1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư duy thơ nguyễn quang thiều qua tập thơ châu thổ

63 434 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là gương mặt nổi bật của thơ ca thời hậu chiến, Nguyễn Quang Thiều luôn có ý thức hướng đến một trường tư duy thẩm mĩ mới với không gian được rộng mở hơn, những vấn đề tưởng chừng lớn la

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN -

TRẦN THỊ TUYẾT LÀNH

TƯ DUY THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU

QUA TẬP THƠ CHÂU THỔ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

Th.S DƯƠNG THỊ THÚY HẰNG

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới Thạc sĩ

Dương Thị Thúy Hằng – người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo để

tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy, cô trong khoa Ngữ Văn đặc biệt là các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận

Do thời gian có hạn nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn để khóa luận hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 4 năm 2014

Sinh viên

Trần Thị Tuyết Lành

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi

dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Dương Thị Thúy Hằng Khóa luận này

không trùng với bất kì công trình nghiên cứu nào

Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!

Hà Nội, tháng 4 năm 2014

Sinh viên

Trần Thị Tuyết Lành

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Đóng góp của khóa luận 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Cấu trúc khóa luận 6

Chương I: GIỚI THUYẾT CHUNG 7

1.1 Tư duy nghệ thuật thơ 7

1.1.1 Tư duy 7

1.1.2 Tư duy nghệ thuật thơ 7

1.2 Thơ Nguyễn Quang Thiều - Hành trình sáng tạo - Quan niệm 9

1.2.1 Thơ Nguyễn Quang Thiều 9

1.2.2 Hành trình sáng tạo 11

1.2.3 Quan niệm sáng tác 13

1.3 Tuyển thơ Châu thổ 15

Chương II HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG TẬP THƠ CHÂU THỔ 16

2.1 Cái tôi trữ tình gắn bó với “lớp phù sa” Châu thổ quê hương 16

2.1.1 Đất 18

2.1.2 Người Châu thổ 20

2.1.3 Sự gắn kết với quê hương 25

2.2 Cái tôi trữ tình hướng tới miền tâm linh 26

2.2.1 Cái chết 27

2.2.2 Linh hồn - sự sống tồn tại sau cái chết 30

Trang 5

2.2.3 Sự phục sinh 31

2.3 Cái tôi trữ tình và những cơn mê sảng của ý thức 32

2.3.1 Cái tôi trong thế giới đang tự sát - khuôn mặt trần trụi của thực tại 33

2.3.2 Cái tôi trong thế giới tinh khiết, lộng lẫy đang hoài thai - sự hiển thị của tương lai 38

Chương III MỘT SỐ YẾU TỐ VỀ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT TRONG TẬP THƠ CHÂU THỔ 42

3.1 Biểu tượng 42

3.1.1 Cánh đồng – Dòng sông 42

3.1.2 Bóng tối - Ánh sáng 44

3.1.3 Trẻ thơ 47

3.2 Ngôn ngữ 49

3.2.1 Ngôn ngữ tự nhiên mang hơi thở đời thường 49

3.2.2 Ngôn ngữ mang tính siêu thực lạ hóa 50

3.3 Thể thơ 53

3.3.1 Thơ tự do 53

3.3.2 Thơ văn xuôi 54

KẾT LUẬN 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Đối với thi ca, tư duy thơ chính là một phương thức biểu hiện của

tư duy nghệ thuật Muốn tìm hiểu thơ và tư duy thơ của các thời đại, các dân tộc hay tác giả khác nhau, ta cần tìm hiểu những đặc trưng tư duy ở từng chủ thể Với 1 nhà thơ, một tập thơ, quan niệm thơ sẽ chi phối tư duy thơ và tìm hiểu tư duy thơ chính là tìm hiểu sự vận động, biến đổi của hình tượng thơ Nắm bắt được tư duy nghệ thuật cũng là nắm được mạch vận động của cái tôi trữ tình và những hình thức biểu hiện cụ thể của cái tôi ấy – là phương thức chỉ dẫn để tiếp cận, khám phá tác phẩm

1.2 Những năm 90 của thế kỉ trước, thơ Việt Nam đương đại bắt đầu

có sự chuyển động lớn về mặt thi pháp và có thể nói Nguyễn Quang Thiều chính là một trong những nhà thơ đầu tiên bằng nỗ lực và tài năng của mình

đã xác lập một giọng điệu mới trong thơ Việt Là gương mặt nổi bật của thơ

ca thời hậu chiến, Nguyễn Quang Thiều luôn có ý thức hướng đến một trường

tư duy thẩm mĩ mới với không gian được rộng mở hơn, những vấn đề tưởng chừng lớn lao lại được khái quát lên từ những cái rất tầm thường, nhỏ bé của đời sống quê hương máu thịt hàng ngày

Thơ Nguyễn Quang Thiều nổi lên như một hiện tượng Những câu thơ hiện đại có sức hàm chứa và mở ra nhiều hướng tiếp cận tùy theo sự liên tưởng đồng cảm của mỗi độc giả thơ Thi giới Nguyễn Quang Thiều đầy nội lực nhưng lại quá phức tạp và vì phức tạp nên đến nay thơ ông vẫn chẻ đôi dư luận khen - chê Bằng tinh thần dấn thân nghệ thuật, Nguyễn Quang Thiều đã khai

tử những thói quen và đoạn tuyệt với những diễn ngôn ngả màu mòn sáo, chính

vì vậy mà thơ ông không phải là thứ thơ dễ đọc dành cho người đọc vội

Thơ Nguyễn Quang Thiều là sự thách thức riêng với nhà thơ Đến lượt các nhà nghiên cứu phê bình muốn luận bàn về sự tìm tòi, đổi mới thơ ca lại

Trang 7

càng không phải dễ dàng Việc tìm hiểu về thơ Nguyễn Quang Thiều vẫn luôn hứa hẹn là một việc làm đem lại nhiều hứng thú

1.3 Được chính nhà thơ tuyển chọn, biên tập và cấu trúc chủ yếu từ 6

tập thơ của mình trước đó, tập Châu thổ như một sự tổng kết lộ trình thơ của Nguyễn Quang Thiều Châu thổ là tinh tuyển gối đầu qua 2 thế kỉ từ Ngôi

nhà mười bảy tuổi (1990) đến Cây ánh sáng (2005) Đó cũng chính là hơn 30

năm hành trình lao động sáng tạo nghệ thuật của ông, gây chú ý đặc biệt với

người đọc về một tư duy thơ mới mẻ, hiện đại mà sâu sắc Châu thổ khoe sự

giàu có mỡ màng của mình không chỉ bằng sức nặng mang tính vật lí định lượng: 144 bài thơ, 393 trang mà quan trọng hơn, nó là thành quả của trí tưởng tượng, từ khát vọng kiến tạo một thi giới riêng cho mình vượt lên những bờ thửa chật chội của một thứ tư duy luân lý Tư duy đó hướng về miền tâm linh, hướng về trầm tích văn hóa lâu đời của dân tộc để thức nhận thiêng liêng những giá trị bất biến của nguồn cội và có cả những khoảng lặng sẫm màu khi lắng nghe, trăn trở, dự cảm về những đổ vỡ văn hóa sâu sắc theo từng bước đi của nhịp sống công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên con đường hội nhập hôm nay Chất sống sâu dày trong dòng tâm tư cùng với những cách tân mạnh mẽ đã mở rộng biên độ, giới hạn cho mĩ cảm, sáng tạo Bởi vậy, có

nhiều con đường để đến với Châu thổ cũng như có nhiều biện pháp để tiếp cận miền đất trù phú này Khám phá thế giới nghệ thuật trong tập thơ Châu thổ sẽ giúp chúng ta nhận diện được một phần tư duy nghệ thuật của ngòi bút

Nguyến Quang Thiều trong đó

Đề tài “Tƣ duy thơ Nguyễn Quang Thiều qua tập thơ Châu thổ”

được lựa chọn từ tất cả những lí do trên

Trang 8

ra đời, được trao tặng giải của Hội nhà văn Việt Nam năm 1993 thì nó đã thực

sự tạo ra sự tranh luận với nhiều quan điểm khác nhau Và nói như nhà văn Đông La: “Hiện tượng thơ Nguyễn Quang Thiều có lẽ là một hiện tượng phức tạp nhất từ trước tới nay”

Người ta coi thơ Nguyễn Quang Thiều như một hộp đen để giải mã những vấn đề của thơ Việt hôm nay Chưa ai dõng dạc khẳng định có thể hóa giải toàn bộ nó và cái mà các nhà phê bình đang làm cũng chỉ giống như những cuộc thám hiểm vén màn từng phần những bí ẩn ấy mà thôi

PGS.TS Đặng Thị Hảo Tâm đã nghiên cứu “Hình ảnh người nữ trong thơ Nguyễn Quang Thiều dưới ánh sáng của lí thuyết trường nghĩa” Áp dụng

lí thuyết về trường nghĩa với các vấn đề như: tiêu chí phân lập trường, hiện tượng chuyển trường, hiện tượng cộng hưởng ngữ nghĩa của từ ngữ trên trục ngữ đoạn, bài viết này tiến hành thao tác khảo sát, thống kê, miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ định danh bộ phận cơ thể người nữ nhằm trả lời câu hỏi: hình ảnh người nữ trong thơ Nguyễn Quang Thiều được nói như thế nào, cách dùng từ ngữ của tác giả dành cho đối tượng có gì đặc biệt? Kết quả là bức tranh người nữ mặc dù vẫn lấp lánh đam mê nhưng ám ảnh tâm trí người đọc lại hình ảnh người phụ nữ lam lũ, cô đơn trong những công việc lao động, chỉ có sự lặng lẽ cho đi mà không than thở Cảm xúc thi ca đó thể hiện qua cách miêu tả ngoại hình người nữ: nghịch dị, khuyết thiếu và bị tổn thương (http://nguvan.hnue.edu.vn)

Đặng Thân trong bài “Người buông lưới dệt ánh sáng từ hố thẳm” đã thấy điểm tương đồng giữa Nguyễn Quang Thiều với Shakespeare ở cái suy

tư của một người trí thức hướng về thiện mỹ trong tính hai mặt của thế gian

Cụ thể hơn, “Cây Ánh Sáng có nhiều những câu/đoạn không thể không làm ta liên tưởng tới “Hamlet” về mọi mặt: ý tưởng, mạch thơ (Shakespeare thường viết kịch thơ), giọng, phong cách, nhất là ngôn từ Cây Ánh Sáng thực ra là gì,

từ đâu mà ra Còn từ đâu nữa nếu không phải từ những nỗi đau khủng khiếp

Trang 9

nhất của sự hi sinh, đức tin và tình yêu thương vĩ đại nhất, linh thiêng nhất” (http://nhavantphcm.com.vn)

Đỗ Mạnh Tuấn nhìn thấy ở Bài ca những con chim đêm hình ảnh một

cái tôi trữ tình “Nguyễn Quang Thiều - kẻ khóc thương những ngôi làng” Đó

là con người với những thao thức thường nghiêm và sâu sắc nhất về hệ giá trị tinh thần tốt đẹp đang có nguy cơ mai một và biến mất dần theo những biến chuyển kinh hoàng từ đời sống đô thị hóa, công nghiệp hóa: “Con người hôm nay trong thơ Nguyễn Quang Thiều không chỉ đánh mất những trong trắng trinh nguyên, ban sơ, đánh mất những bóng cây cho kẻ lạ, đánh mất thiên nhiên trong đồ vật, đánh mất ký ức làng quê trong màu vôi trắng đồng loạt mà còn đánh mất chính mình” (http://nhavantphcm.com.vn)

Đào Duy Hiệp đề xuất cách tìm hiểu về tuyển thơ Châu thổ thông qua

cấu trúc tổng quan phân thành 7 lời của người nông dân làng Chùa Lời đầu

tiên Thay lời tựa giống như một bài văn xuôi giàu cảm xúc, 6 lời còn lại là 6

giai đoạn thơ “thuần túy” có số bài và độ dày không đều nhau, khởi đầu từ những năm 80 đến cuối thập niên đầu tiên của thế kỉ 21 để thấy gương mặt thơ “không giống ai” của Nguyễn Quang Thiều - phong cách thơ khác lạ thể hiện ở độ dài trung bình bài Độc đáo nhưng nó lại là một bất cập đối với bạn đọc bởi độ khó trong việc thưởng thức thơ ông ngay từ hình thức, mà theo thời gian, càng thêm “cồng kềnh”, miên man dần qua ngôn từ, qua diễn đạt, văn xuôi hoá Kết quả là thơ ông khó đến được với người đọc vì quán tính thưởng thức thơ có nhạc điệu, luyến láy, “đa sầu”, véo von, dễ hiểu đã thành truyền thống từ lâu ở độc giả (http://phunutoday.vn)

Như vậy có thể thấy rằng mặc dù thời gian ra đời cho đến nay chưa

phải là dài đối với cuộc đời của một tác phẩm văn học nhưng Châu thổ đã

gây được sự chú ý của đông đảo dư luận bạn đọc cũng như các nhà phẩm bình Nhìn chung, đa phần các nhìn nhận đánh giá về tác phẩm này đều hướng

Trang 10

đến tính tích cực nhưng mới ở dạng lẻ tẻ, chưa thực sự trở thành một nghiên cứu mang tính hệ thống

3 Mục đích nghiên cứu

Qua đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ đóng góp thêm vào việc tìm hiểu khám phá những vẻ đẹp, sự độc đáo, mới mẻ trong tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều; giúp hình thành một hướng tiếp cận gần gũi hơn khi tiếp xúc với một hiện tượng thơ ca thời hậu chiến còn đang gây nhiều tranh luận trái chiều từ phía người tiếp nhận Đồng thời cũng để ghi nhận những đóng góp của tác giả vào tiến trình phát triển của thơ ca hiện đại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ tập thơ Châu thổ của Nguyễn Quang

Thiều

- Phạm vi của đề tài tập trung vào nghiên cứu tư duy thơ Nguyễn

Quang Thiều qua tập thơ Châu thổ Chúng tôi luôn cố gắng đặt tập thơ này

trong hành trình thơ Nguyễn Quang Thiều để thấy những cách tân độc đáo của một tạng thơ đang ngày một thêm vạm vỡ

5 Đóng góp của khóa luận

Đây là công trình đầu tiên tìm hiểu một cách hệ thống, khoa học về tư

duy thơ Nguyễn Quang Thiều qua tập thơ Châu thổ Khóa luận góp phần cho

thấy những đóng góp của Nguyễn Quang Thiều cho nền thơ ca Việt Nam hiện đại Đồng thời đây cũng là một bài tập nghiên cứu khoa học rất hữu ích cho việc học tập và tìm hiểu về tư duy thơ của bất kì một tác giả nào mà sau này bản thân tác giả khóa luận muốn tìm hiểu

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp nghiên cứu tác giả

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân tích tổng hợp

Trang 11

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Khóa luận của chúng tôi được chia thành ba chương như sau:

Chương I: Giới thuyết chung

Chương II: Hình tượng cái tôi trữ tình trong tập thơ Châu thổ

Chương III: Một số yếu tố về hình thức nghệ thuật trong tập thơ Châu

thổ

Trang 12

Chương I: GIỚI THUYẾT CHUNG

1.1 Tư duy nghệ thuật thơ

1.1.1 Tư duy

Tư duy là hoạt động nhận thức lí tính của con người, bao gồmtoàn bộ những hoạt động tâm lí của con người, chỉ con người mới có, là đời sống trí tuệ của con người Nói đến tư duy là nói đến sự vận động có tính tổng thể của các yếu tố tư tưởng, tình cảm, cảm xúc và lí trí nhằm mục đích nhận thức

Đặc trưng của tư duy là phản ánh các mối quan hệ của con người đối với thế giới khách quan, quan hệ của con người với con người và quan hệ giữa các sự vật hiện tượng; truy tìm các mối quan hệ, biểu diễn các mối quan

hệ đó bằng các phương tiện ngôn ngữ, đó là toàn bộ chức năng nhận thức của

tư duy Nếu như ở thời kì cảm tính, nhận thức của con người mang tính trực quan, phiến diện, thiếu hệ thống thì ở giai đoạn lí tính, nhận thức của con người mang tính toàn diện và hệ thống hơn “Cái quan trọng đối với tư duy là cái con người chưa biết đến” (V.I.Lênin)

Ngôn ngữ là công cụ của tư duy Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất, không có ngôn ngữ thì tư duy chỉ là những dự báo mơ hồ, những phản ứng có tính bản năng trước hiện thực Ngôn ngữ tạo điều kiện cho tư duy đi sâu được vào bản chất của sự vật hơn Tiếng nói, chữ viết, cùng với các kí hiệu về hình, về số, các phạm trù, khái niệm… là biểu hiện các bước phát triển của tư duy Trên

cơ sở đó, con người ngày nay có thể biểu đạt được mọi tư tưởng của mình: tư duy toán học, tư duy triết học, tư duy thơ ca…

1.1.2 Tư duy nghệ thuật thơ

1.1.2.1 Tư duy nghệ thuật

Tư duy trong quan hệ biện chứng với tồn tại là một phạm trù lý luận rất trừu tượng nhưng với tư cách là phương pháp nhận thức thực tại thì lại rất cụ thể Chính vì vậy, căn cứ vào con đường của các hình thái ý thức xã hội,

Trang 13

người ta chia thành các nhóm lớn như sau: 1) Tư duy khoa học; 2) Tư duy nghệ thuật thơ; 3) Tư duy tôn giáo

Đối với tư duy nghệ thuật, chúng ta có tư duy âm nhạc, tư duy hội họa,

tư duy thơ ca… Trong đó, tư duy thơ ca có ảnh hưởng và chi phối hơn cả

Tư duy nghệ thuật vận dụng trực tiếp phương pháp tư duy hình tượng vào trong các ngành nghệ thuật khác nhau, mang tính chủ quan: “Nghệ thuật

là tôi, khoa học là chúng ta” Tuy nhiên, nội dung hình tượng không phải bao giờ cũng là nét đặc thù duy nhất của tư duy nghệ thuật

Tư duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo

1.1.2.2 Tư duy thơ

Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật Muốn tìm hiểu thơ và tư duy thơ của các thời đại, các dân tộc hay các tác giả khác nhau, chúng ta cần tìm hiểu những đặc trưng tư duy ở từng chủ thể ở mỗi dân tộc và thời đại Mặt khác chúng ta cũng cần tìm hiểu quan niệm thơ ở mỗi người, mỗi thời kì lịch sử Tư duy thơ có sự thay đổi qua từng thời kì và đối với từng tác giả, tư duy thơ lại có những nét độc đáo riêng Tuy nhiên, chúng cùng chịu sự tương tác với hoàn cảnh xã hội nên không thể phủ nhận ở tư duy thơ khả năng nhận thức thực tại và khả năng dự báo

Quan niệm thơ sẽ chi phối tư duy thơ Nếu coi thơ là một thứ vũ khí, tư duy thơ phải mạnh mẽ, ngôn ngữ thơ phải sắc nhọn, nghĩa là tư duy thơ sẽ hướng về những hình ảnh bạo lực, tư tưởng phê phán, tư tưởng đấu tranh sẽ là những tư tưởng chi phối tư duy thơ Nếu coi thơ là món ăn tinh thần, thơ phải ngọt ngào, nhuần nhị Quan niệm nghệ thuật vì vậy có vai trò quan trọng trong việc xác định bản chất của thơ và tư duy thơ Thời trung đại, với quan niệm “Thi dĩ ngôn chí”, mục đích của thơ là bộc lộ cái chí, cái tâm, cái hồn,

Trang 14

cái phong cốt của mỗi con người chứ không nhằm nhận thức và phản ánh hiện thực nên tư duy thơ thiên về hướng nội hay nói như Hêghen sau này thì đó là quá trình “tư duy tự nhận thức bản thân” Đây là điểm tiến bộ vì coi thơ là sản phẩm tinh thần gắn liền với chủ thể sáng tạo nhưng ở một khía cạnh khác, những nguyên tắc lý thuyết về đạo lý, những quy định về thể cách ngặt nghèo của “phép làm thơ” và cấu trúc bó buộc mà tư duy thơ cổ không được tự do hoàn toàn mà là tự do trong khuôn khổ, hạn chế đến mức tối đa khả năng vận động tự do của tư duy nghệ thuật Sang đầu thế kỉ XX, các nhà thơ đã từng bước đổi mới tư duy bằng các sáng tác cụ thể, họ sử dụng thơ để tuyên truyền chính trị, vận động cách mạng Văn chương không phải con đường lập thân

mà để đấu tranh, tư duy thơ chịu ảnh hưởng lớn của tư duy chính trị Và đến phong trào Thơ Mới (1932-1945), khi cái tôi thi nhân là nhân vật trung tâm của toàn bộ nền thơ, mang tâm lí thoát li thực tại để say, để mơ về cái đẹp huyền bí, linh thiêng thì vai trò của lí trí bị phủ nhận để nhường chỗ cho vai trò của cảm xúc trong tư duy nghệ thuật Lần đầu tiên, cái nhìn trực giác trong

tư duy thơ được nhấn mạnh và đề cao Tính lí trí, tính cảm xúc, tính trí tuệ với những điểm ngời sáng, đột xuất trong hình tượng, những yếu tố có tính ngẫu nhiên trong tư duy thơ… về mặt lí luận đã đóng góp vào tiến trình tìm hiểu tư duy nghệ thuật thơ ở một cấp độ cao hơn cấp độ cá nhân

1.2 Thơ Nguyễn Quang Thiều - Hành trình sáng tạo - Quan niệm

1.2.1 Thơ Nguyễn Quang Thiều

Thơ Nguyễn Quang Thiều đã sống với đời sống tiếp nhận đa dạng từ nhiều kiểu bạn đọc Thơ ông tác động đến người đọc theo một cách rất khác

so với thơ ca truyền thống: không gây ấn tượng bằng thủ pháp ngôn ngữ cũng như trình bày một thông điệp qua những hình tượng thơ để từ đó cuốn hút người đọc khám phá bài thơ và dần liên tưởng đến cuộc đời Đích đến của ông là một lối thơ mà với mỗi người đọc, tùy theo cảm nhận và trình độ sẽ hình thành trong họ một văn bản khác Có lẽ vì vậy mà một nhà thơ phương

Trang 15

tây đã nói đại ý rằng Nguyễn Quang Thiều là một nhà thơ đích thực vì không

ai biết trước trong mỗi bài thơ anh sẽ đưa người đọc đến đâu và điều gì sẽ diễn ra ngay tức thì Mỗi chữ hàm chứa một bí mật, cả bài thơ là hàng ngàn cánh cửa khép mở để dẫn vào một thế giới bí ẩn khác Biên độ của trí tưởng tượng được phát huy mạnh mẽ

Thơ Nguyễn Quang Thiều phức tạp giữa những cái đẹp thuần khiết có

cả sự giản dị đến lạ thường, đồng thời lại thấy trùng trùng cả những yếu tố kì

dị đôi khi kinh rợn Cái đẹp đôi khi được gạn lọc trong chính sự rạn vỡ, hao khuyết, tật nguyền, trong hoang dại, trong phế tích Nguyễn Quang Thiều và một số nhà thơ xuất hiện sau 1975 đã hướng tới một trường tư duy thẩm mĩ mới và hiện đại Những câu thơ có sức hàm chứa và mở ra nhiều hướng tiếp cận tùy theo sự liên tưởng, đồng cảm của mỗi đọc giả thơ Đọc thơ Nguyễn Quang Thiều, ta có cảm giác đi qua một cánh rừng thi ca đậm đặc trong bóng đêm ẩm ướt bởi thi giới rậm rạp, những câu thơ không ngừng tuôn trào, hối thúc

Thơ ông như một bản giao hưởng của rất nhiều khái niệm, cảm giác, ý tưởng và suy ngẫm cùng tấu lên tràn đầy những tưởng tượng lạ lẫm Đó là lí

do thực tại trong thơ ông thường được tái hiện như giấc mơ của một người mệt mỏi, kiệt sức vì quá tải trong những cơn dư chấn, là giấc mơ của người bệnh vừa thoát khỏi cơn tai biến hiểm nghèo hay như người vừa chợp mắt đã nhìn thấy những trải nghiệm trong đời thực nhưng được phóng chiếu theo những cách thức khác lạ

Đặc biệt, Nguyễn Quang Thiều còn được nhắc đến là thi sĩ của những cách tân trong dòng chảy của văn học Việt Nam đương đại Thơ ông khước từ mọi diễn ngôn đã ngả màu mòn sáo, chối bỏ những ẩn dụ thi vị hay mọi ngâm ngợi ngọt lịm chất trữ tình của thi ca Những khúc thánh ca mà Thiều đã hát không xa lạ gì với các phạm trù chân - thiện - mĩ vốn được mặc định là chuẩn mực giá trị của văn chương, chỉ có điều ở đó nhà thơ đã tìm đến hình thức biểu đạt mới

Trang 16

Thơ Nguyễn Quang Thiều với “cách gieo âm tiết của riêng mình” như hàm chứa một cơn khát, khát đổi thay, khát bản sắc và âm điệu riêng D’Aurevilly đã từng nói: “Ở thời đại cực văn minh này, thơ nào thật là thơ trước hết phải có tính chất cá nhân và đơn độc Những đại bàng và những mãnh sư thường đi riêng một mình” Điều ấy cũng giống với Nguyễn Quang Thiều Có lẽ vì thế mà dù đứng giữa hai luồng khen - chê dữ dội nhưng Nguyễn Quang Thiều vẫn vững tâm, đưa ra một thông điệp nghệ thuật thể hiện sự biết mình, biết người của ông: “Là cái cây trơ trụi, đen đúa, ngôn ngữ trung thực của giá lạnh nghiệt ngã/ Là mẩu quặng của thời đại bị những thợ

kim hoàn khước từ” (Nhà thơ (2))

1.2.2 Hành trình sáng tạo

Chưa đến tuổi 20, rời quê, Nguyễn Quang Thiều ra Hà Nội học ở một trường văn hóa và ngoại ngữ của ngành công an rồi đi làm Những đêm trực ban, ông lại ngồi đọc thơ Tình yêu kì lạ với thơ ca đã thôi thúc ông, ông bắt đầu làm thơ để chiều theo đòi hỏi vô thức, bản năng của mình Bắt đầu sáng tác từ 1983, xuất bản tập thơ đầu tay năm 1990 và đoạt giải thưởng thơ của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993 là những dấu mốc đầu tiên trên lộ trình thơ Nguyễn Quang Thiều

Ngôi nhà mười bảy tuổi (Nhà xuất bản Thanh niên, 1990) là nấc thang

đầu tiên với những cảm xúc trong sáng, đẹp đẽ của buổi ban đầu Nhưng ông không khỏi băn khoăn: hình như trong giọng thơ mình có lẫn với giọng một ai khác Không bằng lòng với tiếng hát trong trẻo nhưng bị cớm bóng ấy, ông lại

hì hụi viết

Đường thơ Nguyễn Quang Thiều từ Ngôi nhà mười bảy tuổi sang Sự mất ngủ của lửa là sự thay đổi lớn, có thể xem đó là ngày sinh lại của Thiều như khi xưa Từ ấy làm sống lại tâm hồn người thanh niên Tố Hữu đang “băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời”, Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi cứu rỗi Chế Lan Viên Và tập thơ thứ 2 này, đúng như tên gọi của nó Sự mất ngủ

Trang 17

của lửa (Nhà xuất bản Lao động, 1992) thực sự như mãnh lực của ngọn lửa

được dịp bùng lên dưới lớp tro than, lửa nuôi ấm dòng mực sáng tạo, gieo hạt giống thơ ca – thứ thơ khởi phát từ nội lực mạnh mẽ chất chứa những trầm tích bí mật, những huyền thoại bị vùi lấp, những gấp khúc của tư duy và sự

hoang thẳm của những cơn mơ Cùng với tập Xúc xắc mùa thu của Hoàng

Nhuận Cầm, năm 1993, tập thơ này cũng được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam

Sau sự gây hấn làm thi đàn dậy sóng trên, Nguyễn Quang Thiều lại tiếp

tục phục tùng sự nổi loạn của ngôn từ trong những tập thơ kế tiếp: Những người lính của làng (1994), Những người đàn bà gánh nước sông (1995), Nhịp điệu châu thổ mới (1997), Cây ánh sáng (2009) Nguyễn Quang Thiều

đã liên tục tự làm mới mình không ngừng nghỉ

Và đến tập Châu thổ (2010) – Nguyễn Quang Thiều dường như muốn

ngoảnh đầu nhìn lại quãng đường hơn 30 năm lao động nghệ thuật đã qua

Nếu thơ Thiều từ hồi Sự mất ngủ của lửa hãy còn là “Một bông hoa mùa xuân

với những cánh chỉ mỏng như hơi thở/ đang chầm chậm mở ra lộng lẫy bất chấp sự đè nặng của bóng tối mùa đông giá lạnh như một chiếc ách vô lý

khổng lồ” thì đến Châu thổ, nó đã là “Ngọn đồi của khát vọng mọc xuyên qua bóng tối” Châu thổ là sự sống phong túc, giàu có, là sự sâu dày, kĩ lưỡng

trong trải nghiệm; là vật chứng của thời gian, lưu lại một lát cắt khoảnh khắc tinh thần của một thời chúng ta đã sống Thơ ông lại bắt đầu một cơn giông lớn về ngôn ngữ để cuốn người đọc bay đi trên thảo nguyên mộng mị của thơ

ca để đến với chân trời bất tận của thơ văn xuôi

Với 6 tập thơ đã xuất bản, Nguyễn Quang Thiều đã “làm mới lại những

gì đã cũ và làm sống lại những gì đã chết” như chính ông tuyên ngôn (trích lời Nguyễn Quang Thiều trong bài nói chuyện với Phan Hoàng trên Đương thời)

Từ những thử nghiệm ban đầu đến việc chuyển đổi thi pháp và khẳng định bản thân, từ những trăn trở, chiêm nghiệm, cần mẫn chắt lọc những nguyên tố

Trang 18

thủy ngân từ bao điều tai nghe mắt thấy, ông đã tráng nên một tấm kính đa chiều mà khi soi chiếu vào đó ta thấy được một phần nào đó của cuộc sống phức tạp, xô bồ này Cái bảo tàng văn học đầy chất sống ấy đã cho thấy trách nhiệm của một công dân đối với những mặt trái của xã hội; một cái tâm của người nghệ sĩ đối với nền văn học dân tộc và một chữ tình của con người giữa cuộc đời

1.2.3 Quan niệm sáng tác

Nguyễn Quang Thiều xây cất thi ca trên một quan niệm thẩm mĩ nhất quán: bất an mà không tuyệt vọng, bóng tối không thể chế ngự ánh sáng Với cái nhìn như thế, Nguyễn Quang Thiều hằng tin thơ là một giá trị tinh thần có khả năng chữa lành và đánh thức nhân tâm, là sự giải phóng hiệu nghiệm nhất những bế tắc của đời sống con người, giúp con người khám phá những vẻ đẹp

bí ẩn của đời sống - đây là cốt lõi cổ điển trong quan niệm nghệ thuật Nguyễn Quang Thiều ẩn sau hình hài hiện đại Với Nguyễn Quang Thiều, thơ không phải là chiếc gương phản chiếu cuộc sống mà qua thơ, cuộc sống khúc xạ ở một bề mặt khác Nó là phần ta không dễ nhìn thấy bằng mắt thường

Trên thực tế, Nguyễn Quang Thiều không trực tiếp phát ngôn quan niệm

về thơ của mình nhưng qua các tác phẩm của ông, ta có thể phần nào nhận ra được một xác tín, một quan niệm nghệ thuật: Cái đẹp là sự linh thiêng, sự sống

là cái đẹp linh thiêng và thơ ca cũng chính là cái đẹp linh thiêng

Để trở thành cái đẹp linh thiêng, Nguyễn Quang Thiều bao giờ cũng nhìn sự vật triển diễn vào thời điểm chót cùng của nó theo hướng mĩ lệ hóa, nghĩa là tất cả phải đẹp trong tư thế, hình dáng, màu sắc, sự bí ẩn và màu nhiệm - đó chính là cái đẹp linh thiêng của sự sống

Nguyễn Quang Thiều coi sự lên tiếng của thơ thực chất là sự lên tiếng của một giọng nói linh thiêng, có khả năng lưu giữ hình ảnh của chủ thể giọng nói ấy và thế giới bao bọc chính chủ thể đó Ai rồi cũng phải đi vào cõi chết nhưng giọng nói con người có thể sẽ trở nên bất tử Thơ thực chất là giọng nói

Trang 19

riêng biệt lưu giữ toàn bộ đời sống của mỗi nhà thơ Thơ chính là hiện thân của cái đẹp linh thiêng của mỗi người nghệ sĩ Cái đẹp linh thiêng của sự sống được lưu giữ và bảo tồn nhờ cái đẹp linh thiêng của thi ca

Lại may mắn thay, ta thấy ông quan niệm về chân dung và thiên chức

nhà thơ: “Không là ma quỷ, không là thánh thần/ Cháy ngọn lửa rực rỡ nhưng không giấu đất đá và củi rác phía dưới/ …Cõng trên lưng tảng đá khổng lồ của sự đầy đọa để được kêu vang tự do/ Đã chết quá nhiều cái chết trong bóng tối mới chạm vào cơn mơ sự sống/ Là cái cây trơ trụi đen đúa…/

Là chạm vào cơn mơ sự sống/ Là cái cây trơ trụi đen đúa…/ Là mẩu quặng của thời đại bị những người thợ kim hoàn khước từ” Còn thiên chức của nhà thơ giống như: “Lạc đà chất lên lưng không phải vàng bạc châu báu hay những túi nước ngọt mà là những bao tải cát để đi qua sa mạc cát/ Ôi đó có phải là trò đùa hay đó là phép giải thiêng giản dị và vô lý như cát trong những bao tải kia/ Nhưng lạc đà không chối bỏ những con đường sa mạc cát/ Lạc đà có thể gục ngã đâu đấy trong một ngày nào đấy trên cát và chỉ kêu lên một tiếng: Ôi sa mạc/ Sự khắc nghiệt độc ác của ngươi là thách thức khổng

lồ, vực sâu tuyệt vọng và là bài ca kì vĩ của ta/ Sa mạc thè những lưỡi cát khổng lồ nuốt chàng vào sâu trong cái dạ dày lãng quên/ Nhưng chàng đã đứng dậy như lạc đà với sức nặng khủng khiếp chỉ của một hạt cát trên lưng, nhẫn nại và kêu hãnh bước đi…” (Cây ánh sáng) Nguyễn Quang Thiều cũng

từng rất tâm đắc nói với Nguyễn Việt Chiến (nhà thơ, nhà báo báo Thanh niên Hà Nội) rằng: “Mỗi người thơ chúng ta đều là một con lạc đà thơ vĩ đại

đi tìm mỗi hạt cát thi ca trên cái sa mạc âm u toàn thơ và cát bỏng, chúng ta sẽ chìm dưới cát trước khi chúng ta vượt lên trên cát bằng cơn khát thi ca ấy” Quả thật là như vậy, lãnh địa thơ mang tên Nguyễn Quang Thiều như một thế giới của riêng ông, dùng ngôn ngữ để thể hiện một thế giới như ông từng mơ thấy chứ không phải một thế giới như mọi người muốn Những tập thơ từ sau

Sự mất ngủ của lửa có lẽ là minh chứng đầy thuyết phục cho lối tư duy: “Có lẽ

Trang 20

tôi không ý thức rõ ràng sự cách tân mà chỉ muốn là chính tôi…Đó là giọng nói của chính tôi, là thế giới ngôn từ và hình ảnh của tôi, là tất cả những gì mà tôi muốn phơi bày và tưởng tượng Khi nhà thơ không dựng lên được thế giới riêng của anh ta hay không xác lập được chân dung thơ ca của anh ta thì nghĩa

là anh ta đã chết” Và với ý thức như vậy, chúng ta có quyền tiếp tục hi vọng

những vụ mùa chắc hạt trên cánh đồng thơ ca Nguyễn Quang Thiều

1.3 Tuyển thơ Châu thổ

Tập thơ Châu thổ gồm 144 bài, được tuyển từ 6 tập thơ đã xuất bản của

Nguyễn Quang Thiều: Ngôi nhà mười bảy tuổi (1990), Sự mất ngủ của lửa (1997), Những người đàn bà gánh nước sông (1995), Nhịp điệu Châu thổ mới (1997), Bài ca những con chim đêm (1999), Cây Ánh Sáng (2009)

Châu thổ - tên tập thơ, một biểu tượng về sự rộng lớn và trù mật Đó cũng là tứ thơ bao trùm toàn bộ thi phẩm Châu thổ chủ yếu xoay quanh đề

tài về làng quê, dòng sông, gieo cấy với những số phận con người ở đó nhưng

nó khó đọc với phần đông độc giả bởi đúng như triết gia nào đó đã nói: “Mọi nghệ thuật đích thực đều không phải dành cho những người thưởng thức

không chuyên chú” Thế giới thơ Châu thổ là gam màu trầm, thẫm tối, âm u;

không lấy cái “tôi” làm trung tâm trữ tình để giãi bày, tâm sự; hiện thực trần trụi, không réo rắt véo von, những liên tưởng thơ đôi lúc bất ngờ, ngữ pháp không ve vuốt Ba đặc điểm này đã làm lật nhào truyền thống thơ tâm tình, hoa mĩ Chính ở ba điểm này mà thơ ông trở nên lạ lẫm với nhiều bạn đọc Bên cạnh đó, càng về gần cuối tuyển thơ, các bài thơ lại càng vạm vỡ, miên man, tràn đầy sinh lực, không chỉ ở chiều dài các bài thơ, câu thơ (điều này không hẳn là khó), mà còn ở sự đan bện giữa bản năng và ý thức, truyền thống và hiện đại, nguyên thủy và văn minh ( sự nếm trải, vốn văn hóa)

Một Châu thổ mới, khác lạ, hiện đại và dân tộc đang ở phía trước và có

nhiều con đường khác nhau để tiếp cận vùng đất trù phú này

Trang 21

Chương II

HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG TẬP THƠ CHÂU THỔ

2.1 Cái tôi trữ tình gắn bó với “lớp phù sa” Châu thổ quê hương

Không phải ngẫu nhiên Nguyễn Quang Thiều mở đầu tập thơ bằng bài

Lễ tạ:

“… Ra đi từ hồ nước cũ/ Con đường / Con đường/ Con đường…”

“ …Con đường/ Con đường/ Con đường/ Dắt ta về hồ nước cũ”

Con đường là lịch sử văn hóa Sự trở về mang tính chất hồi quy, trở về

- ra đi - trở về Đó là con đường trở về trong tâm tưởng, về không gian của tuổi thơ, quá vãng của dòng họ, nguồn cội của làng nước nhưng không phải

để định cư tại đó mà để thúc giục bước lữ hành Ra đi không phải sự trốn chạy hay dứt bỏ mà là khao khát kiếm tìm để bồi đắp thêm cho châu thổ phù sa Ra

đi là để trở về Khách thể nhà thơ hướng tới chính là cố hương (hồ nước cũ) - không gian xưa cũ xa xôi Chính sự mở đầu này tự nó đã ngầm mang một thông điệp xác định không gian và cảm hứng của tuyển thơ chính là miền Châu thổ và tình yêu rứt ruột với miền đất ấy

Nguyễn Quang Thiều đã từng thừa nhận: Mỗi người đều có một mối liên hệ vừa mơ hồ, vừa bí ẩn, vừa thiêng liêng và vừa uy quyền với nơi chôn nhau cắt rốn của mình Thực ra, tôi không thể lý giải được rành mạch mối liên

hệ này Nhưng tôi hiểu mối liên hệ này được tạo dựng lên bởi rất nhiều yếu tố vừa cụ thể vừa mơ hồ: ký ức, kinh nghiệm, phong tục, văn hoá, ẩm thực, thổ ngữ, dòng họ, hàng xóm, những ngôi mộ, con sông, cánh đồng, đình làng, những câu chuyện ma thuở nhỏ, những đầm nước, những năm tháng đói rét, những cơn ốm đau, mối tình thuở học trò, những người đàn bà tắm trần trên bến sông, những phiên chợ, những đám tang, những thôn nữ tóc dài, ngực nở rắn chắc tưởng chỉ chạm kẽ là mang thai, những nhân vật đặc biệt của làng… Tất cả những thứ đó đã dựng lên một không gian sống động và huyền ảo mà

Trang 22

chúng ta không thể lớn lên nếu không có một không gian như thế và không thể nào đi ra khỏi không gian đó nếu muốn làm người có chút gì lương thiện

Cái tôi trữ tình bởi vậy gắn bó mật thiết với lớp phù sa Châu thổ quê hương Châu thổ gọi về những gì trong tiềm thức? Miền đất ấy mang tên là cố hương, kí ức ấy là những thước phim về Đất và Người Châu thổ - những chủ nhân của mọi giá trị được lưu giữ và tôn thờ Tất cả không gian, con người của làng, cả người sống và những người đã chết, cả trần thế lẫn những đấng thần linh là nguồn dưỡng chất cho con người tiểu sử và con người nghệ sĩ của Nguyễn Quang Thiều được sống, được sáng tạo

Không gian nguồn cội và quê nhà luôn da diết, khắc khoải trong thơ

Nguyễn Quang Thiều ngay từ tập thơ đầu tay Ngôi nhà mười bảy tuổi đến tập

thơ Cây ánh sáng Tập thơ Châu thổ này cũng không nằm ngoài quỹ đạo ấy Châu thổ trước hết là hình bóng đất đai quê nhà vùng sông Hồng mưa tràn

nắng hạn đậm Việt tính với cào cào, châu chấu, với đất bùn ngai ngái, những con đường lồi lõm vệt chân trâu… Đất ấy chính là làng Chùa - mảnh đất của

tổ tiên và cũng là tiền thân của Châu thổ với đủ mọi phông nền dệt nên nơi cắt rốn chôn nhau Ông viết về làng Chùa như nơi chốn sinh ra, nơi có cha mẹ anh em họ hàng, có những người làng, có đám tang người thân, có dòng sông Đáy, có cánh đồng đất nâu, có tiếng chó sủa đêm, tiếng côn trùng inh ả , có hồn vía quê hương nương náu ngàn đời Tất tật cảnh vật và loài vật ấy là cư dân của Châu thổ và vẫn mang căn cước Làng Chùa Làng trở thành hệ quy chiếu thường xuyên và căn bản nhất mang tính phổ quát với mối quan tâm nghiêng về những giá trị người, giá trị tinh thần trường cửu:

“Trước mặt làng Chùa là cánh đồng Rộng hơn cánh đồng là chân trời Rộng hơn chân trời là lòng người”

Làng Chùa trở đi trở lại với tư cách là mẫu gốc văn hóa vượt ra ngoài ý thức cá nhân của một người Nhưng hãy xem Nguyễn Quang Thiều đã đặt

Trang 23

mình ở đâu để cảm nhận? Nếu Nguyễn Bính rời bỏ làng quê “dan díu với kinh thành” nên có quê mà mất quê, từ nơi xa hoài nhớ về quê cũ với một cảm thức

xa cách, lỡ làng, lỗi hẹn và thất hiếu, thất cước thì Nguyễn Quang Thiều lại khác Tự xác định cho mình là một chính cư nên ông viết về quê hương như một chủ nhân thực sự Chưa bao giờ ông viết về làng như một kẻ trở về mà luôn phát ngôn ở vị thế của một kẻ sống cùng, một công dân đang chăm chút

và lo lắng cho cái làng nhỏ của mình

Vậy là xuất phát từ làng Chùa, Nguyễn Quang Thiều đã có nơi bám víu

và nương tựa để liên tục gọi về những kí ức quê hương, những trầm tích của linh hồn được tái sinh từ mẫu gốc và bật lên trong tiếng vọng của thi ca

cánh đồng tháng mười trơ gốc rạ khô gầy: “Những ngọn khói trẻ chăn trâu đốt rạ trên cánh đồng sau vụ gặt/ Thở vào ta hương vị tháng mười…” (Tháng mười), cánh đồng giêng hai mưa xuân phủ đầy như cám nếp:“Không có gì cho tôi khóc sớm nay ngoài cánh đồng rau khúc/ Sương dâng hơi chõ xôi mùa cuối của bà tôi/ Những con chuột đồng ướt át và run rẩy gọi tôi/ Về xứ

sở những lùm dứa dại…”(Tôi khóc những cánh đồng rau khúc)

Xa hơn cánh đồng là dòng sông, dòng sông Đáy tưởng như chảy ra từ cõi nhớ chứ không phải từ một nẻo nào xa xôi Nó trở thành biểu tượng cho

Trang 24

mạch nguồn kí ức, xúc cảm cũng dào dạt và đằm sâu như vậy Trước Nguyễn Quang Thiều đã có một sông Đáy mảnh mai, dịu dàng và thật lãng mạn trong

thơ Quang Dũng: “Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc/ Sáo diều vi vút thổi đêm trăng”, một sông Đáy dùng dằng , xao xuyến trong niềm thương của Hữu Thỉnh: “Sông Đáy ở đâu về/ Chia hai bờ nội ngoại/ Bên lở và bên bồi/ Cùng tương tư đất bãi” Và giờ đây, Nguyễn Quang Thiều nhìn sông Đáy trong tâm thế như thế này: “Những chiều xa quê mong dòng sông dâng lên ngang trời cho tôi được thấy/ Cho đôi mắt nhớ thương của tôi như hai hốc đất ven bờ, nơi những chú bống đến làm tổ được dàn dụa nước mưa sông…”

(Sông Đáy) Con sông ấy có hình bóng những người thân giăng níu, có cảnh

vật thiên nhiên vừa gần gũi vừa thân thương:“Sông Đáy chảy vào đời tôi/ Như mẹ tôi gánh nặng rẽ vào ngõ sau mỗi buổi chiều đi làm về vất vả/ Tôi dụi mặt vào lưng áo người đẫm mồ hôi mát một mảnh sông đêm…” Con sông trở

thành một phần máu thịt của làng, bùi ngùi thế phận, đằm sâu hơi thở quê

hương sau bao biến động thăng trầm: “Sông Đáy ơi, sông Đáy ơi…chiều nay tôi trở lại/ Mẹ tôi đã già như cát bên bờ/ Ôi mùi cát khô, mùi tóc mẹ tôi ”

Nếu phóng tầm mắt ra xa là cánh đồng, dòng sông thì khi chớp mắt, không gian đã thu nhỏ lại trong những khu vườn hay góc nhà thân thuộc với bao sự sống Tuy nhỏ nhoi thôi nhưng nó cũng đầy thanh âm, màu sắc của loài vật, hoa cỏ Những sinh vật xuất hiện trong thơ Nguyễn Quang Thiều không chỉ là những con vật gắn bó thân gần với cuộc sống của người nông dân như con bò, con ngựa, con chó, con mèo… mà còn là thế giới sinh động

của côn trùng suốt bốn mùa cây lá Có tiếng chó sủa đêm:“Đã bao năm/ Cứ đêm xuống/ bầy chó ngửa mặt lên trời/ Sủa cay đắng, thảm sầu, man rợ…”,

“tiếng chó khuya sủa chớp cuối chân trời”, có tiếng mèo hoang trên đồng cỏ:

“Tôi đi về đồng cỏ/ Đi tìm tiếng mèo kêu/ Tiếng mèo kêu rát ruột”,“Tiếng mèo kêu trong đêm/ Tưởng tiếng người khản giọng”, có tiếng một con dế bị

giam cầm trong góc nhà vươn lên một con đường cỏ dại chạy mãi về cánh

Trang 25

đồng ngoại ô, có văng vẳng đâu đây tiếng ếch gọi mùa về: “Cánh đồng tháng

7 ếch kêu xa”, có tiếng chim quốc chui lủi sau nhà: “Hỡi con chim kêu suốt

cả mùa hè/ Kêu buồn dưới những bờ tre/ Kêu khắc khoải miên man bên đầm

cỏ lác” (Nghe tiếng chim quốc) Cả những sinh vật nhỏ bé khác nhưng cũng được nhắc tên, soi ngắm Một bầy sên bò qua những khu vườn ẩm mốc: “Ánh trăng im phăng phắc, những vòm cây im phắc Bầy ốc sên bò qua giấc ngủ của cỏ và của những chiếc lá vàng rụng trên mặt đất…Những tấm thân mềm

và ướt lướt đi trong êm ái rợn người” (Chuyển động), lũ kiến ngang qua bàn tiệc: “Bầy kiến đen đi qua bàn tiệc/ Như lang thang qua bãi chiến trường…/ Bầy kiến ôm lên đắng cay nhòa mắt/ Bò qua da/ Bò qua xương/ Trong rền rĩ cơn lốc quạt” (Bầy kiến qua bàn tiệc), một con nhện già sống trong khe cửa

sổ, giăng tấm mạng nơi cửa phòng, dịu dàng đỡ những giọt sương đêm… Tất

cả đồng hiện, tất cả góp nên gương mặt thân quen của không gian làng ngàn đời nay

Nguyễn Quang Thiều dành sự quan tâm đặc biệt cho những người phụ

nữ nông thôn Đó là điều dễ hiểu khi văn hóa Việt Nam từ thưở khởi nguyên là một hệ hình văn hóa thiên về tính nữ Hình ảnh người đàn bà xuất hiện với tần

số khá cao trong thơ ông và trở thành nỗi ám ảnh trong kí ức nhà thơ Nguyễn Quang Thiều không chọn cho mình một ảnh tượng có tính cố định để tôn thờ, người phụ nữ trong thơ vừa cụ thể (người mẹ, người bà nội của tác giả) vừa mang tính khái quát (những người đàn bà gánh nước sông, những người đàn bà vác dậm…) Họ không có lai lịch nhưng đầy đủ tính cách, số phận

Trang 26

Chúng ta không hình dung được bất cứ một gương mặt nào trong số rất nhiều gương mặt mà ông đã vẽ mà chỉ mường tượng thông qua dáng dấp Tảo tần, lam lũ, vất vả, nhếch nhác tựa như một khuôn mẫu bất biến tồn tại muôn đời và còn tiếp tục khai sinh bao thế hệ phụ nữ ở nông thôn Cuộc sống cũng

cứ nối nhau như thế ở một miền sông Đáy như một bản trường ca bất tận về thế phận những người phụ nữ đại diện cho làng Họ khổ cực ngay từ vóc dáng

bẩm sinh: “Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen tõe ra như móng chân gà mái” Đàn bà Việt khi tận cùng của tần tảo, vất vả thì ở đâu trông

cũng giống hệt nhau Họ nhẫn nại chịu đựng và gánh hết tất cả những nhọc

nhằn: “…Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy/ Những người đàn bà xuống gánh nước sông/ Những bối tóc vỡ xối xả trên lưng

áo mềm và ướt/ Một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi/ Bàn tay kia bấu vào mây trắng…”( Những người đàn bà gánh nước sông) Họ hứng

chịu tất cả những thiệt thòi với một sự thầm lặng đáng trân trọng mà cũng thật

tội nghiệp:“Những người đàn bà già của làng đồng phục màu nâu/ Những trụ cầu mảnh mai suốt đời bền vững” Cũng như những chiếc trụ cầu đứng chân

trong dòng nước xiết để gánh sức nặng ngàn cân, người phụ nữ dù đứng trong dòng xoáy cuộc đời, tấm thân mảnh mai bị đè nặng bởi hàng ngàn nỗi nhọc nhằn, lam lũ nhưng vẫn nhẫn nại và cam chịu, không một lời than oán

Hạnh phúc chỉ có duy nhất một khuôn mặt nhưng đau khổ và bất hạnh thì lại có muôn nghìn khuôn mặt khác nhau Ở một góc khác, những người đàn bà vùng sông Đáy lại hiện ra với những nét khắc lạ lùng, ấn tượng khi những thiệt thòi không nằm ở sự vất vả, cực nhọc về thể xác nữa mà ở những

bi kịch tinh thần: “Những người đàn bà góa bụa làng tôi từ sau cỏ trở về Họ

đi trên những con đường phơi đầy rơm rạ tháng mười” Là vợ của những liệt

sĩ, sự góa bụa của họ được cả xã hội hàm ơn Nhưng ở bình diện bản thể, họ vẫn là những con người với biết bao khát vọng Họ đã phải chịu thiệt thòi, không còn mơ ước đến những điều lãng mạn và đẹp đẽ trong cuộc sống nữa

Trang 27

Những khao khát rất đời thường trong con người họ cũng tàn lụi và dần “trở nên nghễnh ngãng” Họ chỉ còn sống với nỗi cô độc, sự lo âu và ám ảnh về cái chết đang từng đêm vọng đến từ cỗ áo quan đóng sẵn cho mình: “…Chỉ tiếng chuột nhắc cắn thóc trong những chiếc cỗ áo quan gỗ Gạo đóng sẵn làm họ thức giấc Và họ nằm lo âu trongtiếng mọt cắn gỗ vọng ra từ cỗ áo quan…” ( Những ví dụ) Ở tột cùng của những nỗi bất hạnh, họ còn tự đánh lừa mình bằng những ảo giác của hạnh phúc: “Chị ngồi gỡ sợi len dài ram ráp/ Vợi một bên đau xót áo không người/ Cho một bên đầy lên những sợi len lặng lẽ/ Cứ bồng bềnh âm ấm một niềm vui…” (Những người hàng xóm góa

chồng đan áo) Chiếc áo len chị đan giờ đã không còn ai ướm thử, chồng chị

đã yên nghỉ ở một miền đất lạnh xa xăm Dẫu biết thế nhưng để khỏa lấp nỗi đau, chị cứ tháo ra rồi đan lại, mong tìm được những cảm giác ấm áp như lần đầu ngồi đan Nhưng chính trong nỗi vất vả, thiệt thòi ấy, những người phụ

nữ vẫn cố gắng sống, vượt qua bao nhiêu điều nghiệt ngã để giữ được niềm

vui, niềm hạnh phúc theo cách riêng của mình: “…Người đàn bà câm mang thai bỗng đẹp lên như một thiên thần, lặng lẽ bước đi/ Hai bàn tay đặt dịu dàng lên cơn đau, và mỉm cười lướt hàm răng sáng/ Người đàn bà câm đi qua những ngôn từ nguyền rủa/ Câm lặng xòe hai bàn tay phủ che lên mênh mông của nỗi đau chờ đợi…” (Bài ca những con chim đêm) Họ vẫn khát khao được hồi sinh: “…Người hàng xóm góa chồng/ Trở về từ nghĩa địa/ Cắm đầy hoa tầm xuân trong phòng ngủ của mình…” (Hồi tưởng tháng giêng) Nguyễn

Quang Thiều ước được giải thoát cho họ - đây cũng chính là bức thông điệp đầy trăn trở mà ông muốn cả xã hội tiến bộ phải lưu tâm

Hình ảnh những người đàn ông cũng xuất hiện, dù không nhiều Họ để lại cảm giác về những con người đầy dằn vặt, uẩn ức và có nhiều nét hung dữ khó lường Những người đàn ông ấy trước hết là người cha trong những gia đình Nếu người mẹ là nguồn sống, sự chở che và yêu thương vô điều kiện thì người cha ngược lại Đứa trẻ lớn lên có cả nguyên tắc cha và tình thương mẹ

Trang 28

sẽ tạo nên thế quân bình trong đời sống tâm lí, điều hòa cảm xúc, lí tính Nếu sức ảnh hưởng của người cha không đủ lớn thì đứa trẻ ấy có xu hướng gắn bó chặt chẽ và lâu dài hơn với mẹ Và hệ quả tất yếu là chúng ngày càng xa lạ, phản kháng quyết liệt lại với người cha Trong thơ Thiều, hình ảnh người cha hiện lên khá mờ nhạt, ấn tượng có phần cay đắng với tiếng cười gằn, đau

buồn, nhức nhối:“…Cha đã mang tuổi hai mươi lên đò không ngoảnh lại/ Bao năm sau cha trở về trắng tóc/ Đêm đêm ngồi hút thuốc lào/ Tiếng điếu rít lên muốn khoan thủng nỗi buồn/ Khoan vào phận con buốt nhức…” (Tiếng cười) Cha là nỗi bất an, đau đớn của tuổi thơ một thời: “…Điếu thuốc cháy từ năm ta mười bốn/ Chiếc roi cha ta quất nát sợ khói mềm/ “Trong kí ức ta có một ngày oán hận/ Hốc mắt ta khô dù chỉ khóc một lần” Người đàn ông

trong vai trò trụ cột gia đình nhưng trước gánh nặng áo cơm, họ cũng hơn một

lần quẫn cùng, bế tắc: “…Những người đàn ông mang cần câu và cơn mơ biển ra khỏi nhà lặng lẽ/ Những con cá thiêng quay mặt khóc/ Những chiếc phao ngô chết nổi/ Những người đàn ông giận dữ, buồn bã và bỏ đi” (Những

người đàn bà gánh nước sông)

Vùng quê ấy cũng là nơi những người ruột thịt của Nguyễn Quang Thiều tự bao đời nối tiếp sinh ra Ông dành tình cảm đặc biệt cho người bà nội của mình - người bà nội như bước ra từ trong cổ tích: nhân từ, hiền hậu nhưng huyền ảo với mái tóc thật dài và giọng nói như từ một thế giới khác vọng về Trong căn phòng có mái gác bằng tre, cạnh giường có cửa sổ thông qua vườn nhà hàng xóm, cậu bé Nguyễn Quang Thiều trở thành một học trò nhỏ bé Những câu chuyện được kể bằng trí nhớ người già, mang âm vang đặc biệt của một người khát khao sống trong trạng thái cơ thể bị bại liệt, cách

ly hoàn toàn với những hoạt động ngoài đời Trong không gian có mùi cao con hổ, mùi trầu, khung cảnh làng quê và những người thân quen đã hiện lên Khi nằm bất động trên giường, người bà mất đi toàn bộ cảm giác về thể xác mình, nhiều lúc không tin mình hiển thị trước mọi người và hoảng sự trước

Trang 29

suy nghĩ mình đã trở thành người vô hình Người bà còn sợ hãi khi nghĩ

“toàn bộ nhà cửa, đường xá, cánh đồng, dòng sông, trâu bò và những người thân quen - những thứ mà trước đó ngày ngày bà tôi tiếp xúc, trò chuyện và chứng kiến đang có nguy cơ biến mất vĩnh viễn” Giọng nói của người bà cất

lên khi đó không với ý thức để lưu giữ những điều kia mà là sự kêu cứu đầy

tuyệt vọng Vậy nhưng, đối với người cháu: “Qua chính giọng nói ấy của bà tôi, tôi đã lưu giữ trọn vẹn những gì đã qua đời sống này ở làng quê của tôi Một đời sống mà chắng bao giờ mất đi như ta tưởng Một đời sống làm chúng

ta hình dung đầy đủ hơn về vũ trụ” Giọng kể của người bà lại là cầu nối, trở lại, phục sinh đời sống trong quá khứ: “Khi còn nhỏ, đời sống khác ấy ám ảnh tôi và đôi lúc nó làm tôi sợ hãi…” bởi những câu chuyện thật kinh dị về “con lợn nái và những con lợn con bị chính lợn mẹ ăn thịt sau khi đẻ ra, về bệnh phù thũng của người chị họ gần 80 tuổi dùng da cóc dán vào những chỗ rỉ nước vàng với hi vọng khỏi bệnh, về những con cá trê trắng bệch trong một ngôi mộ ngập nước ven bờ đầm,…” Nhưng sau sự sợ hãi ấy, người cháu lại

khát khao được nhìn thấy, được ở giữa đời sống ấy Như vậy, người bà đã tác động và làm nảy sinh trong trí óc non tơ của Nguyễn Quang Thiều cả một thế giới của trí tưởng tượng Và sau này, những kí ức vang lên đẫm màu huyền thoại ấy lại một lần nữa dội vào trong thơ người cháu nội của bà những giấc mộng lớn về nghệ thuật và cuộc đời

Ngoài bà nội, như một lẽ tất nhiên, Nguyễn Quang Thiều cũng viết về những người thân yêu ruột thịt - những người là điểm tựa, là nơi chốn ông

mong tìm về khi phải sống trong một thế giới xô bồ, ngột ngạt:“Trước trái đất đang nóng lên từng độ/ Và trái tim con người cứ lạnh dần đi/ Thì tôi phải cần em cần bạn bè cây lá/ Cần có một quê hương để được trở về mình”

Kí ức về cha thoắt hiện lên qua lời thú nhận của đứa con trong rưng rưng cảm động Tình cảm của ông dành cho người cha là sự dằn vặt của một đứa con khi đam mê thơ phú mà chưa làm tròn chữ hiếu với đấng sinh

Trang 30

thành:“Con từng ba dại bảy điên/ Chén trà con rót tràn miền đắng cay/ Phận con nhàu trọn lòng tay/ Một câu thơ bạc một ngày vô ơn…Thưa cha con đã dâng trà/ Sao cha im lặng như là bóng mây/ Để hồn trà khuất đâu đây/ Xác trà lạnh ngắt đổ đầy lòng con” (Dâng trà) Có cả chút gì đó nghẹn ngào, không khỏi đớn đau trước bóng dáng cha già: “Cha ơi cha/ Bốn anh em con không phải là đích cuối cùng của đời cha/ Chỉ là bốn cột số trong nỗi buồn cha dằng dặc/ Bởi thế cha lại mang tuổi bảy mươi của mình về bến cũ/ Cha lại bước lên đò/ Con đò chao đảo/ Có phải chân cha già yếu” (Tiếng cười)

Rồi kí ức về mẹ - người dứt ruột sinh ra ông cũng thấm đẫm nhọc

nhằn:“Như mẹ tôi gánh nặng rẽ vào ngõ sau mỗi buổi chiều đi làm về vất vả/ Tôi dụi mặt vào lưng người đẫm mồ hôi mát một mảnh sông đêm”, là ở đâu

đó, cuối một bến mòn mẹ đứng đợi cha:“Mẹ con đứng vùi chân trong cát/ Nước mắt buồn bay ướt một triền sông”

2.1.3 Sự gắn kết với quê hương

Viết về Đất, về người Châu thổ chính là cách Nguyễn Quang Thiều khẳng định mình trong mối quan hệ mật thiết với cuống nhau văn hóa dân tộc,

là bản thể không xa lạ, không tách rời với lớp phù sa châu thổ quê hương

Làng quê trong thơ Thiều đích thực là một mẫu gốc văn hóa đẫm màu huyền thoại, riêng biệt nhưng phổ quát Những cánh đồng rau khúc, nhịp thở của đất đai, thể giới của côn trùng cây cỏ trở thành những biểu tượng văn hóa sâu sắc và nhân văn, có khả năng đánh thức người đọc bất cứ nơi đâu niềm thương cảm cố hương Cố hương không hẳn là những giá trị hoàn tất nhưng là điểm trở về của ý thức ngưỡng vọng cội nguồn

Chúng ta đôi khi đã quá hời hợt với sự sống quanh mình, từ tiếng dế bật càng xa mãi, từ ngọn cỏ suốt đời bị săn đuổi bởi bê tông và thành thị, từ ngọn đèn âm u, từ người đàn bà góa bụa, từ sợi tóc nàng dâu rụng vào châu thổ, từ giấc mơ và hiện tại, những điều không xảy đến, những điều trót sinh ra… Tất

cả kiến tạo nên sự hiện hữu của cá nhân giữa tất thảy cuộc đời Cá nhân

Trang 31

không phải là một giá trị cô biệt, tự trị mà là sản phẩm của những cơ chế khu biệt trong liên hệ mật thiết với môi sinh Về điều này, ta thấy chủ nhân của Châu thổ đã ý thức một cách đầy đủ Chính vì thế, Nguyễn Quang Thiều đã vực dậy trong thơ mình không gian làng quê, viết về những con người sinh cùng sống tận trên mảnh đất ấy, từ những người thân thích đến người dân bình thường để thấy mối quan hệ cố kết cộng đồng bền vững tự thưở xưa

Tiếng nói ấy là tiếng nói duy tình mang gen trội của văn hóa phương Đông

Những khúc hát về cố hương bao giờ cũng nói đến mối gắn kết cá nhân với cộng đồng, đứa con làng Chùa luôn nhận thấy mình trong đó và cất tiếng hát

say mê: “Tôi hát bài hát về cố hương tôi/ Bằng khúc ruột tôi đã chôn ở đó/

Nó không tiêu tan/ Nó thành con giun đất/ Bò âm thầm dưới vại nước bờ ao/

Bò quằn quại qua khu mồ dòng họ/ Bò qua tha ma người làng chết đói…” Và“Kiếp sau nếu phải là vật/ Tôi xin ở kiếp sau làm một con chó nhỏ/ Để canh giữ nỗi buồn - báu vật cố hương tôi”

2.2 Cái tôi trữ tình hướng tới miền tâm linh

Tâm linh là đời sống tinh thần hướng tới cái huyền bí, thần diệu, linh thiêng Trở về với thế giới tâm linh thanh khiết là khát khao thường trực trong thơ Nguyễn Quang Thiều bởi đời sống hiện đại cùng với nền văn minh vật chất là sự suy thoái trầm trọng Nguyễn Quang Thiều quan niệm thế giới này

là một cõi vừa hiện thực vừa hữu hình, vừa bí ẩn vừa vô hình, cả hai chuyển hóa cho nhau, không có ranh giới, tất cả mờ nhòe Không gian ngự trị của thế giới tâm linh luôn là đại lượng bí ẩn nhất mà con người không thể giải mã, không thể nắm bắt, cắt nghĩa được theo thể thức duy lí Luôn trăn trở về sự suy kiệt của cõi thế trong xã hội hiện đại, Nguyễn Quang Thiều trải rộng tâm tưởng qua những trang thơ nhằm hướng tìm một đức tin đối lập với thế giới trần tục đầy dục vọng mưu mô và tội lỗi

Trong thơ Nguyễn Quang Thiều, màu sắc nghi lễ thiêng liêng của đời sống tâm linh không gắn với tôn giáo nào và không xa lạ với con người Theo

Ngày đăng: 16/07/2015, 08:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w