thứ nhất, hộ kinh doanh cá thể chỉ được đăng ký kinh doanh tại một
địa điểm, sử dụng ít lao động (không quá 10 lao động) Quy mô kinh doanh
và lợi nhuận thu được của hộ kinh doanh cá thể thường được giới hạn ở quy
mô nhỏ, vừa và chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu tiêu dùng của hộ
Thứ hai, hộ kinh doanh cá thể không có con dấu và tự chịu trách nhiệm
bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh
Thứ ba, hộ kinh doanh cá thể có thể chọn kinh doanh bất cứ ngành
nghề, lĩnh vực nào phù hợp với điều kiện của từng hộ
Thứ tư, hộ kinh doanh cá thể (bao gồm cả hộ hành nghề tư nhân) nếu có
mức thu nhập dưới mức lương tối thiểu (do Chính phủ quy định) không phải
Trang 24đăng ký kinh doanh (trừ các ngành nghề kinh doanh có điều kiện) và chưa phải nộp thuế
Hộ kinh doanh cá thể có vai trò là:
Thứ nhất, giải quyết công ăn, việc làm, tăng thu nhập góp phần cải
thiện đời sống cho người lao động
Thứ hai, tuy mức đóng góp của từng hộ kinh doanh cá thể không lớn
nhưng với một lực lượng hùng hậu, các hộ kinh doanh cá thể góp phần quan trọng đối với thu Ngân sách Nhà nước
Thứ ba, hộ kinh doanh cá thể còn là mạng lưới rộng lớn nhất phát triển
về tận những vùng xa, vùng khỏ khăn mà các lĩnh vực kinh doanh khác không đáp ứng được
Thứ tư, các hộ kinh doanh cá thể là một kênh phân phối và lưu thông
hàng hoá quan trọng và nhanh nhất đến người tiêu dùng trong toàn xã hội
Với đặc điểm và vai trò trên thì quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể đòi hỏi phải nâng cao vai trò của các hộ kinh doanh cá thể trong đời sống kinh tế - xã hội Từ đó ta đưa ra quan niệm về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể như sau:
Quản lý thuế đối vơi hộ kinh doanh cá thể là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo các hộ kinh doanh cá thể chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật Hệ thống các chính sách về thuế được ban hành điều chỉnh đối tượng là các hộ kinh doanh cá thể, nhằm mục đích thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển, tạo điều kiện các hộ gia đình, cá nhân kinh doanh nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, đóng góp tích cực vào Ngân sách Nhà nước
1.3.1.2 Đặc điểm quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Thứ nhất, quản lý thuế là việc quản lý bằng pháp luật
Trang 25Hoạt động quản lý thuế được quy định rõ trong pháp luật quản lý thuế Theo đó việc quy định quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế trên cơ sở hệ thống các văn bản quản lý thuế cũng như quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền quản lý
Thứ hai, quản lý thuế được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp hành chính
Trong quản lý, để đạt được hiệu quả có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như: Phương pháp kinh tế, phương pháp cưỡng chế, phương pháp giáo dục thuyết phục, phương pháp hành chính Tuy nhiên trong quản lý thuế việc sử dụng phương pháp hành chính là chủ yếu Phương pháp này thể hiện việc tuân thủ mệnh lệnh, quyết định đơn phương của cơ quan quản lý cấp trên
là chủ yếu Đối tượng nộp thuế phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định quản
lý của cơ quan cấp trên về lĩnh vực nộp thuế Cơ quan quản lý thì ra những quyết định quản lý buộc đối tượng nộp thuế phải thực hiện Nếu không chấp hành thì đối tượng nộp thuế sẽ phải chịu mức phạt theo quy định
Thứ ba, quản lý thuế là hoạt động mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ chặt chẽ
Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, việc thu thuế để xây dựng và bảo vệ đất nước là nghĩa vụ của mỗi công dân Tuy nhiên, thuế lại dễ gây ra những phản ứng từ người phải gánh chịu Vì vậy, để thu được thuế không phải là một điều đơn giản, buộc những cán bộ ngành thuế phải có chuyên môn, nghiệp vụ nhất định trong quản lý thu nộp thuế, đồng thời phải nắm bắt được những kỹ thuật nghiệp vụ chủ yếu để việc thu thuế thành công, đóng góp vào Ngân sách Nhà nước
1.3.2 Đối tượng, mục tiêu quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Thứ nhất, về đối tượng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể: Theo
quan niệm về hộ kinh doanh cá thể, hộ kinh doanh là một loại hình kinh
Trang 26doanh do một cá nhân hoặc một hộ gia đình, một nhóm người đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi thành lập để kinh doanh và không được sử dụng thường xuyên quá 10 lao động Do đó, đối tượng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể có thể là: các hộ gia đình, cá nhân, nhóm cá nhân kinh doanh (gọi chung hộ kinh doanh) Trong đó: Hộ kinh doanh có thể thuê mướn nhân công, có tư cách pháp nhân, tự làm tự chịu trách nhiệm, gồm cả những người sản xuất…
Thứ hai, công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể nhằm đạt
được các mục tiêu cơ bản sau:
Một là, làm cho các hộ kinh doanh cá thể tự thấy được trách nhiệm với
Nhà nước Nhận thức của các hộ kinh doanh cá thể chưa đúng và phiến diện
về thuế là một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng thất thu thuế và gian lận thuế Chính vì vậy dẫn đến làm cho hình ảnh thuế cùng với bộ máy thuế bị méo mó ít nhiều Đây là nguyên nhân dễ thấy nhưng cần rất nhiều thời gian để cải thiện Quản lý thuế không thể xa rời mục tiêu này Thông qua tiếp xúc, tuyên truyền, tư vấn, giải thích, giáo dục cho các đối tượng nộp thuế, cán
bộ nhân viên thuế giúp người nộp thuế hiểu rõ hơn về nghĩa vụ của các tổ chức và công dân cùng với quyền lợi sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế
Hai là, nâng cao ý thức, trách nhiệm của cán bộ thuế về vai trò của thuế
đối với đời sống kinh tế - xã hội của đất nước
Ba là, đảm bảo kế hoạch thu Ngân sách Nhà nước một cách đầy đủ và
kịp thời Ở bất kỳ quốc gia nào, chi tiêu của khu vực công cũng rất lớn, cần thiết và cấp bách Nếu không thu đúng, thu đủ và kịp thời có thể gây tắc nghẽn quá trình tài trợ chi tiêu công và ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình thực thi chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Chính vì thế, đây được xem là mục tiêu quan trọng hàng đầu của quản lý thuế Nếu mục tiêu này không hoàn thành thì việc đạt được những mục tiêu khác không mang ý nghĩa trọn vẹn
Trang 27Bốn là, đảm bảo thực thi pháp luật thuế nói riêng và hệ thống pháp luật
nói chung Thực ra, tôn trọng pháp luật từ cả hai phía cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế, là đề cao quyền và nghĩa vụ của các tổ chức công dân Tôn trọng pháp luật thuế tạo điều kiện vật chất ban đầu cho quá trình thực thi dân chủ và phát huy sức mạnh cộng đồng, bước quan trọng để dân cư làm chủ bản thân và làm chủ xã hội
1.3.3 Tổ chức thực hiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
1.3.3.1 Quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Quy trình quản lý thuế là trình tự thực hiện các bước công việc trong quản lý thu thuế và trách nhiệm thực hiện các bước công việc đó của các bộ phận trong cơ quan thuế
Quy trình quản lý thu thuế chịu sự chi phối bởi tư duy quản lý thuế các điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ quản lý, trình độ nhận thức của NNT, tổ chức bộ máy thu thuế của cơ quan thuế và quy định của pháp luật
Một quy trình quản lý thuế phù hợp phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Thứ nhất, quy trình quản lý thuế phải được quy định rõ ràng trong các
văn bản quy phạm pháp luật hoặc các văn bản của cơ quan quản lý thuế, và được công khai đến mọi chủ thể có liên quan
Thứ hai, phải có sự phân công, phân nhiệm vụ rõ ràng cho các bộ phận
trong cơ quan thuế trong việc thực hiện các công việc của quy trình quản lý thuế, các phần việc trong một quy trình quản lý và giữa các quy trình quản lý thuế phải được sắp xếp khoa học, liên hoàn, thống nhất theo thứ tự yêu cầu quản lý và thuận lợi cho người nộp thuế
Thứ ba, nội dung của toàn bộ những công việc, những thao tác nghiệp
vụ phải thực hiện của các bộ phận trong cơ quan quản lý thuế và trình tự thực hiện các công việc các thao tác nghiệp vụ đó trong mối tương tác với các hoạt
Trang 28động của người nộp thuế và các tổ chức cá nhân khác có liên quan trong quản
lý thuế
Các bước quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể:
Sơ đồ 1.1: Quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
(1): Đội thuế LXP phối hợp với Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn thường xuyên đối chiếu, rà soát địa bàn để nắm lại các HKD thực tế đang hoạt động, đưa vào diện quản lý thuế và hướng dẫn thủ tục kê khai thuế
Yêu cầu chỉnh sửa, bổ sung
hồ sơ khai thuế
Trang 29(2): Đội thuế LXP tiếp nhận hồ sơ khai thuế của HKD, kiểm tra đối chiếu số liệu kê khai (trường hợp hồ sơ khai thuế có sai sót yêu cầu HKD
chỉnh sửa, bổ sung (2.1) và nộp lại cho Đội thuế LXP (2.2)), sau đó chuyển
cho Đội KK-KTT
(3): Đội KK-KTT nhập hồ sơ khai thuế và hạch toán số thuế phải nộp căn cứ vào các thông tin NNT kê khai trên hồ sơ khai thuế và cơ sở dữ liệu của ngành thuế
(4): Đội KK-KTT in thông báo thuế khoán chuyển Đội thuế LXP gửi
hộ kinh doanh Đội thuế LXP thực hiện đôn đốc nộp thuế theo đúng hạn ghi trên Thông báo thuế
(5): Đội KK-KTT thực hiện hạch toán chứng từ (giấy nộp tiền hoặc biên lai) và cập nhật tổng hợp báo cáo thu ngân sách Nhà nước
(6): Đội KK-KTT thường xuyên theo dõi các trường hợp chậm nộp thuế và gửi danh sách cho Đội QLN theo dõi Trường hợp nợ kéo dài Đội
QLN phối hợp Đội Kiểm tra xử lý
1.3.3.2 Bộ máy quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Để đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước nhằm phục vụ cho việc thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của nhà nước trong từng thời kỳ nhất định, nhà nước ban hành pháp luật thuế để huy động một bộ phận thu nhập quốc dân thông qua điều tiết một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội vào tay Nhà nước Các luật thuế muốn được thực thi trong đời sống xã hội phải thông qua hoạt động của bộ máy thu thuế Bộ máy thu thuế là tổng thể các cơ quan hành chính có quan hệ hữu cơ với nhau trên cơ
sở chức năng, nhiệm vụ và quan hệ công tác được quy định để tổ chức thực thi các luật thuế
Bộ máy thu thuế được phân chia thành các cấp khác nhau từ trung ương đến tỉnh, huyện Tổng cục thuế đề ra chế độ, chính sách về thuế Cục thuế và
Trang 30chi cục thuế tham gia trực tiếp vào việc thu thuế Để bộ máy thu thuế đạt hiệu quả cần chú ý đến các nội dung về xây dựng cơ cấu tổ chức các cơ quan trong
bộ máy thu thuế, xây dựng hệ thống các quy định về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ trong bộ máy và xây dựng lực lượng cán bộ Đối với hộ kinh doanh cá thể, do tính chất kinh doanh trải rộng và đông đảo trên khắp địa bàn,
để đảm bảo mục tiêu quản lý thu thuế hiệu quả, chặt chẽ, hạn chế thất thu thuế
và yêu cầu bộ máy quản lý thu thuế phải đơn giản, gọn nhẹ, chi phí thấp Mặt khác, cần có một bộ phận chuyên sâu, nắm chắc địa bàn để có thể quản lý hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh một cách chặt chẽ Mô hình quản lý hiện nay là các Đội thuế phường, xã trực thuộc Chi cục thuế và các Uỷ nhiệm thu thuế thuộc UBND các xã, phường trực tiếp thực hiện việc quản lý thu thuế Ngoài ra, còn một số đội bộ phận chuyên môn cùng thuộc Chi cục thuế quản lý để thực hiện công tác tổng hợp, báo cáo, kiểm tra, giám sát và tham mưu về công tác thu thuế
1.3.3.3 Các công cụ quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Thứ nhất, luật pháp, chính sách và các quy định liên quan
Hệ thống chính sách thuế đối với hộ kinh doanh cá thể hiện nay gồm các sắc thuế: Thuế môn bài, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân hiện nay và 2008 trở về trước là thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên Trong đó, các sắc thuế ảnh hưởng nhiều nhất đến hộ kinh doanh đó là thuế GTGT và thuế TNDN (trước 1999 là Lợi tức), thuế TNCN (từ tháng 1 năm 2009) Hệ thống chính sách thuế này cơ bản đã bao quát được hầu hết các nguồn thu, được áp dụng thống nhất và từng bước thích ứng với yêu cầu chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đồng thời hệ thống chính sách thuế trở thành công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ sản xuất trong
Trang 31nước, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo Tuy nhiên, hệ thống chính sách thuế đối với hộ kinh doanh cá thể cần đáp ứng hai mục tiêu cơ bản sau:
Một là, đảm bảo mục tiêu nuôi dưỡng nguồn thu, tạo điều kiện để hộ
kinh doanh để phát triển Đối với bất kỳ khu vực kinh tế nào, việc nuôi dưỡng nguồn thu của thuế cũng là điều cần thiết, nhất là giai đoạn hiện nay, chúng
ta đang công nhận sự tồn tại của thành phần kinh tế tư nhân mà hộ kinh doanh chiếm tỷ lệ lớn và đóng vai trò quan trọng Đảm bảo mục tiêu này, chính sách phải sát với thực tế kinh doanh của các hộ kinh doanh vì vậy, để động viên được các hộ kinh doanh tích cực sản xuất, kinh doanh, chính sách thuế phải đảm bảo động viên ở một tỷ lệ hợp lý, cân đối giữa thu nhập và thuế phải nộp
Hai là, chính sách đơn giản, dễ hiểu, đảm bảo hiệu lực pháp lý cao Với
đặc trưng của hộ kinh doanh cá thể là mô hình tổ chức đơn giản, trình độ quản
lý thấp, để có thể triển khai thực hiện chính sách thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể chính sách thuế phải đơn giản, dễ hiểu, hợp lý và dễ thực hiện Tất nhiên, cũng phải kèm theo chế tài xử phạt nghiêm khắc để chính sách thuế được thực hiện nghiêm túc
Thứ hai, sổ sách kế toán (quy trình nghiệp vụ kế toán)
Sổ kế toán là những quyển sổ theo mẫu nhất định có liên hệ chặt chẽ với nhau dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên cơ sở số liệu của chứng từ kế toán
Thực hiện sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ khoa học giúp cho hoạt động quản lý kinh doanh được thuận lợi, việc kiểm tra đối tượng nộp thuế nhanh chóng và chính xác Về mặt quản lý Nhà nước đã hạn chế dần tình trạng thất thu thuế, từng bước tạo nguồn thu ổn định, tăng thu cho Ngân sách Nhà nước Đồng thời là điều kiện thuận lợi để thực hiện thành công Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 321.3.4 Kiểm tra, giám sát thực hiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Giám sát thực hiện quản lý thuế đã được xây dựng theo qui định chung
về pháp luật trong việc tổ chức thực hiện đối với người nộp thuế mà ở đây là
hộ kinh doanh cá thể với cơ quan thuế
Thực hiện luật quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể, cơ quan thuế
đã xây dựng được cơ chế kiểm tra, giám sát hồ sơ kê khai thuế nhằm chống thất thu thuế qua việc kê khai thuế; ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm về thuế nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế trong việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế
Tổ chức quản lý thuế là hoạt động của cả một hệ thống, được vận hành bởi con người được xã hội phân công lao động Vì là một hệ thống điều hành bởi con người, hoạt động quản lý thuế không thể lúc nào cũng trơn tru, hoàn hảo trên tất cả các khâu của hệ thống Mặt khác, quản lý thuế là một công việc phức tạp, gần với đồng tiền, vì vậy dễ nảy sinh tiêu cực Từ đó phát sinh công tác kiểm tra sự hoạt động của bộ máy quản lý thuế Một mặt, đánh giá thực trạng hoạt động của bộ máy, mặt khác để phòng ngừa và xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm Công tác kiểm tra đối với bộ máy quản lý thuế có thể chia thành hai cách thức:
Thứ nhất, công tác tự kiểm tra: Đây là hoạt động của bộ máy thanh tra
nội bộ, mục đích nhằm chấn chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của các cán bộ thuế Công tác tự kiểm tra mang tính chất thường xuyên, liên tục đối với tất cả các cấp trong hệ thống quản lý thuế từ Tổng cục Thuế, Cục Thuế đến Chi cục Thuế
Thứ hai, công tác kiểm tra của các đơn vị ngoài ngành thuế: Thường
được tổ chức theo chương trình, kế hoạch định sẵn của các cơ quan thuộc Nhà nước như: Thanh tra Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Bộ Tài chính
Trang 33Mục đích thanh tra, kiểm tra của các đơn vị này cũng nhằm phát hiện và chấn chỉnh sai phạm của cơ quan thuế các cấp nhưng trên quan điểm khách quan
do độc lập với ngành thuế
Vì vậy, để đảm bảo hoạt động kiểm tra giám sát chấp hành tốt nhiệm
vụ, công vụ của chi cục thuế, tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật, đồng thời đáp ứng yêu cầu cải cách và hiện đại hoá ngành thuế Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của công tác kiểm tra sự tuân thủ trong toàn ngành thuế; góp phần đưa công tác quản lý thuế và quản lý nội bộ Chi cục Thuế huyện đi vào nề nếp, xây dựng ngành thuế ngày càng vững mạnh toàn diện
Việc đánh giá quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể dựa trên việc thực hiện ba nội dung trình bày ở 1.3.2, 1.3.3, 1.3.4
Trong đó, xét về định lượng chú ý một số tiêu chí sau:
Thứ nhất, tỷ lệ hộ đăng ký thuế trên tổng số hộ kinh doanh
Thứ hai, tỷ lệ số thuế nộp trên tổng số thuế ghi thu
Thứ ba, tổng số thuế nợ đọng trên tổng số thuế ghi thu
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
1.4.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thuế đối với hộ kinh doanh
cá thể
1.4.1.1 Môi trường quản lý thuế
Việt Nam đang trên bước đường thành công trong công cuộc phát triển kinh tế với các thành tựu của hơn 20 năm đổi mới Tình hình chính trị ổn định, vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một nâng cao cũng là những nhân tố tác động tích cực đến sự phát triển của các hộ kinh doanh cá thể Bên cạnh đó cũng còn những khó khăn nhất định như, việc ban hành các sắc thuế quá phức tạp, qui định không rõ ràng, thủ tục hành chính về thuế
Trang 34rườm rà gây khó khăn cho người nộp thuế và cán bộ thuế, trình độ hiểu biết
về thuế và ý thức chấp hành các luật, pháp lệnh về thuế của các tầng lớp dân
cư còn hạn chế
Thực tế cho thấy, nếu các hộ kinh doanh cá thể hiểu Luật thuế và các quy định khác liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình thì việc thực hiện Luật thuế sẽ được tuân thủ ở mức độ cao và ngược lại, nếu không hiểu biết, tình trạng trốn lậu thuế sẽ phổ biến, các hành vi trốn lậu thuế không được phát hiện, tố giác Thậm chí có trường hợp gian lận, trốn lậu thuế còn được coi là việc đương nhiên hoặc đồng tình ủng hộ
Thu thuế nhằm mục đích đảm bảo nguồn chi, ngoài việc nuôi sống bộ máy Nhà nước còn để đảm bảo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Sự phối hợp của các cơ quan, ban ngành trong công tác quản lý thuế một mặt sử dụng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình để hỗ trợ cơ quan thuế trong tổ chức và quản lý thu thuế, mặt khác để giám sát công tác quản lý thu thuế của cơ quan thuế Ngoài ra, với mục tiêu gắn thu chi Ngân sách cho các cấp chính quyền sẽ làm cho chính quyền gắn được trách nhiệm của mình trong việc đảm bảo nguồn chi, từ đó sẽ sát sao trong công tác phối hợp quản
lý đối với người nộp thuế Đặc biệt với việc cơ quan thuế uỷ nhiệm thu một số khoản thu Ngân sách cho UBND các phường xã trong giai đoạn hiện nay 1.4.1.2 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và các qui định của các tổ chức kinh tế quốc tế có liên quan đến thuế quan
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, với những cam kết về thuế quan của Việt nam với thế giới, đòi hỏi chính sách thuế phải mang lại hiệu quả cao nhất, đảm bảo công bằng nhất, rõ ràng minh bạch và đơn giản nhất, nhưng cũng thể hiện tính linh hoạt, thích ứng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN ở Việt nam nhằm tạo động lực khuyến khích mọi chủ thể tích cực bỏ vốn đầu tư, góp phần thực hiện được mục tiêu kinh tế
Trang 35Tính công bằng, công khai, minh bạch của thuế thể hiện trước hết ở nội dung các quy định trong chính sách rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng cho mọi đối tượng Chính sách minh bạch là cơ sở cho việc thực thi chính sách thuận lợi, việc thu thuế đảm bảo công bằng, nhanh chóng có hiệu quả, hạn chế phát sinh tiêu cực Chính sách minh bạch là yếu tố đảm bảo công bằng xã hội
về nghĩa vụ giữa người nộp thuế, giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế, từ
đó, củng cố lòng tin của các chủ thể kinh tế nói riêng, của người dân nói chung đối với Nhà nước Một chính sách thuế minh bạch sẽ làm tăng tính trung lập của thuế, đồng thời, góp phần thực hiện được các mục tiêu kinh tế
xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ
Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và những cam kết quốc tế về thuế quan mà Việt Nam ký kết tham gia có tác động không nhỏ đến cơ chế quản lý thuế Theo những cam kết này, cơ quan thuế phải xây dựng một lộ trình về cắt giảm thuế quan, xây dựng các chuẩn về danh mục mặt hàng đánh thuế đối với kinh tế khu vực và các tổ chức kinh tế quốc tế mà Việt Nam tham gia, cải cách thủ tục hành chính thuế quan… Điều đó đặt ra cho ngành thuế một yêu cầu, mục tiêu cấp bách là phải hoàn thiện cơ chế quản lý thuế theo xu thế hội nhập kinh tế quốc tế
1.4.1.3 Trình độ, năng lực của cán bộ quản lý thuế
Để đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý thuế, ngành thuế phải tiếp tục tổ chức tốt việc đào tạo và đào tại lại đội ngũ cán bộ công chức thuế để đảm đương nhiệm vụ quản lý thuế được giao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ thuế cấp Chi cục Đào tạo nâng cao trình độ sử dụng máy tính và khai thác thông tin trên mạng cho đội ngũ cán bộ thuế, đảm bảo đạt 90% cán bộ công nghệ thông tin có thể sử dụng thành thạo ứng dụng vào công tác nghiệp
vụ, 60% người sử dụng có thể làm việc trên môi trường mạng Chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn cao nhằm đáp ứng yêu cầu
Trang 36xây dựng hệ thống thông tin về người nộp thuế; nâng cao kỹ năng sử dụng, quản lý, khai thác các nguồn thông tin về người nộp thuế Triển khai các chương trình đào tạo nâng cao ý thức pháp luật cho cộng đồng các doanh nghiệp về nội dung liên quan đến nghĩa vụ, quyền lợi của người nộp thuế, liên quan đến lĩnh vực kê khai, tính, nộp thuế Xây dựng phương án bố trí lại hệ thống tổ chức bộ máy và cán bộ để phù hợp với yêu cầu quản lý mới, đặc biệt
là bộ phận làm nhiệm vụ quản lý thuế Trên cơ sở rà soát, bố trí lại lực lượng cán bộ một cách hợp lý, xác định nhu cầu tuyển dụng và đào tạo phù hợp, đáp ứng yêu cầu công tác quản lý thuế Trước mắt đào tạo chuyên sâu cho lực lượng cán bộ làm công tác tính thuế và công nghệ thông tin
Cán bộ thuế phải được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên để đáp ứng yêu cầu của tình hình về chính sách thuế, nghiệp vụ quản lý các khoản thu, sắc thuế, hiện đại hóa quản lý thu bằng ứng dụng tin học; cán bộ thuế phải có khả năng tuyên truyền giáo dục, tư vấn đối tượng nộp thuế thành thạo Thái
độ và phong cách ứng xử của cán bộ thuế thật tận tụy, công tâm, khách quan giữa quyền lợi của Nhà nước với quyền lợi của đối tượng nộp thuế Là người bạn đồng hành đáng tin cậy của các đối tượng nộp thuế trong việc thực hiện các luật thuế Phẩm chất cán bộ thuế tốt và phải được rèn luyện, tu dưỡng thường xuyên để không bắt tay với đối tượng vi phạm luật thuế
1.4.1.4 Sự thay đổi phương thức quản lý thuế và cơ sở vật chất để thực hiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Luật quản lý thuế là khuôn khổ pháp lý cao nhất cho hoạt động quản lý thuế và là cơ sở để thực hiện đổi mới phương thức quản lý thuế từ cơ chế chuyên quản, người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế thụ động, sang cơ chế tự khai, tự nộp, đề cao trách nhiệm của người nộp thuế trong việc chủ động tính thuế, nộp thuế Luật có phạm vi điều chỉnh toàn diện, áp dụng với tất cả các khâu trong quá trình thu nộp các sắc thuế và khoản thu ngân sách; qui định rõ
Trang 37quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người nộp thuế, công chức thuế, cơ quan thuế và đặc biệt là luật đã đề cao trách nhiệm pháp lý của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân khác trong công tác quản lý thuế
Mặt khác, cơ sở vật chất cũng là nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản
lý thuế, đó là nhà cửa, các trang thiết bị, công cụ, dụng cụ Cùng với sự phát triển của đất nước, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý thuế phải ngày càng khang trang, hiện đại Một mặt, để bộ máy quản lý thuế có thể hoạt động một cách hiệu quả, tiết kiệm, tránh lãng phí, tiêu cực Mặt khác, để phục vụ người nộp thuế một cách nhanh gọn, chính xác, giảm thiểu những phiền hà không đáng có
Một trong những cơ sở vật chất quan trọng đó là hệ thống các công nghệ thông tin trong cơ quan thuế Thông qua việc ứng dụng công nghệ tin sẽ giảm thiểu rất nhiều thời gian, công sức của cán bộ thuế cũng như của người nộp thuế Qua vận dụng những ưu thế của công nghệ thông tin sẽ giúp việc quản lý thuế được chính xác tình trạng hoạt động cũng như thu thập thông tin của người nộp thuế thông qua trao đổi, đối chiếu, nâng cao tính chính xác của công tác dự báo nguồn thu cũng như báo cáo, thống kê Tầm quan trọng đặc biệt của công nghệ thông tin sẽ phát huy ưu điểm tuyệt đối khi ứng dụng trong thanh toán bắt buộc thông qua hệ thống tín dụng, ngân hàng, tạo điều kiện cho việc quản lý thuế chặt chẽ, công bằng
1.4.2 Sự cần thiết quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Thứ nhất, phải quản lý để nâng cáo ý thức của các hộ kinh doanh cá thể
trong việc chấp hành pháp luật thuế Hộ kinh doanh cá thể có vị trí rất quan trọng trong nhiều ngành nghề ở nông thôn và thành thị, do đó nó có khả năng đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, hộ kinh doanh cá thể cũng có một số mặt hạn chế Đặc điểm của hộ cá thể là làm
ăn riêng lẻ, tản mạn, rời rạc; trình độ, hiểu biết pháp luật thấp và luôn tìm mọi
Trang 38cách để tìm ra những chỗ sơ hở, non yếu trong quản lý kinh tế để kinh doanh trái phép, trốn lậu thuế… Dưới tác động của quy luật giá trị, thành phần kinh
tế này rất dễ bị phân hóa Sự năng động mang tính tự phát theo thị trường này, nếu thiếu sự định hướng thì sẽ không bao quát được nhu cầu thị trường Hơn nữa, đối với hộ kinh doanh cá thể hầu như không có một tổ chức, hiệp hội nào đứng lên làm đại diện Các quy định để quản lý các hộ kinh doanh cá thể cũng chưa được nghiên cứu cụ thể và rõ ràng như các thành phần kinh tế khác Vì vậy, để phát huy được những tiềm năng vốn có và khắc phục những khiếm khuyết trên, cần thiết phải có sự quản lý đối với các hộ kinh doanh cá thể để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế
Thứ hai, thông qua công cụ pháp luật, nhằm tạo ra hành lang pháp lý và
môi trường hoạt động lạnh mạnh, tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh cá thể nộp thuế đúng, đủ vào ngân sách nhà nước, trở thành một thành phần kinh tế trọng điểm đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội cho đất nước Trong việc kê khai nộp thuế cho nhà nước, người nộp thuế chính là khách hàng và cơ quan thuế là người phục vụ Việc cán bộ thuế sách nhiễu, gây khó khăn cho người nộp thuế ở các khâu: Nộp hồ sơ khai thuế, mua hoá đơn, chấp hành việc thanh, kiểm tra của cơ quan thuế vẫn diễn ra phổ biến với nhiều mức độ khác nhau Thời gian dành cho việc kê khai, nộp thuế chiếm khá nhiều thời gian của người nộp thuế
Đối với các hộ kinh doanh cá thể dù mô hình tổ chức, quản lý của hộ không phức tạp, thậm chí đơn giản nhưng số lượng lại đông, quy định nộp thuế theo tháng dẫn đến ùn tắc khâu nộp thuế những ngày cuối tháng Thậm chí đối với các hộ kế toán tư nhân, việc kiểm soát hồ sơ khai thuế để tính số nộp cũng mất nhiều thời gian do chưa có ứng dụng tin học trong kê khai cũng làm mất nhiều thời gian của hộ Điều này cũng dẫn đến một số tiêu cực như:
Trang 39Cán bộ thuế kê khai thuế thay chủ hộ, gây khó khăn hoặc ưu ái để sách nhiễu, vòi vĩnh
Vì vậy, việc xây dựng một môi trường lành mạnh, trong sạch, văn minh giữa cơ quan thuế và người nộp thuế để việc kê khai nộp thuế của người nộp thuế được dễ dàng, thuận tiện với thời gian và chi phí thấp nhất là yêu cầu quan trọng trong quản lý thuế
1.5 Kinh nghiệm về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể của một số địa phương trong nước
1.5.1 Tổng quan kinh nghiệm về quản lý thuế của một số địa phương trong nước
1.5.1.1 Kinh nghiệm của Chi cục Thuế Hai Bà Trưng
Quận Hai Bà Trưng có dân số khoảng 360,9 ngàn người, diện tích gần
15 km2 gồm 25 phường Toàn quận có 364 đơn vị quốc doanh Nhà nước;
1453 công ty TNHH; tổ sản xuất; hợp tác xã; công ty cổ phần; 6 chợ lớn, 9 chợ vừa và trên 20 chợ tạm, 3 trường đại học lớn: Kinh tế Quốc dân, Bách Khoa, Xây dựng và 96 trường từ mầm non đến trung học cơ sở; 5 bệnh viện lớn: Việt Xô, 108, Mắt, Thanh Nhàn, bệnh viện Đường Sắt và 34 cơ sở của các trung tâm y tế; cùng nhiều khu trung tâm vui chơi giải trí: Công viên Lê Nin, Hồ Thiên Quang, Bể bơi Tăng Bạt Hổ… Điều đó cho thấy hoạt động sản xuất, kinh doanh của quận diễn ra khá sầm uất
Trong các loại hình sản xuất, kinh doanh trên địa bàn quận, các hộ cá thể là đối tượng kinh doanh chủ yếu Năm 2014, trên toàn bộ quận có 13.600
hộ cá thể phân bố rải rác trên khắp các phường, chợ Các hộ kinh doanh hoạt động chủ yếu trong các ngành nghề thương mại, dịch vụ, ăn uống, tiểu thủ công nghiệp vì đây là các ngành, lĩnh vực có thị trường lớn, đòi hỏi vốn đầu
tư không nhiều, phù hợp với nguồn vốn còn hạn hẹp của phần đông các hộ, khả năng quay vòng vốn nhanh, hạn chế được rủi ro, tỷ suất lợi nhuận cao
Trang 40(trong khi lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác thì cạnh tranh lớn, rủi ro cao, thị trường hẹp…), phù hợp với triết lý khá phổ biến của các hộ “vốn ít, lãi nhiều, quay vòng nhanh, rủi ro thấp” Sự tập trung của các hộ kinh doanh vào các lĩnh vực thương mại - dịch vụ đã góp phần đáp ứng được nhiều nhu cầu về đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, có tác dụng thúc đẩy trở lại đối với sản xuất Với sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn quy mô, các hộ kinh doanh đã đóng góp một phần đáng kể vào tổng thu Ngân sách Nhà nước trên địa bàn quận Hàng năm, số thu từ hộ kinh doanh thường chiếm khoảng trên 50% trong tổng thu Ngân sách Nhà nước và ngày một tăng qua các năm Song, với một số lượng lớn hộ kinh doanh đó đã khiến cho công tác quản lý thu thuế trở nên vô cùng phức tạp và bộc lộ nhiều hạn chế
Với sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ viên chức trong Chi cục, được sự chỉ đạo và giúp đỡ của Quận ủy, Hội đồng Nhân dân Quận, UBND Quận, Cục Thuế Thành phố Hà Nội và các ban ngành có liên quan, sự phổi kết hợp chặt chẽ của UBND các phường, công an, quản lý thị trường…, thời gian qua Chi cục luôn hoàn thành nhiệm vụ thu đối với khu vực cá thể
Thực hiện nhiệm vụ của cấp trên giao cho, ngay từ đầu năm, để đảm bảo tiến độ công việc, tất cả các cán bộ viên chức trong Chi cục đã tập trung, phấn đấu cao độ thực hiện mọi nhiệm vụ được giao Căn cứ vào kế hoạch cấp trên giao, vào tình hình thực tế trên địa bàn, Chi cục đã giao kế hoạch cụ thể cho từng đội thuế Mọi công việc từ khâu lập sổ bộ, rà soát, phân loại nợ đọng… đều được tiến hành khẩn trương, có sự phối hợp giữa văn phòng với các đội thuế phường, đội thanh tra
Chi cục tiếp tục duy trì hoạt động của Tổ Thường trực giải đáp các vướng mắc về chính sách thuế cho các hộ kinh doanh trên địa bàn theo dõi và nắm chắc tình hình biến động về giá cả thị trường, về tình hình quản lý và sử dụng hóa đơn bán hàng… Tổ thường trực theo dõi tình hình triển khai các luật