1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ ÁN TĂNG CƯỜNG THU HÚT VÀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2014 – 2020, ĐỊNH HƯỚNG 2030

52 852 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 435,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

dòng FDI vào nông lâm ngư nghiệp ở Việt Nam đi ngược xu thế chung của thế giới, dovậy khó tận dụng được cơ hội thị trường và lợi thế của Việt Nam, mà còn là sự khôngtương thích giữa tầm

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

*******

ĐỀ ÁNTĂNG CƯỜNG THU HÚT VÀ QUẢN LÝ

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP

GIAI ĐOẠN 2014 – 2020, ĐỊNH HƯỚNG 2030

HÀ NỘI, THÁNG 10/2013

DỰ THẢO

Trang 2

MỞ ĐẦU

I SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ ÁN

Trong những năm qua, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò quan trọngđối với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam FDI là một trong những nhân tố quantrọng thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội,đặc biệt là đối với nền kinh tế đang phát triển Nguồn vốn FDI không chỉ là kênh bổsung nguồn vốn cho phát triển, tạo việc làm, cải thiện thu nhập, mà còn quan trọng đốivới các nước đang phát triển như Việt Nam, vì vậy thông qua FDI các nguồn kỹ thuật -công nghệ, kinh nghiệm quản lý, đào tạo nguồn lao động có cơ hội chuyển giao và pháthuy mạnh mẽ Sau khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thếgiới (WTO) và đến nay nước ta đang bước vào giai đoạn thực thi mạnh mẽ các cam kếtquốc tế giúp cho môi trường pháp lý minh bạch hơn, bình đẳng hơn, mức độ mở cửacao hơn thì Việt Nam đang trở thành địa chỉ hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài,làn sóng đầu tư vào Việt Nam đang gia tăng đặc biệt, trong đó kể cả FDI cho ngànhnông nghiệp

Trong tổng thể chính sách thu hút FDI, nông lâm ngư nghiệp và phát triển nôngthôn luôn được coi là các lĩnh vực khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư Nhậnthức được tầm quan trọng của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, và đểđón đầu làn sóng FDI vào Việt Nam, Chính phủ đã ban hành hàng loạt các chính sáchliên quan đến thu hút FDI tạo ra môi trường pháp lý thông thoáng đầu tư kinh doanhnhư Luật Đầu tư (2005), Luật Doanh nghiệp và các văn bản dưới Luật khác quy địnhchi tiết Luật đầu tư Gần đây Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 26 NQ-TW vềNông nghiệp Nông thôn Nông dân và Chương trình nông thôn mới tạo thuận lợi thu hútnguồn vốn FDI vào nông nghiệp Tiếp theo, Chính phủ cũng đã ban hành nhiều chínhsách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn như Nghịđịnh 61/2010//NĐ-CP về Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nôngnghiệp, nông thôn; Nghị định 41/2010/NĐ-CP về Chính sách tín dụng phục vụ pháttriển nông nghiệp; Nghị định 133/2013/NĐ-CP ngày 17/10/2013 về sửa đổi, bổ sungNghị định số 54/2013 ngày 12/5/2013 về bổ sung Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày30/8/2011 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước; Nghịđịnh 75/2011/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của nhà nước, Nghị đinh54/2013/NĐ-CP về Bổ sung Nghị định 75/2011/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và tín dụngxuất khẩu của nhà nước; Quyết định 01/2012/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ việc

áp dụng Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp vàthủy sản… đã tạo thêm nhiều động lực thu hút nguồn vốn đầu tư vào nông nghiệp, nôngthôn Các chính sách đó đã và đang được thực hiện một cách nhất quán và liên tục đượchoàn thiện theo hướng tạo môi trường ngày càng thuận lợi để thu hút có hiệu quả nguồnvốn FDI vào lĩnh vực này Gần đây Nghị quyết TW 7 (khóa X) đã khẳng định thêm cần

“Mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài vào sản xuất nông nghiệp và xâydựng nông thôn”

Trong khi xu thế FDI vào khu vực nông nghiệp của cả thế giới đang ngày mộttăng, thì Việt Nam lại đang xảy ra điều ngược lại Điều đáng lo ngại không chỉ ở chỗ

Trang 3

dòng FDI vào nông lâm ngư nghiệp ở Việt Nam đi ngược xu thế chung của thế giới, dovậy khó tận dụng được cơ hội thị trường và lợi thế của Việt Nam, mà còn là sự khôngtương thích giữa tầm quan trọng của khu vực nông nghiệp trong nền kinh tế nước ta.

Trong thời gian qua, dòng vốn FDI vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp còn hết sứchạn chế, các dự án FDI nông nghiệp nhỏ cả về quy mô và tỷ trọng vốn đầu tư so vớitổng FDI của cả nước, chưa tương xứng với tiềm năng cũng như thế mạnh phát triển củanền nông nghiệp Việt Nam Mặt khác, so với hoạt động FDI trong các lĩnh vực khác,hiệu quả thực hiện các dự án trong lĩnh vực này còn rất hạn chế Có nhiều nguyên nhânlàm cho khu vực nông nghiệp chưa thu hút được FDI như: (i) hoạt động sản xuất khuvực nông nghiệp thường gặp nhiều rủi ro hơn các lĩnh vực khác do chịu ảnh hưởng lớnbởi thời tiết, thiếu đảm bảo về kết cấu hạ tầng, đất đai và nguồn nhân lực, nguồn cungcấp nguyên liệu, bảo vệ sản phẩm trước khi thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm; (ii) nôngnghiệp Việt Nam vẫn mang tính sản xuất nhỏ manh mún, tự cung, tự cấp, thiếu tínhchuyên môn; (iii) chưa có phương thức hợp tác phù hợp với tính chất, trình độ của nôngdân; (iv) thiếu tính liên kết bao gồm cả liên kết dọc theo chuỗi ngành hàng và liên kếtngang một cách ổn định và bền vững; (v) chính sách, chiến lược, định hướng thu hútFDI vào lĩnh vực nông nghiệp chưa được xác định rõ ràng và còn thiếu và bất cập do đóchưa thật sự hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài (năm 2010, Chính phủ ban hành Nghị định61/2010 NĐ-CP thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn song chỉ có1,63% doanh nghiệp đầu tư vào khu vực này)

Bên cạnh đó, trong thời gian gần đây, các nhà đầu tư nước ngoài ít đầu tư tiềnvốn vào sản xuất mà tập trung vào thành lập các Công ty TNHH để xin quyền xuấtkhẩu, quyền nhập khẩu và quyền phân phối các sản phẩm nông lâm thủy sản hoặc xin

bổ sung, điều chỉnh giấy phép kinh doanh để thực hiện các quyền nêu trên, xu thế nàykhông phải là định hướng và mong muốn của Việt Nam Chúng ta mong muốn các nhàđầu tư nước ngoài đầu tư vào sản xuất để tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp và sản phẩm của Việt Nam cũng như mở rộng vùng sản xuất nguyên liệu trongnước, ưu tiên phát triển các dự án có sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, các sản phẩm cókhả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu và tăng giá trị gia tăng củasản phẩm, tập trung thu hút vào các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp phục vụnông nghiệp, dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức cao, áp dụng công nghệ cao vàosản xuất và quản lý hiện đại và mang tính liên kết cao với các doanh nghiệp, tổ chức sảnxuất trong nước…

Bên cạnh đó, một nguyên nhân chủ quan khác ảnh hưởng lớn đến FDI là công tácvận động, xúc tiến đầu tư các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư nguồn vốn FDI vào lĩnhvực nông lâm ngư nghiệp chưa thực sự hiệu quả, chưa có sự kết nối toàn quốc; danhmục các dự án ưu tiên kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành chưa đầy đủ vàchi tiết

Xuất phát từ thực tiễn và vị trí chiến lược của nông nghiệp, nông dân, nông thôntrong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Đảng vàChính phủ đã tiếp tục khẳng định quan điểm ưu tiên đầu tư cho nông nghiệp nông thônđược thể hiện trong Nghị quyết 26-QĐ/TW ngày 5/8/2008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban

chấp hành Trung ương Đảng khoá X “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” là “…

Trang 4

khai thác tốt điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội…cho nông nghiệp, nông thôn” Để tăng vốn đầu tư

cho nông nghiệp, nông thôn, việc khuyến khích và thu hút vốn từ các thành phần kinh tếluôn là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu

Để thực hiện nhiệm vụ “Đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu lại nền kinh tếtheo hướng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng

và chiều sâu” đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, ngành nông nghiệp đãtiến hành xây dựng Đề án “Tái cơ cấu ngành theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị giatăng và phát triển bền vững” và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định

số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 trong đó rõ đã xác định mục tiêu tái cơ cấu ngành nôngnghiệp là “một hợp phần của tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân”, “thực hiện tái cơcấu nông nghiệp vừa phải theo cơ chế thị trường, vừa phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản

về phúc lợi cho nông dân và người tiêu dùng” Đề án nhằm ba mục tiêu chính: Thứnhất, duy trì tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh thông qua tăng năngsuất, chất lượng và giá trị gia tăng; đáp ứng tốt hơn nhu cầu, thị hiếu của người tiêudùng trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP toànngành bình quân từ 2,6% - 3,0%/năm trong giai đoạn 2011 - 2015, từ 3,5 - 4,0%/nămtrong giai đoạn 2016 - 2020; Thứ hai, nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho cưdân nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực (bao gồm cả an ninh dinh dưỡng) cả trướcmắt và lâu dài, góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo Đến năm 2020, thu nhập hộ gia đìnhnông thôn tăng lên 2,5 lần so với năm 2008; số xã đạt tiêu chí nông thôn mới là 20%vào năm 2015 và 50% vào năm 2020; Thứ ba, tăng cường quản lý tài nguyên thiênnhiên, giảm phát thải khí nhà kính và các tác động tiêu cực khác đối với môi trường,khai thác tốt các lợi ích về môi trường, nâng cao năng lực quản lý rủi ro, chủ độngphòng chống thiên tai, nâng tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc lên 42 - 43% năm 2015 và45% vào năm 2020, góp phần thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh của quốc gia

Để thực hiện mục tiêu trên, thực tế đòi hỏi phải huy động tối đa mọi nguồn lực,trong khi đó nguồn vốn ngân sách nhà nước còn hạn chế, nguồn vốn ODA có xu hướnggiảm sút trong những năm gần đây, việc huy động nguồn vốn từ các doanh nghiệp, hợptác xã, hộ gia đình gặp nhiều khó khăn Do đó, tăng cường thu hút nguồn vốn FDItrong nông nghiệp và quản lý sử dụng hiệu quả nguồn lực này đang là vấn đề đang cầnđược quan tâm hàng đầu và ưu tiên từ nay đến năm 2020

Để góp phần vào các nỗ lực chung của Chính phủ nhằm định hướng chính sách,nâng cao kết quả và hiệu quả thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn FDI vào ngànhnông lâm ngư nghiệp, việc xây dựng Đề án “Tăng cường thu hút và quản lý đầu tư trựctiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp giai đoạn 2014 – 2020, định hướng2030” là hết sức cần thiết

II CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

Chỉ thị 1617/CT-TTg ngày 19 tháng 9 năm 2011 của Thủ tướng chính phủ vềviệc tăng cường thực hiện và chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoàitrong thời gian tới

Trang 5

Chiến lược phát triển ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2011

-2020 và Đề án Tái cơ cấu ngành theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng vàphát triển bền vững” và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10 tháng 6 năm 2013

III MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN

1 Mục tiêu chung

- Xây dựng Đề án để xác định các nhiệm vụ, giải pháp nhằm kêu gọi và huy độngnhiều nguồn vốn FDI vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp để góp phần chuyển dịch cơcấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá nông lâmthủy sản có chất lượng và giá trị gia tăng cao, gắn sản xuất với thị trường trong nước vàthị trường quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên (đất đai, lao động vànguồn vốn), nâng cao thu nhập trên một đơn vị ha đất canh tác, cải thiện đời sống củanông dân và góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững;

- Góp phần ổn định kinh tế - xã hội đất nước trong quá trình hội nhập kinh tếquốc tế trên cơ sở tăng cường đóng góp của FDI trong nông lâm ngư nghiệp vào GDP,tạo thêm việc làm, nâng cao đời sống người lao động, đáp ứng nhu cầu hàng hoá củanền kinh tế

2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá thực trạng FDI trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp, đồng thời đưa rakiến nghị về phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh và hiệu quả trong thuhút và sử dụng FDI trong lĩnh vực này;

- Tập trung thu hút FDI có định hướng và có chọn lọc vào các lĩnh vực: trồng trọt(các cây trồng có giá trị kinh tế cao như gạo, cà phê, điều, cao su, chè…), trồng và khaithác rừng sản xuất (cây lấy gỗ, lấy dầu, lâm sản…), chăn nuôi (gia súc, gia cầm năngsuất cao, chăn nuôi bò sữa, cừu, dê…), nuôi trồng thủy sản, chế biến nông lâm thủysản…Thu hút FDI vào các lĩnh vực phục vụ cho nông nghiệp như sản xuất thuốc bảo vệthực vật, phân bón hữu cơ và vi sinh, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, máy móc nôngnghiệp, phát triển công nghệ sinh học nông nghiệp, công nghệ sản xuất chọn tạo giốngmới năng suất cao, hệ thống kho lạnh bảo quản, bến bãi…;

- Tăng cường thu hút vốn FDI vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp, nâng cao tỷtrọng đầu tư lên 8% - 10% so với tổng số đầu tư nước ngoài toàn quốc vào năm 2020;làm căn cứ để các Bộ ngành, các địa phương, các Hiệp hội xây dựng tổ chức và thựchiện các quy hoạch, các chương trình thu hút FDI vào nông lâm ngư nghiệp;

- Thúc đẩy thu hút FDI quy mô nhỏ và trung bình phù hợp với điều kiện nông thôncủa Việt nam;

- Tạo điều kiện về chính sách và dịch vụ để huy động các nguồn lực trong vàngoài nước vào việc khai thác tiềm năng và lợi thế trong nông lâm ngư nghiệp

IV PHẠM VI ĐỀ ÁN

Trang 6

Tăng cường thu hút và quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông lâmngư nghiệp giai đoạn 2014 – 2020, định hướng 2030 Đề án được thực hiện trên phạm

vi cả nước

V NỘI DUNG ĐỀ ÁN

Đề án gồm những nội dung chủ yếu như sau:

- Phần thứ nhất: Thực trạng chính sách thu hút FDI trong lĩnh vực nông lâm ngưnghiệp và các cam kết quốc tế có liên quan

- Phần thứ hai: Tình hình thu hút và sử dụng FDI trong lĩnh vực nông lâm ngưnghiệp

- Phần thứ ba: Định hướng, mục tiêu và quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quảthu hút và sử dụng FDI trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp

- Phần thứ tư: Tổ chức thực hiện

PHẦN THỨ NHẤT THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THU HÚT FDI TRONG LĨNH VỰC NÔNG LÂM

NGƯ NGHIỆP VÀ CÁC CAM KẾT QUỐC TẾ CÓ LIÊN QUAN

I CHÍNH SÁCH THU HÚT FDI TRONG LĨNH VỰC NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP

1 Ngành nghề khuyến khích đầu tư

Trong tổng thể chính sách thu hút và sử dụng FDI của Việt Nam, nông lâm ngưnghiệp và công nghiệp chế biến trong các lĩnh vực này luôn được coi là các ngành nghềkhuyến khích hoặc đặc biệt khuyến khích đầu tư Theo quy định tại Nghị định108/2006/NĐ-CP ngày 22/6/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều

của Luật Đầu tư (2005), các dự án thuộc diện đặc biệt ưu đãi đầu tư gồm: trồng, chăm

sóc rừng; nuôi trồng nông, lâm, thủy sản trên đất hoang hoá, vùng nước chưa được khaithác; đánh bắt hải sản ở vùng biển xa bờ; sản xuất giống nhân tạo, giống cây trồng, vậtnuôi mới và có hiệu quả kinh tế cao; sản xuất, khai thác và tinh chế muối

Nghị định này cũng quy định các dự án thuộc diện ưu đãi đầu tư, gồm: trồng cây

dược liệu; bảo quản nông sản sau thu hoạch, bảo quản nông, thủy sản và thực phẩm; sảnxuất nước hoa quả đóng chai, đóng hộp; sản xuất, tinh chế thức ăn cho gia súc, gia cầm,thủy sản; dịch vụ kỹ thuật trồng cây công nghiệp và cây lâm nghiệp, chăn nuôi, thủysản, bảo vệ cây trồng, vật nuôi; sản xuất, nhân và lai tạo giống cây trồng và vật nuôi

2 Chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư

Chính sách ưu đãi FDI đối với các ngành nghề, sản phẩm và dịch vụ nêu trênđược áp dụng chủ yếu dưới hình thức ưu đãi về thuế, tín dụng và sử dụng đất đai, cụ thểlà:

2.1 Thuế thu nhập doanh nghiệp:

Trang 7

Theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành, các dự án thuộcngành nghề ưu đãi đầu tư nêu trên được áp dụng thuế suất thuế ưu đãi 20% trong 10năm, được miễn thuế trong 2 năm và giảm 50% trong 3 năm tiếp theo Ngoài ra, mứcthuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi hơn (15% trong 12 năm, miễn 2 năm và giảm 50%trong 7 năm tiếp theo) được áp dụng đối với dự án nói trên nếu thực hiện tại địa bàn cóđiều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hộiđặc biệt khó khăn được hưởng ưu đãi cao nhất (10% trong 15 năm, miễn 4 năm và giảm50% trong 8 năm tiếp theo)

Tuy nhiên, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ 1/1/2009 đã thu hẹp đáng kể diện các dự án được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong lĩnh vực nuôi, trồng, chế biến các sản phẩm nông lâm thủy sản 1 Theo đó,

ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ áp dụng đối với: (i) các dự án trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản của tổ chức được thành lập theo Luật Hợp tác xã; (ii) các dự án cung cấp dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp; và (iii) các hợp tác

xã dịch vụ nông nghiệp và quỹ tín dụng nhân dân.

- Miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu sản xuất trong 5 năm kể từ khi bắt đầusản xuất đối với một số dự án nông lâm ngư nghiệp thuộc Danh mục dự án đặcbiệt khuyến khích đầu tư hoặc đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặcbiệt khó khăn;

- Miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu, bộ phận rời, phụ tùng và vật tư nhậpkhẩu để sản xuất hàng xuất khẩu

2.3.Thuế giá trị gia tăng

Theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng, một số sản phẩm nông, lâm, thủysản và dịch vụ phục vụ nông nghiệp được miễn thuế giá trị gia tăng gồm: (i) sản phẩmtrồng trọt, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩmkhác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra

và ở khâu nhập khẩu; (ii) sản phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng, bao gồm trứng

giống, con giống, cây giống, hạt giống, tinh dịch, phôi, vật liệu di truyền; (iii) tưới, tiêunước; cày, bừa đất; nạo vét kênh, mương nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp; dịch

vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp; (iv) sản phẩm muối được sản xuất từ nước biển,muối mỏ tự nhiên, muối tinh, muối i-ốt

2.4 Ưu đãi về tín dụng

1 Danh mục lĩnh vực ưu đãi/đặc biệt ưu đãi đầu tư theo quy định tại Nghị định 108/2006/NĐ-CP vẫn tiếp tục có hiệu lực

để làm cơ sở áp dụng các ưu đãi đầu tư khác.

Trang 8

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 133/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 sửa đổi,

bổ sung Nghị định 54/2013/NĐ-CP về bổ sung Nghị định 75/2011/NĐ-CP về tín dụngđầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước Tại Nghị định 133/2013/NĐ-CP vừa đượcban hành thì ngoài nhóm hàng xuất khẩu rau quả, thủy sản thì nhóm hàng xuất khẩu càphê, hạt điều đã qua chế biến cũng được gia hạn thời gian vay vốn tín dụng xuất khẩulên tối đa 36 tháng khi đáp ứng các điều kiện trên

Theo Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/8/2011 về tín dụng đầu tư và tíndụng xuất khẩu của Nhà nước và Nghị định 54/2013/NĐ-CP ngày 25/5/2013 bổ sungmột số điều của Nghị định này, các dự án thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn(không phân biệt địa bàn đầu tư), gồm dự án xây dựng mới và mở rộng cơ sở giết mổ,chế biến gia súc, gia cầm tập trung; dự án phát triển giống thủy, hải sản; dự án phát triểngiống cây trồng, giống vật nuôi, giống cây lâm nghiệp được hưởng ưu đãi về tín dụngđầu tư (cho vay đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư, hỗ trợ sau đầu tư) và ưu đãi về tíndụng xuất khẩu dưới các hình thức: cho vay xuất khẩu (cho nhà xuất khẩu và nhà nhậpkhẩu vay), bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợpđồng

Đối với tín dụng đầu tư của Nhà nước, mức vốn cho vay đối với mỗi dự án tối đabằng 70% tổng mức vốn đầu tư của dự án đó do Ngân hàng Phát triển Việt Nam quyếtđịnh Đồng thời, Ngân hàng Phát triển Việt Nam cũng quyết định thời hạn cho vay của

dự án dựa trên khả năng thu hồi vốn của dự án và khả năng trả nợ của chủ đầu tư vớimức tối đa là 12 năm; với một số dự án đặc thù (dự án nhóm A, trồng cây thông, câycao su), thời hạn cho vay tối đa là 15 năm

Lãi suất cho vay được xác định tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng lần đầu tiên vàkhông thay đổi cho cả thời hạn vay vốn Lãi suất cho vay đầu tư bằng đồng Việt Namđược tính bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm cộng 0,5%/năm, lãi suất nợquá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn Các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế -

xã hội, dự án phát triển nông nghiệp, nông thôn và dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiệnkinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng lãi suất cho vay bằng lãi suất trái phiếuChính phủ kỳ hạn 5 năm và được hỗ trợ sau đầu tư

Đối với tín dụng xuất khẩu, mức vốn cho vay tối đa bằng 85% giá trị hợp đồngxuất khẩu, nhập khẩu đã ký hoặc giá trị LC (thư tín dụng) đối với cho vay trước khi giaohàng hoặc trị giá hối phiếu hợp lệ đối với cho vay sau khi giao hàng, thời hạn cho vaykhông quá 12 tháng và lãi suất do Bộ Tài chính quyết định theo nguyên tắc phù hợp vớilãi suất thị trường

2.5 Ưu đãi về sử dụng đất đai

Tương tự các dự án thuộc lĩnh vực hoặc địa bàn khuyến khích đầu tư khác, dự ánđầu tư trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp được hưởng ưu đãi liên quan đến việc sửdụng đất đai; cụ thể là2:

- Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư thực hiện tại địa bànkinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được miễn tiền thuê đất;

2 Theo Nghị định 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước

Trang 9

- Dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư được miễn tiền thuê đấtđến 3 năm;

- Dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; dự án thuộcDanh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư được miễn tiền thuê đất đến 7 năm;

- Dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; dự ánthuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư và thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh

tế - xã hội khó khăn được miễn tiền thuê đất đến 11 năm;

- Dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư thực hiện tại địa bàn có điềukiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được miễn tiền thuê đất đến 15 năm

Ngoài ra, việc giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước còn được áp dụng cho hợp tác xãthuê đất để làm mặt bằng sản xuất kinh doanh (được giảm 50%); trường hợp thuê đất,thuê mặt nước để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồngthủy sản, làm muối mà bị thiên tai, hỏa hoạn gây thiệt hại dưới 40% sản lượng thì đượcxét giảm tiền thuê tương ứng; nếu thiệt hại từ 40% trở lên thì được miễn tiền thuê đốivới năm bị thiệt hại

2.6 Các ưu đãi và hỗ trợ đầu tư khác

Bên cạnh việc áp dụng các hình thức ưu đãi, hỗ trợ đầu tư nêu trên, các văn bảnpháp luật, chính sách chung có liên quan đến lĩnh vực phát triển nông nghiệp và nôngthôn cũng tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực quan trọngnày Việc áp dụng ưu đãi thuế cho các mặt hàng xuất khẩu, chính sách trang trại đã pháthuy tác dụng; chính sách thuế nông nghiệp đã làm cho người nông dân yên tâm hơn;chính sách khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư đã giúp cho hàng triệu nông dân tiếpcận với công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ sinh học

Về chính sách thị trường, từ trước khi Việt Nam gia nhập WTO, Thủ tướng Chínhphủ đã ban hành Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích tiêu thụnông sản thông qua hợp đồng Sau khi gia nhập WTO nhận thấy một số nội dung trongQuyết định này Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 25/2008/CT-TTg ngày25/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo tiêu thụ nông sản thôngqua hợp đồng Các chính sách này đã mở ra hướng đi tích cực giúp cho sản xuất nôngnghiệp gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm, thu hút được nhiều doanh nghiệp và nôngdân tham gia Nhờ vậy, tăng cường quan hệ giữa các doanh nghiệp với người sản xuất,tạo điều kiện để nông dân tiếp nhận hỗ trợ về đầu tư, các biện pháp kỹ thuật với giá cảhợp lý, đồng thời giúp doanh nghiệp chủ động được nguyên liệu mở rộng quy mô sảnxuất, tăng cường năng lực cạnh tranh Ở nhiều địa phương, một số ngành hàng đã hìnhthành mô hình tốt liên kết giữa người nông dân với doanh nghiệp sản xuất, chế biến vàtiêu thụ nông sản

II CAM KẾT QUỐC TẾ VỀ ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP

Đến nay Việt Nam đã ký kết và tham gia nhiều cam kết quốc tế về đầu tư hoặcliên quan đến đầu tư, bao gồm: (i) các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư ký kếtvới 55 nước ở tất cả châu lục: Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Đại

Trang 10

Dương, đặc biệt trong Hiệp định Thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ (BTA) cũng có mộtChương về Phát triển quan hệ đầu tư với quy mô lớn và chi tiết; (ii) các Hiệpđịnh/Chương Đầu tư trong khuôn khổ FTA và; (iii) các cam kết khác liên quan đến đầu

tư như Hiệp định về Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs) củaWTO, các hiệp định về dịch vụ trong WTO và các FTA, hiệp định thành lập tổ chức bảođảm đầu tư đa phương (MIGA), Công ước New York 1958 về công nhận và thi hànhphán quyết của trọng tài nước ngoài, v v…

1 Các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư mà Việt Nam đã ký kết (với

55 quốc gia) có nội dung tương đối thống nhất theo mô hình các hiệp định khuyến khích

và bảo hộ đầu tư truyền thống trên thế giới

Các hiệp định này chỉ bao gồm cam kết về bảo hộ đầu tư, tức là cam kết đối xửthuận lợi với các khoản đầu tư đã được đầu tư trên lãnh thổ nước mình Các cam kết về

tự do hoá đầu tư, tức là cam kết về mở cửa thị trường hay dành quyền thành lập doanhnghiệp trên lãnh thổ nước chủ nhà không nằm trong phạm vi của các hiệp định này

2 Các cam kết quốc tế về đầu tư song phương có yếu tố tự do hoá bao gồm

Hiệp định khuyến khích, bảo hộ và tự do hoá đầu tư Việt Nam - Nhật Bản và ChươngPhát triển Quan hệ Đầu tư trong Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa

Kỳ Bên cạnh cam kết về bảo hộ đầu tư, Việt Nam còn cam kết về quyền thành lập đốivới nhà đầu tư nước ngoài Hai hiệp định này đều sử dụng phương pháp chọn bỏ(negative list approach), tức là đưa ra các cam kết chung và các Bên ký kết có quyềnduy trì hoặc ban hành các biện pháp không phù hợp với các nghĩa vụ chung này và phảiliệt kê các biện pháp đó trong một hoặc một số phụ lục

Tuy nhiên, Chương Phát triển Quan hệ Đầu tư trong Hiệp định Thương mại Songphương với Hoa Kỳ chỉ điều chỉnh về tự do hoá đầu tư đối với đầu tư trong các ngànhphi dịch vụ Đối với các ngành dịch vụ, liên quan đến tiếp cận thị trường và đối xử quốcgia, Danh mục cam kết cụ thể của Chương Thương mại Dịch vụ xây dựng theo phươngpháp chọn cho (positive list approach) sẽ được ưu tiên áp dụng Trong khi đó, Hiệp địnhKhuyến khích, Bảo hộ và Tự do hoá đầu tư Việt Nam - Nhật Bản cam kết tiếp cận thịtrường với tất cả các ngành, kể cả dịch vụ và phi dịch vụ, theo phương pháp chọn bỏ(negative list approach)

3 Hiệp định thương mại tự do có cam kết về đầu tư mà Việt Nam đã ký kết

tính đến tháng 3/2009 bao gồm:

- Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA) : Đây là một hiệp định về đầu tưđộc lập, trong khuôn khổ hợp tác kinh tế của Cộng đồng ASEAN Hiệp định này thaythế hai hiệp định về đầu tư của ASEAN đã ký trước đây là Hiệp định Khu vực Đầu tưASEAN (về tự do hoá và thuận lợi hoá đầu tư, ký năm 1998) và Hiệp định khuyếnkhích và bảo hộ đầu tư ASEAN (IGA-ký năm 1986)

Trong ACIA, các cam kết về bảo hộ đầu tư chứa đựng các điều khoản mang tínhchuẩn mực của các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư truyền thống, có kế thừahiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư ASEAN (IGA) nhưng phát triển ở mức độ sâu,

cụ thể hơn để phù hợp với tính chất là một hiệp định đầu tư toàn diện cấp khu vực trongbối cảnh toàn cầu hóa

Trang 11

Theo ACIA, đối tượng được bảo hộ: Về phạm vi địa lý, Hiệp định này chỉ bảo hộcác khoản đầu tư tồn tại trên lãnh thổ của các Bên ký kết Hiệp định Về mặt thời gian,Hiệp định này bảo hộ tất cả các khoản đầu tư đang tồn tại tại thời điểm Hiệp định cóhiệu lực, bất kể khoản đầu tư đó được thực hiện trước hay sau khi Hiệp định có hiệulực Tiêu chí về để đánh giá một khoản đầu tư có thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệpđịnh hay không là thời điểm tồn tại của khoản đầu tư đó, chứ không phải là thời điểmbắt đầu đầu tư Đây là một quy định phổ biến trong các hiệp định khuyến khích và bảo

hộ đầu tư trên thế giới, xuất phát từ tính chất dài hạn của khoản đầu tư Về đối tượng cụthể, thông thường đối tượng được bảo hộ trong các hiệp định đầu tư thể hiện ở các địnhnghĩa khoản đầu tư và nhà đầu tư Tuy nhiên, Hiệp định ACIA có một đặc thù là cácnghĩa vụ về bảo hộ đầu tư chỉ dành cho các khoản đầu tư được bảo hộ (“coveredinvestment”) Theo đó, khoản đầu tư được bảo hộ là khoản đầu tư tồn tại trên lãnh thổcủa một nước thành viên kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực hoặc thành lập, được mua lạihoặc mở rộng sau đó, và được chấp thuận phù hợp với pháp luật của nước chủ nhà vàtuỳ từng trường hợp, đã được phê chuẩn bằng văn bản bởi cơ quan có thẩm quyền củanước thành viên đó Tóm lại, bảo hộ đầu tư theo hiệp định ACIA chỉ dành cho cáckhoản đầu tư hợp pháp và trong giai đoạn sau thành lập

- Hiệp định Hợp tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA): Nội dung về đầu tưcủa Hiệp định này dẫn chiếu đến toàn bộ Hiệp định Khuyến khích, Bảo hộ và Tự do hoáđầu tư Việt Nam - Nhật Bản nên không nghiên cứu ở phần này

Trong nội dung về đầu tư của VJEPA, Việt Nam đã ký kết các nội dung về hìnhthức đầu tư trong tất cả các lĩnh vực, trừ các ngoại lệ Ngoại lệ đầu tư của Nhật Bản đưa

ra được xây dựng theo phương pháp Hai Phụ lục, theo đó Phụ lục I liệt kê các biệnpháp, lĩnh vực có tính nhạy cảm cao mà các Bên có quyền bảo lưu các biện pháp hiệnhành hoặc ban hành mới các biện pháp vi phạm nghĩa vụ trong tương lai Phụ lục II liệt

kê các biện pháp ngoại lệ đang tồn tại hiện hành mà các Bên ký kết có quyền duy trìnhưng không được ban hành mới hoặc sửa đổi theo hướng bất lợi cho nhà đầu tư NhậtBản cũng đưa ra phương pháp tiếp cận chọn bỏ áp dụng đối với tất cả các ngành, kể cảdịch vụ và phi dịch vụ Đây cũng là Hiệp định FTA có nội dung đầu tư đầu tiên của ViệtNam đề cập trực tiếp, rõ ràng đến thuế, và mở ra khả năng coi áp dụng biện pháp thuế làmột trường hợp tước quyền sở hữu gián tiếp Quy định này tuy nhiên đã được làm giảmbớt bằng Biên bản Ghi nhớ, theo đó các biện pháp thuế không phân biệt đối xử thôngthường không được coi là tước quyền sở hữu, trừ một số trường hợp đặc biệt

- Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN-Australia & New Zealand (AANZFTA):Đây là một Hiệp định trọn gói (single undertaking), trong đó Chương Đầu tư được đàmphán và ký kết cùng lúc với các chương khác của Hiệp định

Chương Đầu tư trong AANZFTA có quy mô thuộc loại lớn nhất trong các camkết về đầu tư mà Việt Nam đã ký kết, được thiết kế bao gồm cả nội dung tự do hóa vàbảo hộ đầu tư Tuy nhiên, do những khác biệt về quan điểm giữa AANZ và ASEAN,một số nội dung tự do hoá của Chương này chưa có hiệu lực tại thời điểm ký kết mà sẽđược tiếp tục đàm phán trong vòng 5 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực Mặc dù vậy,các cam kết khác của Chương này vẫn có độ chi tiết và mức cam kết cao, đặt ra tiêuchuẩn mới về bảo hộ đầu tư trong ASEAN Các Hiệp định đầu tư mà ASEAN đàm phán

Trang 12

sau khi đàm phán AANZFTA kết thúc, kể cả Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN(ACIA) đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của Chương Đầu tư trong AANZFTA

Về phạm vi áp dụng: Chương Đầu tư trong AANZFTA áp dụng với các biện phápmột Bên ký kết duy trì hoặc ban hành đối với nhà đầu tư của bất kỳ Bên ký kết nàokhác, và khoản đầu tư được bảo hộ Chương Đầu tư không áp dụng đối với mua sắmchính phủ; trợ cấp; việc cung cấp dịch vụ công liên quan đến thực thi quyền lực Nhànước; các biện pháp đã được điều chỉnh bởi Chương Dịch vụ Tuy nhiên, để đảm bảocác phạm vi bảo hộ đầu tư của Chương Đầu tư không hẹp hơn các hiệp định khuyếnkhích và bảo hộ đầu tư đã ký kết giữa các bên, một số điều khoản về bảo hộ đầu tư củaChương Đầu tư sẽ được áp dụng chéo cho Mode 3 Dịch vụ hiện đang được điều chỉnhtại Chương Dịch vụ, cụ thể là: Đối xử với đầu tư, Tước quyền sở hữu, Đền bù thiệt hại,Chuyển tiền ra nước ngoài, Thế quyền, Giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước và nhà đầutư

Ngoài ra, trong cơ cấu Khu vực Thương mại Tự do ASEAN – Trung Quốc(ACFTA) và ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA) ngoài Hiệp định Khung và các hiệp định

bộ phận như Thương mại Hàng Hoá, Thương mại Dịch vụ, các bên cũng cam kết xâydựng các Hiệp định về đầu tư

Hai hiệp định đã ký là ACIA và AANZFTA có đặc điểm chung nổi bật là (i) baogồm cả cam kết bảo hộ và tự do hoá đầu tư (ii) cam kết tự do hoá được xây dựng theophương pháp chọn bỏ (negative list approach) Tuy nhiên, cam kết cụ thể của hai hiệpđịnh này cũng có nhiều điểm khác biệt đáng kể, phù hợp với tính chất khác nhau củacác đối tác đàm phán

4 Các Hiệp định khác liên quan đến đầu tư như Hiệp định về Các biện pháp

đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs) của WTO, hiệp định thành lập tổ chức bảođảm đầu tư đa phương (MIGA), Công ước New York 1958 về công nhận và thi hànhphán quyết của trọng tài nước ngoài, v v…có vai trò tích cực trong việc thuận lợi hoámôi trường đầu tư, đảm bảo nhà đầu tư có cơ chế hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của mình

Trong đó, cam kết theo Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs) trong khuôn khổ WTO: Các cam kết liên quan đến lĩnh vực đầu

tư trong nông nghiệp Việt Nam đã cam kết xóa bỏ hoàn toàn yêu cầu bắt buộc phát triểnnguồn nguyên liệu trong nước đối với dự án sản xuất mía đường, dầu thực vật, sữa, gỗ,đồng thời không áp dụng ngay tại thời điểm gia nhập các trợ cấp bị cấm dưới hình thức

ưu đãi đầu tư nhằm khuyến khích xuất khẩu và sử dụng hàng nội địa (kể cả ưu đãi vớimục đích này cho các dự án đầu tư trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp)

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang tham gia đàm phán các Hiệp định mậu dịch tự

do như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP), Việt Nam - EU, Hiệp định đốitác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Việt Nam - Liên minh Hải quan Belarut,Cadactan và Nga (VCUFTA) trong đó có các Chương đầu tư nêu về cam kết mức độ tự

do hoá đầu tư và bảo hộ đầu tư nên cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư

5 Phân tích định tính một số tác động của các hiệp định đầu tư đối với việc thu hút FDI của Việt Nam:

Trang 13

Việc ký kết các hiệp định liên quan đến đầu tư có thể mang lại nhiều những lợiích đáng kể đối với công cuộc thu hút đầu tư nước ngoài Các hiệp định này bổ sungmột số yếu tố quan trọng cho chính sách đầu tư và các nhân tố về thể chế có tính chấtquyết định đối với FDI, và do đó đóng góp vào việc tăng tính hấp dẫn của môi trườngđầu tư của quốc gia.

Việc ký kết và áp dụng các hiệp định đầu tư, đặc biệt là các chương/hiệp định đầu

tư trong các FTA tạo ra môi trường pháp lý ổn định, minh bạch, vững chắc cho hoạtđộng đầu tư của nhà đầu tư của các nước tham gia Các cam kết về bảo hộ đầu tư và cácnguyên tắc xây dựng chính sách tự do hóa đầu tư bảo đảm cho các nhà đầu tư của cácnước tham gia Hiệp định có được những lợi thế nhất định so với các nhà đầu tư đến từnước khác khi thực hiện hoạt động đầu tư trên lãnh thổ các nước thành viên

Các cam kết về khuyến khích và bảo hộ đầu tư tại các hiệp định đầu tư là khunghành lang pháp lý vững chắc bảo đảm cho các nhà đầu tư của những nước thành viên cóđược những bảo hộ tốt nhất, giảm thiểu nguy cơ rủi ro cho vốn đầu tư của các nhà đầu

tư Những bảo đảm về quyền sở hữu với tài sản và vốn làm cho nhà đầu tư yên tâm sảnxuất kinh doanh, qua đó kích thích họ bỏ vốn ra để đầu tư và tái đầu tư

Việc ký kết các hiệp định đầu tư còn là một thông điệp tích cực, thể hiện mongmuốn thu hút, cải thiện môi trường đầu tư của các Bên ký kết đối với các nhà đầu tư đến

từ các nước thành viên, qua đó kích thích, tạo lòng tin cho các nhà đầu tư yên tâm bỏvốn đầu tư, tìm kiếm cơ hội đầu tư

Song song với chính sách trực tiếp về bảo hộ và khuyến khích đầu tư tại Hiệpđịnh, các quy định thuận lợi về thuế quan trong các FTA cũng ảnh hưởng, tác động đếnviệc thúc đẩy đầu tư lẫn nhau giữa các nước thành viên Bởi lẽ, mục đích của các nhàđầu tư là tìm kiếm lợi nhuận; việc xóa bỏ rào cản thuế sẽ giúp cho các công ty đa quốcgia có nhiều cơ hội đầu tư vào các nước thành viên do có nhiều lựa chọn hơn trong tối

ưu hóa các công đoạn và chi phí sản xuất, kinh doanh

Cam kết theo Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs): Việt Nam đã cam kết xóa bỏ hoàn toàn yêu cầu bắt buộc phát triển nguồnnguyên liệu trong nước đối với dự án sản xuất mía đường, dầu thực vật, sữa, gỗ, đồngthời không áp dụng ngay tại thời điểm gia nhập các trợ cấp bị cấm dưới hình thức ưu đãiđầu tư nhằm khuyến khích xuất khẩu và sử dụng hàng nội địa (kể cả ưu đãi với mụcđích này cho các dự án đầu tư trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp)

PHẦN THỨ HAI TÌNH HÌNH THU HÚT, SỬ DỤNG FDI TRONG LĨNH VỰC NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP

I TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP

1 Khái quát chung về quy mô, tốc độ, cơ cấu thu hút đầu tư FDI

Tính từ năm 1998 đến năm 2012, lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp đã thu hút 562

dự án FDI với tổng vốn đăng ký là trên 2,942 tỷ USD và tổng vốn thực hiện 2,958 tỷ

Trang 14

USD, 89 dự án liên doanh và các hình thức khác với tổng vốn đăng ký là 233,731 triệuUSD và tổng vốn thực hiện là 295,280 triệu USD (Biểu 1)

Biểu 1 Dòng vốn FDI vào nông lâm ngư nghiệp giai đoạn 1998-2012

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2012

Bình quân mỗi năm ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn thu hút gần 37 dự

án đầu tư nước ngoài (trong đó dự án FDI là 31 dự án) tương đương với khoảng 196triệu USD (FDI là 179 triệu USD) Nhìn chung, các dự án FDI trong nông nghiệp cóquy mô vừa và nhỏ, chủ yếu các dự án FDI gắn liền với nguồn nguyên liệu của địaphương Tỉ lệ vốn FDI đưa vào thực hiện thực hiện rất cao đạt 99% so với tổng số vốnđăng ký (Biểu 2 &3)

Biểu 2 FDI vào lĩnh vực nông lâm nghiệp giai đoạn 1998-2012

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2012

Trang 15

Biểu 3 Cơ cấu vốn đăng ký giai đoạn 1998-2012

Vốn đăng ký Vốn tăng thêm

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2012

2 Cơ cấu thu hút đầu tư FDI theo ngành

Trong những năm đầu mở cửa thu hút nguồn vốn bên ngoài, FDI vào ngànhnông lâm ngư nghiệp tập trung chủ yếu vào các dự án trong lĩnh vực trồng rừng vàchế biến gỗ, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất thức ăn nuôi tôm cá Đầu tư vào lĩnh vựcnày chiếm hơn 78% tổng vốn FDI vào ngành nông lâm ngư nghiệp

Tuy nhiên, hiện nay các dự án FDI đã có sự sự thay đổi so với trước đây, các

dự án FDI ngày càng đa dạng hơn và tập trung đầu tư có trọng điểm vào các ngànhnhư trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, chế biến thức ăn chăn nuôi, trồng rừng, chếbiến gỗ và lâm sản, thủy sản và ngành nghề khác Tính đến tháng 6/2012, dự án FDI

có tỷ trọng cao nhất là chế biến-thủy sản (15%) và ngành khác (14%), tiếp theo là dự

án FDI trồng trọt (13%), chế biến-lâm sản (12%), chế biến - nông nghiệp (11%), chếbiến - chăn nuôi (10%), chăn nuôi (8%), thủy sản (7%), chế biến-trồng trọt (7%) và

tỷ trọng thấp nhất là dự án FDI lâm nghiệp (3%) Qua đó thấy rằng cơ cấu dự án FDIphân bố khá đồng đều giữa các ngành và không có sự chênh lệch quá nhiều về cơcấu giữa các ngành (Biểu 4)

Trang 16

Biểu 4: Cơ cấu FDI trong ngành nông lâm ngư nghiệp giai đoạn 1998-2012

Thủy sản 7%

Chăn nuôi 8%

Trồng trọt 13%

Lâm nghiệp 3%

Chế biến-Trồng trọt 7%

Chế biến-Chăn nuôi 10%

Chế biến-Thủy sản 15%

Chế biến-Lâm sản

12%

Chế biến-Nông

nghiệp 11%

Ngành nghề khác 14%

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2012

Nguồn vốn FDI tập trung chủ yếu vào các dự án chế biến (1,2 tỷ USD), ngànhnghề khác (501 triệu USD), tiếp đó là trồng trọt (276 triệu USD), chăn nuôi (190 triệuUSD), thủy sản (128 triệu USD) và lâm nghiệp (79,9 triệu USD) Trong các dự án chếbiến, nguồn vốn FDI đầu tư nhiều nhất vào các dự án chế biến gỗ và các sản phẩm lâmsản (419 triệu USD), tiếp đó là chế biến các ngành hàng nông nghiệp (341 triệu USD),chế biến thủy sản (323 triệu USD), chế biến chăn nuôi (274 triệu USD) và thấp nhất làchế biến các sản phẩm của ngành trồng trọt (152 triệu USD) (Biểu 5)

Biểu 5: Vốn dự án FDI trong ngành nông nghiệp phân theo ngành giai đoạn 1998-2012

3 Cơ cấu đầu tư FDI theo địa phương

Cho đến nay dự án FDI lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp có mặt tại hầu hết 63 tỉnh,thành phố của Việt Nam, chỉ có một vài tỉnh không có dự án FDI Các dự án FDI lĩnhvực nông lâm ngư nghiệp phân bổ không đều theo địa phượng Hầu hết các dự án FDIlĩnh nông nghiệp tập trung vào những tỉnh có lợi thế vùng nguyên liệu truyền thống, cóđiều kiện thuận lợi về thổ nhưỡng, khí hậu để phát triển nguồn nguyên liệu cung cấp

Trang 17

cho nhà máy, cơ chế chính sách ưu đãi về đầu tư như Lâm Đồng, Đồng Nai, thành phố

Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Khánh Hòa, Cần Thơ, Tiền Giang

Biểu 6: Địa phương có số dự án FDI lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp cao nhất

TT Địa phương Số dự án Vốn đăng ký (USD) Vốn thực hiện (USD)

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2012

Theo cơ cấu địa phương, tính đến năm 2012, Lâm Đồng là tỉnh thu hút nhiều dự

án nhất tuy nhiên Đồng Nai lại là tỉnh có tổng vốn thực hiện cao nhất 531.645.342 USD.Trừ một số dự án sản xuất đường mía, thức ăn chăn nuôi, trồng rừng và chế biến nguyênliệu giấy có quy mô hàng chục triệu USD, phần lớn các dự án FDI vào ngành nông, lâmsản có quy mô nhỏ và gắn với nguồn nguyên liệu địa phương Đây là đặc điểm riêngcủa ngành vì các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường có tính năng động cao, thích ứngnhanh với biến động thị trường, phù hợp với điều kiện Việt Nam về khả năng góp vốn,năng lực tiếp thu công nghệ, kinh nghiệm tổ chức quản lý, khai thác tốt tiềm năng trongnông nghiệp - nông thôn, tạo được nhiều việc làm mới

Các dự án FDI lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp phân bổ không đều giữa vùng sinhthái, các dự án tập trung chủ yếu ở vùng có điều kiện thuận lợi như Đông Nam Bộ(28,7%), Tây nguyên (21%), Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (17,1%) và Đồngbằng sông Cửu Long (17.1%), trong khi tác động rất hạn chế đến khu vực Trung Du vàMiền núi phía Bắc (7,6%), Đồng bằng sông Hồng (8,2%) (Biểu 7)

Trang 18

Biểu 7: Cơ cấu đầu tư dự án FDI theo vùng (%)

Tây Nguyên 21%

Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 17%

Đồng bằng Sông Hồng 8%

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2012

4 Cơ cấu hình thức đầu tư FDI

Nguồn vốn FDI vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp chủ yếu được thực hiện dướibốn hình thức chính bao gồm: thứ nhất là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài với 375

dự án (chiếm 75%), kế đến là doanh nghiệp liên kết liên doanh với nước ngoài có 107

dự án (chiếm 22%), tiếp theo là Hợp đồng hợp tác kinh doanh với 9 dự án (chiếm 2%)

và cuối cùng là công ty cổ phần có 5 dự án (chiếm 1%) (Biểu 8)

Biểu 8 Cơ cấu hình thức FDI ngành nông nghiệp

Liên doanh 22%

Hợp đồng hợp tác kinh doanh 2%

Công ty cổ phần 1%

100% vốn nước ngoài 75%

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2012

5 Cơ cấu đối tác đầu tư FDI

Cho đến 2012, đã có trên 30 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia đầu tư dự án FDIlĩnh vực lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp, chủ yếu là các quốc gia Châu Á và trong khuvực Trong đó, Đài Loan (158 dự án với tổng vốn thực hiện là 656.772.336 USD), NhậtBản (67 dự án với tổng vốn thực hiện là 230.297.196 USD), Hàn Quốc (33 dự án vớitổng vốn thực hiện là 358.026.162 USD), Trung Quốc (38 dự án với tổng vốn thực hiện

là 179.834.888 USD), Thái Lan (67 dự án với tổng vốn thực hiện là 215.252.00074USD) là những nhà đầu tư lớn nhất Hầu như cho đến nay chưa có thay đổi đáng kể về

cơ cấu FDI theo đối tác và các nước Châu Á vẫn là nhà đầu tư lớn nhất các dự án FDI

Trang 19

lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp về cả tỷ trọng số dự án và tỷ trọng vốn đầu tư, trong khicác đối tác từ Châu Âu vẫn đầu tư ở mức khiêm tốn, đầu tư đáng kể nhất là BritishVirgin (8 dự án với tổng vốn thực hiện là 51.268.500 USD) và CHLB Đức (7 dự án vớitổng vốn thực hiện là 49.025.000 USD) Đầu tư từ Hoa Kỳ đã tăng đáng kể sau khiViệt Nam ký Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Mỹ năm 2001 và sau khi ViệtNam gia nhập WTO (33 dự án với tổng vốn thực hiện là 352.366.253 USD) Liên bangNga có tỷ trọng đầu tư FDI khá cao (16 dự án với tổng vốn thực hiện là 39.127.385USD).

II THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ TRONG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG FDI VÀO LĨNH VỰC NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP

1 Những thành tựu

Trên tổng thể, FDI vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp đã đạt được những thànhtựu đáng khích lệ, đóng góp tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp và nông thôn, tạo việc làm cho nông dân, góp phần xóa đói, giảm ngèo và tăngnguồn thu cho ngân sách nhà nước

Một là, các dự án FDI trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp đã góp phần bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển trong lĩnh vực này, tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Một là, trong những năm qua, khu vực FDI ngành nông nghiệp đã góp phần tíchcực trong xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam, đặc biệt là sản phẩm gỗ, cà phê,chè, điều…Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản năm đạt 27,5 tỷ USD, tăng9,7% so với năm 2011, thặng dư thương mại đạt trên 9,2 tỷ USD, góp phần giảm nhậpsiêu cho cả nước Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt 15,0 tỷ USD, cácmặt hàng thủy sản đạt 6,15 tỷ USD, đồ gỗ và lâm sản đạt 5,0 tỷ USD, so với năm 2011lần lượt tăng 10%, 1% và 17,6% Đã có 3 mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch từ 3 tỷUSD trở lên là gạo, cà phê, đồ gỗ (trên 3 tỷ USD), 5 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷUSD là cao su (2,86 tỷ USD), cá tra, tôm, hạt điều, sắn và các sản phẩm sắn Doanhnghiệp ĐTNN ngoài chiếm 5 - 10% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó mặt hàng

cà phê, gỗ chiếm 40-50%; tiêu điều, điều chiếm 20 - 30%; gạo và thủy sản xuất khẩuchủ yếu được thực hiện bởi doanh nghiệp của Việt Nam

Cùng với đóng góp chung của FDI cho phát triển kinh tế của cả nước, trongnhững năm qua, FDI vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp đã đạt được một số kết quảđáng khích lệ, tính trong cả giai đoạn từ 1998 đến năm 2012, ngành nông nghiệp vàphát triển nông thôn thu hút 562 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký trên 2,9 tỷ USD vàtổng vốn thực hiện gần 3.0 tỷ USD) Trong đó, các dự án chế biến chiếm 55%, ngànhnghề khác 14%, trồng trọt chiếm 13%, chăn nuôi 8,5%, thủy sản 6,7%, lâm nghiệp2,9%

Hai là, hoạt động của các dự án FDI trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp đã bước đầu thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, góp phần đa dạng hóa sản phẩm, thay đổi các phương thức sản xuất truyền thống bằng các phương thức sản xuất mới với quy mô lớn hơn, tiếp thu và ứng dụng các công nghệ

Trang 20

mới vào sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng và tính cạnh tranh của hàng hóa nông lâm thủy sản của xuất khẩu của nước Việt Nam

Sản phẩm của các doanh nghiệp có vốn FDI được tiếp thị ở thị trường quốc tếmột cách khá thuận lợi, góp phần đáng kể vào việc giới thiệu nông sản, hàng hoá củaViệt Nam trên thị trường thế giới, tạo điều kiện cho nông sản Việt Nam thâm nhập thịtrường, góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu chung của ngành FDI cũng góp phầncải thiện tập quán canh tác, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều địa phương ,nhất là các dự án đầu tư vào phát triển nguồn nguyên liệu, cải thiện điều kiện hạ tầngyếu kém, lạc hậu ở nhiều địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo

Ngoài ra, việc hình thành các khu công nghiệp mới và thu hút FDI vào các ngànhcông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến nông sản, hải sản và thực phẩm đã gópphần đáng kể vào việc thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn nước

ta theo hướng công nghiệp hóa Việc hình thành các khu công nghiệp mới không chỉ tạođiều kiện thu hút lực lượng lao động ở nông thôn mà còn góp phần đẩy nhanh tốc độ đôthị hóa và chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn

Ba là, đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp đã góp phần tạo thêm nhiều việc làm mới, nâng cao thu nhập cho dân cư các địa phương, cải thiện đời sống kinh tế -xã hội của nhiều vùng nông nghiệp và nông thôn, cải thiện cơ sở

hạ tầng, góp phần xóa đói giảm nghèo.

Đến nay, các dự án FDI vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp đã thu hút nhiều laođộng trực tiếp, chưa kể số lượng lớn các lao động thời vụ cũng như lao động khác trongkhu vực nông nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt để cung cấp sản phẩm cho ngành chế biếnthực phẩm (tiêu thụ trong nước và xuất khẩu), chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, thức

ăn cho nuôi trồng thuỷ sản Các doanh nghiệp FDI hàng năm cũng tạo ra khoảng500.000 lao động trực tiếp và gián tiếp cho ngành nông nghiệp, góp phần nâng cao thunhập cho người nông dân

Các dự án FDI trong lĩnh vực nông nghiệp và chế biến nông sản tuy vốn đầu tưkhông lớn nhưng lại có thể tạo ra việc làm cho lực lượng lao động đông đảo và đangthiếu việc làm trầm trọng ở nông thôn Thực tế cho thấy, các dự án FDI trong lĩnh vựcnày không chỉ tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho số lượng lớn lao động trựctiếp làm việc tại nhà máy, mà còn cho nhiều hộ nông dân hoặc trực tiếp tham gia tạonguồn nguyên liệu thường xuyên cho dự án hoặc theo mùa vụ (mía đường, khoai mì…)

2 Những hạn chế

2.1 Tỷ trọng FDI còn thấp và thiếu ổn định

Mặc dù tỷ trọng đầu tư FDI cả nước có xu hướng tăng, nhưng trong thời gian quadòng vốn FDI vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp còn hạn chế, quá nhỏ cả về quy mô dự

án và tỷ trọng vốn đầu tư so với tổng FDI của cả nước (tính trong cả giai đoạn 1998

-2012, Việt Nam thu hút 562 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký trên 2,9 tỷ USD và tổngvốn thực hiện gần 3.0 tỷ USD) Qua đó thấy rằng nguồn vốn FDI chưa xứng với tiềmnăng cũng như thế mạnh phát triển nông nghiệp của Việt Nam Mặc dù trong tổng thểchính sách thu hút FDI, nông nghiệp và phát triển nông thôn luôn được coi là lĩnh vực

Trang 21

khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư Mặt khác, so với hoạt động FDI trongcác lĩnh vực khác, hiệu quả thực hiện các dự án trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp cònrất hạn chế, còn thấp, thiếu ổn định và có xu hướng giảm

Đồng thời, do luôn tiềm ẩn rủi ro từ nhiều phía (điều kiện tự nhiên, thị trường, lãisuất thấp, thu hồi vốn chậm vì phải theo chu kỳ cây trồng - vật nuôi ) nên có tới 15.6

% số dự án bị giải thể trước thời hạn

2.2 Hiệu quả FDI vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp chưa phát huy đầy đủ tiềm năng, thế mạnh của nước ta trong lĩnh vực này

Trong ngành trồng trọt và chế biến nông sản, FDI có xu hướng tập trung vào việckhai thác tiềm năng, nguồn lực sẵn có về đất đai, lao động , chưa có nhiều dự án tạogiống cây, giống con mới và nuôi, trồng, chế biến các loại rau, quả xuất khẩu có hàmlượng công nghệ cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện Việt Nam

FDI trong ngành trồng rừng và chế biến lâm sản chưa thật sự đạt hiệu quả nhưmong muốn, chưa mang lại lợi ích đáng kể cho nhà đầu tư, Nhà nước và người laođộng Các dự án chế biến lâm sản, nhất là chế biến gỗ chỉ tập trung sử dụng nguồnnguyên liệu nhập khẩu (80%) Trong khi đó hàng năm nước ta xuất thô gỗ ván dăm, gỗnguyên liệu với khối lượng rất lớn

Việc khai thác, sử dụng đất đai của các dự án FDI trong lĩnh vực nông lâm nghiệpchưa thật sự có hiệu quả Nhiều dự án trồng rừng chiếm diện tích đất khá lớn, song hiệuquả thực tế trên 1 ha sử dụng đất còn rất thấp Một số dự án trồng rừng nguyên liệu, chếbiến nông sản không mang lại hiệu quả, trong khi đó lại có khá nhiều dự án tác độngnghiêm trọng đến cảnh quan, môi trường tự nhiên hoặc thậm chí có nguy cơ ảnh hưởngđến an ninh quốc phòng

FDI trong ngành ngư nghiệp bị giảm do tập trung vào các dự án sản xuất giốngmới, chế biến sản phẩm có giá trị gia tăng, nuôi các loài hải sản có giá trị kinh tế cao.Mặt khác, đầu tư trong ngành này giảm do trình độ nuôi trồng thuỷ sản, chế biến củacác doanh nghiệp Việt Nam đã khá hơn đáp ứng được yêu cầu tiêu chuẩn của quốc tế vàthị trường nhập khẩu

2.3 Phân bổ nguồn vốn FDI không đồng đều giữa các địa phương

Phân bổ nguồn vốn FDI trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp không đồng đềugiữa các địa phương và vùng sinh thái Dự án FDI trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệptập trung chủ yếu ở vùng có điều kiện thuận lợi về khí hậu thổ nhưỡng, cơ chế chínhsách ưu đãi đầu tư như: Lâm Đồng, Đồng Nai, TP HCM, Tây Ninh, Khánh Hòa, CầnThơ, Tiền Giang Theo vùng sinh thái thì Đông Nam Bộ chiếm tỷ lệ đầu tư FDI caonhất (28,7%), Tây nguyên (21%), Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (17,1%) vàĐồng bằng sông Cửu Long (17.1%), trong khi đầu tư FDI tác động rất hạn chế đến khuvực Trung Du và Miền núi phía Bắc (7,6%), Đồng bằng sông Hồng (8,2%) Qua đó thấyrằng các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng núi rất khó kêu gọi các NhàFDI đến đầu tư

2.4 Đối tác nước ngoài tham gia đầu tư trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp còn thiếu tính đa dạng

Trang 22

Cho đến nay, đã có trên 30 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia đầu tư dự án FDItrong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp, chủ yếu là các quốc gia Châu Á và trong khu vực.Trong đó, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan là những nhà đầu tưlớn nhất Hầu như cho đến nay chưa có thay đổi đáng kể về cơ cấu FDI theo đối tác, cácnước Châu Á vẫn là nhà đầu tư lớn nhất các dự án FDI lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp về

cả tỷ trọng số dự án và tỷ trọng vốn đầu tư, trong khi các đối tác từ Châu Âu vẫn đầu tư

ở mức khiêm tốn, đầu tư đáng kể nhất là British Virgin và CHLB Đức Đầu tư từ Hoa

Kỳ đã tăng sau khi Việt Nam ký Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Mỹ năm 2001

và sau khi Việt Nam gia nhập WTO Liên bang Nga có tỷ trọng đầu tư FDI khá cao.Điều này phần nào phản ánh cơ cấu chung về đối tác FDI ở Việt Nam, song cũng chothấy khả năng vận động, xúc tiến đầu tư của Việt Nam trong lĩnh vực này còn hết sứchạn chế

2.5 Tăng đầu tư đầu tư trực tiếp nước ngoài vào xuất khẩu, nhập khẩu và phân phối các sản phẩm nông lâm thuỷ sản:

Hiện nay,rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài ít đầu tư tiền vốn vào sản xuất mà tậptrung vào thành lập các Công ty TNHH để xin quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu vàquyền phân phối các sản phẩm nông lâm thuỷ sản hoặc xin bổ sung, điều chỉnh giấyphép kinh doanh để thực hiện các quyền nêu trên, xu thế này không phải là định hướng

và mong muốn của Việt Nam Chúng ta mong muốn các nhà đầu tưnước ngoài đầu tưvào sản xuất để tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và sản phẩm củaViệt Nam cũng như mở rộng vùng sản xuất nguyên liệu trong nước, ưu tiên phát triểncác dự án có sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, các sản phẩm có khả năng tham gia mạngsản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu và tăng giá trị gia tăng của sản phẩm, tập trung thu hútvào các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, dịch vụ có lợithế, có hàm lượng tri thức cao, áp dụng công nghệ cao vào sản xuất và quản lý hiện đại

và mang tình liên kết cao với các doanh nghiệp, tổ chức sản xuất trong nước…

3 Những nguyên nhân chủ yếu

3.1 Hoạt động sản xuất nông lâm ngư nghiệp gặp nhiều rủi ro

Ngành nông lâm ngư nghiệp cho đến nay vẫn được xem là lĩnh vực có nhiều rủi

ro nhất đối với FDI Những rủi ro này xuất phát từ những hạn chế chủ yếu sau:

- Hoạt động sản xuất nông nghiệp diễn ra ở vùng nông thôn rộng lớn, điều kiện tựnhiên khó khăn, lệ thuộc vào khí hậu và thời tiết, bệnh dịch; sản phẩm lại mang tínhmùa vụ, dễ hư hỏng, dễ bị ảnh hưởng của dịch bệnh; thiếu đảm bảo về điều kiện hạtầng, đất đai và nguồn lực Bên cạnh đó, đầu tư vào nông nghiệp có lợi nhuận thấp, tốc

độ và thời gian thu hồi vốn chậm Những yếu tố này làm cho các hoạt động sản xuất,kinh doanh ở nông thôn và sản xuất nông nghiệp kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư,nhà đầu tư không mặn mà mà chuyển sang ngành khác có độ an toàn hơn, lợi nhuận caohơn và thu hồi vốn nhanh hơn Mặt khác, sản xuất nông nghiệp thường có tỷ suất lợinhuận thấp, mức thu nhập và tiết kiệm không cao nên nguồn vốn đầu tư vào khu vựcnày thường thấp hơn các khu vực khác của nền kinh tế;

- Các dự án FDI trong nông nghiệp và chế biến nông sản, hải sản được triển khaitại các vùng nông thôn hoặc các vùng lân cận đô thị, nhưng nguồn nhân lực có trình độ

Trang 23

cao để tiến hành triển khai dự án ở khu vực này vừa thiếu về số lượng lại vừa yếu vềchất lượng Sự yếu kém về trình độ quản lý và tiếp thu công nghệ kỹ thuật mới củangười lao động Việt Nam đã buộc các doanh nghiệp FDI phải chịu thêm chi phí đào tạo,thuê chuyên gia chuyển giao công nghệ…;

- Hệ thống tổ chức sản xuất, thu mua, chế biến và tiêu thụ nông sản ở Việt Namcòn nhiều bất cập;

- Việc xây dựng công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật ở nông thôn đòi hỏiđầu tư lớn, phải trông chờ vào các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, ODA, trong khinguồn đóng góp của dân chỉ đáp ứng được các công trình nhỏ (như xây dựng thủy lợinội đồng, đường liên thôn bản, hệ thống nước vào - ra cho nuôi trồng…) và cũng rất hạnchế do thu nhập của dân cư nông thôn, đặc biệt là phần lớn nông dân, ngư dân, diêm

dân còn rất thấp Điều này đã buộc các nhà đầu tư nước ngoài phải đầu tư thêm nhiều

hạng mục ngoài công trình với chi phí lớn;

- Bên cạnh đó, một nguyên nhân nữa cũng phải kể đến là những khó khăn trongviệc tìm mặt bằng sản xuất và tình trạng ô nhiễm môi trường của các dự án đã khiếnmột số địa phương không còn mấy mặn mà với các dự án FDI trong lĩnh vực này.Tương tự như vậy, các dự án trồng rừng và cây công nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn

do các địa phương không có quỹ đất đủ lớn và tập trung Những tranh chấp về việc giảiphóng mặt bằng để trồng rừng với nông dân diễn ra ngày càng phổ biến Những địaphương có nhiều diện tích đất trống để trồng rừng nguyên liệu (như Tây Bắc) thì nằm ở

vị trí địa lý không thuận lợi, xa nhà máy chế biến, cơ sở hạ tầng kém phát triển Tronglĩnh vực ngư nghiệp, việc phát triển nuôi thâm canh đã dẫn đến vượt quá sức tải môitrường của vùng phát triển

3.2 Nền nông nghiệp Việt Nam còn mang nặng tính chất sản xuất nhỏ, đầu tư phân tán, thiếu tính chuyên môn

Kinh tế nông nghiệp Việt Nam chủ yếu là sản xuất nhỏ, sản xuất hàng hoá chưacao; ruộng đất manh mún, thiếu liên kết, phối hợp, không chuyên nghiệp và chưa đượcchuyên môn hóa; cơ cấu sản xuất chưa rõ ràng; các khoản vốn đầu tư nhỏ, lại thiếu đồng

bộ và thiếu tầm nhìn dài hạn; phần lớn các hộ đầu tư thực hiện sản xuất, kinh doanh từnguồn vốn tự có của mình Các chủ thể sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chủyếu là các hộ gia đình, sản xuất kinh doanh theo phương thức truyền thống, kỹ thuậtgiản đơn, đa số chưa được đào tạo về chuyên môn quản lý, kỹ thuật Trên thực tế, hầuhết các hộ, cơ sở sản xuất ở nông thôn đã tự bỏ vốn đầu tư mua sắm vật tư sản xuất nhưgiống cây, con, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, trả công lao động, cải tạođồng ruộng, xây dựng chuồng trại chăn nuôi…Đặc điểm này đã và đang hạn chế đáng

kể đến quan hệ giữa người nông dân với các tổ chức tín dụng cũng như khả năng liêndoanh, liên kết của các doanh nghiệp với người nông dân ở nông thôn Tính chất mùa

vụ của sản xuất nông nghiệp cũng là nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn đầu tư và tiếtkiệm Nhu cầu đầu tư thường dao động theo mùa vụ và quy mô sản xuất của từng hộ,trang trại, cơ sở chế biến… Các hộ cần tiền đầu tư vào đầu vụ mới và thời kỳ chăm sóccây trồng, và chỉ có các khoản thu vào cuối vụ Mặt khác, sản xuất nông nghiệp là mộtchuỗi các hoạt động liên kết với nhau từ khâu chuẩn bị các yếu tố đầu vào đến khâu thu

Trang 24

hoạch, bảo quản, tiêu thụ, song tính gắn kết giữa hoạt động sản xuất nông nghiệp và cáckhâu bảo quản, chế biến nông sản chưa cao,thiếu các dịch vụ kinh doanh trong nôngthôn; Vì vậy, có lúc nhu cầu vốn rất cao nhưng có lúc vốn lại nhàn rỗi và phân tán ởnhiều chủ thể tham gia vào quá trình này Do đó, chưa tạo ra sức thu hút FDI của cácdoanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp FDI.

3.3 Chiến lược, định hướng thu hút FDI vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp chưa được xác định rõ ràng

Đây cũng là hạn chế chung của hoạt động thu hút FDI Trong lĩnh vực nông lâmngư nghiệp, hạn chế này thể hiện trước hết ở việc chưa có định hướng rõ ràng về vị trí,

cơ cấu nguồn vốn FDI trong tổng thể các nguồn lực khác nhau được huy động cho đầu

tư phát triển của toàn lĩnh vực, từ đó không xây dựng được quy hoạch nguồn vốn FDIcũng như các dự án cụ thể cần ưu tiên vận động đầu tư trong lĩnh vực này Đây là mộttrong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng một số ngành /doanh nghiệp đưa

ra đề xuất không khả thi về nguồn vốn huy động để thực hiện dự án, chưa có sự phânbiệt giữa nguồn vốn FDI được sử dụng cho mục đính kinh doanh sinh lời của nhà đầu tưnước ngoài với nguồn vốn nhà nước (gồm vốn ODA, vốn tín dụng đầu tư phát triển củanhà nước, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước) Mặt khác, do quy hoạch ngành vàmột số sản phẩm quan trọng chưa được xây dựng hoặc triển khai chậm, lại dựa trên một

số dự báo thiếu chuẩn xác, chưa lường hết diễn biến phức tạp của thị trường nên chưatạo điều kiện để các ngành, địa phương xây dựng Danh mục dự án gọi vốn FDI và thựchiện các chương trình xúc tiến đầu tư một cách có định hướng vào lĩnh vực này

3.4 Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách FDI vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp kém hiệu quả và chưa đủ sức hấp dẫn FDI

Mặc dù liên tục được bổ sung, hoàn thiện theo hướng ngày càng hấp dẫn, songnhìn chung, các ưu đãi và hỗ trợ FDI trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp còn dàn trải,chưa có định hướng rõ ràng, tiêu chí áp dụng lại thiếu cụ thể nên hiệu quả còn thấp

Các quy định của pháp luật hiện hành về hình thức FDI và tổ chức kinh doanhcủa các dự án đầu tư trong lĩnh vực này chưa tính đến những đặc thù riêng của ngànhnông nghiệp và chế biến nông sản, hải sản (như mức độ rủi ro trong kinh doanh cao dophụ thuộc vào thời tiết, số lượng và chất lượng không ổn định dẫn đến chưa chiếm lĩnhđược thị trường tiêu thụ nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước thiếu vốn để thựchiện đầu tư…) Thực tế cho thấy, các hình thức FDI hiện được áp dụng theo Luật Đầu

tư chưa đáp ứng được những đòi hỏi trên và chủ yếu phù hợp với đặc điểm của ngànhcông nghiệp, xây dựng cơ bản, dịch vụ…, song chưa phù hợp với ngành nông nghiệp vàcông nghiệp chế biến nông sản, hải sản Đây cũng là một trong những nguyên nhân làmcho số lượng dự án FDI vào nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản trong thờigian qua còn rất hạn chế

Các cơ chế, chính sách về tín dụng trong lĩnh vực này còn nhiều hạn chế Thực tếcho thấy, do tính rủi ro cao của các dự án FDI trong lĩnh vực nông ngư nghiệp nên hầuhết các ngân hàng còn e ngại trong việc cấp tín dụng cho các dự án này

Cơ chế, chính sách về đất đai, mặt nước chưa thật sự tạo điều kiện thuận lợi choviệc triển khai các dự án FDI trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp Có thể nói, hầu hết

Trang 25

các dự án FDI trong lĩnh vực này, đặc biệt là các dự án lâm nghiệp và các dự án có yêucầu vùng nguyên liệu tập trung, đều triển khai chậm do gặp khó khăn trong việc giảiquyết vấn đề đất đai Nhiều dự án trồng rừng gặp khó khăn do mới được giao một phầnnhỏ diện tích đất trồng rừng so với quy định tại giấy phép đầu tư Các dự án trồng vàchế biến rau quả cũng gặp nhiều khó khăn trong việc thuê đất và thực hiện hợp đồng vớinông dân Thực tế tại các địa phương, đất đai đã được giao hết cho các hộ nông dân vớiquy mô sản xuất manh mún, đầu tư phân tán, chạy theo thị trường khiến các doanhnghiệp luôn bị động về nguồn nguyên liệu Việc giao mặt nước cho nuôi trồng thuỷ sảnnhất là vùng biển vẫn còn khó khăn do phải tính đến môi trường sinh thái trong khi khảnăng quản lý và kỹ thuật vẫn còn hạn chế.

Cơ chế, chính sách về quy hoạch phát triển nguồn nguyên liệu kém hiệu quả.Thực tế hiện nay cho thấy, do không quy hoạch được các vùng nguyên liệu hoặc thiếucác biện pháp đảm bảo nguyên liệu nên nhiều dự án FDI, đặc biệt là các dự án chế biếnmía đường, gặp rất nhiều khó khăn trong việc triển khai dự án Điều này một phần là do

cơ chế, chính sách về quan hệ giữa nông dân và doanh nghiệp chưa hợp lý, nhưng chủyếu là do nông dân Việt Nam còn mang nặng tư tưởng tiểu nông, sản xuất nhỏ, khôngthực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận với nhà đầu tư (như tự ý mang sản phẩm đi bánthu lời, không tự giác trong công việc )

Mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 02

tháng 02 năm 2012 Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông

nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030, tuy nhiên công tác triển khai tại các địaphương còn chậm và chưa được cụ thể hoá các nhiệm vụ cụ thể cũng như lồng ghép vàocác chương trình quy hoạch kinh tế xã hội của địa phương trong cả nước

Chính sách phát triển nguồn nguyên liệu trong nước đối với dự án chế biến gỗ,sữa, dầu thực vật, đường mía chưa được thực hiện có hiệu quả Hiện nay, trong một sốlĩnh vực chế biến hầu hết các dự án FDI đều không sử dụng hoặc sử dụng rất hạn chếnguồn nguyên liệu trong nước để chế biến mà chủ yếu nhập khẩu từ nước ngoài Yêucầu bắt buộc nhà đầu tư phải phát triển nguồn nguyên liệu trong nước không khả thi vìnhững lý do sau:

- Các địa phương thiếu các quy hoạch phát triển các vùng nguyên liệu tập trungtheo hướng sản xuất hàng hoá hoặc thiếu các vùng nguyên liệu cho các nhà máy chếbiến các nhà đầu tư chưa thực hiện đúng cam kết tại Giấy phép đầu tư về phát triểnchế biến gắn với đầu tư phát triển vùng nguyên liệu;

- Số lượng và chất lượng nguyên liệu (giống cây, giống con) ở Việt Nam còn hạnchế, không phù hợp với dây chuyền công nghệ;

- Việc xây dựng vùng nguyên liệu khó khăn do điều kiện hạ tầng kém, điều kiệnthời tiết không phù hợp;

- Các cam kết liên quan đến lĩnh vực đầu tư trong nông nghiệp Việt Nam đã camkết xóa bỏ hoàn toàn yêu cầu bắt buộc phát triển nguồn nguyên liệu trong nước đối với

dự án sản xuất mía đường, dầu thực vật, sữa, gỗ

Trang 26

Nói tóm lại, hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách, định hướng thu hút FDI vàolĩnh vực nông lâm ngư nghiệp chưa được xác định rõ ràng và minh bạch, chưa thực sựhấp dẫn Nhà đầu tư nước ngoài (ví dụ như: năm 2010, Chính phủ ban hành Nghị định61/2010/NĐ-CP nhằm thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn songchỉ có 1,63% doanh nghiệp đầu tư vào khu vực này).

3.5 Hệ thống tổ chức sản xuất, thu mua, chế biến và tiêu thụ nông sản, hải sản thực phẩm ở Việt Nam còn nhiều bất cập

Có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến sự bất cập của hệ thốngsản xuất, tiêu thụ hàng nông sản, hải sản, thực phẩm, trong đó có nguyên nhân quantrọng nhất là chưa thiết lập được mối quan hệ gắn bó lâu dài, bền vững giữa các hộ nôngdân sản xuất nông sản, thực phẩm với các doanh nghiệp FDI thu mua, chế biến ở trêntừng địa bàn và chưa phát huy hết vai trò của các Hiệp hội theo ngành hàng để điều tiếtchung các hoạt động sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, thực phẩm phù hợp vớiquan hệ cung - cầu trên phạm vi quốc gia, khu vực cũng như thị trường thế giới Tìnhtrạng này đã tạo ra sự mất cân đối liên tục giữa cung và cầu về nguyên liệu do ngườinông dân sản xuất với việc thu mua, bảo quản chế biến của các doanh nghiệp Hiệntượng tranh mua, đẩy giá lên cao, tranh bán ép giá xuống thường xuyên diễn ra ở nhiềunơi, nhiều lúc và ở cả tại thị trường trong và ngoài nước đã và đang gây bất lợi cho cảngười nông dân sản xuất, các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ và cả nền kinh tế nóichung

3.6 Công tác vận động, xúc tiến FDI vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp còn nhiều bất cập.

Trong thời gian qua, công tác xúc tiến FDI nói chung và xúc tiến đầu tư trong lĩnhvực nông lâm ngư nghiệp nói riêng đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn gặp những khó khănlớn do nguồn kinh phí và nguồn lực để tổ chức các cuộc vận động đầu tư ở nước ngoài

và hoàn chỉnh các tài liệu tuyên truyền đầu tư, chưa kết nối toàn quốc Danh mục các dự

án ưu tiên kêu gọi FDI trong ngành

Các hoạt động xúc tiến đầu tư trong lĩnh vực này còn dàn trải, chưa chú trọng vàocác đối tác chiến lược và dự án quan trọng Việc nghiên cứu đối tác trong nước, nhất làcác Tập đoàn xuyên quốc gia có tiềm năng đầu tư trong lĩnh vực này chưa được quantâm đúng mức; do thiếu kinh phí nên chưa tổ chức được nhiều các cuộc vận động đầu tưtại các địa bàn trọng điểm…

Ở Trung ương, đầu mối theo dõi và tổ chức XTĐT của ngành còn mỏng mới chỉtập trung vào công tác tham mưu xây dựng chính sách chưa tập trung nhiều cho nhiệm

vụ xúc tiến đầu tư

Chưa xây dựng hệ thống mạng lưới tổ chức xúc tiến đầu tư ngành nông nghiệp vàphát triển nông thôn trên phạm vi cả nước và thiếu sự quan tâm trong việc tổ chức thựchiện Chương trình XTĐT và lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn Đối với cácđịa phương thiếu bộ phận XTĐT hoặc có cán bộ theo dõi về xúc tiến đầu tư ở các SởNông nghiệp và Phát triển nồn thôn và đầu mối theo dõi, cung cấp thông tin và triểnkhai thực hiện chương trình Các địa phương chưa xây dựng hệ thống thông tin cung

Ngày đăng: 16/07/2015, 10:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w