Đối với người dân Việt thì các loài cây này là một phần không thể thiếu trong đời sống, chúng xuất hiện trong dân ca Việt Nam, trong các bài thuốc dân gian, trong những công thức làm đẹ
Trang 1======
ĐỖ THỊ TRANG
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI CÂY CÓ CỦ TẠI XÃ NAM VIÊM – THỊ XÃ PHÚC YÊN – TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên cho em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới sự hưỡng dẫn trực tiếp của
Thạc sĩ Dương Thị Thanh Thảo, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và Tiến
sĩ Lê Đồng Tấn, Trung tâm nghiên cứu Công nghệ cao, Viện Hàn lâm Khoa
học và Công nghệ Việt Nam đã quan tâm, tận tình giúp đỡ em rất nhiều để em
có được một khóa luận đạt kết quả tốt nhất
Em cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của các cán bộ phòng Thực vật Dân tộc học, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã cung cấp thêm cho em các tài liệu và làm một số tiêu bản về cây có củ trong nghiên cứu
Ngoài ra, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Sinh - Kĩ thuật Nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện để em có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 27 tháng 05 năm 2014
Người thực hiện
Đỗ Thị Trang
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu, số liệu được trình bày trong khóa luận là trung thực và không trùng với công trình của các tác giả khác
Hà Nội, ngày 27 tháng 05 năm 2014
Người thực hiện
Đỗ Thị Trang
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Các nghiên cứu về đa dạng thực vật 3
1.1.1 Những nghiên cứu về thành phần loài 3
1.1.2 Những nghiên cứu về dạng sống thực vật 4
1.2 Những nghiên cứu về cây có củ 5
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 Đối tượng nghiên cứu 11
2.2 Phạm vi nghiên cứu 11
2.3 Thời gian nghiên cứu 11
2.4 Phương pháp nghiên cứu 11
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 14
3.1 Thành phần loài cây có củ tại xã Nam Viêm 14
3.2 Tính đa dạng về dạng sống của cây có củ tại xã Nam Viêm 18
3.3 Nguồn gốc cây có củ tại xã Nam Viêm 19
3.4 Tình hình canh tác và sử dụng cây có củ tại xã Nam Viêm 20
3.4.1 Tình hình canh tác cây có củ tại xã Nam Viêm 20
3.4.2 Giá trị sử dụng của các loài cây có củ 21
3.5 Đề xuất biện pháp phát triển và bảo tồn tài nguyên cây có củ tại xã Nam Viêm 28
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33 PHỤ LỤC
Trang 5MỤC LỤC BẢNG
Bảng 3.1 Danh lục các loài cây có củ tại xã Nam Viêm 14
Bảng 3.2 Tổng hợp dạng sống cây có củ tại xã Nam Viêm 19
Bảng 3.3 Nguồn gốc cây có củ tại xã Nam Viêm 20
Bảng 3.4 Nhóm cây làm lương thực, thực phẩm 21
Bảng 3.5 Nhóm cây làm gia vị 23
Bảng 3.6 Nhóm cây có tác dụng làm thuốc 24
Bảng 3.7 Nhóm cây dùng làm cảnh 26
Bảng 3.8 Nhóm cây chứa tinh dầu 27
Bảng 3.9 Thực trạng một số loài cây có củ ở Nam Viêm 28
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Từ rất xa xưa, con người đã biết khai thác và sử dụng các sản phẩm từ
thực vật để có thể tồn tại và phát triển, trong đó có các sản phẩm đặc biệt mà chúng ta gọi là củ Ngày nay, các loài cây có củ trở nên rất đa dạng, chúng phân bố trên khắp thế giới, được sản xuất với chi phí đầu vào thấp và thường được tiêu thụ bởi những người nghèo nhất, nhưng nó lại đóng góp đáng kể cho an ninh lương thực cũng như được dùng làm nguyên liệu cho quá trình
sản xuất công nghiệp Đối với người dân Việt thì các loài cây này là một phần
không thể thiếu trong đời sống, chúng xuất hiện trong dân ca Việt Nam, trong các bài thuốc dân gian, trong những công thức làm đẹp từ thiên nhiên, là nguyên liệu tạo mùi thơm cho các sản phẩm công nghiệp hay làm tăng thêm
tính thẩm mĩ, làm giàu có thêm cho tâm hồn con người,
Nam Viêm là một xã thuộc thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, người dân nơi đây gắn bó với đồng ruộng từ lâu đời, sự xen canh các cây trồng có củ không chỉ phục vụ nhu cầu trong xã mà còn được trao đổi với các vùng lân cận như xã Tiền Châu, phường Xuân Hòa Với họ thì cây có củ cũng là một
bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu sản xuất nông nghiêp, đem lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế Song do quá trình công nghiệp hóa đã làm cho cơ cấu trồng, khai thác cây có củ có nhiều sự thay đổi và do chưa có nghiên cứu đầy
đủ nào trước đó về cây có củ ở địa phương nên chúng tôi đã chọn đề tài
“Nghiên cứu đa dạng thành phần loài cây có củ tại xã Nam Viêm - thị xã
Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc ”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hiện trạng thành phần loài cây có củ làm cơ sở khoa học cho công tác khai thác, bảo tồn và phát triển nguồn gen cây có củ tại khu vực xã Nam Viêm
Trang 7 Nghiên cứu về tính đa dạng về thành phần loài cây có củ tại xã Nam Viêm từ đó xây dựng danh lục các loài cây có củ tại xã Nam Viêm
Nghiên cứu tình hình canh tác và giá trị các loài cây có củ tại địa phương
Đề xuất các biện pháp bảo tồn và khai thác các loài cây có củ tại địa phương
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Bổ sung các dẫn liệu về tính đa dạng các loài cây có
củ tại xã Nam Viêm
- Ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả là cơ sở để đánh giá về thành phần loài
cây có củ ở địa phương, từ đó làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp bảo tồn, khai thác và sử dụng cây có củ tại địa phương
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các nghiên cứu về đa dạng thực vật
Theo IUCN (Liên minh Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế), đa dạng sinh học (Biodiversity, biological): Là sự phong phú của sinh giới từ mọi nguồn trên Trái Đất Bao gồm đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái Việc nghiên cứu đa dạng các loài thực vật trên thế giới đã được tiến hành
từ lâu Chủ yếu là nhằm xác định cơ sở khoa học để đề xuất các biện pháp khoa học cho việc xác định các biện pháp kĩ thuật tác động vào các hệ thực vật nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường
1.1.1 Những nghiên cứu về thành phần loài
Những nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứu được tiến hành từ lâu trên thế giới Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiên cứu của Vusotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicop (1933), Creepva (1978) Theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó Do đó việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là một chỉ tiêu quan trọng trong nghiên cứu đa dạng thực vật [7]
Pócs Tama‟s (1965) đã thống kê được ở miền Bắc Việt Nam có 5.190 loài thực vật [25]
Bắc lên 5.609 loài, 1.660 chi và 140 họ với 5.069 loài thực vật Hạt kín và 540 loài thuộc các ngành còn lại [25]
Thái Văn Trừng (1978) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1.850 chi, 289 họ [25]
Trang 91.1.2 Những nghiên cứu về dạng sống thực vật
Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái, cấu trúc cơ thể thực vật thích nghi với điều kiện môi trường sống Nó liên quan chặt chẽ với các nhân tố sinh thái của mỗi vùng, nên đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm
Schow (1823) đã nghiên cứu về sự phân bố của thực vật và cho rằng: Cách mọc được hiểu là đặc điểm phân bố của các loài trong quần xã [7]
Theo Ewarming (1884, 1908, 1909) khi nghiên cứu và phân chia dạng sống của thực vật thuộc thảo vùng ôn đới đã sử dụng những đặc điểm sinh vật học như: đặc điểm chồi, những phương thức sinh sản, sự kéo dài đời sống, sự phát triển,
Drude (1913), Raunkiner (1905, 1934) khi phân chia dạng sống đã sử dụng vị trí của chồi và khả năng tồn tại trong điều kiện bất lợi làm tiêu chuẩn
để phân chia [8]
I.K Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường xanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên mặt đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm
G N Vưxôxki (1915) chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp: lớp cây nhiều năm và lớp cây hàng năm [7]
Cho đến nay, khi phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất
là hệ thực vật của các vùng ôn đới, người ta vẫn dùng hệ thống của Raunkiaer (1934) [25] để sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong các dạng sống đó Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau về khả năng thích nghi của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm Từ tổ hợp các dấu hiệu thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm
Trang 10Nhìn chung, những nghiên cứu về thành phần loài của các tác giả trên thế giới và ở Việt Nam đều tập trung nghiên cứu, đánh giá thành phần loài ở một vùng và khu vực cụ thể, phản ánh hệ thực vật đặc trưng trong mối tương quan với điều kiện địa hình và khí hậu Tuy vậy, số lượng các công trình nghiên cứu còn chưa nhiều, cần có những nghiên cứu cụ thể hơn, rộng rãi hơn nhằm mục đích có thể đánh giá chính xác thành phần loài thực vật đặc trưng của một khu vực hoặc một quốc gia
1.2 Những nghiên cứu về cây có củ
Trong "Từ điển Bách khoa Thực vật học Việt Nam", của tác giải Nguyễn
Bá và cộng sự, xuất bản 2014, đưa ra khái niệm về như sau: Củ (tuber) là phần phình lên ở thân hoặc rễ, thường là biến dạng cho chức năng dự trữ, thường là chỉ cho 1 năm mà thôi, ví dụ củ thân như Khoai tây, củ rễ như Thược dược Củ rễ phát triển từ các rễ phụ Củ thân phân biệt với củ rễ ở chỗ
1 Rễ củ (tuberculum) như củ Khoai lang, củ Sắn dây thường chứa nhiều đường, bột, các glucozit, một số ancaloit và nhiều loại vitamin Có củ
Trang 112 Thân hành còn gọi là giò hành hay rò (Bulbus) như: củ Hành, củ Tỏi, là các bẹ lá cùng mọc từ một thân đế ngầm phình lên chứa chất dự trữ thường kèm theo nhiều lại tinh dầu và tích tụ cả sunfua
3 Thân rễ (Rhizoma) như củ Riềng, củ Gừng mang các lá địa sinh biến thành vảy không có diệp lục Các loại thân rễ này chứa nhiều glucozit và ancaloit
Đôi khi còn gặp những cành địa sinh phình lên thành củ ngầm như Khoai tây và những cành khí sinh thành củ treo như Khoai mài, Khoai vạc hoặc thân phình lên thành củ như củ Su hào Các loại củ này chứ nhiều đường tinh bột hay protein [10]
Trong cuốn "Giải phẫu hình thái học thực vật" của Hoàng Thị Sản và Trần Văn Ba, đưa ra các kiểu hình thái là các biến thái của các rễ, thân Trong
đó có đề cập tới 3 dạng: rễ củ, thân hành, thân củ như sau:
Rễ củ: Ở một số cây, rễ phồng to và nạc, chứa chất dự trữ tạo thành rễ
củ Rễ củ là dạng biến động của rễ và có sự tham gia của trụ trên và dưới lá mầm Rễ củ có thể phát triển thành rễ chính, như Củ cải, Cà rốt (trong trường hợp này rễ củ có mang các rễ bên, gồm có phần đầu mang các lá và có rễ chính thức) hoặc có thể phát triển từ rễ bên như Sắn, Khoai lang,
Thân hành: Hình quả lê, hình cầu dẹt, hình trứng, gồm các bẹ lá (phần xòe rộng của gốc lá) xếp úp lên nhau, chứa chất dự trữ Các bẹ đó gọi là vảy hành Nằm giữa các vảy đó là chồi ngọn, nách các vảy có thể có chồi nách, từ
đó có thể phát triển các hành non Thân chính ở đây thường rất ngắn, hình nón hay hình đĩa, mang nhiều rễ phụ ở phía dưới
Thân củ: Là loại thân hoặc cành phồng lên, tích chứa chất dự trữ Thân củ có thể hình thành trên mặt đất và có màu lục (như Su hào), hoặc hình thành ở dưới đất (như Khoai tây) Mỗi củ Khoai tây do một cành biến đổi, khi nằm trong đất nó không chứa diệp lục, nhưng để ra ngoài sáng nó lại có màu lục [22]
Trang 12Thực vật nước ta rất phong phú và đa dạng Ở mỗi loài cây lại có lợi ích khác nhau đối với cuộc sống của con người Con người luôn luôn tìm tòi để
có hiểu biết hơn về thế giới thực vật, từ đó khai thác các giá trị khác nhau để phục chính nhu cầu cuộc sống
Theo Võ Văn Chi và Trần Hợp trong "Cây cỏ có ích ở Việt Nam" (2002)
đã chia ra 11 nhóm cây có ích bao gồm: nhóm cây cung cấp gỗ; nhóm cây cho sợi; nhóm cây có nhựa mủ, gôm, tinh dầu; nhóm cây cho dầu béo, sáp mỡ; nhóm cây cho dầu thơm (hương liệu); nhóm cây cho tanin, chất nhuộm; nhóm cây làm thuốc, diệt sâu bọ, cỏ dại; nhóm cây làm lương thực, cây cho bột, đường; nhóm cây làm thực phẩm; nhóm cây làm thức ăn gia súc và nhóm cây cho gia vị, nước uống Cây có củ được xếp vào nhóm cây làm lương thực [6]
Trong đó, củ tạo thành có thể là thân, rễ, thân ngầm của các loài cây cho củ chứa các chất dinh dưỡng Có khoảng 261 loài trong 90 chi và 50 họ thực vật với nhiều loài cho củ trở thành cây lương thực như Khoai tây, Sắn, Khoai lang [6]
Theo GS.TS Nguyễn Văn Luật thì cây có củ chiếm một vị thế đáng kể trong cơ cấu lương thực của nước ta Vị thế của cây có củ lương thực có lẽ đạt đỉnh cao vào những khi thiếu gạo, mà đỉnh cao nhất vào thời gian trước năm
1945 Hồi trước cách mạng (1945), người dân quê thường phải ăn độn Khoai lang, Khoai tây và các loại củ khác bù cho gạo thiếu trong bữa ăn của người nghèo, chưa kể đến Rau má, củ Chuối, nõn Khoai bông,… Từ sau đổi mới (sau 1986), không những ta đủ gạo ăn mà còn dư cho xuất khẩu hàng triệu tấn, thì cây có củ lại bị quên đi Cần khôi phục và phát triển vị thế vốn có của
củ lương thực, không những vì an ninh lương thực và để có nhiều gạo xuất khẩu mà là để ăn ngon hơn
Trong tài liệu "1900 loài cây có ích" của Trần Đình Lý và cộng sự (1993) đã xếp các loài cây theo các nhóm công dụng khác nhau Nhiều loài
Trang 13cây có củ dùng làm thức ăn cho người và gia súc, dùng làm thuốc, làm gia vị, [20]
Theo tổ chức Y tế thế giới, khoảng 80% dân số thế giới sử dụng các loài cây thuốc cho chăm sóc sức khỏe ban đầu, khoảng 70-80% dân số các vùng nông thôn lấy cây thuốc làm nguồn thuốc chữa bệnh chủ yếu [14] Người Việt
đã biết khai thác tiềm năng làm thuốc của các loài thực vật có củ để nâng cao sức khỏe, chữa trị và phòng tránh bệnh tật từ rất xa xưa Danh y Hải Thượng Lãn Ông đã chỉ rõ rằng người Việt Nam sống trên nguồn tài nguyên thuốc nhiệt đới, phải biết phát huy nguồn thực phẩm rau, hoa, quả, củ thường ngày làm thuốc chữa bệnh [10]
Cuốn sách "Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam" của Đỗ Hữu Bích và cộng sự (2004) đã mô tả đặc điểm phân loại cũng như công dụng làm thuốc của nhiều loài động, thực vật ở Việt Nam, trong đó có nhiều cây có củ [4]
Trong "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" của tác giả Đỗ Tất Lợi xuất bản năm 2004 đã sắp xếp các loài cây theo công dụng làm thuốc của chúng, trong đó có nhiều loài cây có củ được xếp vào các nhóm như: cây thuốc và vị thuốc cầm máu (Riềng), chữa bệnh đường tiêu hóa (Gừng, Gừng gió, Khoai riềng, Tỏi, ), chữa cảm sốt (Hành, Củ ấu, )[18]
Một khía cạnh khác về tác dụng của các loài cây có củ được Trần Công Khánh, Phạm Hải nghiên cứu trong "Cây độc ở Việt Nam" đã đề cập tới những bộ phận gây độc cũng như giải độc của một số loài cây như: hạt của Củ đậu có độc, gây nghiêm trọng đến tính mạng con người khi ăn nó, còn loài Sắn dây lại là một loài mà củ của chúng có tác dụng giải độc [15]
Trong cuốn "Từ điển cây thuốc Viêt Nam" của Võ Văn Chi (2012) đã giới thiệu về đặc điểm và công dụng của rất nhiều loài thực vật được sử dụng làm thuốc trong đó có nhiều loài có củ như Gừng, Riềng, Cà rốt, Su hào, Khoai lang, [5]
Trang 14Sự nghiên cứu chuyên sâu vào công dụng của thực vật đảm bảo sự tìm tòi và khai thác những tiềm năng ẩn chứa trong thực vật, không thể không nhắc tới tiềm năng tinh dầu - nguồn nguyên liệu tự nhiên đặc trưng ở thực vật, trong cuốn sách "Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam" của Lã Đình Mỡi và cộng sự đã chỉ ra nhiều chi thực vật cho tinh dầu trong đó phải kể tới các chi trong họ Gừng (Zingiberaceae) trong đó có các chi: chi Gừng
(Zingiber) đã thông kê và mô tả tóm tắt 11 loài (theo Phạm Hoàng Hộ, 1993), chi Riềng (Curcuma) có 15 loài (theo danh lục các loài thực vật Việt Nam, 2005), chi Nghệ (Apinia) theo thống kê của Nguyễn Quốc Bình (1994) có 24
loài thuộc chi này và tinh dầu có trong hầu hết các bộ phận (lá, hoa, 'thân', thân rễ) của các loài trong các chi trên [21]
Màu sắc là cảm giác mang đến cho con người để cảm nhận được các nét đẹp trong thế giới sinh vật, trong cuộc sống cũng như tập quán, văn hóa của mỗi dân tộc, nhiều loài cây có củ được dùng để làm các nguyên liệu nhuộm
màu như: Củ nâu (Dioscorea cirrhosa Lour.), Củ nâu dài (Dioscorea sp.) dùng để nhuộm nâu; lá Riềng (Apinia officinarum Hance.) dùng nhuộm gạo màu xanh; Nghệ (Curcuma longa L.) lấy củ để nhuộm gạo, lá dùng nhuộm sợi màu xanh; Nghệ đen (Curcuma zedoaria Rosc.), củ dùng để nhuộm gạo
và tơ; Gừng (Zingiber officinale Rosc.) dùng lá để nhuộm gạo màu xanh
Khi nhắc đến cây có củ, một phần không thể thiếu trong công dụng của chúng chính là làm đẹp, những bài thuốc làm đẹp từ thiên nhiên rất được ưa chuộng, đây là điều rất được chị em phụ nữ quan tâm như: tác dụng của
Khoai tây (Solanum tuberosum L 1753) làm sáng da, Cà rốt (Daucus carota
L 1753) giúp làm da mịn màng, tươi tắn,
Trong cuốn cẩm nang làm đẹp "Những phương thuốc làm đẹp từ củ và hạt" của tác giả Thiên Kim xuất bản năm 2009 đã giới thiệu tác dụng làm đẹp của nhiều loài củ như Khoai lang, Khoai tây, Khoai môn [16]
Trang 15Đối với việc chăm sóc sản phụ, "101 cây thuốc với sức khỏe sinh sản phụ nữ" của Phạm Trương Thị Thọ, Đỗ Huy Ích có nhắc tới công dụng của
Cà rốt (Daucus carota L.) làm thuốc hạn chế sinh sản như có tác dụng gây sẩy thai, chống sinh sản; Củ gấu (Cyperus rotundus L.) tác dụng lên oestrogen); Sắn dây (Pueraria montana var chinensis (Ohwi) Maesen.) gây
sẩy thai [27]
Do có nhiều tiềm năng khai thác, con người cố gắng tận dụng các sản phẩm quý từ thực vật, cũng vì mục đích kinh tế, người nông dân đã thay thế những loài cây truyền thống bằng những loài có thể giúp họ có được nguồn kinh tế cao hơn từ đó làm cho nhiều loại cây bị mất đi trong địa phương Nam Viêm cũng là một trong những địa phương như vậy, nhiều loài cũng đang bị mất đi trong nhiều thôn của xã Đây cũng là khu vực được chúng tôi lựa chọn
để tiến hành nghiên cứu với đề tài “Nghiên cứu đa dạng về thành phần loài
cây có củ tại xã Nam Viêm - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc” để lập danh
lục các loài cây có củ ở khu vực nghiên cứu rồi từ đó đánh giá và đưa ra các biện pháp góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên này Vì đây là đề tài mới nghiên cứu ở địa phương nên những kết quả nghiên cứu của chúng tôi thực hiện được chỉ là các kết quả bước đầu
Trang 16Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài cây có củ được trồng cũng như cây mọc hoang dại hay xuất hiện trong các phiên chợ tại xã Nam Viêm
điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế, dân sinh; các báo cáo thống kê về tình hình sản xuất nông lâm nghiệp để thu thập thông tin về cây có củ đã trồng trên địa bàn Tìm hiểu các tài liệu nghiên cứu về cây có củ của địa phương đã
có trước đó hay không rồi tiến hành điều tra
Khảo sát địa điểm nghiên cứu
Tiến hành xác định địa điểm nghiên cứu, từ đó chụp ảnh về địa điểm nghiên cứu, các loài cây có củ tìm thấy trên đường đi và trong quá trình nghiên cứu
Phương pháp điều tra cộng đồng
Trong quá trình nghiên cứu thành phần cây có củ, chúng tôi đã sử
dụng hai phương pháp điều tra chính là RRA và PRA [28]
Trang 17RRA (Đánh giá nhanh nông thôn) là quá trình nghiên cứu dựa trên thông tin thu thập được, quan sát trực tiếp và phỏng vấn mà ở đó giả định rằng tất cả các câu hỏi liên quan không được xác định trước (theo James Beebe, 1985) hay nói theo cách khác: RRA đề cập đến một phương pháp tiếp cận nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc học một cách nhanh chóng và trực tiếp từ người dân địa phương RRA cho phép lấy được kiến thức địa phương và thu nhận được thông tin và sự hiểu biết của người dân địa phương bằng việc sử dụng các công cụ và phương pháp kết hợp (theo Bill Jackson và Andrew Angles, 1995) [23]
PRA (Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân) là một loạt các phương pháp tiếp cận và phương pháp cho phép người dân nông thôn cùng chia sẻ, nâng cao và phân tích kiến thức của họ và đời sống và tạo điều kiện nông thôn để lập kế hoạch và hành động (theo Robert Chambers, 1994) [23]
Một số kĩ năng trong phỏng vấn PRA:
- Phỏng vấn: Sử dụng một số câu hỏi cho những người được chọn Trong khi phỏng vấn, yêu cầu đưa ra tên các cây có củ mà họ trồng trong vườn hay ngoài ruộng, những cây có củ mà họ biết mà xuất hiện trong địa phương
+ Phỏng vấn mở: Đó là dạng phỏng vấn tự do, có thể hỏi bất cứ điều gì liên quan đến đề tài nghiên cứu
+ Phỏng vấn theo cấu trúc: Điều tra phỏng vấn sử dụng một cách
cẩn thận các câu hỏi được thiết kế và mục đích phương pháp để có thông tin
đặc trưng và tin cậy từ một người thu thập riêng lẻ
+ Phỏng vấn bán cấu trúc: Người được phỏng vấn tự do nói những quan tâm của chính họ và để chia sẻ trực tiếp sự xuống cấp của bảo tồn Người phỏng vấn tin tưởng vào những câu hỏi mở để giới thiệu đề tài quan tâm [28]
Trang 18+ Phỏng vấn chéo: Là cách phỏng vấn để kiểm tra thông tin của người khác đã đưa ra trong các lần phỏng vấn [23]
Sử dụng phiếu điều tra
Phiếu điều tra sử dụng được thể hiện trong phiếu 2.1 và phiếu 2.2 (Phần phụ lục)
Tiến hành thu thập mẫu
Tiến hành thu các mẫu cây có củ ở địa điểm nghiên cứu Trong trường hợp với những loài phổ biến đã dễ xác định tên loài thì có thể xác định ngay tên loài trên thực địa Các mẫu được thu thập cần đầy đủ cơ quan sinh dưỡng (rễ, thân, lá, hoa, quả, ), đảm bảo không bị giập nát, gãy, [28]
Kết quả sau mỗi đợt điều tra được tập hợp lại Các thông tin dạng thô cần được xử lí, chỉnh lí lại tên, công dụng cho thống nhất, phân nhóm công dụng, dạng sống, Sau khi có kết quả từ việc xác định tên khoa học, các thông tin cùng loài sẽ được nhập với nhau Các thông tin sẽ được xem xét, kiểm tra, đối chiếu và thống nhất lại [23]
Trang 19Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thành phần loài cây có củ tại xã Nam Viêm
Trong quá trình nghiên cứu bước đầu, chúng tôi đã bước đầu điều tra được thành phần cây có củ tại xã Nam Viêm thu được 33 loài cây có củ thuộc
27 chi nằm trong 21 họ thực vật hạt kín Căn cứ vào "Danh lục các loài thực vật Việt Nam", tập 2 và tập 3 của Nguyễn Tiến Bân và quan điểm về cây có
củ trong cuốn "Giải phẫu hình thái học thực vật" của Hoàng Thị Sản và Trần Văn Ba, chúng tôi đã lập được danh lục các loài cây có củ tại xã Nam Viêm được thể hiện trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Danh lục các loài cây có củ tại xã Nam Viêm
Nam
Dạng sống
Nguồn gốc
Nơi sống
Công dụng
Họ Măng tây - Asparagaceae Juss 1789
Trang 20Họ Hoa tán - Apiaceae Linld 1836
TD
Họ Náng - Amarylliaceae Jaume, 1805
Họ Ráy - Araceae Juss 1789
Họ Ngũ gia bì - Araliaceae Juss 1789
Họ Cải - Brassicaceae Burn 1835
longipinnatus Bailey, 1923 Cải củ Thảo T R L-T, T
Họ Dong riềng - Cannaceae Juss 1789
L-T,
T, C
Họ Khoai lang - Convolvulaceae Juss 1789
1791
Khoai
Trang 2119 Cyperus rotundus L 1753 Cỏ gấu Thảo D R,V T
Họ Củ nâu - Dioscoreaceae R.Br.1810
Họ Thầu dầu - Euphorbiaceae Juss 1789
Họ Đậu - Fabaceae Lindl 1836
Họ Lay ơn - Iridaceae Juss 1789
Họ Hoàng tinh - Marantaceae Peter 1888
Họ Chuối - Musaceae Juss 1789
Họ Sen - Nelumbonaceae Dumort 1829
đỏ
Họ Hòa thảo - Poaceae Barnh 1895
Trang 22T: Thuốc G: Gia vị TD: Tinh dầu C: Cảnh
Từ bảng danh lục trên, có tới 33 loài cây có củ đƣợc tìm thấy tại xã Nam Viêm thuộc 27 chi trong 21 họ Họ có nhiều loài nhất là họ Hành (Alliaceae) với 6 loài; chiếm 18,75% tổng số loài; có thể kể tới các loài nhƣ: Hành ta
(Allium ascalonicum L 1759), Hành tây (Alium cepa L 1753), Tỏi (Allium sativum L 1753) Họ Ráy (Cyperaceae) có 3 loài; chiếm 9,38% tổng số loài, thuộc 2 chi là Alocasia và Colocasia Họ Gừng (Zingiberaceae) cũng có 3 loài: Riềng (Alpinia officinarum Hance, 1872.), Nghệ (Curcuma longa L.1753), Gừng (Zingiber officinale Rosc 1807); chúng thuộc 3 chi: Apinia, Curcuma, Zingiber Các họ còn lại có 1 đến 2 loài: họ Cải (Brassicaceae), họ