LỜI CAM ĐOAN Khóa luận về đề tài “Tìm hiểu về sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại thư viện tỉnh Hà Tĩnh” được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của thạc sĩ Tạ Thị Mỹ Hạnh.. Để có thể
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thư viện thông tin
HÀ NỘI – 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thư viện thông tin
Người hướng dẫn khoa học ThS TẠ THỊ MỸ HẠNH
HÀ NỘI – 2014
Trang 3đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành xin cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Công nghệ Thông tin - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô thạc sĩ Tạ Thị Mỹ Hạnh - người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Cuối cùng, cho phép tôi được cảm ơn những người thân trong gia đình
và bạn bè - những người đã khuyến khích và là nguồn động viên rất lớn đối với tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Mặc dù đã rất cố gắng, song do thời gian và trình độ có hạn nên khóa luận không tránh khỏi những khiếm khuyết Vì vậy, tôi rất mong nhận được
sự góp ý của thầy cô giáo, các chuyên gia trong ngành và bạn bè để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Mai Thị Hương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận về đề tài “Tìm hiểu về sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại thư viện tỉnh Hà Tĩnh” được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của thạc
sĩ Tạ Thị Mỹ Hạnh Trong quá trình nghiên cứu tôi có tham khảo một số tài
liệu nhưng không hề sao chép hoàn toàn Tôi xin cam đoan khóa luận này hoàn toàn không trùng khớp với bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào được công bố trước đó
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Mai Thị Hương
Trang 5DVTT - TV Dịch vụ thông tin - thƣ viện
SPTT - TV Sản phẩm thông tin - thƣ viện
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2
3 Mục tiêu và nhiêm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa của đề tài 4
7 Bố cục của đề tài 4
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THƯ VIỆN TỈNH HÀ TĨNH VỚI CÁC
SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN THƯ VIỆN 6
1.1 Khái quát về thư viện tỉnh Hà Tĩnh 6
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 6
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của thư viện 9
1.1.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ 11
1.1.4 Nguồn lực thông tin 12
1.1.5 Cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin 15
1.2 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin 17
1.2.1 Đặc điểm người dùng tin 18
1.2.2 Đặc điểm nhu cầu tin 22
1.3 Các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện 23
1.3.1 Khái niệm 23
1.3.2 Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện ở thư viện tỉnh Hà Tĩnh 25
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện 26
1.3.4 Các yêu cầu của các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại thư viện tỉnh Hà Tĩnh 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN THƯ VIỆN TẠI THƯ VIỆN TỈNH HÀ TĨNH 30
2.1 Các sản phẩm thông tin - thư viện 30
2.1.1 Hệ thống mục lục 30
2.1.2 Thư mục 33
Trang 72.1.3 Cơ sở dữ liệu 39
2.1.4 Trang chủ 40
2.2 Các dịch vụ thông tin - thư viện 42
2.2.1 Dịch vụ cung cấp tài liệu 42
2.2.2 Dịch vụ trao đổi thông tin 53
2.2.3 Dịch vụ cung cấp thông tin theo yêu cầu 57
2.2.4 Dịch vụ tư vấn thông tin 58
3.1 Nhận xét về các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện 59
3.1.1 Ưu điểm 59
3.1.2 Hạn chế 60
3.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế 61
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO
SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN THƯ VIỆN
TẠI THƯ VIỆN TỈNH HÀ TĨNH 63
3.1 Tăng cường nguồn vốn kinh phí thư viện 63
3.2 Nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin- thư viện 64
3.3 Mở rộng và đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 66 3.4 Quan tâm, chú ý tới công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ 68
3.5 Công tác hướng dẫn người dùng tin 70
3.6 Đầu tư các trang thiết bị hiện đại, cơ sở vật chất tiên tiến để tạo lập, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện 72
3.7 Dựa vào sự liên kết chặt chẽ giữa các thư viện để học hỏi và trao đổi những kinh nghiệm tiên tiến trong công tác sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện 73
3.8 Tổ chức các hoạt động để tuyên truyền và quảng bá sản phẩm 73
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Thông tin là tài nguyên quý báu cho nhân loại Thông tin luôn là nhân tố
để hình thành ý tưởng cũng như sản phẩm của trí tuệ, tri thức Bước sang những năm đầu thập niên thứ hai của thế kỉ XXI với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, sự bùng nổ thông tin trong kỷ nguyên Internet (world wide web) đã mang lại cuộc cách mạng công nghệ trên diện rộng và tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó ảnh hưởng một phần không nhỏ tới ngành Thông tin - thư viện (TT - TV) Thư viện ra đời với sứ mệnh gắn liền tri thức, là nơi tổ chức và lưu giữ thông tin một cách khoa học, nơi mà bạn đọc có thể tìm thấy những vốn kiến thức và nguồn thông tin vô cùng phong phú, dồi dào Thư viện luôn đồng hành cùng con người với sự tiến hóa của nhận thức, mở mang tầm nhìn, phát triển của khoa học, bảo tồn
và phát huy văn hóa Để có thể thực hiện tốt công tác phổ biến thông tin phục
vụ bạn đọc, ngoài việc tổ chức quản lý thư viện và đa dạng hóa vốn tài liệu thì công tác xây dựng nguồn lực thông tin cụ thể là phát triển sản phẩm và dịch
vụ thông tin thư viện (SP & DVTT - TV) đóng vai trò hết sức quan trọng SP
& DVTT - TV là nguồn lực không thể thiếu của nền kinh tế, là tiềm lực chủ yếu của một thư viện hiện đại
Đúng vậy, sản phẩm thông tin là nhu cầu tất yếu trong sự phát triển của nền kinh tế xã hội hiện nay cùng với sự phát triển của các dịch vụ thông tin
SP & DVTT - TV của các cơ quan TT - TV không phải là kết quả của việc tạo ra các thông tin mới góp phần làm giàu di sản trí tuệ đó mà chính là kết quả của việc xử lý và hệ thống hoá nguồn tin đã có, giúp con người có thể khai thác được chúng theo những mục đích riêng của mình
Qua đánh giá cũng như nhận thấy rõ được vai trò to lớn của các SP & DVTT - TV đối với thư viện hiện nay, thư viện tỉnh Hà Tĩnh đã không ngừng nâng cao, phát huy chất lượng của các SP & DVTT - TV và đã đạt được
Trang 9nhiều kết quả nhất định Đó là việc đáp ứng đủ nhu cầu tin (NCT) cho nhân dân trong tỉnh giúp nâng cao trình độ dân trí, mở mang kiến thức, áp dụng khoa học vào đời sống nhằm phát triển kinh tế địa phương Với vai trò là cơ quan văn hóa giáo dục và thông tin khoa học, thư viện tỉnh Hà Tĩnh đã và đang thực hiện tốt chức năng của mình để phấn đấu đưa tỉnh nhà đi lên cùng với sự phát triển chung của đất nước Tuy nhiên, hiện nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội, sự bùng nổ thông tin tri thức thì hệ thống SP & DVTT - TV của thư viện tỉnh Hà Tĩnh vẫn có những dấu hiệu chưa đáp ứng được kịp thời NCT của NDT Việc nghiên cứu và đánh giá lại hệ thống SP & DVTT - TV hiện đang sử dụng tại thư viện là nhằm đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng các sản phẩm - dịch vụ, qua đó để đáp ứng NCT của bạn đọc một cách tốt nhất Đây là một vấn đề cấp thiết và cần phải được quan tâm đúng mức
Thư viện tỉnh Hà Tĩnh đang có những bước chuyển tiếp mạnh mẽ từ hình thức thư viện truyền thống sang thư viện hiện đại Vì vậy cần phải xây dựng một hệ thống SP & DVTT - TV mới, hiện đại phù hợp cho sự phát triển chung đó, sẵn sàng phục vụ cho việc học tập nghiên cứu, giải trí, nâng cao trình độ của bạn đọc khi đến sử dụng thư viện
Từ những lý do đó mà em lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu về sản phẩm và
dịch vụ thông tin thư viện tại thư viện tỉnh Hà Tĩnh” để làm đề tài khóa
luận của mình Với mong muốn rằng những kiến thức và các kĩ năng đã tìm hiểu được sẽ đóng góp một phần nhỏ vào công tác phát triển SP & DVTT -
TV tại thư viện tỉnh Hà Tĩnh
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
SP & DVTT - TV đáp ứng nhu cầu cho NDT là một trong số các nội
dung thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, những người làm công tác quản lí cũng như những người trực tiếp làm việc tại các thư viện Vì vậy, ở nước ta đã có nhiều đề tài, dự án nghiên cứu quan tâm đến Các công
trình nghiên cứu cụ thể là:
Trang 10- Thạch Lương Giang (2012), Phát triển sản phẩm và dịch vụ thông
tin - thư viện tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội: Luận văn thạc sĩ
- Trần Nhật Linh (2010), Phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm
và dịch vụ thông tin thư viện tại Thư viện Hà Nội: Luận văn thạc sĩ
- Giáp Thị Quỳnh Nga, Phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin thư
viện của Đại học FPT: Luận văn thạc sĩ
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề xây
dựng, phát triển các SP & DVTT - TV Tuy nhiên, mỗi thư viện có số lượng
tài liệu riêng, đặc điểm nhu cầu tin riêng, thành phần bạn đọc và phương
thức phục vụ khác nhau Tại thư viện tỉnh Hà Tĩnh, đến nay vẫn chưa có
một công trình nào nghiên cứu về vấn đề này Chính vì vậy tôi đã lựa chọn
đề tài "Tìm hiểu về sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại thư viện
tỉnh Hà Tĩnh" Đây là đề tài mới lần đầu tiên được nghiên cứu tại thư viện
tỉnh Hà Tĩnh nhằm đề xuất các giải pháp xây dựng và phát triển các SP &
DVTT - TV
3 Mục tiêu và nhiêm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá thực trạng công tác xây dựng và phát triển các SP & DVTT -
TV tại Thư viện Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao và
hoàn thiện công tác phát triển các SP & DVTT - TV tại Thư viện
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu và khảo sát tình hình các sản phẩm thông tin của thư viện
tỉnh Hà Tĩnh và những yếu tố tác động đến các sản phẩm, dịch vụ
thông tin thư viện
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển các sản phẩm, dịch vụ thông
tin thư viện
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại thư viện
tỉnh Hà Tĩnh
Trang 11 Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: Thư viện tỉnh Hà Tĩnh
Thời gian: Từ 5 năm trở lại đây (2008 - 2013)
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận:
Dựa trên những căn cứ lý luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, những chủ trương đường lối phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước về sự nghiệp phát triển ngành thư viện
thông tin nói chung
Phương pháp cụ thể:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
- Phương pháp phân tích số liệu, tổng hợp thống kê, so sánh
- Phương pháp trao đổi ý kiến
6 Ý nghĩa của đề tài
Về mặt lý luận:
Nhằm khẳng định vai trò không thể thiếu của việc hoàn thiện và phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin, lợi ích từ việc sử dụng các sản phẩm và dịch vụ đó trong thư viện
Về mặt thực tiễn:
Trên cơ sở nghiên cứu chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin
- thư viện đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại thư viện tỉnh
Hà Tĩnh
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo thì bố cục của đề cương được chia thành ba chương:
Trang 12Chương 1: Khái quát về thư viện tỉnh Hà Tĩnh và các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện
Chương 2: Thực trạng các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại thư viện tỉnh Hà Tĩnh
Chương 3: Một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng các sản phẩm
và dịch vụ thông tin thư viện tại thư viện tỉnh Hà Tĩnh
Trang 13CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THƯ VIỆN TỈNH HÀ TĨNH VỚI CÁC SẢN
PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN THƯ VIỆN
1.1 Khái quát về thư viện tỉnh Hà Tĩnh
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Hà Tĩnh là một vùng đất giàu truyền thống lịch sử, nơi quy tụ nhiều danh lam thắng cảnh cũng như là nơi sinh ra biết bao các bậc hiền tài Mảnh đất con người Hà Tĩnh luôn là đề tài hấp dẫn, là nguồn cảm hứng sáng tạo của các tác giả và những người biên soạn sách để tạo nên những nguồn tài liệu quý báu, phong phú bổ sung vào kho sách của thư viện địa phương
Nối tiếp truyền thống xưa, với tư cách là trung tâm văn hóa của tỉnh, thư viện tỉnh Hà Tĩnh đã không ngừng đổi mới và phát triển nhanh chóng thực sự trở thành kho tàng tri thức vô giá được đông đảo nhân dân trong và ngoài tỉnh khai thác, sử dụng Sách báo, tài liệu của thư viện đã góp phần quan trọng trong việc phục vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh, tuyên truyền rộng rãi đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phổ biến những thành tựu khoa học kĩ thuật nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, phục vụ nhu cầu học tập,
Hà Tĩnh đã không ngừng phát triển cả về chất lượng hoạt động và công tác tổ chức
Thư viện tỉnh Hà Tĩnh là thư viện công cộng lớn nhất tỉnh nhà được thành lập
trầm ra đời, tồn tại, phát triển, đi sơ tán, bão lũ, nhập tỉnh, tách tỉnh Quá trình
đó tuy có những khó khăn chung của đất nước nhưng thư viện tỉnh cũng đã không ngừng phát triển về mọi mặt thể hiện vai trò tác dụng của mình trong
Trang 14Từ những ngày đầu mới thành lập, vốn tài liệu của thư viện là kho sách Liên khu IV cũ (thời gian đó còn là một phòng của Ty văn hóa) trải qua quá trình
bổ sung tài liệu đến năm 1960 đã có 25.000 bản sách Vốn tài liệu rất hạn chế chỉ gần một vạn cuốn, chủ yếu là kho sách kháng chiến liên khu 4 trước đây Trong biên chế của thư viện chỉ có 3 người, cán bộ phục vụ công tác thư viện
là những người tham gia phong trào văn hóa từ cơ sở sang phụ trách, chưa có trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Mãi đến năm 1965 thì thư viện đã có những bước mới, vốn tài liệu đã được bổ sung nhiều hơn trước tuy không đáng kể Cán bộ đã có 5 biên chế với 2 cán
bộ đại học, 1 trung cấp cho thấy đã có những người có chuyên môn hoạt động trong công tác thư viện Tuy nhiên, năm 1965 trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, Hà Tĩnh là một trong những tỉnh bị chiến tranh phá hoại rất nặng nề, cơ sở vật chất bị đánh phá mạnh Thư viện phải đi sơ tán về nông thôn, mọi hoạt động của thư viện khó khăn, ngừng trệ, một số lượng tài liệu khá lớn đã bị bom đạn tàn phá
Trước khi nhập tỉnh vốn tài liệu của thư viện có 47.000 bản và 50 loại báo, tạp chí Thời điểm này thư viện có 10 biên chế trong có có 4 cán bộ có trình
độ đại học Trong thời gian này các thư viện huyện đều nhận sách mới tại thư viện thuộc Ty văn hóa còn riêng thư viện huyện Cẩm Xuyên thì để lại tỉnh và đóng gói chuyển vào Nam làm kho sách kết nghĩa
Tháng 5-1975 thực hiện chủ trương của tỉnh về việc liên kết với thư viện bạn, thư viện đã bạn giao cho tỉnh Bình Định 30 thùng sách với số lượng 5.000 cuốn Đây chính là biểu hiện của tinh thần đoàn kết toàn dân tạo ra giá trị vật chất tinh thần to lớn nhất mà thư viện Hà Tĩnh đã làm được nhất là trong thời
kì ấy
Năm 1976, sau khi miền Nam giải phóng cả nước đi lên XHCN đã có sự kiện quan trọng diễn ra Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã họp phiên đầu tiên quyết định hợp nhất hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh thành Nghệ Tĩnh
Trang 15Kể từ đó thư viện Hà Tĩnh sát nhập trở thành thư viện Nghệ Tĩnh Từ đây cơ
sở vật chất kĩ thuật được tăng cường, vốn tài liệu được bổ sung khá nhiều, đặc biệt tài liệu địa chí gồm rất nhiều tài liệu quý hiếm Đội ngũ cán bộ thư viện cũng được tăng cường, vốn tài liệu lên đến 15 vạn bản
Tháng 8 - 1991 tỉnh Hà Tĩnh được tái lập trở về thị xã sau 15 năm hợp nhất, thư viện với tên gọi “Thư viện Khoa học Tổng hợp tỉnh Hà Tĩnh” Theo Quyết định số 01QĐ/UB ngày 01 tháng 01 năm 1992 của Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh và đây cũng được cho là giai đoạn khó khăn đối với tỉnh Hà Tĩnh nói chung và thư viện tỉnh nói riêng
Thư viện đã cùng phối hợp các hoạt động như vừa bổ sung sách, báo; vừa phục vụ bạn đọc tại chỗ; vừa đi chỉ đạo cơ sở chia sẻ những khó khăn và động viên nhau cùng cố gắng Cũng chính từ sự nổ lực như vậy thư viện đã nhận được sự quan tâm của Tỉnh ủy, trực tiếp là Sở Văn hóa - thông tin, công trình thư viện tỉnh đã nằm trong 10 công trình trọng điểm được ưu tiên về vốn xây dựng
Đầu năm 1994 trụ sở đã được xây xong, kể từ đó trở đi mọi khâu kĩ thuật nghiệp vụ mới được tiến hành, các kho sách báo được hình thành và bắt đầu phục vụ NDT Sau này thư viện đổi sang tên chính thức là "Thư viện Hà Tĩnh" Thời kì này, do vừa mới chuyển đến cơ sở mới nên thư viện gặp rất nhiều khó khăn song với sự phấn đấu nỗ lực không ngừng của ban lãnh đạo
và toàn thể cán bộ, thư viện tỉnh Hà Tĩnh đã nhanh chóng ổn định tổ chức, cơ
sở vật chất, vốn tài liệu tiếp tục được tăng cường để phục vụ NDT
phục vụ tin
Trải qua chặng đường xây dựng và trưởng thành thư viện Hà Tĩnh thực sự đã trở thành kho tàng lưu trữ một khối lượng tri thức vô giá Vốn tài liệu của thư viện đã góp phần quan trọng trong việc phục vụ NCT, tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, phổ biến tri thức nhằm nâng cao trình độ dân trí, giải trí của nhân dân, đào tạo nguồn nhân lực nhân tài cho sự
Trang 16nghiệp CNH, HĐH đất nước Tới nay, thư viện đã đổi tên chính thức là ''Thư viện tỉnh Hà Tĩnh'' Cơ quan đóng tại số 01- Đường Nguyễn Hữu Thái - Thành Phố Hà Tĩnh - Tỉnh Hà Tĩnh Ngày đầu thành lập với vốn tài liệu chỉ gần 1 vạn cuốn đến nay thư viện đã có 206.905 cuốn sách và 325 loại báo, tạp chí Hằng năm thư viện bổ sung 10.000 - 12.000 bản sách cùng hằng trăm tài liệu điện tử và vật mang tin khác Sách, báo, tạp chí, tài liệu của thư viện đáp ứng mọi nhu cầu tra cứu, tìm kiếm thông tin của đông đảo NDT Mỗi ngày thư viện phục vụ từ 100- 200 lượt người đọc và hàng triệu lượt sách báo luân chuyển Thư viện cấp thẻ dao động từ 1.5000 - 2.500 thẻ/năm cho NDT Đội ngũ cán bộ thư viện cũng được tăng cường và nâng cao từ 3 cán bộ năm
1957 đến nay thư viện đã có 22 cán bộ Cán bộ thư viện trưởng thành về mọi mặt không ngừng nâng cao về trình độ chuyên môn nghiệp vụ Cơ sở vật chất trang thiết bị cũng ngày càng được nâng cấp thực sự trở thành trung tâm văn hóa giáo dục của tỉnh
Cùng với sự phát triển của sự nghiệp thư viện trong cả nước, thư viện tỉnh Hà Tĩnh đang từng bước thay đổi diện mạo của mình, không chỉ tăng nhanh về số lượng mà thư viện còn đang từng bước được tin học hóa, hiện đại hóa, đẩy mạnh mọi hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu nghiên cứu, học tập và nâng cao dân trí cho mọi đối tượng bạn đọc, góp phần đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học công nghệ, kinh tế, văn hóa, đáp ứng ngày càng tốt hơn các chức năng nhiệm vụ mà xã hội giao phó cho mình cũng như phù hợp với xu thế phát triển chung của hệ thống thư viện công cộng trong cả nước
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của thư viện
Chức năng:
Thư viện tỉnh là cơ quan văn hóa, giáo dục, thông tin, giải trí cho mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh Thư viện tỉnh có chức năng thu thập, bảo quản, tổ chức khai thác và sử dụng chung các tài liệu được xuất bản tại địa phương và nói về địa phương, các tài liệu trong nước và nước ngoài, phù hợp với đặc
Trang 17điểm, yêu cầu xây dựng và phát triển địa phương về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước
Nhiệm vụ:
Thư viện tỉnh Hà Tĩnh có những nhiệm vụ sau:
1 Nghiên cứu, cụ thể hóa các chủ trương, chính sách và pháp luật của nhà nước về Thư viện phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh để tham mưu cho Sở VHTT & DL trình Ủy ban nhân dân Tỉnh về kế hoạch, quy hoạch phát triển sự nghiệp thư viện ở tỉnh Hà Tĩnh
2 Tổ chức phục vụ và đảm bảo cho người đọc được sử dụng vốn tài liệu thư viện thông qua các hình thức đọc tại chỗ, mượn về nhà hoặc phục vụ ngoài thư viện phù hợp với nội quy thư viện
3 Tuyên truyền giới thiệu sách báo, tài liệu về các bộ môn tri thức đáp ứng yêu cầu lãnh đạo chính trị, yêu cầu của sự nghiệp giáo dục, của cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá phù hợp với những đặc điểm về thiên nhiên, kinh tế, văn hoá của địa phương
4 Thu thập, tàng trữ và bảo quản lâu dài các tài liệu được xuất bản tại địa phương và viết về địa phương, các tài liệu trong nước và nước ngoài
Tăng cường nguồn lực thông tin thông qua việc mở rộng sự liên thông giữa thư viện với các thư viện trong nước và nước ngoài bằng hình thức cho mượn, trao đổi và kết nối mạng máy tính
4 Xây dựng, phát huy triệt để nội dung vốn tài liệu phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội giai đoạn trước mắt và lâu dài của địa phương
nguồn lực thông tin của thư viện tỉnh thông qua mở rộng sự liên kết giữa thư viện với các thư viện trong nước và thư viện nước ngoài bằng hình thức cho mượn, trao đổi tài liệu, kết nối mạng vi tính…Thanh lọc ra khỏi các kho tài liệu không còn giá trị sử dụng theo quy định của Bộ VHTT & DL
5 Biên soạn và xuất bản và hướng dẫn tra cứu bằng các ấn phẩm thông tin – thư mục, thông tin có chọn lọc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của thư viện
Trang 186 Là trung tâm hướng dẫn nghiệp vụ, thư viện tỉnh phải trở thành thư viện kiểu mẫu về nghiệp vụ, kỹ thuật và thường xuyên tổng kết, phổ biến kinh nghiệm để nâng cao chất lượng công tác
Hướng dẫn giúp đỡ nghiệp vụ, kỹ thuật và thường xuyên phối hợp hoạt động với các thư viện huyện, xã, khu phố quận, thư viện thuộc các ngành, tham gia công tác đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ thư viện ở địa phương
7 Thư viện thành phố đảm nhiệm việc tổ chức bổ sung sách, báo cho các thư viện chi nhánh theo đúng tính chất và nhiệm vụ của từng nơi
Tổ chức các hoạt động dịch vụ có thu phí phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của thư viện đúng với quy định của pháp luật
8 Đẩy mạnh hoạt động ứng dụng CNTT vào hoạt động thư viện ở địa phương, tham gia xây dựng và phát triển mạng lưới TT- TV của hệ thống thư viện công cộng
9 Thực hiện báo cáo định kỳ và báo cáo đột xuất và tình hình hoạt động của thư viện với Giám đốc Sở VHTT & DL tỉnh và Bộ VHTT & DL
10 Quản lý cán bộ và tài sản theo phân cấp và quy định của Sở VHTT & DL
1.1.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ
Bộ máy tổ chức của thư viện tỉnh Hà Tĩnh gồm có: Ban Giám đốc, Phòng nghiệp vụ, Phòng tổ chức hành chính, Phòng phục vụ (phòng đọc, phòng báo tạp chí, phòng thiếu nhi, phòng sách ngoại văn, địa chí, phòng đa phương tiện, phòng mượn và các phòng chuyên biệt khác )
Trong 13 người tốt nghiệp đại học thì có 10 người tốt nghiệp chuyên ngành
TT - TV
Sau đây là sơ đồ cơ cấu tổ chức của thư viện:
Trang 19Bảng 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của thư viện tỉnh Hà Tĩnh
1.1.4 Nguồn lực thông tin
Nguồn lực thông tin trong thư viện bao gồm các dạng tài nguyên đặc biệt Hiện nay thư viện tỉnh Hà Tĩnh có một nguồn lực thông tin khá phong phú và đa dạng
Phòng phục vụ đọc
Phòng
đa phương tiện
Phòng nghiệp vụ
Phòng phục vụ mượn
Phòng sách ngoại văn, địa chí vcứuthô
ng tin
Trang 20Nội dung Số đầu tài liệu Tỷ lệ %
Bảng 1.3: Nguồn lực thông tin phân chia theo loại hình thư viện
Qua khảo sát, tìm hiểu cho thấy loại hình tài liệu chủ yếu là loại tài liệu bằng giấy (sách, báo, tạp chí, tranh ảnh…) chiếm 80,78% Các loại tài liệu khác nhƣ băng đĩa chiếm 0,20% Loại hình tài liệu tại thƣ viện có sự chênh lệch lớn nhƣ vậy là do thói quen sử dụng tài liệu của bạn đọc khi đến thƣ viện Sách, báo, tạp chí là loại hình tài liệu luôn đƣợc bạn đọc quan tâm và sử dụng nhiều nhất tại thƣ viện
Trang 21- Kho ngoại văn: 2.460 bản
- Kho thiếu nhi: 36.002 bản
- Kho tra cứu: 1.717 bản
- Kho địa chí: 2769 bản
- Kho Doanh nhân: 644 bản
- Phòng đa phương tiện: có 20 máy tính, 300 đĩa, 18 cassettes, 120 CD cho người khiếm thị
- Báo, tạp chí: 325 loại, 48.750 cuốn
Tài liệu Tiếng Việt là tài liệu chủ yếu và được phân bố ở tất cả các phòng ban Ngoài tài liệu Tiếng Việt thì vốn tài liệu của thư viện cũng được xây dựng tương đối đa dạng về về các loại ngôn ngữ khác như: Tiếng Anh, Hán Nôm, Tiếng Pháp, Tiếng Nga Hiện tại thư viện đã có phòng ngoại văn đây là nơi tập trung xử lý các tài liệu thuộc các ngôn ngữ khác ngoài tài liệu bằng Tiếng Việt
Trang 22Ngôn ngữ tài liệu Số bản tài liệu Tỷ lệ phần trăm
Bảng 1.4: Nguồn lực thông tin chia theo ngôn ngữ
1.1.5 Cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin
Cơ sở vật chất
Cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng phục vụ bạn đọc Từ chỗ cơ sở vật chất còn nghèo nàn, thiếu thốn, lạc hậu hiện nay thư viện Hà Tĩnh đã có một cơ ngơi khá kiên cố Thư viện Hà Tĩnh được thành lập rất sớm từ năm 1957 Ngay từ đầu thư viện đã có phòng đọc, phòng mượn và có hai cán bộ phụ trách Trong thời gian đó vốn tài liệu của thư viện rất ít Trải qua những chặng đường khó khăn như vậy hiện tại thư viện đang
sở hữu tòa nhà hai tầng xây dựng từ năm 1994 Vì trụ sở của thư viện được xây dựng từ lâu nên đã có dấu hiệu của sự xuống cấp, các phòng ban không còn được mới nữa, diện tích hạn chế chưa đáp ứng tốt khả năng hoạt động phục vụ tin cho NDT
Theo dự kiến cuối năm nay thư viện sẽ được chuyển đến cơ sở mới với cơ ngơi khang trang , kiên cố 5 tầng Tòa nhà thư viện đã được xây xong và đang
đi vào hoàn thiện để sử dụng với diện tích rộng rãi, thoáng mát hơn so với cơ
sở cũ, ở trung tâm thành phố, trang bị vật chất khá hiện đại
Trang 23
Thư viện bao gồm hệ thống các phòng:
Bảng 1.5: Các phòng ban của thư viện
Ngoài ra thư viện còn xây dựng nhà xe phục vụ cho cán bộ và giúp bạn đọc bảo quản được tài sản khi đến sử dụng tài liệu của thư viện Xe công của thư viện có chỗ để riêng thuận lợi cho việc đi lại của các lãnh đạo trong thư viện đáp ứng các hoạt động công tác mà thư viện đặt ra Các phòng ban cũng được trang bị đầy đủ các thiết bị chuyên dụng như: giá sách, bàn ghế, máy in mã vạch, đầu đọc mã vạch, hệ thống máy tính, điều hòa nhiệt độ, máy photcopy đáp ứng tối đa nhu cầu bạn đọc
Ứng dụng công nghệ thông tin
Để vươn tới hòa nhập với các thư viện trong cả nước, khu vực cũng như trên thế giới và nhằm phục vụ đắc lực có hiệu quả cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương cũng như đất nước Thư viện tỉnh Hà Tĩnh luôn đề cao và quan tâm hết sức đến vấn đề ứng dụng CNTT trong công tác thư viện Quá trình ứng dụng CNTT tại Thư viện tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian qua đã có những bước tiến đáng kể phục vụ tối đa nhu cầu thông tin của bạn đọc.Với mục tiêu phấn đấu trở thành thư viện hiện đại, thư viện Hà Tĩnh đã nhanh chóng ứng dụng các phần mềm quản lý thư viện trong các hoạt động của mình
Năm 2005, Thư viện Quốc gia Việt Nam đã đầu tư cho thư viện Hà Tĩnh phần mềm Ilib 3.6 trị giá 600 triệu đồng để trang bị một số máy móc và thiết
bị CNTT, chuyển giao công nghệ tập huấn đào tạo từ ISIS sang Ilib3.6 Trong
Trang 24quá trình triển khai áp dụng đưa phần mềm Ilib 3.6 vào hoạt động thì thư viện
đã gặp phải rất nhiều khó khăn Thư viện vừa phải mở cửa phục vụ bạn đọc vừa phải tiến hành hồi cố dữ liệu cho toàn bộ tài liệu trong kho Với khối lượng công việc nhiều và phức tạp như vậy nhưng thư viện Hà Tĩnh luôn cố gắng hoàn thành mọi khâu trong công tác hoạt động nhất là hồi cố tài liệu để triển khai việc ứng dụng phần mềm Ilib 3.6 một cách nhanh nhất Các công tác như khoán ngoài giờ cho cán bộ, nhân viên dán nhãn và quét mã vạch, in
số đăng kí cá biệt, các modul tra cứu trực tuyến, lưu thông được tiến hành nhanh chóng và đến đầu năm 2008 toàn bộ phần mềm Ilib 3.6 đã được đưa vào lưu thông ở tất cả các khâu của hoạt động nghiệp vụ thư viện
Thư viện Hà Tĩnh đang sử dụng hệ thống mục lục điện tử OPAC với 85.000 biểu ghi và 206.905 bản sách với CSDL Thư mục Hiện tại thư viện có các kho: kho đọc (sách tra cứu, địa chí, ngoại văn, việt vừa, việt nhỏ, việt lớn); kho mượn; kho luân chuyển; kho báo- tạp chí; kho sách doanh nhân; kho thiếu nhi
Năm 2009 Ban Giám đốc đã quyết định xây dựng trang web điện tử Đến giữa năm 2009 Website của thư viện Hà Tĩnh chính thức đi vào hoạt động và
có tên miền http://wwwthuvienhatinh.org
Hiện nay tổng số máy tính đang hoạt động : 42 cái( 2 sever, 30 máy trạm tra cứu, 10 máy trạm nghiệp vụ)
Trang 25- Cơ sở dữ liệu(CSDL) do cán bộ thư viện xây dựng: CSDL sách, báo, tạp chí
- Mạng LAN( Local Area Network): mạng cục bộ hoạt động tốt phục vụ quản lý nguồn lực thông tin, tra tìm tin và quản
lý bạn đọc
1.2 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin
1.2.1 Đặc điểm người dùng tin
NDT là yếu tố cơ bản của mọi hệ thống thông tin và là đối tượng phục
vụ của công tác thông tin tư liệu NDT giữ vai trò quan trọng họ vừa là người sáng tạo vừa là khách hàng làm giàu cho nguồn tin Lê Nin đã từng khẳng
định: “Đánh giá thư viện không phải thư viện đó có bao nhiêu sách quý hiếm,
có trụ sở khang trang, tiện nghi hiện đại, mà chính là thư viện đó thu hút và phục vụ được bao nhiêu bạn đọc đến sử dụng thông tin” Đúng vậy việc thỏa
mãn NCT cho NDT chính là cơ sở đánh giá chất lượng hoạt động thông tin của thư viện đó
Công tác phục vụ NDT là một công tác hết sức quan trọng và được thư viện tỉnh Hà Tĩnh luôn coi trọng và đặt lên hàng đầu Là thư viện tỉnh đóng vai trò
là thư viện công cộng, thư viện tỉnh Hà Tĩnh mở cửa phục vụ cho mọi tầng lớp nhân trong tỉnh Dựa trên cơ sở nắm bắt được các nhu cầu khác nhau của các nhóm bạn đọc khi đến sử dụng thư viện, thư viện đã có những biện pháp khác nhau trong quá trình bổ sung tài liệu và sắp xếp chúng để phục vụ đúng đối tượng của mình Thư viện Hà Tĩnh đã trở thành một địa chỉ quen thuộc để các độc giả tìm đến trau dồi tri thức, học tập, nghiên cứu, giải trí và mở rộng vốn hiểu biết của mình
Hiện nay NDT của thư viện Hà Tĩnh đang phát triển nhanh chóng cả về số lượng và thành phần Sự gia tăng số lượng NDT xuất phát từ việc thư viện đã rất chú trọng tới công tác bổ sung, bảo quản tài liệu, làm tốt mọi khâu xử lý tài liệu và đưa ra phục vụ bạn đọc một cách tốt nhất Nhờ nguồn tài liệu phong phú, việc ứng dụng tốt CNTT thư viện Hà Tĩnh đã thu hút được đông
Trang 26đảo bạn đọc Thư viện phục vụ nhiều nhóm độc giả khác nhau: các nhà lãnh đạo tỉnh, các nhà quản lý các cấp các ngành, công nhân viên, cán bộ hưu trí , giáo viên, học sinh ở các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, cán bộ giảng dạy và sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, các kĩ sư đa ngành, công an, bộ đội và tất cả nhân dân trong tỉnh
Nhìn chung có thể chia đối tượng NDT của thư viện Hà Tĩnh thành 4 nhóm sau:
NDT rất quan trọng của thư viện
Việc đáp ứng NCT của họ được thư viện hết sức quan tâm bởi họ là những người đưa ra các quyết định mang tính chiến lược và sách lược ở tầm
vĩ mô hay vi mô có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của xã hội Họ có thể là các cán bộ lãnh đạo, những cán bộ làm công tác quản lý, xây dựng đường lối chính sách của tỉnh, các ngành các đơn vị sản xuất kinh doanh Bên cạnh công tác lãnh đạo, quản lý một số người còn trực tiếp tham gia các công trình nghiên cứu khoa học NCT mà họ cần là những thông tin có tính tổng hợp, mang tính chiến lược, dự báo chung và phải đảm bảo tính chính xác, đầy
đủ, khoa học, chuyên sâu, mang tính định hướng Do tính chất và đặc thù công việc nên đối tượng này có nhu cầu rất cao về các loại tài liệu như: tài liệu chính trị - xã hội, kinh tế - pháp luật, khoa học kĩ thuật Nhận thức được những đặc điểm cơ bản của nhóm NDT này thư viện đã đề ra các phương
Trang 27pháp phục vụ riêng Các tài liệu mà thư viện cung cấp phải đảm bảo tính khoa học, có chọn lọc, giá trị thông tin cao, phản ánh khách quan về các lĩnh vực khoa học khác nhau NCT của nhóm này có thể thay đổi tùy thuộc vào lĩnh
vực mà họ nghiên cứu
Nhóm 2: Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, cán bộ trong các đơn vị
hành chính sự nghiệp và sản xuất kinh doanh
Đây là nhóm NDT chiếm tỉ lệ 20% trong tổng số NDT của thư viện Do đặc thù của công việc nên thông tin mà họ cần phải mang tính tổng, chuyên sâu
Đó là những tài liệu quý hiếm, tài liệu xám, các loại tài liệu chuyên sâu về
một ngành, lĩnh vực mà họ quan tâm
Là những NDT có trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng nghiên cứu tốt nên việc đáp ứng NCT có nét đặc thù riêng Vì vậy đòi hỏi cán bộ thư viện phải là những người nắm chắc chuyên môn nghiệp vụ và phải thành thạo một số kĩ năng cơ bản về tin học, ngoại ngữ đồng thời phải có sự hiểu biết về các vấn đề
kinh tế xã hội, kinh tế, chính trị để có thể phục vụ tin một cách tốt nhất
Nhóm 3: Học sinh, sinh viên
Những năm trở lại đây số lượng học sinh, sinh viên đến thư viện ngày càng tăng Đây là nhóm đối tượng có thời gian sử dụng thư viện nhiều nhất chiếm đa số thời lượng phục vụ của cán bộ thư viện Với số lượng đông đảo
là các sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp, trường dạy Nghề hay các học sinh trung học phổ thông, trung học cơ sở, tiểu học nằm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh thư viện đã luôn tạo mọi điều kiện mở rộng cánh cửa chào đón và nhiệt tình hỗ trợ trong việc tra cứu tài liệu Nhóm NDT này chiếm
khoảng 60% số lượng bạn đọc
Đối với thư viện Hà Tĩnh thì học sinh, sinh viên là đối tượng NDT thường xuyên và chủ yếu NCT của họ chiếm tỉ lệ rất cao so với các đối tượng khác Để phục vụ cho công tác học tập, giải trí họ đã tìm đến thư viện để thỏa mãn nhu cầu tin phong phú và đa dạng của mình Thư viện là nơi lý tưởng, yên tĩnh mà NDT tìm đến Ngoài việc thường xuyên mượn tài liệu tại chỗ
Trang 28phục vụ cho việc học tập thì họ còn có nhu cầu mượn truyện về nhà, sử dụng
và khai thác các thông tin trên mạng internet thông qua phòng đa phương tiện của thư viện để thỏa mãn cho việc học tập, tham khảo và giải trí
Đối với sinh viên của các trường thuộc các chuyên ngành khác nhau thì NCT của họ đa dạng hơn Họ cần những tài liệu khác nhau để phục vụ cho việc học tập cũng như làm các đề tài nghiên cứu, khóa luận tốt nghiệp Với các em học sinh thì nhu cầu đọc có phần đơn giản hơn Các em chủ yếu lựa chọn những tài liệu về văn học nghệ thuật, khoa học tự nhiên, xã hội, lịch sử, địa lý, các loại sách tham khảo, truyện đọc để khám phá tìm tòi những kiến thức mới
Vì đối tượng dùng tin ở độ tuổi còn khá trẻ cộng với thư viện Hà Tĩnh cũng vừa chuyển sang sử dụng hệ thống tra cứu hiện đại nên sự hướng dẫn của các thủ thư trong việc tìm tin là rất quan trọng Sự hướng dẫn họ về các nguồn tin của thư viện, phương pháp sử dụng thư mục và phương pháp tim tin trên máy vi tính đã giúp cho NDT tránh được sự bỡ ngỡ khi tìm kiếm nguồn tin, thu hút được đông đảo lượng bạn đọc đến với thư viện
Nhóm 4: Các đối tượng khác
Các đối tượng khác ở đây bao gồm quần chúng nhân dân đang sinh sống ở địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Họ có thể là các cán bộ hưu trí, nhân dân lao động, người làm kinh doanh, người làm nội trợ Mục đích sử dụng thư viện của đối tượng này là đọc và mượn những cuốn viết về những vấn đề liên quan đến cuộc sống của họ như về chăn nuôi, phát triển nông - lâm nghiệp, các nghề thủ công nghiệp Họ còn có nhu cầu về các sách về hướng dẫn giữ gìn sắc đẹp, nấu ăn, chăm sóc giáo dục con cái, giữ gìn hạnh phúc gia đình Thông tin cho nhóm đối tượng này không quá phức tạp và không có sự đòi hỏi quá cao
Dựa vào những đặc điểm của nhóm đối tượng trên mà thư viện đã bổ sung và cung cấp các loại tài liệu liên quan đến đời sống xã hội, sách về pháp luật, phục vụ sản xuất, lịch sử, khoa học kĩ thuật, văn hóa nghệ thuật để đáp
Trang 29ứng NCT mà họ cần một cách có hiệu quả nhất Nhóm NDT này chiếm khoảng 15% tổng số bạn đọc của thư viện
1.2.2 Đặc điểm nhu cầu tin
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đặc biệt là sự bùng nổ thông tin đã làm cho vai trò thông tin trở nên quan trọng và không thể thiếu với mỗi cá nhân và tổ chức Xã hội càng phát triển thì NCT ngày càng tăng, NCT là nguồn gốc nảy sinh của hoạt động TT- TV
Qua khảo sát NCT của 100 NDT tại thư viện tỉnh Hà Tĩnh, đặc điểm NCT thể hiện cụ thể như sau:
cộng nên đối tượng NDT của thư viện rất đa dạng về thành phần Họ không chỉ sử dụng một loại thư viện mà còn có nhu cầu sử dụng nhiều loại hình tài liệu khác nhau Vì vậy đòi hỏi các cán bộ thư viện phải nhạy bén trong việc chọn lọc và tìm kiếm nguồn thông tin bổ ích để phục vụ bạn đọc Cùng với sự phát triển của thời đại CNTT thì các loại hình tài liệu cũng ngày càng phát triển đa dạng phong phú hơn Ngoài sách, báo thì hiện nay cũng có sự xuất hiện của nguồn thông tin điện tử như: CSDL, Website, CD- Rom Tuy nhiên theo như khảo sát thì NDT tại thư viện tỉnh Hà Tĩnh thường sử dụng loại hình sách là chủ yếu chiếm 95%, và báo tạp chí chiếm 68% , luận văn luận án chỉ chiếm 8%, CD- Rom 0%
thức có nhiệm vụ nâng cao dân trí, giáo dục, phổ biến thông tin, thư viện Hà Tĩnh đã tiến hành bổ sung các loại tài liệu thuộc mọi ngành khoa học, lĩnh
thuộc về khoa học xã hội được NDT quan tâm nhất chiếm 75%, khoa học tự nhiên chiếm 59%, khoa học kĩ thuật chiếm 28%, văn học nghệ thuật chiếm
thì thư viện cần bổ sung những tài liệu mà NDT quan tâm
Trang 30- Nhu cầu về ngôn ngữ tài liệu: Theo như kết quả khảo sát, ở thư viện
Hà Tĩnh ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất là tiếng Việt với 99% NDT sử dụng Vì tài liệu bằng tiếng Việt là ngôn ngữ bản địa mà thực tế thì không phải bạn đọc đều có khả năng đọc được tài liệu nước ngoài Bên cạnh tìm kiếm tài liệu bằng tiếng Việt, nhu cầu nghiên cứu các tài liệu được viết bằng nhiều thứ tiếng khác nhau cũng được đáp ứng như: tiếng Anh chiếm nhiều nhất 25%, sau đó là Hán Nôm 11%, tiếng Pháp 9%, tiếng Nga 3%
phải nhờ các công cụ tra cứu Thư viện tỉnh Hà Tĩnh chuyển từ sử dụng bộ máy tra cứu truyền thống sang áp dụng bộ máy tra cứu hiện đại nên NDT từ
sử dụng hệ thống mục lục phiếu đã chuyển sang sử dụng mục lục tra cứu OPAC Mục lục tra cứu Opac chiếm 84%, CSDL chiếm 51%, thư mục
1.3 Các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện
1.3.1 Khái niệm
SP & DVTT - TV là nguồn lực chính của nền kinh tế hiện đại Và riêng đối với ngành TT - TV thì sự phát triển của sản phẩm thông tin và các hoạt động dịch vụ thông tin - thư viện (DVTT - TV ) trong hiện tại và tương lai mang một ý nghĩa rất đặc biệt Sức mạnh của cơ quan TT- TV là ở khả năng tổ chức và cung cấp các dịch vụ thông tin theo yêu cầu và khả năng tạo
ra các SPTT- TV có giá trị gia tăng cao
Trước hết muốn hiểu rõ bản chất về các SP & DVTT - TV cũng như vai trò của chúng trong hoạt động TT - TV thì phải biết được các khái niệm
cơ bản về SP & DVTT - TV
Sản phẩm thông tin - thư viện (SPTT - TV) là kết quả của quá trình xử
lý thông tin do một cá nhân hoặc tập thể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu của người dùng tin [11, tr.21]
SPTT- TV là nhu cầu tất yếu trong sự phát triển của nền kinh tế xã hội hiện nay cùng với sự phát triển của các dịch vụ thông tin
Trang 31NDT khi khai thác và sử dụng nguồn tin trong một số trường hợp họ không quan tâm đến việc phân biệt các sản phẩm thông tin mà họ chỉ quan tâm đến NCT của mình có được đáp ứng hay không và qua phương tiện nào, cách thức như thế nào Chính vì vậy NDT sẽ đánh giá hiệu quả của hoạt động thư viện thông qua hệ thống sản phẩm mà họ được thụ hưởng Như vậy, theo cách hiểu này sản phẩm của một thư viện là toàn bộ các sự vật, sự việc được thư viện tạo ra hoặc thư viện được quyền cung cấp cho người đọc, qua đó đáp ứng được các loại nhu cầu của người đọc
Dựa vào công tác thỏa mãn NCT cho NDT đã dẫn đến sự hình thành nên các sản phẩm thông tin Có thể khẳng định rằng các SPTT - TV phụ thuộc chặt chẽ vào nhu cầu, cũng như sự biến đổi của nhu cầu SPTT - TV trong quá trình tồn tại và phát triển của mình cần không ngừng được hoàn thiện về nội dung và hình thức để thích ứng với nhu cầu mà nó hướng tới
Dịch vụ được định nghĩa như một công vi ệc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của một số đông có tổ chức và được trả công Dịch vụ do con người tạo ra như một kết quả tự nhiên Chính vì vậy mà khi muốn marketing cho các dịch vụ, cần phải tạo cho NDT biết tiềm năng của nó bằng cách cung cấp cho họ một cảm giác hữu hình về các dịch vụ đó
Dịch vụ thông tin được xác định là toàn bộ các công việc, hoạt động, quá trình hay phương thức mà các thư viện tổ chức thực hiện nhằm đáp ứng các loại NDT của cộng đồng người đọc của mình
DVTT - TV bao gồm những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin
và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan TT - TV nói chung [11,
tr.24]
Như vậy, để tạo ra SP & DVTT - TV cần phải có một quá trình xử lý thông tin (bao gồm biên mục, phân loại, định từ khoá, tóm tắt chú giải, biên
Trang 32soạn tổng quan cũng như các các quá trình phân tích tổng hợp thông tin khác)
SP & DVTT - TV là công cụ, phương tiện do cơ quan TT - TV tạo ra để xác định, truy cập, khai thác và quản lý các nguồn lực thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu tin của NDT, là cầu nối giữa NDT với các nguồn lực thông tin của thư viện
SP & DVTT - TV được hình thành do nhu cầu trao đổi và tiếp nhận thông tin trong xã hội, có quá trình phát triển lâu dài Khởi đầu chúng chỉ là những loại hình đơn giản nhưng cùng với sự thay đổi của thời gian và sự phát triển của xã hội, SP & DVTT- TV phát triển ở mức độ cao hơn, thỏa mãn đầy
đủ hơn yêu cầu của NDT
SP & DVTT - TV là một phức thể bao hàm nhiều yếu tố cấu thành, đóng vai trò công cụ để thực hiện các mục tiêu của các cơ quan TT - TV SP
& DVTT- TV thích hợp giúp cho con người ở mọi nơi, vào mọi lúc đều có điều kiện để truy nhập và khai thác nguồn di sản trí tuệ của con người giúp mọi cá nhân và tổ chức có thể tìm đến với nhau và trao đổi mọi thông tin một cách thuận tiện và nhanh chóng
1.3.2 Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện ở thư viện tỉnh
Hà Tĩnh
SP & DVTT - TV tin là nền tảng, là nguồn lực không thể thiếu trong sự phát triển của nền kinh tế hiện đại cũng như sự phát triển toàn diện của con người Nó là một trong những yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động TT -TV
Vai trò của SP & DVTT - TV thể hiện như sau:
- Giúp nâng cao năng lực khai thác thông tin và thỏa mãn nhu cầu của
NDT SP & DVTT - TV giữ vai trò như là cầu nối giữa NDT với nguồn tin
của thư viện Các cơ quan TT - TV có chức năng cung cấp thông tin cho NDT Để thực hiện chức năng này , cơ quan TT - TV phải tổ chức và quản lý tốt nguồn tin của cơ quan mình Vì vậy SP & DVTT - TV được tạo ra không
Trang 33chỉ nhằm mục đích phục vụ nhu cầu cho NDT mà còn giúp các cơ quan TT -
TV có thể quản lý , kiểm soát tốt nguồn tin và cung cấp nguồn tin một cách hiệu quả đến NDT
viện tỉnh Hà Tĩnh với các cơ quan TT - TV khác Nhờ có hoạt động này mà vốn tài liệu của thư viện đã có phần phong phú hơn về nội dung cũng như hình thức Chính sách chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các thư viện đã được thư viện tỉnh Hà Tĩnh triển khai một cách có hiệu quả Ngay từ những năm
1975 thư viện Hà Tĩnh đã phát động phong trào kết nghĩa giữa các tỉnh, thành phố trong đó cụ thể nhất là phối hợp với thư viện tỉnh Bình Định trong việc trao đổi vốn tài liệu
- Là công cụ thiết yếu để thư viện thực hiện nhiệm vụ của mình Mức
độ đáp ứng, thỏa mãn NCT ở các SP & DVTT - TV là thước đo sức mạnh và hiệu quả hoạt động của một cơ quan TT - TV trong thời đại bùng nổ thông tin Các SP & DVTT - TV được phát triển nhằm mục đích tổ chức và sử dụng một cách thích hợp nguồn lực thông tin để kích thích đổi mới , thúc đẩy nhanh việc phát triển kinh tế - xã hội
Như vậy, có thể thấy vai trò của các SP & DVTT - TV càng ngày càng được khẳng định một cách rõ nét hơn Sự phát triển của các SP & DVTT &
TV luôn gắn chặt với mọi hoạt động của thư viện, nó không những thu hút được lượng bạn đọc đến khai thác, sử dụng nguồn tin mà còn đẩy mạnh hiệu quả quá trình hoạt động của thư viện
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện
Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông đã tác động mạnh mẽ đến ngành TT - TV Nhu cầu tìm kiếm thông tin ngày càng phong phú và đa dạng Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của
Trang 34thư viện là phải cung cấp được các SP & DVTT - TV để đáp ứng NCT ngày càng gia tăng của độc giả
CNTT hiện đại đã thâm nhập sâu sắc, rộng khắp và tác động trực tiếp tới sự hình thành và phát triển của các nguồn thông tin khác nhau Thông tin là nguồn di sản chung của loài người, là sở hữu chung của toàn xã hội và con người đều được bình đẳng trong việc sử dụng thông tin Do vậy, thông qua SP
& DVTT - TV thư viện phải làm cầu nối giúp NDT có thể truy nhập tới di sản trí tuệ chung của nhân loại Thuộc loại hình thư viện công cộng, là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở VHTT & DL tỉnh, Thư viện tỉnh Hà Tĩnh với sự cố gắng
nỗ lực trong công tác phục vụ NCT và coi đó là một nhiệm vụ, mục tiêu được đặt lên hàng đầu
Xu hướng phát triển của các cộng đồng thư viện trên thế giới hiện nay là tiến đến số hóa và kết nối để thu hẹp diện tích và khoảng cách địa lý Trong khi đó, ngành TT - TV ở Việt Nam đang bước những bước đầu tiên trên con
thiết cho hệ thống thông tin quốc gia Để có thể tạo được các SP & DVTT -
TV phù hợp, các cơ quan TT - TV cần có được hạ tầng thông tin quốc gia đủ
cho phép nó hòa nhập với cộng đồng thông tin trong khu vực và quốc tế Cần phải coi trọng chính sách thông quốc gia để tạo ra sự hài hòa về quyền lợi cho tất cả các cá nhân, cộng đồng có thể tham gia vào các quá trình thông tin trong xã hội Các chính sách này đóng vai trò là cơ sở pháp lý bảo vệ quyền
sở hữu hợp pháp và chính đáng của các thành viên tạo ra thông tin được trao đổi, luân chuyển trong xã hội
1.3.4 Các yêu cầu của các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại thư viện tỉnh Hà Tĩnh
Trang 35- Tính chính xác và khách quan: Trên thực tế hiện nay nguồn lực thông tin điện tử rất đa dạng và phong phú vì vậy trong quá trình tạo ra SPTT - TV cần phải dựa trên cơ sở nghiên cứu thực tế, thông tin phải có tính chính xác thông qua các quá trình kiểm duyệt để đem lại hiệu quả phục vụ tin một cách tốt nhất Nguồn thông tin phải chính xác thì chất lượng của các sản phẩm thông tin mới được đảm bảo Tính khách quan thể hiện ở chỗ tạo ra các SPTT
- TV đó phải phù hợp với thói quen, tập quán sử dụng và cách khai thác thông tin cho mọi đối tượng NDT trên địa bàn Hà Tĩnh
- Mức độ bao quát nguồn tin: Đây là yêu cầu quan trọng, có ý nghĩa quyết định trực tiếp tới tính đầy đủ của thông tin được cung cấp qua các SPTT
- TV Ở thư viện tỉnh Hà Tĩnh nhiệm vụ kiểm soát nguồn thông tin luôn được
ưu tiên và được cán bộ thư viện hết sức coi trọng
- Mức độ cập nhật và tìm kiếm thông tin: Thời gian là tham biến quan trọng tạo nên giá trị thông tin của các SPTT - TV, một SPTT - TV đáp ứng về chất lượng là sản phẩm đạt tiêu chuẩn về mức độ cập nhật thông tin nhanh, kịp thời đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng của NDT Đây là một trong những nhiệm vụ cũng như mục tiêu hết sức quan trọng mà thư viện Hà Tĩnh luôn đặt ra
- Tính thân thiện với người sử dụng: các SPTT - TV đáp ứng nhu cầu
sử dụng của NDT là dễ dàng, thuận tiện Các SPTT - TV ở thư viện Hà Tĩnh
đã phần nào đáp ứng được yêu cầu này.Từ khi áp dụng hệ thống tra cứu hiện đại các SPTT - TV đã tạo được tính thân thiện giúp NDT có thể làm quen và thích ứng trong quá trình tìm tin để phục vụ cho NCT của mình
Trang 36Dịch vụ có cung cấp cho NDT loại thông tin mà nếu sử dụng NDT sẽ đạt được lợi ích cao nhất hay không ?
- Chi phí hợp lý: chi phí hợp lý được tính toán bằng cách: cùng với một chi phí xác định, dịch vụ cần được thực hiện như thế nào để thỏa mãn được NDT ở mức cao nhất Thư viện Hà Tĩnh cần có những chính sách hợp lý trong việc tiết kiệm chi phí, đầu tư có hiệu quả
- Tính thuận tiện: NDT sử dụng có thuận tiện nhất hay không ? Các thủ tục NDT thực hiện có rườm rà hay không? Các DVTT - TV ở thư viện Hà Tĩnh đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện để thỏa mãn một cách tốt nhất NCT của NDT
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÁC SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN
THƯ VIỆN TẠI THƯ VIỆN TỈNH HÀ TĨNH
2.1 Các sản phẩm thông tin - thư viện
Thời gian gần đây trong hệ thống thư viện, đặc biệt là các thư viện công cộng đang ngày càng được đầu tư mạnh mẽ nhất là đầu tư về cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật Đó chính là điều kiện quan trọng cho sự phát triển của một hệ thống thư viện năng động, hiệu quả và đáp ứng tốt NCT của cộng đồng
Mục tiêu của bất kỳ cơ quan TT - TV nào cũng là đáp ứng được NCT của NDT Muốn đạt kết quả như vậy thì công tác xây dựng và phát triển bộ máy tra cứu được quan tâm một cách đúng mức Hiệu quả của bộ máy tra cứu
là thước đo đánh giá hoạt động của các thư viện Chính vì vậy việc xây dựng,
tổ chức được hệ thống SP & DVTT - TV là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà thư viện Hà Tĩnh nhằm hướng tới Không nằm ngoài xu thế ấy, thư viện Hà Tĩnh đã rất chú tâm vào công tác tổ chức và hoàn thiện các SP & DVTT - TV nhằm đáp ứng NCT một cách tốt nhất Hiện nay thư viện tỉnh Hà Tĩnh đã xây dựng được một số SP & DVTT - TV như sau:
2.1.1 Hệ thống mục lục
Hệ thống mục lục (hay thường được gọi là mục lục) là tập hợp các đơn
vị / phiếu (phích) mục lục được sắp xếp theo một trình tự nhất định, phản ánh nguồn tin của một / một nhóm cơ quan TT- TV [11, tr.37]
Hệ thống tra cứu của thư viện tỉnh Hà Tĩnh gồm có:
- Mục lục phân loại: phân loại tài liệu dựa trên bảng phân loại có nguồn gốc
từ bảng phân loại thập tiến UDC được Thư viện Quốc gia Việt Nam cải tiến,
bổ sung xuất bản năm 1978, 1991, 2002
Trang 38- Mục lục chữ cái
- Mục lục phân loại
- Mục lục tra cứu trực tuyến trên Module OPAC
Tuy nhiên, hai năm trở lại đây thư viện tỉnh Hà Tĩnh đang từng bước chuyển
không còn áp dụng các loại mục lục phân loại, mục lục chữ cái( tên tài liệu, tên tác giả) Các tủ mục lục, hộp phích, hộp phiếu không còn được sử dụng nữa mà thay vào đó là hệ thống tra cứu bằng phần mềm điện tử Cụ thể ở thư viện Hà Tĩnh công cụ tra cứu chủ yếu giờ là mục lục truy nhập công cộng trực tuyến OPAC
Mục lục tin học hóa truy nhập trực tuyến (on – line), thường gọi là mục lục truy nhập công cộng trực tuyến (OPAC - online public access catalog) các biểu ghi thư mục được lưu giữ trong bộ nhớ máy tính và được hiển thị trên màn hình mỗi khi người dùng có yêu cầu
Mục lục truy nhập công cộng trực tuyến (OPAC) là loại mục lục mà NDT có thể khai thác trên mạng máy tính thông qua đường dây điện thoại công cộng [12,tr.39]
Mục lục truy nhập công cộng trực tuyến (OPAC) là một hệ thống gồm
tập hợp các biểu ghi thư mục của tài liệu được ghi lại, lưu trữ và tra cứu bằng máy tính Hệ thống mục lục này chứa đựng một số lượng biểu ghi lớn nhất trong hệ thống mục lục (biểu ghi) và cho phép truy cập nhanh vào những biểu ghi đó Mục lục trực tuyến có khả năng truy cập nhiều khía cạnh của tài liệu, truy cập nhiều người một lúc, không hạn chế về thời gian, địa điểm và cho phép thực hiện việc phối hợp, chia sẻ, trao đổi thông tin giữa các thư viện với nhau
Mục lục truy nhập công cộng trực tuyến (OPAC) tại thư viện tỉnh Hà Tĩnh được tổ chức khá hoàn chỉnh, tuân theo các nguyên tắc về tính thân thiện, tính thuận lợi và dễ tìm đối với người sử dụng
Trang 39Thư viện Hà Tĩnh đang sử dụng hệ thống mục lục điện tử OPAC với 85.000 biểu ghi với CSDL thư mục
Hiện nay thư viện đang sử dụng phần mềm quản trị thư viện điện tử ILIB 3.6 do Công ty cổ phần giải pháp phần mềm CMC thiết kế và xây dựng Giao diện tra cứu mang các đặc điểm cơ bản của cấu trúc mục lục truy cập trực tuyến, cho phép truy cập trực tiếp đến các cơ sở dữ liệu thư mục
Thông qua mục lục truy nhập công cộng trực tuyến tại thư viện, bạn đọc có thể tra tìm tài liệu theo nhiều hướng khác nhau như: loại hình tài liệu, tên tài liệu, tác giả, nơi xuất bản, năm xuất bản, ký hiệu phân loại, từ khóa
Hình 1: Minh họa giao diện phần mềm tra cứu OPAC
Trang 40- Dễ sử dụng và khai thác, nhiều NDT có thể sử dụng cùng một lúc
- Phụ thuộc vào hệ thống mạng và đường truyền
- Số lượng máy tính phục vụ cho việc truy cập mục lục này của bạn đọc còn hạn chế
Để tiện cho việc tra tìm tài liệu, thư viện bố trí bốn máy tính dùng cho bạn đọc tra tìm tài liệu bằng phần mềm ILIB ở phòng đọc
Qua quá trình khảo sát thực tế và điều tra NCT thì có 84% đã sử dụng mục lục truy nhập công trưc tuyến (OPAC) trong tổng số 100 NDT được hỏi
và ý kiến đánh giá của NDT với loại mục lục này được thể hiện qua bảng sau: Mục lục truy
Không sử dụng
thường
Chưa tốt
84 (84%)
16 (16%)
38 (38%)
41 (41%)
5 (5%)
Bảng 2.1: Mức độ sử dụng và ý kiến đánh giá mục lục truy nhập công cộng
trực tuyến (OPAC) của NDT
2.1.2 Thư mục
Thư mục là một loại hình SPTT - TV vẫn đang được tồn tại và phổ biến với nhu cầu tìm tin của NDT hiện nay NCT của con người là nguyên nhân trực tiếp, cơ sở, chất xúc tác chủ yếu của thông tin thư mục
Thư mục là một SPTT - TV mà phần chính là tập hợp các biểu ghi thư mục (có / không có tóm tắt / chú giải) được sắp xếp theo một trật tự xác định phản ánh các tài liệu có chung một / một số dấu hiệu về nội dung và / hoặc hình thức [11,tr.49]
Đối tượng chủ yếu được phản ánh trong thư mục là tài liệu nói chung, trong đó có tài liệu bậc 1 (được hoặc không được xuất bản), tài liệu bậc 2,