CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN “NHÀN” CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM GẮN LIỀN VỚI ĐỜI SỐNG THỰC TIỄN .... Trước thực tế khó khăn trong việc dạy và học tác phẩm trữ tình phần văn học Việ
Trang 1(NGUYỄN BỈNH KHIÊM) GẮN LIỀN
VỚI ĐỜI SỐNG THỰC TIỄN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI - 2014
Trang 2(NGUYỄN BỈNH KHIÊM) GẮN LIỀN
VỚI ĐỜI SỐNG THỰC TIỄN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
Th.S NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các Thầy Cô giáo trong khoa Ngữ Văn – Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 và đặc biệt là các thầy cô trong tổ phương pháp dạy học Ngữ Văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc của mình tới cô giáo – Thạc sỹ Nguyễn Thị Mai Hương, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình tôi hoàn thành khóa luận này
Mặc dù đã có cố gắng tìm tòi nhất định, song chắc chắn trong quá trình hoàn thành khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thấy cô và tất cả các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Sinh Viên
Ngô Thị Phương Chúc
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của Thạc sĩ Nguyễn Thị Mai Hương, chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào Nếu có gì sai sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm theo đúng quy định của việc nghiên cứu khoa học
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Sinh Viên
Ngô Thị Phương Chúc
Trang 5DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Đối tượng nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Dự kiến đóng góp 5
9 Bố cục của khóa luận 5
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 6
1.1 Cơ sở lý luận 6
1.1.1 Khái niệm văn học trung đại……… 8
1.1.2 Khái niệm thơ trữ tình……… 8
1.1.3 Khái niệm thơ trữ tình trung đại Việt Nam… 8
1.1.4 Đặc trưng của thơ ca trung đại……… 10
1.2 Cơ sở thực tiễn 13
1.2.1 Thực trạng tiếp nhận văn bản trữ tình ở trường THPT hiện nay 14
1.2.2 Đọc hiểu văn bản thơ trung đại gắn với đời sống 16
CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN “NHÀN” CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM GẮN LIỀN VỚI ĐỜI SỐNG THỰC TIỄN 18
2.1 Các biện pháp chung……… 18
2.1.1 Đọc tiếp cận văn bản “Nhàn” (Nguyễn Bỉnh Khiêm) 18
Trang 72.1.2 Tái hiện hình tượng nhân vật 23 2.1.3 Phân tích, cắt nghĩa văn bản “Nhàn” 23 2.1.4 Đánh giá cảm xúc của nhân vật trữ tình 25
2.2 Biện pháp dạy học văn bản “Nhàn” (Nguyễn Bỉnh Khiêm) gắn liền với đời sống thực tiễn 25
2.2.1 Định hướng dạy học văn bản “Nhàn” (Nguyễn Bỉnh Khiêm) trong trường THPT gắn với đời sống thực tiễn 25 2.2.2 Quan niệm nhân sinh mới mẻ trong văn bản “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm 39
CHƯƠNG 3 GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 42
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Môn Ngữ văn có vai trò đặc biệt quan trọng trong nhà trường nó giữ vai trò là bộ môn học chính Vì vậy, vấn đề giảng dạy Ngữ văn trong nhà trường THPT cũng cần được chú ý quan tâm Bởi văn học là tri thức đời sống Học văn là học cách cảm nhận cuộc sống Tiếp nhận vốn tri thức văn học là tiếp nhận vốn tri thức có khả năng đem lại cho con người vốn hiểu biết sâu rộng
Tuy nhiên vấn đề dạy và học Ngữ văn trong nhà trường THPT hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu trên Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hậu quả đó: trước hết do một bộ phận không nhỏ học sinh chưa thực sự hứng thú với môn văn, chưa tìm được lợi ích trong việc học văn Tiếp đó là một số giáo viên chưa tâm huyết với bài giảng của mình, còn hời hợt trong việc dạy – dạy cho xong tiết Hơn nữa trong thực trạng xã hội hiện nay có nhiều khối thi, ngành nghề cho học sinh lựa chọn, các em thường thiên về những môn thuộc khoa học tự nhiên hơn là những môn thuộc hoa học xã hội nên dẫn tới việc sao nhãng với các môn khoa học xã hội trong đó có bộ môn Ngữ văn Văn chương trong nhà trường thường quá xa dời đời sống thực tiễn, nặng kiến thức giáo điều Chính vì vậy dẫn tới một cách học ăn sâu vào tiềm thức học sinh là cách học đối phó, thiếu kiến thức thực tế
Đối với việc đọc hiểu văn bản văn học trung đại (TK X – XIX) thuộc thể loại thơ trữ tình trung đại Do có khoảng cách về mặt thời gian, về tư duy nghệ thuật, về cách tiếp cận nên việc dạy và học tương đối khó
Trước thực tế khó khăn trong việc dạy và học tác phẩm trữ tình phần văn học
Việt Nam trung đại chúng tôi lựa chọn đề tài: Đọc - hiểu văn bản Nhàn
(Nguyễn Bỉnh Khiêm) gắn liền với đời sống thực tiễn, với hi vọng đổi mới
phương pháp tiếp cận văn bản trữ tình trung đại ở trường THPT giúp giờ học Ngữ văn hấp dẫn và có ý nghĩa hơn
Trang 92 Lịch sử vấn đề
Văn học trung đại Việt Nam từ TKX - XIX là một trong những giai đoạn hình thành và phát triển rực rỡ của văn học Việt Nam Trong chương trình THPT văn học trung đại Việt Nam được đưa vào giảng dậy và chiếm một phần không nhỏ Vì vậy việc dạy và học thơ trữ tình trung đại Việt Nam sao cho hiệu quả là mục tiêu hầu hết của các giáo viên
Bàn về phương pháp dạy học và dạy học văn có từ rất sớm, xuất phát đầu tiên ở các nước phương Tây Xuất hiện với một số cuốn sách như:
Phương pháp dạy luận học văn của IA.REZ: Trình bày phương pháp
học một cách rất cụ thể Nhấn mạnh vai trò đọc sáng tạo coi đó là phương pháp đặc thù nhằm phát triển năng lực cảm thụ của học sinh Cảm thụ văn học trên phương diện nghệ thuật thông qua đọc - hiểu
Phương pháp dạy học văn ở trường THPT của V.A Nhiconxki (Ngọc
Toàn và Bùi Lê dịch) có vị trí và vai trò chủ đạo đối với người học trong nhà trường và hoạt động đọc diễn cảm trong quá trình tiếp nhận
Ở Việt Nam những năm 80, những cuốn sách bàn về đọc văn và học
văn: Cảm thụ văn học giảng dạy văn học, GS Phan Trọng Luận: Tầm quan
trọng của việc đọc, đọc từng câu, từng chữ không thể nhảy cóc Đọc không chỉ dừng lại ở việc quan sát bề mặt câu chữ mà phải thấy được bề sâu tầng ý
nghĩa mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm: Văn học và nhân cách, GS
Nguyễn Thanh Hùng cũng nhấn mạnh tới sự phát triển của quá trình đọc được hoạt động liên tưởng, tưởng tượng và giới thiệu nghệ thuật
Theo giáo sư Nguyễn Sĩ Cần, dạy học thơ cổ phải xuất phát từ kết cấu, xuất phát từ ngôn ngữ thơ Đường và phải xuất phát từ đặc điểm tổng hợp trong thơ cổ Trong hướng xuất phát từ kết cấu, tác giả cho rằng: “Với thơ Đường luật nên áp dụng theo phương pháp bổ ngang dựa theo kết cấu bài thơ
mà phân tích Theo hướng xuất phát từ ngôn ngữ thơ Đường tác giả chỉ rõ:
Trang 10thơ xưa hàm xúc nên việc nghiên cứu, giảng dạy cần coi trọng khai thác từng tiếng, từng từ
Tác giả Phan Trọng Luận và Hoàng Hữu Bội cho rằng: muốn hiểu thơ
cổ trước tiên phải hiểu nghĩa của từ cổ Theo các tác giả để lĩnh hội nghĩa của ngôn từ thơ cổ, người học cần phải chú ý tới các vấn đề: phải tích lũy cho mình vốn từ phong phú, đa dạng, có tri thức về những cách dùng từ trong thơ cổ
Trong bài viết “Dạy đọc hiểu là nền tảng văn hóa cho ngưới đọc” tác
giả chỉ ra đọc hiểu sẽ giúp hình thành và củng cố, phát triển năng lực, nắm vững và sử dụng Tiếng Việt thành thạo Từ bình diện văn hóa ấy bài viết xác định: Đọc là hoạt động văn hóa có ý nghĩa cơ bản cho sự phát triển nhân cách
Tất cả các nghiên cứu văn chương cho rằng đọc là hoạt động tiếp nhận đầu tiên của nghiên cứu văn chương Các ngành nghiên cứu đã nhấn mạnh vai trò của đọc - hiểu và giảng dạy văn bản trữ tình trung đại trong nhà trường THPT Dựa vào nghiên cứu trên trong khóa luận này chúng tôi tiến hành tổ
chức: Đọc - hiểu văn bản Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm) gắn liền với đời
sống thực tiễn
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm mục đích:
Xác lập các hoạt động dạy, các bước dạy văn bản “Nhàn” (Nguyễn
Bỉnh Khiêm) theo hướng đọc - hiểu
Làm rõ các vấn đề xoay quanh dạy văn gắn với đời sống thực tiễn Khóa luận này đi nghiên cứu đặc điểm thể loại thơ trữ tình trung đại góp phần xây dựng quy trình dạy văn gắn với đời sống
Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học thể loại thơ trung đại ở trường THPT theo dạy văn là dạy học sinh biết cách làm người – con người không chỉ có tri thức mà còn có khả năng thích ứng cao, biết giao tiếp ứng xử trong đời sống
Trang 114 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận thực hiện những nhiệm vụ sau:
Tìm hiểu cơ sở của dạy văn gắn với đời sống và quy trình dạy học đọc hiểu văn bản thơ trung đại ở trường THPT gắn với đời sống thực tiễn
-Vận dụng những hiểu biết trên để đọc – hiểu văn bản “Nhàn” của
Nguyễn Bỉnh Khiêm (SGK Ngữ văn 10 tập 1 Nxb GD) trong trường THPT gắn liền với đời sống thực tiễn
5 Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi tập trung nghiên cứu:
Phương pháp dạy học Ngữ văn
Lý thuyết đọc – hiểu, đọc – hiểu gắn với đời sống thực tiễn
Vận dụng và hướng dẫn học sinh biết đọc – hiểu văn bản “Nhàn” của
Nguyễn Bỉnh Khiêm (SGK Ngữ văn lớp 10 tập 1 Nxb Gd) trong nhà trường THPT gắn với đời sống thực tiễn
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi các đặc trưng chung của thể loại thơ trung đại mà cụ thể là thơ trữ tình trung đại Đặc biệt đi sâu vào hoạt động hướng dẫn đọc - hiểu văn bản Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm) trong tường THPT gắn liền với đời sống thực tiễn
Do năng lực có hạn, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu thực nghiệm ở một văn bản, nếu có điều kiện chúng tôi sẽ mở rộng phạm vi nghiên cứu ở đề tài sau
7 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp lý thuyết: Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp
so sánh đối chiếu
Trang 12Phương pháp thực nghiệm: Vận dụng lý thuyết đọc – hiểu vào thiết kế bài giảng văn bản Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm (SGK Ngữ văn lớp 10 tập 1) trong trường THPT gắn liền với đời sống thực tiễn
Bên cạnh đó khóa luận góp phần hình thành và phát triển khả năng tìm tòi nghiên cứu khoa học của người viết
9 Bố cục của khóa luận
Trang 13Theo SGK Ngữ văn nâng cao lớp 10: Đọc là “hoạt động nắm bắt ý nghĩa trong các kí hiệu của văn bản, khác với nghe là hoạt động nắm bắt ý nghĩa từ tín hiệu âm thanh” Đọc ở đây đòi hỏi hiểu sâu nội dung từ ngữ, tình cảm, cái đẹp của văn bản và có thể sử dụng văn bản đó vào đời sống cá nhân
Trang 14Sách giáo viên Ngữ Văn 6 là cuốn sách đầu tiên nêu lên khái niệm đọc hiểu Về phương pháp đọc hiểu cách làm chủ yếu vẫn là bằng hình thức nêu câu hỏi hướng dẫn nhưng nhấn mạnh phương châm đề cao công việc hoạt động của học sinh, nhằm tìm hiểu văn bản theo 3 hướng sau: đọc - hiểu, suy nghĩ - vận dụng, liên tưởng - tích lũy của phương pháp dạy học hiện đại
Từ những ý kiến và hiểu biết trên, chúng tôi đi đến xác lập khái niệm
về phương pháp đọc - hiểu trên tinh thần tham khảo và học hỏi:
Theo nghĩa rộng, đọc - hiểu là thuật ngữ chỉ chung cho phương thức và mục đích của việc lĩnh hội tri thức và nắm bắt thông tin Đó là hoạt động nhận thức nói chung thông qua con đường giải mã văn bản ngôn từ
Theo nghĩa hẹp, đọc - hiểu là hoạt động thưởng thức nghệ thuật ngôn
từ, hưởng thụ thẩm mỹ của con người Nó bao gồm nhiều hành động thể chất
và thao tác tư duy (tưởng tượng, liên tưởng, phán đoán…) để đi đến đích là cảm hiểu và thể nghiệm được nội dung, ý nghĩa của văn bản
Như vậy đọc - hiểu không đơn giản là một kỹ năng như nhiều người đã quan niệm mà nó chính là một con đường nhằm thu nhận kiến thức Đọc –hiểu là một thuật ngữ có hai phạm trù khác nhau là “đọc và hiểu” nhưng lại có mối liên hệ mật thiết, gắn bó liên kết với nhau trong quá trình lĩnh hội, tiếp nhận tác phẩm văn học Nói cách khác đọc nhằm mục đích hiểu để làm giàu vốn tri thức, vốn sống vốn văn hóa, hoàn thiện tâm lý và nhân cách cho bản thân ngày càng tốt hơn Đọc để hiểu các kỹ năng, phương pháp làm việc khoa học sáng tạo, đạt hiệu quả trong công việc của bản thân
Để đọc – hiểu một văn bản văn học cần trải qua năm bước:
Bước 1: Tạo tâm thế tiếp nhận văn bản văn học cho học sinh
Bước 2: Tri giác ngôn ngữ nghệ thuật hay chính là giúp học sinh đọc hiểu khái quát văn bản
Bước 3: Tái hiện hình tượng văn học
Trang 15Bước 4: Phân tích cắt nghĩa, khái quát hóa ý nghĩa nghệ thuật bằng phương pháp đàm thoại diễn giảng…
Bước 5: Đánh giá và liên hệ thực tiễn
1.1.1 Khái niệm văn học trung đại
Thể loại văn học là dạng thức của tác phẩm văn học được hình thành và phát triển tương đối ổn định trong quá trình phát triển của lịch sử văn học thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tổ phẩm, về các loại đặc điểm của hình tượng đời sống và tính chất mối quan hệ giữa nhà văn và các hiện tượng đời sống ấy
Mỗi thể loại văn học lại có đặc điểm riêng về nội dung và hình thức nhằm đáp ứng và phản ánh phù hợp với hiện tượng đời sống, quan điểm, tư tưởng mà nhà văn muốn gửi gắm, phản ánh Chính vì thế sự phân chia thể loại
là điều không thể thiếu Nhìn chung cho đến nay còn nhiều sự tranh luận xung quanh vấn đề phân chia thể loại nhưng với giới hạn của đề tài về vấn đề dạy dạy học đọc hiểu theo đặc trưng thể loại gắn liền với đời sống thực tiễn nên bài viết này chỉ đi sâu vào thể loại trữ tình mà cụ thể là thể loại trữ tình trung đại
Đây là một khái niệm mà các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam dùng
để chỉ dòng văn học viết của Việt Nam bắt đầu từ TK X kéo dài đến hết TK XIX Dòng văn học này tồn tại và phát triển trong khuôn khổ xã hội phong kiến có nền văn hóa riêng, hệ tư tưởng mĩ học riêng, do đó về hình thức cũng
có hệ thống thi pháp riêng, những quy luật vận động và kết tinh riêng
1.1.2 Khái niệm thơ trữ tình
Thơ trữ tình là: “thuật ngữ chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình trong đó có những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả
Trang 16năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm, từ các cung bậc
của tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học Thuật ngữ
thơ trữ tình được sử dụng nhằm phân biệt với thơ tự sự thuộc loại tự sự Tùy theo truyền thống văn học cụ thể người ta có thể phân loại thơ trữ tình theo nhiều cách khác nhau”
1.1.3 Khái niệm thơ trữ tình trung đại Việt Nam
Theo giáo sư Trần Đình Sử: Xét về tên gọi trong quá khứ các nhà thơ trung đại Việt Nam chưa bao giờ gọi thơ mình là thơ trữ tình Trữ tình là một khái niệm hiện đại, mặc dù trong cửu chương của Khuất Nguyên có thể tìm thấy hai chữ trữ tình song nó chưa trở thành thuật ngữ trong thời trung đại Phần lớn làm thơ trong các dịp tiễn tặng, họa thơ người khác, đề thơ kỉ niệm, tức cảnh tức sự, thư sự tức là làm thơ theo sự đòi hỏi, khêu gợi của ngoại cảnh Khi muốn tự bộc lộ nỗi lòng thì họ gọi là “ngôn hoài, thuật hoài, ngôn chí, tự thuật, mạn thuật, trần tình Những tên gọi này rất đúng chủ ý “Chí”,
“tình”, “hoài”, “sự”, “cảnh” là nội dung trữ tình còn “thuật”, “ngôn”, “tự”,
“trần” là cách trữ tình, thuật là kể, tự cũng là kể, ngôn là nói ra, là tuyên bố cho mọi người biết, “trần” là bày tỏ Có thể xem đó là những dấu hiệu đặc trưng của ý thức trữ tình truyền thống: trữ tình bằng cách thuật kể nỗi lòng mình, cảm xúc chí hướng của mình Tác giả chỉ rõ trong tập giảng văn chinh phụ ngâm ông Đặng Thai Mai có nhận xét sâu sắc về lối thơ tự tình của khúc ngâm này đối lập tự tình với trữ tình, và trữ tình cũng đối lập với tự sự, bởi nó
là một cách thức trữ tình trung đại phương Đông Thậm chí ông còn gọi đó là văn chương tự tình Khái niệm đó rất đúng và có thể áp dụng cho toàn bộ thơ trữ tình trung đại việt Nam
Từ quan niệm của giáo sư Trần Đình Sử và vận dụng khái niệm đã nêu
ở trên chúng ta có thể hiểu khái niệm thơ trữ tình trung đại như sau: Là loại thơ do các nhà thơ trung đại Việt Nam sáng tác để biểu thị những cảm xúc
Trang 17suy tư, tư tưởng tình cảm của họ hoặc của nhân vật trữ tình trước hiện tượng
đời sống được thể hiện một cách trực tiếp
1.1.4 Đặc trung của thơ ca trung đại
1.1.4.1 Thơ ca trung đại mang tính quy phạm
Tính quy phạm được thể hiện cả ở nội dung và hình thức Tài nghệ của nhà thơ chủ yếu được đong đếm ở kỹ thuật đúc chữ, luyện câu, điểm nhãn sao cho cân xứng hài hòa Nếu chưa làm được diều đó nghĩa là chưa “cao tay” Việc làm thơ vì thế nhiều khi trở thành “trò chơi” kĩ thuật mặc dù ai cũng thừa nhận gốc của thơ là tình
Nhìn một cách tổng quát tính quy phạm trong thơ ca trung đại được thể hiên ở các phương diện cơ bản sau:
Về quan niệm: Văn học trung đại đề cao mục đích giáo huấn, tôn thờ tư tưởng trung quân ái quốc
Về tư duy nghệ thuật: Ưa tìm đến những khuôn mẫu nghệ thuật được coi là “vàng ngọc”
Về thể loại: Chủ trương niêm luật chặt chẽ, đúng quy cách
Về mặt ngôn ngữ: Ưa tìm đến cách nói trang nhã, ưa dùng điển cố, điển tích…
Rõ ràng những đặc trưng trên đây cho thấy quan niệm nghệ thuật của thời trung đại đã vươn đến độ hoàn chỉnh “Trọng tâm của văn chương trung đại đặt ở nghệ thuật ngôn từ Đỗ Phủ từng nói: “Chữ dùng chưa kinh động lòng người thì chết chưa yên” Mỗi bài thơ xuất sắc theo họ phải có nhãn tự, thần cú
1.1.4.2 Kiểu nhà thơ trung đại
Nhìn một cách tổng quát kiểu nhà thơ trung đại là nhà thơ “ngôn chí” Nhà thơ trung đại Việt Nam thuộc mô hình kiểu nhà thơ trung đại Trung Hoa
Đó là kiểu nhà thơ “tâm vật cảm ứng” Trong kiểu tác giả này, việc “ngôn
Trang 18chí”, tỏ lòng được đặt lên hàng đầu Các nhà thơ trung đại, mặc dù nhấn mạnh phải “chú trọng ở quy cách” nhưng họ cũng hiểu rằng gốc của thơ là ở “tính tình” (ý của Cao Bá Quát) Nhưng kiểu ngôn chỉ tỏ lòng trong thơ trung đại khác với sự thành thực trong thơ hiện đại
Tìm hiểu kiểu nhà thơ trung đại Việt Nam thiết tưởng phải chú ý đến hai loại hình thơ ca: thơ của các nho sĩ và thơ của các chân tu, tăng lữ Thơ thiền là thơ tìm đến thế giới siêu nhiệm trong thế giới kinh nghiệm Thơ thiền thể hiện sự “đốn ngộ”, giây phút lóe sáng nào đó khi đạt tới tự do tuyệt đối, thoát khỏi vòng mê muội
Về loại hình các thơ nho, có ba loại: nhà nho hành đạo, nhàn lạc đạo và nhà nho tài tử
1.1.4.3 Chủ thể trữ tình trong thơ trung đại
Các nhà thơ trung đại đã thực hiện những cuộc giao tiếp “gián cách” vì thế chủ thể trữ tình thường ẩn kín Sự kín đáo ấy gắn liền với nguyên tắc xây dựng hình tượng con người trong thơ trung đại
Con người trong thơ trung đại là con người siêu cá thể chứ không phải con người phi ngã Thời nào, văn thơ nào (trừ văn chương tôn giáo thuần túy) cũng nói về ngã Tuy nhiên so với thơ trung đại, yếu tố ngã trong thơ hiện đại đậm nét hơn Với các nhà thơ trung đại cái tôi càng ẩn kín, thơ càng hàm súc gợi mở
Con người trong thơ trung đại là con người vũ trụ Điều này xuất phát
từ quan niệm triết học phương Đông: “thiên nhiên hợp nhất”, “thiên nhân tương dữ”, “nhân thân tiểu vũ trụ” Con người tồn tại như một phần của vụ trụ, đứng giữa đất trời, xung quanh là càn, khôn, nhật, nguyệt; bốn bề là tùng, cúc, trúc, mai Giữa con người và vũ trụ có mối quan hệ gắn bó, cảm ứng lẫn nhau Chính vì thế tiếng thơ trung đại như tiếng nói “giữa trời”
Trang 19Con người trong thơ trung đại thường thiên về bày tỏ quan điểm lập trường, hoài bão chí hướng đặc biệt là câu kết
1.1.4.4 Ngôn ngữ thơ trung đại
Là hình thức của tác phẩm văn học, lời thơ cũng như lời của tác phẩm
tự sự và kịch đều mang tính gợi cảm, hàm xúc Nhưng ngôn ngữ trong thơ trung đại có những đặc điểm thể hiện theo cách riêng
Ngôn ngữ văn học trung đại là ngôn ngữ đậm chất ước lệ Nó hướng tới bộc lộ những vẻ đẹp cao nhã Ngôn ngữ trang trọng, mực thước, được coi là
“chuẩn” của văn học thời đại này Màu sắc Hán và điển tích, điển cố rất đậm nét
Nói về ngôn ngữ thơ ca trung đại, Phan Ngọc đã đề xuất một ý kiến đáng quan tâm: “chữ” trong thơ trung đại là chữ “đúc” (khác với chữ “nước” trong các loại hình thơ; tự do hơn) Thơ trung đại đề cao tình hàm xúc (ý tại ngôn ngoại) Thật ra thơ ca thời đại nào cũng cần đạt tới tính hàm súc cao độ nhưng trong thơ ca trung đại để tạo được một “nhãn tự”, người ta phải đặt nó trong một khuôn hình đã trở thành quy tắc, điển phạm Như vậy trọng tâm của thơ ca trung đại là “chữ” chứ chưa phải là lời nói với ý nghĩa đầy đủ nhất của thơ theo cái nhìn của thi pháp học Lời thơ trong thơ trung đại không nhấn mạnh chủ ngữ, ít có dấu giọng, ngữ điệu lời nói rất hiếm khi xuất hiện
Việc khảo sát ngôn ngữ thơ ca trung đại cho thấy ngôn ngữ văn học thời đại này thiên về bộc lộ ý tưởng hơn là bộc lộ cảm xúc trực tiếp của chủ thể trữ tình
Vì đặt trung tâm là nghệ thuật ngôn từ, coi phép làm thơ chủ yếu là cách “luyện chữ”, tạo chữ đắt, chữ khéo, chữ thần nên mục đích của các nhà thơ trung đại là phải tạo đươc “lời văn óng ả, câu văn mượt mà” để diễn đạt tình ý (ý của Ngô Thì Nhậm) Nghệ thuật từ chương đã khiến ngôn ngữ trung đại đậm chất trang trí Dĩ nhiên tính chất trang trí phải được hiểu như là một
Trang 20nguyên tắc thi học của thơ ca trung đại chứ không phải sự màu mè, lòe loẹt về hình thức thuần túy
1.2 Cơ sở thực tiễn
Văn học luôn là người thư kí trung thành của thời đại, thời đại xã hội như thế nào sẽ được thể hiện trong tác phẩm như vậy.Vì thế dạy đọc – hiểu văn bản văn học trong nhà trường THPT cần gắn liền với đời sống thực tiễn là một vấn đề không thể thiếu trong xã hội ngày nay nhằm tạo ra những con người có khả năng tích cực, thích nghi với cuộc sống, giải quyết được những vấn đề thiết thực của cuộc sống bản thân và con người
Tác phẩm văn học ra đời là để con người thỏa mạn nhu cầu cao đẹp và giàu có vô hạn của chính mình, vậy nên văn chương không thể nếu không muốn nói là không được phép ngoảnh mặt lại với con người và xã hội Vấn đề duy nhất đặt ra là cần phải đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội bằng chính đặc trưng của văn chương Cần phải gắn văn chương với đời sống thực tiễn
“Văn học là nghệ thuật, là công cụ để hểu biết, để khám phá, để sáng tạo thực tại xã hội”
Trong giáo dục cũng vậy, tất cả các môn học trong nhà trường đều phải gắn việc dạy và học với đời sống xã hội Thừa nhận ý nghĩa đào tạo to lớn của nguyên tắc dạy học Văn gắn liền với đời sống là điều không phải bàn cãi nhưng để thống nhất một cách hiểu thấu đáo về bản chất và đặc điểm mối quan hệ giữa văn chương và đời sống thật không dễ dàng Đã biết sức mạnh của môn văn trước hết tồn tại bản chất người trong từng tác phẩm Văn chương là tập hợp hội tụ của người với sự độc đáo và phong phú của hình tượng nghệ thuật Nhờ quy luật tình cảm diễn ra trong khi đọc “con người được soi mình và nhận ra bản thân mình (Socrates) Như vậy học văn - đọc văn là phương tiện giao lưu xã hội để phát triển và tự hoàn thiện bản thân mình Sức mạnh riêng của môn Văn được nhân lên gấp nhiều lần trong nhà
Trang 21trường với tư cách là một môn học cơ bản Những tác phẩm được lựa chọn đưa vào trong nhà trường có một giá trị tiêu biểu “quý hồ tinh bất quý hồ đa” Nội dung đã được sàng lọc, xác định qua thời gian nên mang tính thời sự và
có giá trị thực tiễn
Từ trước tới nay, môn Ngữ văn được coi là đặc thù với nhiều chức năng vừa rèn luyện về ngôn ngữ, vừa rèn luyện về tư duy hình tượng cũng như khả năng sáng tạo của học sinh, vừa rèn luyện năng lực cảm thụ cái đẹp của văn chương lại vừa có nhiệm vụ giáo dục nhân cách và đạo đức Mục đích cuối cùng của việc dạy văn trong nhà trường là đào tạo ra những con người có khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, có kỹ năng đọc, khả năng viết, khả năng đáp ứng nhu cầu của xã hội Tuy nhiên do những nguyên chủ quan
mà kết quả việc dạy và học Ngữ văn trong nhà trường (các cấp) hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu trên
Theo điều tra của nhiều chương trình nghiên cứu day và học văn hiện nay, kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh rất đáng báo động Nhiều học sinh không biết cách tự viết, không thích đọc và cũng không biết tiếp cận một văn bản ngoài nhà trường để có thể tự đọc hiểu Thậm chí nhiều học sinh, sinh viên ra trường không biết cách viết một lá đơn xin việc, không trình được ý tưởng một cách mạch lạc Tức là đã thiếu đi những kĩ năng sống lẽ ra phải được trang bị qua môn Ngữ văn Vì vậy việc dạy học Ngữ văn gắn liền với đời sống thực tiễn là một điều cần thiết
1.2.1 Thực trạng tiếp nhận văn bản trữ tình ở trường THPT hiện nay
Việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông trong
đó có đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn theo tinh thần khoa học hiên đại
đã và đang diễn ra sôi động và thu được kết quả đáng mừng Việc chúng tôi lựa chọn đề tài này xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đã được quy định tại Luật giáo dục của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Trang 22Nam ngày 14/6/2005 ở khoản 2 điều 5: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, lòng say mê học tập, ý chí vươn lên
Đặc điểm cấu trúc chương trình THPT hiện nay quan tâm tới việc dạy tác phẩm văn học theo thể loại Nhiều văn bản mới như văn bản nhật dụng được đưa vào chương trình Vì vậy nghiên cứu cảm thụ không chỉ đóng khung một cách phiến diện vào vấn đề hứng thú mà cần chú ý nhiều hơn về giá trị thực tiễn (gắn với tâm lý, sinh lý, xã hội, mỹ học…) không thể dạy văn theo cách tĩnh thiếu mối liên hệ biện chứng giữa văn học và cuộc sống Khuynh hướng khoa học ngày nay yêu cầu một cách nghiêm ngặt về khảo nghiệm thực tiễn
Trong chương trình Ngữ văn ở THPT hiện nay các văn bản thơ trữ tình được đưa vào giảng dạy khá nhiều trong đó có thơ trữ tình trung đại Tuy nhiên tâm lý phổ biến của đời sống văn học trong nhà trường là tiếp nhận một cách máy móc khi học các tác phẩm trữ tình Bởi những đặc trưng riêng của các tác phẩm trữ tình rất khác rất khác so với các văn bản khác đòi hỏi học sinh phải có năng lực cảm thụ văn chương mới có thể phân tích, cách nghĩa, bình giá những chi tiết, hình ảnh trong văn bản Trong thực tế học sinh không hứng thú với văn bản trung đại vì chúng khó hiểu, công thức
Giáo viên với tư cách là người hướng dẫn, tổ chức các hoạt động của học sinh nhằm giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức Trong quá trình dạy đôi lúc còn gặp phải những lúng túng khi truyền đạt kiến thức, cảm xúc thẩm mỹ Nguyên nhân một phần là do giáo viên chưa gắn thực tiễn với bài dạy của mình khiến học sinh cảm thấy khó hiểu và không có hứng thú tiếp nhận Tạo ra một khoảng trống không có sự liên hệ giữa học sinh và văn bản dẫn đến thực trạng học cho xong Mặc dù trên thực tế văn bản trữ tình viết ở
Trang 23thời đại nào cũng tái hiện lại một đời sống, một hiện thực xã hội Cho nên đây
là một thiếu xót nếu dạy đọc hiểu văn bản không gắn với thực tiễn
Văn bản “Nhàn” là một văn bản trữ tình trung đại trong chương trình
SGK Ngữ văn lớp 10 Là một trong những thi phẩm nổi tiếng thể hiện rõ triết
lý sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm, là một trong những tác phẩm luôn sống trong lòng của những người yêu thơ Nhưng cùng chung số phận với các tác
phẩm thuộc thể loại thơ trữ tình trung đại khác, văn bản “Nhàn” của Nguyễn
Bỉnh Khiêm cũng được học sinh cho thấy hay, thích đôi ba câu thơ lạ nhưng các em chưa nhận ra giá trị thực tiễn, quan điểm nhân sinh trong bài thơ - điều làm nên sức sống trường tồn của tác phẩm
1.2.2 Đọc hiểu văn bản thơ trung đại gắn với đời sống
Như đã nói ở lí do chọn đề tài: văn bản trữ tình trung đại do có khoảng cách về mặt thời gian, về tư duy nghệ thuật, về cách tiếp cận nên việc dạy và học tương đối khó, việc tiếp nhận theo hướng “học cho xong”
Trong khi thực tế văn bản trữ tình mang lại những giá trị nhân sinh thiết thực mà học sinh chưa khám phá ra Với vai trò là người tổ chức, hướng dẫn hoạt động đọc của học sinh giáo viên là chiếc cầu nối giúp cho học sinh nhận ra và tiếp thu những giá trị của văn bản văn học thông qua phương pháp đọc hiểu Đặc biệt với những tác phẩm thơ trung đại, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tới những giá trị nhân sinh thực tiễn giúp học sinh áp dụng được vào trong cuộc sống của chính mình Nếu như giờ dạy đọc hiểu văn bản trữ tình, giáo viên có thể dẫn dắt học sinh tới những giá trị nhân sinh thực tiễn, học sinh có thể áp dụng vào đời sống của mình thì chắc chắn giờ học văn sẽ thu hút được rất nhiều sự chú ý của học sinh và không còn hiện tượng “học cho xong” những văn bản trữ tình
Mặc dù biết rằng học văn là giúp các em biết rung cảm với nhịp đập trái tim con người trước cuộc sống muôn màu, bồi đắp lòng tin yêu con người
Trang 24và cuộc sống, biết căm ghét những gì hạ thấp nhân phẩm và ngăn cản sự phát triển toàn diện của con người Nhưng nếu không gắn liền với lợi ích thực tiễn đặc biệt trong xã hội Công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay thì việc dạy đọc -hiểu văn bản trữ tình trong trương THPT vẫn sẽ trở nên nặng nề, giáo điều, không đạt được hiệu quả mong muốn
Trong khuôn khổ một khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi đi tìm hiểu văn
bản trữ tình trung đại cụ thể là đọc hiểu bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh
Khiêm (chương trình Ngữ văn lớp 10 tập 1 của NxbGD) Đề tài nghiên cứu:
Đọc - hiểu văn bản Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm) gắn liền với đời sống thực
tiễn với mục đích giúp học sinh thấy được quan niệm nhân sinh mới mẻ Đồng thời, với việc nghiên cứu này chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào việc đổi mới dạy học với hy vọng tác phẩm văn học sẽ gần gũi hơn với học sinh trong trường THPT
Trang 25CHƯƠNG 2
CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN NHÀN
CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM GẮN LIỀN VỚI
ĐỜI SỐNG THỰC TIỄN
2.1 Các biện pháp chung
2.1.1 Đọc tiếp cận văn bản “Nhàn” (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) húy Văn Đạt, tự Hạnh Phủ, người làng Trung Am, Vĩnh Lại, Hải Dương, nay thuộc Vĩnh Bảo, Hải Phòng Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng Cha là Nguyễn Văn Định, một nhà nho có văn tài, mẹ là con của Thượng thư Nhữ Văn Lan, thông tuệ và am hiểu lý số từ nhỏ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được học kinh truyện, thơ văn từ cha mẹ, lớn lên lại được bảng nhãn Lương Đắc Bằng tận tình chỉ dạy, đặc biệt là môn Dịch học và sách Thái ất thần kinh
Sinh ra trong thời loạn, nên mặc dù học giỏi nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm không chịu thi cử làm quan, mà nuôi chí ở ẩn Mãi đến năm 1535, Nguyễn Bỉnh Khiêm mới ra ứng thí và đỗ Trạng nguyên rồi làm quan với nhà Mạc Thấy triều đình lục đục, quan lại chia ra năm bè bảy mối, Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ xin chém lộng thần, không được chấp nhận, bèn thác bệnh, xin về quê trí sĩ Sau đó vì muốn tác động đến thời cuộc và cũng phần nào vì ràng buộc với nhà Mạc Ông lại ra làm quan trải qua các chức vụ như Tả thị lang Bộ lại, Thượng thư Bộ lại, Thái phó Trình Truyên hầu rồi Trình quốc công vì thế nên đời mới gọi ông là Trạng Trình Đến năm 70 tuổi Nguyễn Bỉnh Khiêm mới về quê dựng nhà trên sông Tuyết Hàn lấy hiệu là Tuyết Giang phu tử, lập am Bạch Vân nên có đạo hiệu là Bạch Vân cư sĩ, làm thơ và
Trang 26dạy học Ông có những học trò nổi tiếng như Phùng Khắc Khoan, Nguyễn
Dữ, Lương Hữu Khánh…
Là một tác giả lớn của TK XVI, Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại nhiều sáng tác bằng chữ Hán, Nôm, như Bạch Vân am thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi và các tập sấm ký Trình quốc công sấm ký và Trình tiên sinh quốc ngữ Ông nổi tiếng là một nhà dịch học, nhưng không có một công trình nào chuyên
về dịch lý
Là người có học vấn uyên thâm, là nhà thơ lớn của dân tộc Thơ cuả ông giàu chất triết lí về nhân tình thế thái, ngợi ca chí khí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn đồng thời phê phán những điều xấu trong xã hội bằng thái độ thâm trầm
của bậc đại nho “Nhàn” là bài thơ Nôm nổi tiếng của nhà thơ, rút trong tập
Bạch Vân quốc ngữ thi làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật nêu lên quan niệm sống của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt ra cái tầm thường xấu xa của cuộc sống bon chen vì danh lợi Đó cũng là bài thơ tiêu biểu cho đề tài “tịch cư” trong văn học trung đại
Nhà thơ đã nhiều lần đứng trên lập trường đạo đức nho giáo để bộc lộ quan niệm sống của mình Những suy ngẫm ấy gắn kết với quan niệm đạo lí của nhân dân, thể hiện một nhân sinh quan lành mạnh giữa thế cuộc đảo điên Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từ bỏ chốn quan trường, nơi vinh hoa phú quý để lựa
chọn cho mình một cuộc sống “Nhàn” - gần gũi với thiên nhiên
Nhàn là cách xử thế quen thuộc của nhà nho trước thực tại, lánh đời thoát tục, tìm vui trong thiên nhiên cây cỏ, giữ mình trong sạch Hành trình hưởng nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong qui luật ấy, tìm về với nhân dân, đối lập với bọn người tầm thường bằng cách nói ngụ ý vừa ngông ngạo, vừa thâm thúy với cả xã hội phong kiến đang trên đà suy vong
Khi về ở ẩn Trạng Trình tỏ ra rất bằng lòng với cuộc sống mình lựa chọn
Trang 27Cao khiết thùy vi thiên hạ sĩ?
An nhàn ngã thị địa trung tiên!
(Ngụ hứng) Coi mình là tiên khách bởi được thoải mái về thể xác lẫn tinh thần
Nội đắc tâm thân lạc, Ngoại vô hình dịch lụy
(Bên trong được thú vui của tâm, của thân, Bên ngoài khỏi phải chạy vạy để phục dịch cho hình xác)
(Cảm hứng) Thú vui nhàn dặt, tránh xa khỏi vòng danh lợi là đề tài khá quen thuộc trong văn học TK XVI Nhiều tác giả ca ngợi cuộc sống miền thôn dã với thú vui điền viên sơn thủy:
Yêu thay miền thôn tịch;
Yêu thay miền thôn tịch!
Cư xử dầu lòng Ngao du mặc thích Khéo chiều người mến cảnh sơn hòe
Dễ quyến khách vui miền truyền thạch
( Nguyễn Hàng, Tịch cư minh thể phú)
Cuộc sống tự nhiên thanh tao miền tịch cư đã giúp các nhà nho tránh được phiền phức trốn quan trường
Như vậy trước và sau Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có một dòng chảy về đề
tài “Nhàn” trong văn chương, người ta viết về nhàn dưới góc độ cảm hứng về
thú thanh nhàn còn ở Nguyễn Bỉnh Khiêm sự đóng góp mới mẻ chính là ở chỗ từ cảm hứng nhàn nâng lên thành quan điểm sống, triết lý sống Cuộc sống nhàn tản hiện lên với bao điều thú vị:
Trang 28“Một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dù ai vui thú nào”
“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”
Cách dùng số từ, danh từ, từ “thơ thẩn” trong câu thơ thứ nhất và nhịp điệu hai câu đề gợi nên dáng vẻ ung dung trong công việc lao động hàng ngày
Cuộc sống gần gũi với thiên nhiên, đơn giản mà thanh sạch, vô tư dường như không mảy may vướng bận lo toan của cuộc sống bon chen nơi đông đúc Cuộc sống đơn giản với những sinh hoạt đạm bạc, mùa nào thức ấy không phải lo lắng điều gì Đủ cả bốn mùa, mỗi mùa một sản vật, vừa thể hiện thời gian quanh năm, vừa thể hiện mối quan hệ gần gũi với thiên nhiên, hòa nhập cùng thiên nhiên Bằng lòng với cuộc sống ẩn dật mà người ẩn sĩ tự hào với sự lựa chọn của mình:
“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao ”
Câu thực được tạo nên bởi lối đối rất chỉnh giữa quan niệm “dại khôn”, một lối nói hàm ý mỉa mai, thể hiện sự kiên định của nhà thơ với lối sống nhàn dật Tự nhận “ta dại” là một sự ngông ngạo của người ở ẩn, đó là cái dại của bậc đại trí trong thiên hạ Cái dại của những người như Mạnh Hạo Nhiên, Đào Tiềm, Nguyễn Trãi
Cầm một chương, thơ mấy quyển, đủ tháng ngày ngâm ngợi, ấy thú mầu ông Mạnh Hạo Nhiên
Lan chín khóm, cúc ba hàng, dõi hôm sớm bù trì, này của báu ông Đào Bành Trạch
( Nguyễn Hàng, Tịch Cư Ninh thể phú)
Họ tự hào cuộc sống ấy bởi đó là cuộc sống thanh cao Và họ kiên định với lựa chọn đó
Trang 29Dù ai cười thơ thẩn ngẩn ngơ Thì ta cũng ngô nghê ngốc nghếch
(Nguyễn Hàng, Tịch cư ninh thể phú)
Những đại trí tìm nơi vắng vẻ không phải để trốn tránh trách nhiệm với đời mà họ đều tới nơi thôn tịch khi không thể cứu dân, cứu nước Họ chọn cuộc sống với thiên nhiên cây cỏ khi họ phải lựa chọn giữa cuộc sống luồn cúi
và cuộc sống thanh sạch mà nghèo cực Dù luôn nói tới cái thanh thả của một người nhàn tâm nhưng thật ra lòng họ vẫn luôn ray dứt về cuộc đời Về ở ẩn
họ dễ tránh chốn lao xao bởi theo nhà thơ đó là nơi mọi người phải đua chen vòng danh lợi
Thành thị vốn đua tranh giành giật
(Thơ Nôm, bài 19)
Không nơi nào không có đua tranh, giành giật: triều đình tranh nhau cái danh, chợ búa tranh nhau cái lợi
Ở câu kết một lần nữa tác giả khẳng định quan điểm sống của mình :
Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
Câu thơ cuối ngắt nhịp khác hẳn các câu thơ còn lại Thủng thẳng nói
về thú thanh nhàn, rồi buông ra một câu kết như thế Nhà thơ thể hiện thái độ dứt khoát với cuộc sống công danh phú quý, phú quý ở đời chỉ là chuyên phù du
Nguyễn Trãi khi cáo quan về ở ẩn nhưng khi được mời ông lại sẵn lòng
ra giúp dân giúp nước bởi tấm lòng “cuồn cuộn nước triều đông” khiến ông không thể yên tâm hưởng nhàn nơi thông reo bốn mùa để rồi khiến ông phải chịu án oan thảm khốc Còn Nguyễn Bỉnh Khiêm với một thời thế khác ông
đã kiên định cuộc sống ở ẩn mình.Vì thời thế để giữ gìn sự thanh sạch của mình, việc lựa chọn lối sống ấy đáng để chúng ta trân trọng
Trang 30Quan niệm sống đó của Nguyễn Bỉnh Khiêm là quan niệm sống tích cực thể hiện kinh nghiệm sống, bản lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính Quan niệm đó được thể hiện một cách tích cực trong cuộc sống hiện đại ngày nay đã cách Nguyễn Bỉnh Khiêm hơn 5 thế kỉ
2.1.2 Tái hiện hình tượng nhân vật
Do văn bản trữ tình được tổ chức đặc biệt, ngôn ngữ giàu nhạc điệu và hình ảnh nên đọc văn bản là một bước quan trọng để gợi lên hình ảnh, nhịp điệu, âm hưởng của tác phẩm Đồng thời cũng khơi gợi những ấn tượng trong tâm trí người đọc Đặc biệt với văn bản thơ, đọc văn bản không chỉ có nhiệm
vụ tượng thanh các con chữ mà là tượng hình bên trong của người đọc về thế giới hình tượng và chủ thể trữ tình bộc bạch, thổ lộ, giãi bày trong tác phẩm
Văn bản “Nhàn”của Nguyễn Bỉnh Khiêm là văn bản thơ trung đại mà
trong đó nhân vật trữ tình đã bày tỏ quan niệm về thú thanh nhàn của mình: tự
do, tự tại gắn với thiên nhiên không màng tới phú quý danh lợi Bài thơ bao quát toàn bộ triết trí, tình cảm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bộc lộ trọn vẹn một nhân cách của bậc đại ẩn tìm về với thiên nhiên, với cuộc sống của nhân dân
để đối lập một cách triệt để với cả một xã hội phong kiến trên con đường suy
vi thối nát
Vì vậy cần có những giọng đọc phù hợp chú ý tới cách ngắt nhịp trong các câu để từ đó nổi bật được tâm trạng của chủ thể trữ tình cũng như chủ đề chính của văn bản
2.1.3 Phân tích, cắt nghĩa văn bản “Nhàn”
Bài thơ "Nhàn" (Nguyễn Bỉnh Khiêm) được sáng tác theo thể thơ thất
ngôn bát cú Đường luật Có nhiều cách để phân tích, cắt nghĩa văn bản Với bài này chúng ta cùng đi tìm hiểu theo nội dung 2 phần: Vẻ đẹp trí tuệ, nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm; vẻ đẹp cuộc sống ở Bạch Vân Am của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trang 31Vẻ đẹp trí tuệ nhân cách (hai câu 3- 4, 7- 8) tác giả đã nêu ra quan niệm về lẽ sống của mình đó là lẽ xuất xử, hành tàng của nhà nho tức thời, ưu thời mẫn thế Từ việc đưa ra quan niệm về lẽ sống tác giả đã chọn cho mình một cuộc sống đối lập với người đó là về nơi núi rừng quê hương về với thiên nhiên, thuận theo tự nhiên, thoát ra ngoài vòng ganh đua của thói tục, không
bị lôi kéo cuốn hút của tiền tài, chức tước, danh vọng, địa vị…để tâm hồn an nhiên thoáng đạt Trạng Trình vừa thông tuệ vừa tỉnh táo, tỉnh táo và thông tuệ trong cách lựa chọn lẽ sống Ông tự nguyện làm người “dại” mặc kệ những ai “khôn” Khôn dại nơi ông đều xuát phát từ trí tuệ, từ triết lý nhân gian: ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác Và cao hơn thế là ý thức chủ động, biết trước tình thế xã hội để chọn cách ứng xử đúng đắn, sáng suốt
Thông qua hai câu kết Nguyễn Bỉnh Khiêm - một bật hiền triết cao
cả, đã gửi gắm cho bậc hậu nhân sau này một thông điệp luôn đúng ở đời Phần kết khép lại nội dung của một bài thơ (dùng điển tích xưa, gieo vần, ), khép lại một lối sống nhàn đáng trân trọng của ông, nhưng theo một khía cạnh nào đó nó lại gửi gắm những điều chưa thể nói hết
"Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao"
Vẻ đẹp cuộc sống (hai câu đầu và câu 5,6) Cuộc sống mà Nguyễn Bỉnh Khiêm lựa chọn là cuộc sống lao động như một lão nông tri điền ở nông thôn, một ông tiều nơi rừng núi với những công cụ lao động: đào đất, chiếc cuốc để cuốc, xới vườn, chiếc cần câu cá Sinh hoạt của người ẩn sĩ giản dị mà thanh cao giống như tiên khách giữa trần gian Những nhu cầu của người ẩn sĩ đều được thiên nhiên thỏa mãn một cách dễ dàng Đó là cuộc sống đạm bạc mà ý nghĩa khi con người đã tìm thấy niềm vui đích thực, niềm vui trong cuộc sống lao động Đạm bạc với những thức ăn quê mùa dân dã, là cây nhà lá vườn kết quả của công sức lao động mà có
Trang 32Bằng mọi giác quan và tâm hồn tươi trẻ, mộc mạc Nguyễn Bỉnh Khiêm đang tìm đến tận hưởng cuộc đời thanh nhàn sung túc cả vật chất lẫn tinh thần, hòa hợp với thiên nhiên quy luật của đất trời
2.1.4 Đánh giá cảm xúc của nhân vật trữ tình
Bài thơ là một thi phẩm mang đậm tâm hồn và trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm Với ngôn ngữ giản dị mà thâm trầm sâu sắc, tự phá cách trong nhịp thơ tạo sự sáng tạo, sử dụng khéo léo thể thơ thất ngôn Đường luật, sử dụng điển cố, điển tích, phếp đối một cách linh hoạt Tất cả nhằm mục đích thể hiện cảm xúc của nhà thơ Bài thơ ca ngợi niềm vui trong cảnh sống thanh nhàn với tư thế ung dung, tâm trạng nhẹ nhàng với thú vui điền viên Qua đó thấy được vẻ đẹp tâm hồn thanh cao, nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm coi thường danh lợi và lối sống tích cực đi trước thời đại của ông
2.2 Biện pháp dạy học văn bản “Nhàn” (Nguyễn Bỉnh Khiêm) gắn liền với đời sống thực tiễn
2.2.1 Định hướng dạy học văn bản “Nhàn” (Nguyễn Bỉnh Khiêm) trong trường THPT gắn với đời sống thực tiễn
2.2.1.1 Quan niệm về triết lý sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nguyễn Bỉnh Khiêm một con người tài năng, đức độ, có khát vọng giúp dân, giúp nước nhưng ông chỉ làm quan vẻn vẹn 8 năm rồi xin về ở ẩn để trọn đời giữ tiết tháo trong sạch của một nhà Nho, giữ trọn tấm lòng yêu dân, yêu nước Về ở ẩn nhưng tâm chưa lúc nào nguôi những nỗi niềm ưu ái, lánh đời
mà vẫn lo đời “Nhàn” là tác phẩm được Nguyễn Bỉnh Khiêm sáng tác khi
cáo quan về ở ẩn để bày tỏ quan niệm về thu thanh nhàn của mình Không chỉ dừng lại ở đó mà nó còn là quan điểm sống, triết lý sống có tính giáo huấn, cảnh tỉnh với đời nhưng không hề khô khan trái lại tràn đầy cảm xúc bởi nhà thơ nói bằng sự chân thành từ chính trái tim mình, bằng sự trải nghiệm của cuộc đời mình