Đầu tiên, có thể thấy được rằng tiếp nhận văn học là tự nguyện, là hứng thú nhưng tiếp nhận văn học trong quá trình dạy học Ngữ văn ở nhà trường lại phải tuân theo những quy luật, nguyên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
THEO HƯỚNG ĐỐI THOẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
THEO HƯỚNG ĐỐI THOẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học:
ThS TRẦN HẠNH PHƯƠNG
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước hết, tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới ThS Trần Hạnh Phương người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả
trong suốt thời gian tiến hành làm khóa luận này
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học, khoa Ngữ văn đã nhiệt tình giảng dạy, cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa và Ban Giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả được học tập
và nghiên cứu tại trường
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 2014
Tác giả khóa luận
Lê Quỳnh Giao
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu riêng của tác giả Khóa luận với đề tài “Đọc hiểu văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” (Trích Số đỏ- Vũ Trọng Phụng) theo hướng đối thoại” do
ThS Trần Hạnh Phương hướng dẫn chưa từng được công bố trong bất kì
công trình nghiên cứu nào khác Nếu có gì sai sót, người viết sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm theo đúng quy định của việc nghiên cứu khoa học
Hà Nội, Ngày 02 tháng 05 năm 2014
Người cam đoan
Lê Quỳnh Giao
Trang 5QUY ƯỚC VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 8
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 8
1.1 Vấn đề tiếp nhận văn học 8
1.1.1 Khái niệm 8
1.1.2 Quy luật của tiếp nhận văn học 9
1.1.3 Vai trò của bạn đọc trong quá trình tiếp nhận văn học 11
1.2 Đọc hiểu 12
1.2.1 Đọc 12
1.2.2 Hiểu 12
1.2.3 Đọc-hiểu 13
1.3 Đối thoại 14
1.3.1 Khái niệm đối thoại 14
1.3.2 Các hình thức của đối thoại 15
1.3.3 Vai trò của đối thoại trong dạy học 16
1.3.4 Điều kiện để dạy học đối thoại 17
Chương 2 DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN: “HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA” (TRÍCH “SỐ ĐỎ”) CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG THEO HƯỚNG ĐỐI THOẠI 18
2.1 Đối thoại về tác giả 19
2.2 Đối thoại về tác phẩm 22
2.2.1 Nhan đề đoạn trích 22
2.2.2 Nhân vật 24
2.2.3 Ngôn ngữ, lời kể 34
Chương 3 GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 38
KẾT LUẬN 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông là môn học vừa mang tính chất khoa học, vừa mang tính nghệ thuật Nó có khả năng thâm nhập vào thế giới tâm hồn bạn đọc, làm thanh lọc tâm hồn và hướng họ tới cái Chân- Thiện- Mỹ Do vậy, dạy học Ngữ văn chính là dạy và tập cho học sinh biết tiếp nhận văn chương một cách sáng tạo, bồi dưỡng năng lực tư duy văn học,
tư duy thẩm mỹ để mỗi em có thói quen tiếp nhận chủ động những giá trị văn minh, văn hóa của dân tộc và nhân loại
Tuy nhiên, trong thực tế giáo dục phổ thông, môn Ngữ văn chưa thể hiện được vị trí quan trọng của nó và việc dạy học văn còn gặp phải những nghịch
lý đáng kể Đầu tiên, có thể thấy được rằng tiếp nhận văn học là tự nguyện, là hứng thú nhưng tiếp nhận văn học trong quá trình dạy học Ngữ văn ở nhà trường lại phải tuân theo những quy luật, nguyên lý riêng của nó, một cách xử
lý không thích hợp sẽ thủ tiêu cá tính và hứng thú văn học của cá nhân học sinh hoặc loại bỏ tính định hướng sư phạm của việc dạy học văn trong nhà trường Do còn nhiều hạn chế, sự tiếp nhận văn học của học sinh tất nhiên còn nhiều lệch lạc, suy diễn chủ quan, tùy tiện, chưa thực sự bám vào các yếu tố chi tiết nghệ thuật của tác phẩm hay đi chệch nội dung khách quan của tác phẩm và tư tưởng tình cảm của tác giả Một lý do quan trọng không thể không
kể đến đó là: giáo viên thuyết trình, phân tích hay tổ chức cho học sinh chiếm lĩnh tác phẩm theo một định hướng có sẵn Cách thức đó có thể tạo ra được sự đồng nhất trong tiếp nhận, thu hẹp được khoảng cách thẩm mỹ giữa học sinh
và tác giả, tác phẩm nhưng chính “kết quả khả quan” đó lại hạn chế khả năng cho phép học sinh đưa vào quá trình tiếp nhận văn học những kiến giải, đánh giá, những chủ kiến và thái độ mang màu sắc chủ quan, cá tính của bản thân mình… Giải quyết những nghịch lý đó chính là mấu chốt của việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn
Trang 8Hiện nay, một trong những luận điểm cơ bản của quá trình đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn trong nhà trường là luận điểm “Học sinh là bạn đọc sáng tạo” Với quan điểm này, quá trình dạy học Ngữ văn giờ đây đòi hỏi phải có sự thay đổi rất nhiều và một trong những thay đổi cơ bản nhất là: những giờ học sẽ không còn là sự thuyết giảng một chiều, thầy nói, trò nghe mà sẽ là những cuộc đối thoại bình đẳng, phong phú, sinh động giữa thầy và trò
Đối thoại, với tư cách là một phương pháp hoàn toàn không còn là điều mới lạ trong giáo dục và trong phương pháp dạy học Ngữ văn Hướng dẫn học sinh đọc- hiểu văn bản Ngữ văn theo hướng đối thoại là một trong những hướng đi có nhiều ưu thế Dạy học đối thoại giúp cho học sinh trở thành những người đọc văn đích thực, được nói lên cảm nhận, suy nghĩ, rung động nghệ thuật riêng của mình, khiến cho tầm đón nhận văn học của mỗi em đều được nâng lên một trình độ mới
Vũ Trọng Phụng là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Việt Nam vào đầu thế kỉ XX Tuy thời gian cầm bút ngắn ngủi nhưng ông đã để lại một khối lượng tác phẩm lớn và mang giá trị sâu sắc về mọi mặt Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11 (tập 1) đã lựa chọn đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” để giảng dạy Nghiên cứu về tác phẩm này, người viết đã lựa chọn phương pháp đối thoại với mong muốn tập trung sâu vào khai thác các vấn đề kiến thức cũng như phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của giáo viên và học sinh trong hoạt động dạy và học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
Là một sinh viên sư phạm, một giáo viên trong tương lai, thông qua đề tài này, người viết mong muốn tích lũy được những kinh nghiệm quý báu trong việc tiếp cận tri thức, phương pháp dạy học đổi mới để phục vụ tốt cho công việc giảng dạy ở phổ thông trung học
Trang 92 Lịch sử vấn đề
2.1 Các công trình nghiên cứu về đối thoại
Tác giả Lê Linh Chi trong bài viết “Tiếp cận quan điểm đối thoại trong việc đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học văn” đã có những tìm hiểu về các công trình nghiên cứu đối thoại của tác giả V.Z Osetinski như sau: Trong bài báo “Về đối thoại trong dạy học văn” V.Z Osetinski cho rằng: mục đích, ý nghĩa của trường học là dẫn dắt học sinh đến với văn hóa hiện đại, điều chỉnh văn hóa trong nhận thức cá nhân học sinh, xây dựng và phát triển
học sinh thành những “con người văn hóa”- đó là con người “không chấp nhận
những chân lý sẵn có, là con người tự do và tự chủ Anh ta không chấp nhận chỉ suy nghĩ trong giới hạn của một hình thái duy nhất mà luôn vượt ra khỏi giới hạn đó một cách độc đáo, mang dấu ấn cá nhân; và trong sự tìm tòi này, anh ta hết sức chú ý đến cuộc đối thoại vô tận với những người có vốn văn hóa
đa dạng, phong phú” [2;4] Đối thoại văn hóa, đối thoại với văn hóa phải trở
thành phương thức tư duy của “con người văn hóa” Tiếp tục triển khai quan niệm trên vào dạy học, V.Z Osetinski cho rằng ý nghĩa của hoạt động học tập không phải chỉ là việc học sinh nắm được kiến thức, kĩ năng, thói quen mà còn
ở việc hình thành khả năng nhận thức như một đặc trưng của văn hóa hiện đại Nhiệm vụ của hoạt động dạy học là giúp học sinh biết nhận thức khi liên kết trong tư duy của mình những loại hình nhận thức khác nhau và trải qua sự căng thẳng khi các loại hình đó xung đột, va chạm nhau
Ở bài viết: “Người đọc” và “Nhà lý luận” trong “Đối thoại truyện thần kỳ”, để làm rõ hơn cơ sở lý luận của phương pháp đối thoại trong dạy học văn
và thực tiễn dạy học văn theo theo phương pháp đối thoại ở trường phổ thông, O.Z.Osetinski từ chỗ phân tích những đặc điểm khác nhau của lý luận văn học xung quanh câu hỏi: thế nào là hiểu một tác phẩm văn học đã đặt ra một vấn
đề mới: “Vậy thì nhà trường chúng ta phải dựa vào lý luận nào? Cái gì là
Trang 10trọng tâm của việc dạy học văn: tư duy về ý nghĩa tác phẩm hay là việc tác phẩm được xây dựng như thế nào, tìm ý đồ tác giả hay là tìm ý nghĩa mà người đọc cảm nhận, phải phân tích loại trừ hay nên tìm sự cảm thông” [2;5]
Ở Việt Nam, ngay từ những năm 1990, xuất phát từ việc nghiên cứu chuyên sâu những tiền đề đối thoại của M Bakhtin, GS Trần Đình Sử đã có những triển khai đáng chú ý về lý thuyết đối thoại trong lý luận nghiên cứu, phê bình văn học Qua các bài viết “Đối thoại - hệ hình mới của phê bình văn học” (Tạp chí Tác phẩm mới, số 7/1995), “Lý thuyết đối thoại và mấy nét nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao” (Tạp chí văn học,
số 12/1998)… GS.Trần Đình Sử đã bước đầu giới thiệu những tiền đề cơ bản trong lý thuyết đối thoại của M Bakhtin, chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa lý thuyết đối thoại và lý thuyết tiếp nhận văn học, vai trò của người đọc, khả năng đối thoại không chỉ giữa cá nhân người đọc với tác giả mà còn là đối thoại giữa các tầng lớp xã hội, các nền văn hóa dân tộc, các thời đại lịch sử… Trong lý luận và phương pháp dạy học văn, khái niệm “giờ học đối thoại” có lẽ xuất hiện lần đầu tiên trong giáo trình “Phương pháp dạy học văn” (tập 1) của hai tác giả Phan Trọng Luận và Trương Dĩnh Tuy mới là những nét phác thảo đề cập đến những vấn đề chung nhưng các tác giả đã đánh giá cao mặt tích cực của những giờ học đối thoại, chỉ ra sự cần thiết phải tạo ra tình huống để học sinh trao đổi, bộc lộ cảm nhận của mình về một hiện
tượng văn học dựa trên nhiều quan hệ đối thoại “Không chỉ giữa học sinh với
nhau mà giữa học sinh với giáo viên và đặc biệt là giữa học sinh với bản thân nhà văn thông qua bài văn” [8;305] Theo tác giả, những giờ học đối thoại sẽ
giúp nâng cao hiệu quả của việc dạy học văn “trong sự cân bằng hài hòa giữa
yêu cầu tôn trọng sự cảm thụ cá nhân của học sinh, vừa đảm bảo được yêu cầu định hướng sư phạm”, “làm cho không khí giờ học thực sự là một giờ học dân chủ Mỗi học sinh thực sự là một chủ thể chứ không phải là một thực thể thụ động” [8; 305]
Trang 112.2 Các công trình nghiên cứu về đọc - hiểu
Đọc hiểu từ lâu đã không còn là vấn đề mới lạ của khoa học về phương pháp Nghiên cứu về hoạt động đọc và khả năng của nó trong giờ dạy tác phẩm văn chương đã trở thành đối tượng quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
Trong tài liệu dịch, trước hết phải kể đến công trình “Phương pháp giảng dạy văn học ở trường phổ thông” của V.A.Nhicônxki (Nga) Ngay từ những dòng đầu tiên khi bàn đến phương pháp dạy học bộ môn, cuốn sách đã rất chú
ý đến hoạt động đọc của học sinh Tác giả cũng đưa ra những ý kiến cá nhân
về thủ thuật và phương pháp “đọc diễn cảm” và “đọc bình giá” của giáo viên Trong giáo trình “Phương pháp luận dạy học” của Ia.Rez đã trình bày một cách có hệ thống các phương pháp và biện pháp dạy học Trong đó, tác giả đã đặt phương pháp tập đọc sáng tạo lên vị trí hàng đầu và cụ thể hóa nó bằng các biện pháp như: đọc diễn cảm, dạy học sinh đọc diễn cảm, giáo viên đọc văn bản nghệ thuật kèm theo lời bình luận…
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về đọc văn với sự quan tâm và những lý giải về nhiều phương diện của hoạt động đọc văn bắt đầu xuất hiện
từ những năm 80 của thế kỉ XX
Trong công trình “Dạy đọc- hiểu là nền tảng văn hóa cho người đọc” tham gia hội thảo khoa học chương trình và sách giáo khoa thí điểm THCS tháng 9/2000, GS Nguyễn Thanh Hùng đã chỉ ra việc đọc - hiểu văn bản góp phần hình thành, củng cố và phát triển năng lực, nắm vững và sử dụng tiếng Việt Vì vậy, dạy đọc- hiểu thực chất là giúp học sinh nắm được “những mối quan hệ” bao trùm toàn bộ văn bản để từ đó hình thành và vận dụng kĩ năng đọc trong đời sống
Trên báo Văn nghệ số ra ngày 14/2/1998, GS.TS Trần Đình Sử thông qua bài viết “Môn văn- thực trạng và giải pháp” đã nhấn mạnh một trong ba
Trang 12mục tiêu của dạy học Văn là “Rèn luyện khả năng đọc - hiểu các văn bản, đặc biệt là văn bản văn học nhằm tạo cho học sinh biết đọc văn một cách có văn hóa, có phương pháp, không suy diễn tùy tiện, dung tục” Quan niệm về đọc văn của tác giả tiếp tục được trình bày rõ hơn trong lời mở đầu cuốn “Đọc văn, học văn”
GS Phan Trọng Luận cũng là một trong những nhà khoa học đi vào vấn
đề đọc văn bản sớm nhất Đặt vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Văn, trong chuyên luận “Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học” tác giả đã phân tích
rõ tầm quan trọng của hoạt động đọc, coi hoạt động đọc là hoạt động tri giác của tất cả các giác quan và người đọc phải thông hiểu những gì mình đang tiếp nhận Trong cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học văn” (2011), tác giả
đã xem đọc diễn cảm là một trong ba phương pháp thường dùng trong quá trình xâm nhập tác phẩm văn chương cùng với phương pháp so sánh và phương pháp tái hiện hình tượng
Như vậy, qua một số công trình nghiên cứu kể trên, chúng ta có thể thấy
rõ tầm quan trọng của việc đọc văn Vì vậy, để hoạt động dạy học văn ở nhà trường phổ thông đạt hiệu quả cao, giáo viên cần phải chú ý đến việc tổ chức, hướng dẫn cho học sinh đọc văn bản
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nhằm:
- Củng cố, nâng cao hiểu biết về phương pháp dạy học Ngữ văn theo hướng đổi mới
- Bồi dưỡng năng lực đọc - hiểu, cảm thụ tác phẩm, làm cơ sở cần thiết cho việc giảng dạy Ngữ văn sau này ở trường phổ thông
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài, xây dựng cơ sở lý luận dạy học đối thoại
- Trên cơ sở lý luận đã xây dựng, vận dụng hướng dẫn học sinh đọc -
Trang 13hiểu văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” (Trích “Số đỏ” - Vũ Trọng Phụng) theo hướng đối thoại
5 Đối tượng nghiên cứu
- Dạy đọc- hiểu “Hạnh phúc của một tang gia” (Trích “Số đỏ”- Vũ Trọng Phụng) ở trường trung học phổ thông theo hướng đối thoại
8 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận giúp cho người giáo viên thuận lợi hơn trong việc thiết kế bài học theo hướng tổ chức cho học sinh học tích cực, sáng tạo Từ đó, góp phần vào việc nâng cao chất lượng đọc - hiểu các văn bản văn chương trong nhà trường phổ thông nói chung và đọc - hiểu văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” (Trích “Số đỏ”- Vũ Trọng Phụng) nói riêng
9 Bố cục của khóa luận
Gồm 3 phần:
Mở đầu Nội dung: Gồm 3 chương Chương 1 Những vấn đề lý luận chung
Chương 2 Hướng dẫn học sinh đọc- hiểu văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” (Trích “Số đỏ” - Vũ Trọng Phụng) theo hướng đối thoại
Chương 3 Giáo án thực nghiệm
Kết luận
Trang 14PHẦN NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Vấn đề tiếp nhận văn học
1.1.1 Khái niệm
Theo “Từ điển tiếng Việt”: “Tiếp nhận là đón nhận từ người khác, nơi
khác chuyển đến” [11;1269]
Theo giáo trình “Lý luận văn học”, Phương Lựu (chủ biên): “Tiếp nhận
văn học là giai đoạn hoàn tất quá trình sáng tác và giao tiếp của văn học Người nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm văn học là truyền đạt những cảm nhận khách quan về cuộc đời cho người đọc Chỉ khi được bạn đọc tiếp nhận, quá trình sáng tạo này mới được hoàn tất Thực chất của quá trình này là chuyển cảm xúc đến bạn đọc để bạn đọc cộng hưởng cảm xúc đó” [10;221]
Theo GS Nguyễn Thanh Hùng trong chuyên luận “Đọc và tiếp nhận văn
chương” quan niệm: “Tiếp nhận văn học là quá trình đem lại cho người đọc
sự hưởng thụ và hứng thú trí tuệ” hướng vào hoạt động để củng cố và phát
triển một cách phong phú những khả năng thuộc thế giới tinh thần và năng lực, cảm xúc của con người trong đời sống [6;105]
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”, Lê Bá Hán (chủ biên): “Tiếp nhận
văn học là hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mỹ của các tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm nhận văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến tác phẩm sau khi đọc: cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể…” [4;325]
Như vậy, về thực chất, tiếp nhận văn học là một cuộc giao tiếp, đối thoại
tự do giữa người đọc và tác giả qua văn bản tác phẩm Nó đòi hỏi người đọc tham gia với tất cả trái tim, khối óc, hứng thú và nhân cách, tri thức và sức sáng tạo Trong giao tiếp văn học, người đọc ở vào một tâm trạng đặc biệt,
Trang 15vừa quên mình, vừa nhập thân, vừa sống và thể nghiệm nội dung của tác phẩm, vừa phân thân duy trì khoảng cách thẩm mỹ để nhìn nhận tác phẩm từ bên ngoài, để thưởng thức tài nghệ, nhận ra điều bất cập hoặc cắt nghĩa khác với tác giả Tiếp nhận văn học là một hoạt động sáng tạo Nó thúc đẩy ảnh hưởng tới văn học, làm cho tác phẩm văn học không đứng yên mà luôn luôn lớn lên, phong phú thêm trong trường kỳ lịch sử
1.1.2 Quy luật của tiếp nhận văn học
Bạn đọc có vai trò quan trọng trong việc truyền bá tác phẩm văn học Họ
là quan tòa để bình xét giá trị tác phẩm Chính họ là người tham gia tích cực vào quá trình phát triển của lịch sử văn học Nhu cầu thị hiếu của bạn đọc góp phần làm nảy sinh tác phẩm và các loại hình, loại thể văn học Tuy nhiên, văn bản văn học cũng có sự tác động trở lại với bạn đọc Trong quá trình tiếp nhận, bạn đọc chịu sự chi phối của các quy luật chung: quy luật tâm lý, quy luật nhận thức và quy luật giao tiếp
Quy luật tâm lý: là những đặc điểm sinh lý lứa tuổi giúp cho việc tiếp nhận của độc giả như: nhu cầu, thị hiếu, cảm xúc, sự chú ý, hứng thú… hoặc tính đột biến trong nhận thức
Quy luật nhận thức: tác phẩm văn học được sáng tạo ra để bạn đọc thưởng thức, tiếp nhận Quy luật của tiếp nhận tác phẩm văn học là phải cảm thụ tác phẩm trên tổng thể, trên chỉnh thể Tác phẩm văn học bằng mọi chi tiết của nó sáng tạo ra một thế giới riêng, một xã hội riêng, một loại người riêng với tính hệ thống và những quy luật Vì vậy, tiếp nhận văn học chính là sự nhận ra được những quy luật ấy Nó đòi hỏi người đọc trước hết phải biết tri giác, cảm thụ tác phẩm, phải hiểu ngôn ngữ, tình tiết, cốt truyện, thể loại để
có thể cảm nhận hình tượng trong sự toàn vẹn các chi tiết, các mối liên hệ Sau đó, người đọc tiếp xúc với các ý đồ sáng tạo của người nghệ sỹ, thâm nhập vào hệ thống hình tượng như là một sự kết tinh sâu sắc vào tư tưởng và
Trang 16tình cảm của tác giả Điều đó có nghĩa là ở cấp độ tiếp theo, người đọc phải đưa hình tượng vào văn cảnh đời sống và kinh nghiệm sống của mình để thể nghiệm và đồng cảm, cuối cùng nâng cấp, lý giải tác phẩm lên cấp quan niệm
và truyền thống nghệ thuật Quá trình tìm ra cách giải thoát ý nghĩa của các
từ, chữ, câu của văn bản để tìm ra ý nghĩa hình tượng, ý nghĩa tượng trưng của văn bản, để tìm ra cách giải thích văn bản, ý định chủ quan của tác giả chính là quá trình tiếp nhận tác phẩm
Như vậy, để hiểu được văn bản, người đọc không đơn thuần chỉ là tiếp xúc với văn bản mà đòi hỏi người đọc phải đi cắt nghĩa từng cấu trúc của văn bản Vì thế, một trong những phương diện quan trọng của tiếp nhận văn học
là việc đánh giá, giải thích và cắt nghĩa tác phẩm
Quy luật giao tiếp: tác phẩm văn học là kết quả của sự lĩnh hội hiện thực đặc thù Nó hướng vào việc mở rộng đặc biệt sức mạnh lĩnh hội của con người Tác phẩm văn học không đứng ngoài thực tiễn xã hội, hơn thế nữa nó còn là phương tiện chế ngự, cải tạo, biến đổi thực tiễn xã hội ấy Tác phẩm văn học là tri thức đồng thời cũng là phương tiện giao tiếp ngôn ngữ nghệ thuật để phản ánh hiện thực
Trong “Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học”, PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hương đã chỉ ra quy luật giao tiếp bằng ngôn ngữ được thực hiện trên hai cấp độ: nội hàm và siêu ngôn ngữ
Nội hàm là lớp nghĩa chứa đựng trong lớp vỏ ngôn ngữ
Siêu ngôn ngữ là cấp độ trên nghĩa được tạo nên bằng cách dùng ngôn ngữ này để nói về nội dung khác hoặc là sự kết hợp siêu tổng cộng các phương tiện ngôn ngữ để tạo thành một lớp nghĩa mới, vượt qua cấp độ ngữ liệu
Bên cạnh quy luật giao tiếp ngôn ngữ, tác giả chuyên luận cũng chỉ ra quy luật giao tiếp xuất hiện trên phương diện: hiện thực khách quan - tác giả - tác phẩm - bạn đọc - hiện thực khách quan Trong quá trình đọc tác phẩm văn
Trang 17học, độc giả thực hiện một hành vi giao tiếp với tác giả Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo, sự tái tạo lại đời sống theo quy luật của cái đẹp - sự giao tiếp này là sự giao tiếp thẩm mỹ Người đọc sẽ không dừng lại ở phạm vi văn bản
mà sự tiếp nhận của họ còn vươn tới các phạm trù văn học xã hội lịch sử chính trị - đạo đức - thẩm mỹ Bởi sự vận động vô tận của nghĩa sẽ làm cho những thông tin mang tính chất chân lý trường cửu tồn tại trong tác phẩm sẽ luôn luôn được bổ sung, khám phá bởi các lớp bạn đọc ở các thế hệ, các thời đại khác nhau
-Ngoài ra, sự giao tiếp giữa độc giả - học sinh còn chịu sự chi phối của các điều kiện sống, điều kiện xã hội, chính trị, văn hóa, tâm lý…và các quy luật tiếp nhận đặc thù như: Tính không trọn vẹn trong giao tiếp, tính ngẫu hứng trong tiếp nhận, phân tích trong tiếp nhận, tính lựa chọn trong tiếp nhận
1.1.3 Vai trò của bạn đọc trong quá trình tiếp nhận văn học
Có thể nói, mối quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc là mối quan hệ tương tác giữa người lập mã và giải mã Trong sự tương tác này, văn bản là sự mã hóa thông tin thẩm mỹ của nhà văn Còn người đọc thực hiện một quy trình ngược lại, giải mã văn bản để tiếp nhận thông điệp thẩm mỹ
Bạn đọc đóng một vai trò quan trọng đối với văn học Mỗi tác giả khi sáng tạo ra tác phẩm đã gửi gắm vào đó bao ước mơ, hoài bão, lý tưởng lớn lao… nhưng đó mới chỉ là ở trên giấy tĩnh Khi bạn đọc đã giải mã văn bản đó thì tác phẩm văn học mới thực hiện được chức năng xã hội của mình
Nói tới vấn đề bạn đọc với tiếp nhận văn học không thể không nhắc tới khái niệm tầm tiếp nhận (hay tầm đón nhận) “Với tư cách là chủ thể tiếp nhận với bất cứ tác phẩm văn học nào, người đọc không bao giờ là một tờ giấy trắng thụ động mà vốn có một “tầm đón nhận” được hình thành một cách tổng hợp bởi nhiều yếu tố” Mỗi bạn đọc tùy vào đời sống, lứa tuổi, tâm lý, trình
độ học vấn, nghề nghiệp, thời đại lại có những kiến giải khác nhau về một tác
Trang 18phẩm Đó là một điều bình thường làm phong phú đời sống văn học
Như vậy, mối quan hệ gắn bó, biện chứng giữa người đọc- tiếp nhận văn học sẽ đưa ra những kết luận cho sự tồn tại và phát triển của tác phẩm văn học Bạn đọc, công chúng chính là nhân tố chuyển hóa những giá trị tinh thần trong tác phẩm trở thành những động lực tình cảm trong tiến trình lịch sử 1.2 Đọc hiểu
1.2.1 Đọc
Theo Sách Ngữ văn nâng cao 10 (tập 1) “Đọc là một hoạt động nắm bắt
ý nghĩa trong các ký hiệu của văn bản, khác với nghe là hoạt động nắm bắt ý nghĩa từ tín hiệu âm thanh Đó là hoạt động lấy văn bản viết, in, khắc làm đối tượng Khác với việc đọc của người thoát nạn mù chữ là biết đọc ở đây đòi hỏi hiểu sâu nội dung, tư tưởng, tình cảm, cái đẹp của văn bản và có thể sử dụng văn bản vào đời sống cá nhân và xã hội” [13;35]
Đọc đòi hỏi vận dụng một năng lực tổng hợp của con người: dùng mắt
để xem, dùng trí óc để phán đoán, liên tưởng, tưởng tượng, dùng mộng để ngâm nga, thích thú, dùng kinh nghiệm để thử nghiệm, dùng tay để giở sách, dùng bút để ghi chép, dùng từ điển để tra cứu… Như thế, đọc góp phần giúp con người phát triển toàn diện các năng lực tinh thần của mình
Như vậy, mục đích của việc đọc là để nắm bắt ý nghĩa của văn bản được đọc tức là hiểu văn bản để sống trong thế giới nghệ thuật thưởng ngoạn, giải trí và làm giàu tâm hồn mình Đọc như vậy gắn liền với hiểu
1.2.2 Hiểu
Theo Bathtin, “hiểu” là bao gồm nhiều hành động gắn với nhau:
- Một là cảm thụ, (tiếp nhận), ký hiệu vật chất (màu sắc, con chữ)
- Hai là nhận ra ký hiệu quen hay lạ, hiểu ý nghĩa của nó được lặp đi lặp lại trong ngôn ngữ
- Ba là hiểu ý nghĩa của nó trong ngữ cảnh
Trang 19- Bốn là đối thoại với ý nghĩa đó (tán thành hay phản đối)
Trong đó, nhận thức sẽ bao gồm cả sự đánh giá về chiều sâu và chiều rộng, bản chất tâm lý của sự hiểu biết là biến cái của người khác thành cái vừa của mình, vừa của người khác
“Hiểu” cũng thường gắn liền với “cảm”, nhất là trong các hoạt động tiếp nhận nghệ thuật GS.TS Đặng Thai Mai cho rằng sự thưởng thức chỉ có ý nghĩa và tác dụng khi người đọc hiểu được tác phẩm Ông còn lưu ý bạn đọc nếu chịu khó suy nghĩ thì thế nào cũng thu hoạch được những điều thú vị, sâu sắc, đậm đà, đằng sau cái âm điệu trầm bổng
Có thể nói: “cảm” tức là cảm xúc, tình cảm bổ sung cho “hiểu” làm cho
sự hiểu thêm sâu sắc và ngược lại hiểu sẽ giúp việc cảm nhận có được cơ sở vững chắc và chỉ sau khi hiểu thì cảm mới sâu
1.2.3 Đọc - hiểu
Đọc hiểu là một quá trình bao gồm việc tiếp xúc với văn bản thông hiểu
cả nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn cũng như thấy được vai trò, tác dụng của các hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật
Theo GS.TS Nguyễn Thanh Hùng: “Đọc - hiểu là một hoạt động của
con người Nó không phải chỉ là hình thức nhận biết nội dung, tư tưởng từ văn bản mà còn là hoạt động tâm lý giàu cảm xúc có tính trực giác và khách quan trong nếm trải của con người Đọc hiểu mang tính chất đối diện một mình, tự lực với văn bản Nó có cái hay là tập trung và lắng đọng, lắng kết thầm lặng năng lực cá nhân Đây là hoạt động thu nạp và tỏa sáng âm thầm với sức mạnh nội hóa kinh nghiệm cuộc sống, kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm nghệ thuật và kinh nghiệm văn hóa trong cấu trúc tinh thần, cá thể”
[6;15]
Đọc - hiểu còn được hiểu theo lớp nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩa rộng:
Trang 20Đọc - hiểu chỉ chung phương thức và đích của việc lĩnh hội tri thức, nắm bắt thông tin Đó là hoạt động nhận thức nói chung (đọc hiểu văn bản báo chí, đọc hiểu văn bản lịch sử, xã hội, văn hóa…) thông qua con đường giải mã ngôn từ Theo nghĩa hẹp: đọc - hiểu là hoạt động thưởng thức nghệ thuật ngôn
từ, hưởng thụ thẩm mỹ của con người Nó bao gồm những hành động thể chất (mắt nhìn, tay giở sách, tra từ điển) và thao tác tư duy (tưởng tượng, phân tích, phán đoán…) để đi đến đích là cảm hiểu và thể nghiệm được nội dung, ý nghĩa của văn bản
Như vậy, đọc văn là quá trình đi tìm hiểu ý nghĩa tiềm ẩn trong văn bản, hiểu được các ý nghĩa đó và làm giàu có, phong phú vốn hiểu biết của bản thân Chính vì thế, một nhiệm vụ quan trọng của việc dạy học Ngữ văn là tập trung hình thành cho học sinh cách đọc văn để dần dần các em có thể tự đọc hiểu văn bản một cách khoa học, đúng đắn
1.3 Đối thoại
1.3.1 Khái niệm đối thoại
Theo “Từ điển tiếng Việt” Hoàng Phê (chủ biên), đối thoại là:
- Nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau Ví dụ như cuộc
đối thoại, người đối thoại, đoạn đối thoại
- Đối thoại là bàn bạc, thương lượng trực tiếp với nhau giữa hai hay nhiều bên để giải quyết các vấn đề tranh chấp Ví dụ như chủ trương không
đối thoại [11;338]
GS Đỗ Hữu Châu cũng nhận định rằng: hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ chính là đối thoại Số lượng nhân vật đối thoại thay đổi từ hai đến một số lượng lớn Có những cuộc đối thoại tay đôi, tay ba, tay tư hoặc nhiều hơn nữa (đa thoại) Trong những cuộc hội nghị, mít tinh hay giờ học… thì số lượng nhân vật tham gia đối thoại vô cùng lớn, không cố định được Trong đối thoại xuất hiện hai vai đó là vai nói và vai nghe Cuộc đối
Trang 21thoại chủ động là đối thoại mà trong đó cả hai vai đều có quyền chủ động tham
dự vào cuộc đối thoại như nhau theo nguyên tắc: anh nói tôi nghe, tôi nói anh nghe, tôi và anh luân phiên nói và nghe cùng một hướng đến một chủ đề
Cuộc đối thoại thụ động là cuộc đối thoại trong đó chỉ có một người giữ cương vị nói còn người kia chỉ nghe không tham gia được hoặc nếu có tham gia thì cũng rất hạn chế, đơn thuần chỉ bày tỏ kết quả tiếp nhận của mình Như vậy, có thể thấy đối thoại- lắng nghe là một hình thức phổ biến trong mọi hoạt động sống và làm việc trong xã hội ngày nay Các hình thức đối thoại được áp dụng và sử dụng nhằm tìm ra giải pháp hữu hiệu nhất để giải quyết mọi vấn đề chung vì một xã hội tốt đẹp hơn Đối thoại là cách tốt nhất nhằm tìm ra một tiếng nói chung, một cách giải quyết tối ưu công việc nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu của các bên tham gia
1.3.2 Các hình thức của đối thoại
1.3.2.1 Phân loại theo nhân vật
Căn cứ vào số lượng người tham gia hội thoại, có thể chia đối thoại thành hai loại: song thoại và đa thoại
Song thoại: là đối thoại giữa hai nhân vật, bên A nói bên B nghe và phản hồi trở lại
Đa thoại: là những cuộc thoại có từ ba người trở lên Nó còn được gọi
là đối thoại đám đông
1.3.2.2 Phân loại theo tính chất đối thoại:
Đối thoại trực tiếp: Đây là kiểu đối thoại quen thuộc nhất, dễ nhận biết nhất trong tất cả các cuộc đối thoại được phân loại theo tiêu chí này Bởi các nhân vật tham gia đối thoại đều xuất hiện một cách trực tiếp để cùng trao đổi, bàn luận trực diện với nhau về một vấn đề nào đó Về thực chất ở đối thoại này, các nhân vật tham gia giao tiếp thường có mặt đầy đủ: bên trao, bên đáp
Đối thoại gián tiếp: đây là hình thức đối thoại ngầm, mang tính chất vô
Trang 22hình Nó được hiểu như là một sự đối thoại hướng tới lời của người khác, hay tới một điều gì khác Loại đối thoại này thường tạo ra sự “tranh luận ngầm” giữa các chủ thể lời nói Nhiều khi chủ thể đối thoại không xuất hiện một cách trực diện mà ở dưới dạng một nhân vật khác Đối thoại gián tiếp bắt nguồn từ bản chất đối thoại của ngôn ngữ mà Bakhtin đã đề cập tới nhiều lần trong
chuyên luận của mình: “lời nói trong bản chất của nó vốn có tính chất đối
thoại” [1;192] và “Ngôn ngữ chỉ sống trong sự giao tiếp đối thoại giữa những người sử dụng ngôn ngữ Sự giao tiếp đối thoại chính là lĩnh vực đích thực của cuộc sống ngôn ngữ” [1;192]
Đối thoại trong độc thoại: về hình thức, nó gần như là lời độc thoại nội
tâm của nhân vật Bởi “độc thoại nội tâm cũng chính là hình thức đối thoại
của nhân vật, trong đó người đối thoại cũng chính là mình, nói cách khác là
sự phân thân: mình nói chuyện với mình, một mình đóng cả hai vai người nói
và người nghe, nói lại bằng một giọng khác, một cách suy nghĩ khác” [5;77]
Hay nói như Bakhtin: “Ngay khi con người nói một mình, nó cũng nói với
mình, nó lưỡng hóa con người mình” [1;18]
1.3.3 Vai trò của đối thoại trong dạy học
Trong thời đại của khoa học công nghệ, thông tin liên lạc tự học đang là chìa khóa vàng đối với tất cả những người muốn chiếm lĩnh kho tàng tri thức của nhân loại, làm chủ cuộc sống của chính mình Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi con người trên con đường học vấn thường xuyên của
cả cuộc đời Đối với mỗi con người, thời gian tự học, tự đào tạo của bản thân là con đường bổ sung tri thức, văn hóa thường xuyên của cả cuộc đời Không có
tự học, con người sẽ bị tụt hậu nhanh chóng, không theo kịp bước tiến của xã hội hiện đại Đối với học sinh phổ thông đang ở độ tuổi mới lớn chưa ý thức được việc tự học, các em vẫn còn tâm lý ỷ lại, thụ động, dựa vào những cái sẵn
có Vì vậy, trong nhà trường giáo viên hơn bao giờ hết phải là người hướng
Trang 23dẫn, điều chỉnh việc tự học, hình thành ở các em nhu cầu tự học, ý thức cần phải tự học, tự mình tìm tòi sáng tạo, tìm ra chân lý Tự học chỉ thực sự có kết quả nếu được xây dựng trên nền tảng của niềm say mê, sự hứng thú
Tổ chức giờ học theo hướng đối thoại bắt buộc học sinh phải có sự chuẩn bị bài ở nhà Giờ học với không khí thi đua sôi nổi, tranh luận sẽ tạo cho các em sự say mê, niềm hứng thú trong học tập Đây chính là động lực để các em tìm tòi, phát hiện, sáng tạo những cái mới Không khí dân chủ của một giờ học đối thoại phù hợp với tâm lý của học sinh phổ thông, thích được bộc
lộ mình, muốn bày tỏ quan niệm cá nhân của mình Cùng ở một độ tuổi được giáo dục, kinh nghiệm sống, vốn sống của các em cơ bản là như nhau, các em
dễ dàng chia sẻ những hiểu biết, những suy nghĩ của mình và sẽ có sự đồng cảm, chia sẻ Trước đây, trong những giờ học thụ động, học sinh chỉ cần ngồi nghe giảng- ghi chép và khi làm bài kiểm tra chỉ cần học thuộc, làm theo những gợi ý có sẵn phù hợp với ý thầy cô Chính vì thế mà học sinh không chịu tự học, không chịu tự tìm ra chân lý Hay nói cách khác là óc sáng tạo, khả năng tự học, tự tìm ra cái mới của học sinh bị giảm đi
Ở khía cạnh này, đối thoại là quá trình khắc phục mọi sự hiểu nhầm lẫn, độc đoán hay áp đặt, giáo điều về ý nghĩa tác phẩm văn học Có thể nói đối thoại là con đường để hoạt động tiếp cận chân lý nghệ thuật ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn
1.3.4 Điều kiện để dạy học đối thoại
1.3.4.1 Giáo viên
Dạy học đối thoại tập trung vào phát huy tính tích cực của học sinh chứ không tập trung vào giáo viên Tuy nhiên, để dạy học đối thoại thì giáo viên cũng cần phải có sự lỗ lực rất nhiều so với phương pháp dạy học thụ động trước đây Với sứ mệnh là “tác giả của nền giáo dục”, trước hết, giáo viên phải được đào tạo để thích ứng với những đổi thay về chức năng cũng như
Trang 24nhiệm vụ của ngành, nghề Giáo viên phải có kiến thức chuyên môn sâu rộng,
có trình độ sư phạm lành nghề, biết ứng xử tinh tế, linh hoạt, khéo léo, biết sử dụng tiện ích của công nghệ thông tin vào quá trình dạy học… Hơn thế, giáo viên cũng cần định hướng phát triển học sinh theo những mục tiêu giáo dục đặt ra mà không làm mất đi sự tự do, sáng tạo trong mọi hoạt động nhận thức của học sinh
1.3.4.2 Học sinh
Trong dạy học truyền thống, học sinh tiếp thu tri thức một cách thụ động, ít có sự sáng tạo, học sinh như bình chứa để giáo viên rót kiến thức Dạy học hiện đại xem học sinh là hạt nhân, là chủ thể của quá trình dạy học
Là đối tượng trung tâm của giờ học, học sinh cần phải hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo Các em có thể tự do phát biểu ý kiến, trình bày quan điểm cá nhân hay phản bác lại ý kiến của bạn bè, thầy cô trên cơ sở lập luận đúng đắn, khoa học Như vậy hoạt động học của học sinh không giản đơn chỉ để nghe, ghi nhớ mà là một chuỗi các hoạt động tìm kiếm chân lý khoa học, giải quyết một loạt nhiệm vụ đa dạng, phong phú từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp… Hơn bao giờ hết người giáo viên đừng làm thay và không thể làm thay người học
Muốn có sự hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo đòi hỏi người đọc phải có sự chuẩn bị tích cực, chu đáo trước khi đến lớp Học sinh cũng cần phải có thời gian tự học, có khả năng tự học, có ý thức tự học và cũng cần có
sự hỗ trợ giúp đỡ nhau trong quá trình tự học
Trong giờ học đối thoại, tất cả học sinh đều phải tập trung, chú ý vào vấn
đề đang thảo luận, vừa tích cực tham gia vào cuộc đối thoại chung vừa có sự ghi chép để nhận xét, đánh giá ý kiến của bạn hoặc bổ sung kiến thức cho bản thân Sau mỗi cuộc đối thoại học sinh cũng cần hệ thống lại kiến thức bài học dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Trang 25Chương 2 HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN “HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA” (TRÍCH “SỐ ĐỎ”- VŨ TRỌNG
PHỤNG) THEO HƯỚNG ĐỐI THOẠI
Để dạy đọc- hiểu văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” theo hướng đối thoại, khóa luận sẽ trực tiếp khai thác những điểm kiến thức then chốt thông qua hệ thống câu hỏi để hình thành những nội dung đối thoại cơ bản khi đọc hiểu tác phẩm Nội dung đó được triển khai cụ thể như sau:
2.1 Đối thoại về tác giả
Tìm hiểu về tác giả là một nội dung lớn của việc dạy học tác phẩm văn chương Theo phương pháp giảng dạy văn học, tiểu sử và quá trình sáng tác của nhà văn chính là chìa khóa để giải quyết những vấn đề phức tạp của việc phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường Hiểu được quá trình hình thành
và phát triển thế giới khách quan của nhà văn có nghĩa là xác định được những đặc điểm tư tưởng, chính trị, xã hội, kinh tế của thời kì lịch sử mà nhà văn đó sống và sáng tác, từ đó góp phần giải đáp cho câu hỏi: Nhà văn đã phản ánh các vấn đề hiện thực lịch sử vào tác phẩm của mình như thế nào?
Để giúp học sinh có những thông tin cần thiết về tác giả Vũ Trọng Phụng, giáo viên có thể tổ chức dạy học theo hướng đối thoại thông qua hệ thống câu hỏi sau:
Câu hỏi 1: Tiểu sử, cuộc đời nhà văn Vũ Trọng Phụng có những điểm gì đáng lưu ý?
Đối với nhà văn Vũ Trọng Phụng, một tác giả văn học có tiểu sử và cuộc đời vô cùng đặc biệt thì những biến chuyển trong cuộc đời của ông có ảnh hưởng nhất định đến các sáng tác của nhà văn
Vũ Trọng Phụng sinh ngày 20 tháng 10 năm 1912 trong một gia đình nghèo ở Hà Nội Cha của Vũ Trọng Phụng là ông Vũ Văn Lân, nguyên sống
ở làng Hảo (tức Bình Yên Nhân, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên), làm nghề
Trang 26thợ điện ở một xưởng ô tô, Hà Nội Mẹ là bà Phạm Thị Khách, người làng
Vẽ, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, nay thuộc thành phố Hà Nội, sống bằng nghề khâu vá thuê
Người cha của Vũ Trọng Phụng đã sớm từ giã cõi đời, để lại người mẹ già, người vợ trẻ và đứa con đầu lòng non nớt mới trào đời Vũ Trọng Phụng
mồ côi cha khi mới được bảy tháng tuổi Người cha mất sớm để lại một gia cảnh rất đơn côi, tài sản gia đình không có gì đáng giá ngoài đôi bàn tay tần tảo sớm hôm nuôi mẹ nuôi con của người vợ góa Mẹ của Vũ Trọng Phụng ở vậy nuôi con khi tuổi đời mới chỉ hai mươi tư
Tuy sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng ông vẫn được tới trường như bao đứa trẻ cùng trang lứa Năm 1921, khi lên chín tuổi, ông bắt đầu được học Pháp văn ở trường Hàng Vôi (nay là trường Nguyễn Du), sau đó được học ở trường Hàng Kèn (nay là trường Quang Trung) và sau đó là trường Sinh Từ Ngay từ nhỏ, Vũ Trọng Phụng cũng đã tỏ ra là người có năng khiếu nghệ thuật, đánh đàn nguyệt hay, vẽ giỏi, thích làm thơ, ham tìm hiểu
Năm 1926, Vũ Trọng Phụng đỗ bằng tiểu học lúc mười lăm tuổi Trong hoàn cảnh gia đình rất bần cùng, Vũ Trọng Phụng chọn thi trường Sư phạm
sơ cấp với hi vọng có học bổng để đỡ đần mẹ Nhưng kì thi không có kết quả Vậy là mới học xong tiểu học, ông đã phải đi làm kiếm sống để san sẻ gánh nặng với mẹ Khoảng tháng 10 năm 1926, Vũ Trọng Phụng xin vào làm thư
ký ở nhà hàng Godard, sau một thời gian thì mất việc, ông chuyển qua làm đánh máy chữ ở nhà in Viễn Đông nhưng cũng chỉ được hai năm, ông lại bị mất việc Tuy nhiên, trong thời gian làm ở nhà in Viễn Đông, Vũ Trọng Phụng đã có những bài viết đầu tay in trên tờ Ngọ Báo Lúc này, mặc dù chưa
có nhuận bút nhưng với lòng say mê văn chương, Vũ Trọng Phụng vẫn tiếp tục sáng tác
Trong quãng thời gian làm thư kí, viết văn, nơi làm việc cũng chính là
Trang 27căn nhà nhỏ của ông, ngụ tại phố Hàng Bạc, Hà Nội - một trong những địa điểm ăn chơi khét tiếng của Hà thành Chính trong khoảng thời gian sống và làm việc ở đây, Vũ Trọng Phụng đã có cơ hội tiếp xúc với nhiều hạng người, nhiều cạm bẫy đê tiện, xấu xa, trụy lạc nên ông đã thu thập được những tư liệu quý giá cho những sáng tác của mình và có cái nhìn thấu đáo về xã hội đương thời
Vũ Trọng Phụng là một con người bình dị và giàu lòng tự trọng Trong cuộc sống riêng, ông chỉ mong kiếm tiền giúp mẹ và dành dụm tiền cưới vợ, sinh con Dù ông viết rất nhiều trong khoảng thời gian chưa đầy mười năm, gần hai mươi tác phẩm và nhiều bài báo nhưng cái nghèo vẫn cứ đeo đuổi gia đình ông Do phải làm việc quá sức lại trong hoàn cảnh thiếu thốn, căn bệnh lao phổi ngày một thêm trầm trọng đã làm ông kiệt sức Ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1939 tại căn nhà số 73 Cầu Mới, Ngã Tư Sở (nay thuộc Thanh Xuân, Hà Nội) Năm ấy, Vũ Trọng Phụng mới chỉ 27 tuổi Ông ra đi để lại
mẹ, bà nội, vợ - ba người đàn bà góa và cô con gái chưa đầy năm
Câu hỏi 2: Những đặc điểm về cuộc đời nhà văn gợi cho em những suy nghĩ và thái độ gì?
Qua những hiểu biết về cuộc đời của tác giả, có thể thấy nhà văn Vũ Trọng Phụng là một con người có nghị lực phi thường, đã vượt lên trên những khó khăn của hoàn cảnh để sáng tạo nên những tác phẩm văn chương mang giá trị cao cả về nội dung và nghệ thuật Ông là một tấm gương tiêu biểu cho lớp thế hệ nhà văn trưởng thành trong giai đoạn khó khăn của đất nước, khi nhân dân còn chịu cảnh áp bức bóc lột của thực dân và phong kiến Với các tác phẩm của mình, nhà văn đã nói lên tiếng nói của nhân dân, đứng về phía nhân dân, bảo vệ quyền lợi của giai cấp bóc lột và tố cáo xã hội đương thời thối nát và vô lương, qua đó, hình thành thái độ trân trọng, yêu mến đối với nhà văn tài hoa nhưng bạc mệnh này
Trang 282.2 Đối thoại về tác phẩm
2.2.1 Nhan đề đoạn trích
Tác phẩm nghệ thuật chính là đứa con tinh thần của người nghệ sĩ và việc đặt tên cho đứa con tinh thần ấy cũng được coi là một công việc vô cùng quan trọng Nhan đề tác phẩm là một yếu tố nghệ thuật đặc biệt, nó không chỉ
là cái chúng ta dùng để định danh, để phân biệt với các tác phẩm khác mà nó còn là một bộ phận không thể tách rời của tác phẩm và cùng với nội dung văn bản, nó cũng thể hiện chủ đề, tư tưởng, dụng ý nghệ thuật của tác giả
Với ý nghĩa quan trọng như vậy, khi phân tích, lý giải nhan đề tác phẩm, chúng ta cần đặt nó trong mối quan hệ với các yếu tố khác như nhân vật, chi tiết, sự kiện của tác phẩm
Đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” có tên đầy đủ là “Hạnh phúc của một tang gia - Văn Minh nữa cũng nói vào - Một đám ma gương mẫu” Việc đi tìm hiểu tên đầy đủ của chương truyện và so sánh tiêu đề đầy đủ đó với nhan đề trong sách giáo khoa do người biên soạn đặt là một vấn đề cần được trao đổi, thảo luận trong giờ dạy đọc - hiểu
Trong phần kiến thức này, giáo viên có thể sử dụng phương pháp làm việc nhóm để các em có thể trao đổi, thảo luận với nhau để tìm ra ý nghĩa nhan đề
Câu hỏi thảo luận 1: Tìm hiểu mâu thuẫn phát sinh, thể hiện qua nhan
đề đoạn trích? Nhận xét của em về cách sử dụng từ ngữ: “Hạnh phúc”, “tang gia” của tác giả?
Có thể thấy, ngay từ nhan đề đoạn trích nhà văn đã gửi gắm vào đó những ý đồ nghệ thuật thể hiện qua việc sử dụng cặp từ trái nghĩa đi liền nhau: “hạnh phúc”, “tang gia” “Tang gia” là gia đình có người thân đời, là lúc mọi người đau buồn trước sự mất mát, chia ly Việc tang ma từ trước tới nay vẫn luôn được biết đến với ý nghĩa đau buồn, thương tiếc, không khí của
Trang 29đám ma vì vậy cũng bị bao trùm bởi sự tang tóc, chia ly, tử biệt Hơn thế nữa,
đã là con người sống trên thế gian thì không ai lại mong muốn việc không hay này xảy đến với những người thân yêu của mình Ý nghĩa hiện thực ấy, đã xuất hiện từ hàng ngàn năm nay và tồn tại song song với sự tồn tại của con người Vậy mà đám tang trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” lại đi ngược lại tất cả những điều đó Nó mang một sắc thái khác biệt và kì lạ mà nhà văn cô đọng lại bằng hai từ hết sức chính xác: “hạnh phúc”
“Hạnh phúc” là niềm sung sướng của con người khi đạt được những ước nguyện trong cuộc sống Người ta cũng không thể hạnh phúc nếu như đang có chuyện buồn Vậy mà trong hoàn cảnh gia đình có người qua đời ấy, những nhân vật trong tác phẩm lại có được niềm vui vẻ, thỏa mãn Điều này làm cho người đọc không khỏi bật cười bởi cách sử dụng từ thông minh, hóm hỉnh của nhà văn cũng như hé lộ một phần về những bất ngờ sẽ xuất hiện trong văn bản Mặt khác, khi đặt hai từ Hán Việt trái nghĩa ấy cạnh nhau, nhà văn đã tạo nên được một mâu thuẫn trào phúng, phản ánh sự thật tàn nhẫn: cái chết của cụ
cố tổ đã đem lại cho cả gia đình này một niềm sung sướng hoan hỉ và niềm sung sướng ấy to lớn tới mức nó tự phát bung ra, tràn trề, không kìm nén được
Câu hỏi thảo luận 2: Cho biết tên đầy đủ của nhan đề đoạn trích nằm trong chương XV của tác phẩm “Số đỏ”? Chỉ ra sự khác nhau về nhan đề trong sách giáo khoa và nhan đề trong tác phẩm? Theo em, sự thay đổi đó nhằm mục đích gì?
Khác với nhan đề trong sách giáo khoa, nhan đề đầy đủ của chương truyện trong tác phẩm có tên là: “Hạnh phúc của một tang gia- Văn Minh nữa cũng nói vào- Một đám ma gương mẫu” Đây là một nhan đề chứa đựng được đầy đủ nội dung của chương truyện Nó bao chứa những cái bất thường, mang mâu thuẫn trào phúng “Hạnh phúc của một tang gia” Nó dự báo những bất đồng giữa phái già và phái trẻ “Văn Minh nữa cũng nói vào” và bao hàm cả
Trang 30sự hãnh diện về “Một đám ma gương mẫu” Tuy nhiên, chỉ với sáu chữ:
“Hạnh phúc của một tang gia” cũng đã cô đọng lại những cái bất thường, mâu thuẫn, trào phúng của tình huống truyện
Trong văn bản “Hạnh phúc của một tang gia”, nhà văn Vũ Trọng Phụng
đã xây dựng một hệ thống nhân vật vô cùng phong phú với đầy đủ các màu sắc riêng và mỗi nhân vật lại chứa đựng trong đó một ý đồ nghệ thuật của tác giả Tuy nhiên, với khuôn khổ cho phép, bài khóa luận này chỉ tập trung vào một số nhân vật tiêu biểu và được phân chia thành hai tuyến: nhân vật trong gia đình và nhân vật ngoài gia đình
2.2.2.1 Nhân vật trong gia đình cụ cố Hồng
Gia đình cụ cố Hồng được coi là một gia đình thượng lưu giàu có bậc nhất Hà Nội Tuy nhiên, đi ngược lại với sự giàu có bên ngoài ấy, bản chất bên trong của mỗi con người trong gia đình lại thể hiện sự trọc phú, ngu dốt, ham danh, hám lợi và vô đạo đức Những đặc điểm ấy đã được nhà văn Vũ Trọng Phụng khắc họa lại bằng những nét vẽ trào phúng, châm biếm và mỉa mai sâu sắc
Nhân vật cụ cố Hồng
Có thể nói, trong toàn bộ văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” nhân vật cụ cố Hồng nổi lên như một người có địa vị cao nhất trong gia đình nhưng đồng thời cũng là một kẻ háo danh và bất hiếu bậc nhất Điều đó được thể hiện qua tên gọi, suy nghĩ và hành động của nhân vật này Dựa vào những đặc
Trang 31trưng ấy, giáo viên cũng sẽ đưa ra hệ thống câu hỏi đối thoại dành cho học sinh như sau:
Câu hỏi 1: Sau khi cụ cố tổ qua đời, cụ cố Hồng đã có những hành động
và lời nói như thế nào? Nhận xét về chi tiết: “thằng bồi tiêm đã đếm được đúng một nghìn tám trăm bảy mươi hai câu gắt “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi” của cụ cố Hồng”?
Về hành động, có thể thấy nhân vật cụ cố Hồng đơn thuần chỉ ngồi yên một chỗ và không làm gì cả Trong lẽ thường tình khi nhà có tang thì người đứng đầu gia đình luôn là người đứng lên lo liệu mọi việc và là người vất vả nhất Tuy nhiên, đi ngược lại với lẽ thường, người đọc tuyệt nhiên không thấy
có sự lo toan, tất bật nào trong hành động mà chỉ thấy cụ cố Hồng ung dung, bình thản hút thuốc phiện, mặc kệ cho lũ con cháu la ó vì thấy công việc tiến triển quá chậm chạp
Về ngôn ngữ, lời nói: trong lúc gia đình đang nhốn nháo, cụ cố Hồng với
vẻ bình tĩnh của một “người già”, vừa hút thuốc phiện, vừa gắt: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!” Tuy nhiên, không phải chỉ nói một câu mà “thằng bồi tiêm đã đếm được đúng một nghìn tám trăm bảy mươi hai câu gắt” Đây là một chi tiết nghệ thuật vô cùng đặc sắc Chỉ với một câu văn ngắn nhưng đã mang lại hiệu quả lớn trong việc khắc họa tính cách, tâm lý nhân vật Cụ cố tổ vừa mất, con cái, cháu chắt mới chỉ kịp chạy đi lo việc mà lượng từ nói ra trong khoảng thời gian đó đã lên tới con số 1872 câu Có thể thấy là cụ cố Hồng đã nói liên tục, với tần suất rất lớn, cụ nói là “biết rồi” nhưng thực ra là không biết gì cả, nói rằng “nói mãi” nhưng thực tế mình lại là người nói đi nói lại nhiều nhất
Câu hỏi 2: Phân tích suy nghĩ, tâm lý của cụ cố Hồng trong đám tang? Những suy nghĩ ấy cho em cảm nhận gì về nhân vật này?
Về tâm lý và suy nghĩ của nhân vật này, ta có thể nhận thấy rất nhiều điểm đặc biệt Gọi là cụ cố nhưng thực ra “cụ” mới chỉ ngoài 50 tuổi- cái độ