LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “ Phân lập và tuyển chọn một số chủng xạ khuẩn có khả năng sinh cellulase trong đất đồi tại khu vực Xuân Hòa, Phúc Yên, Vĩn
Trang 1XUÂN HÒA, PHÚC YÊN, VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Vi sinh vật học
HÀ NỘI, 2014
Trang 2XUÂN HÒA, PHÚC YÊN, VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Vi sinh vật học
Người hướng dẫn khoa học
PGS TS ĐINH THỊ KIM NHUNG
HÀ NỘI, 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình sống và học tập tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
em đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô trong trường và các thầy cô trong khoa Sinh – KTNN Em cảm ơn thầy cô đã truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt 4 năm học vừa qua Đặc biệt với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn
PGS TS Đinh Thị Kim Nhung người hướng dẫn trực tiếp em, đã tận tình
hướng dẫn em thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Em xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ phòng thí nghiệm Vi sinh vật học
đã nhiệt tình giúp đỡ em trong thời gian làm đề tài
Qua đây, em xin chân thành cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình, bạn bè đã ủng hộ va động viên em hoàn thành tốt khóa luận
Do thời gian và điều kiện có hạn nên trong khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô cùng các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 01 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Trần Thị Dung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “ Phân lập và tuyển chọn một số chủng xạ khuẩn có khả năng sinh cellulase trong đất đồi tại khu vực Xuân Hòa, Phúc Yên, Vĩnh Phúc” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của cô giáo PGS TS Đinh Thị Kim Nhung Các kết quả nghiên cứu, số liệu được trình bày trong khóa luận là trung thực và không trùng với công trình của các tác giả khác
Hà Nội, ngày 01 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Trần Thị Dung
Trang 5CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADP : Diaminopimelic Acid
CFU : Colony Forming Unit
CMC : Cacboxyl methyl cellulose
DNA : Deoxyribonucleic Acid
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu đề tài 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
7 Điểm mới của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Đặc điểm và phân loại xạ khuẩn 4
1.1.1 Một số phương pháp trong phân loại xạ khuẩn 4
1.1.2 Đặc điểm sinh học của xạ khuẩn 10
1.1.3 Vai trò của xạ khuẩn 14
1.2.1 Cellulose 15
1.2.2 Cellulase 15
1.2.3 Hệ enzyme phân giải cellulose 16
1.3 Tình hình nghiên cứu xạ khuẩn phân giải cellulose ở Việt Nam và trên thế giới 17
1.3.1 Tình hình nghiên cứu xạ khuẩn phân giải cellulose trên thế giới 17
1.3.2 Tình hình nghiên cứu xạ khuẩn phân giải cellulose ở Việt Nam 17
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Nguyên liệu và vi sinh vật 20
2.1.1 Vi sinh vật 20
2.1.2 Hóa chất và thiết bị 20
2.2 Môi trường 20
Trang 72.2.1 Môi trường phân lập 20
2.2.2 Môi trường bảo quản và giữ giông 21
2.2.3 Môi trường thử hoạt tính enzyme 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1 Phương pháp lấy mẫu 23
2.3.2 Phương pháp phân lập xạ khuẩn từ mẫu đất 23
2.3.3 Phương pháp bảo quản chủng giống 25
2.3.4 Phương pháp quan sát hình thái xạ khuẩn 25
2.3.5 Phương pháp xác định khả năng sinh cellulase của xạ khuẩn 26
2.3.6 Phương pháp toán học trong thống kê và xử lý số liệu 27
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Phân lập, tuyển chọn xạ khuẩn trong đất đồi khu vực Xuân Hòa, Phúc Yên, Vĩnh Phúc 28
3.1.1 Phân lập xạ khuẩn trong đất đồi khu vực Xuân Hòa, Phúc Yên, Vĩnh Phúc 28
3.1.2 Tuyển chọn xạ khuẩn trong đất đồi khu vực Xuân Hòa, Phúc Yên, Vĩnh Phúc có khả năng sinh cellulase cao 38
3.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái cuống sinh bào tử, bào tử và tính chất nuôi cấy của các chủng xạ khuẩn phân lập được 43
3.2.1 Cuống sinh bào tử và bào tử 43
3.2.2 Kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái của 3 chủng xạ khuẩn tuyển chọn Đ3, Đ7, Đ9 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Bản đồ khu vực đất đồi Xuân Hòa, Phúc Yên,Vĩnh Phúc 23
Hình 2.2 Hình ảnh về pha loãng dịch huyền phù đất 24
Hình 3.3 Đặc điểm khuẩn lạc của xạ khuẩn, nấm mốc 31
Hình 3.4 Khuẩn lạc xạ khuẩn 32
Hình 3.5 Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ các chủng xạ khuẩn theo độ sâu 34
Hình 3.6 Một số chủng xạ khuẩn phân lập trong đất đồi 35
Xuân Hòa, Phúc Yên, Vĩnh Phúc 35
Hình 3.7 Sắc tố tan của một số chủng xạ khuẩn phân lập 38
Hình 3.8 Hoạt tính cellulase của một số chủng xạ khuẩn nghiên cứu 42
Hình 3.9 Hình ảnh hệ sợi, hình dạng tế bào và cuống sinh bào tử của các chủng xạ khuẩn nghiên cứu 45
Hình 3 10 Hình thái chủng Đ3 46
Hình 3 11 Hình thái chủng Đ7 47
Hình 3 12 Hình thái chủng Đ9 48
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Các chủng xạ khuẩn phân lập trong đất đồi Xuân Hòa, Phúc
Yên, Vĩnh Phúc 30Bảng 3.2 Số lượng và sự phân bố của xạ khuẩn theo độ sâu 33Bảng 3.3 Đặc điểm khuẩn lạc của 18 chủng xạ khuẩn phân lập trong đất
đồi khu vực Xuân Hòa, Phúc Yên, Vĩnh Phúc 36Bảng 3.4 Số lượng và sự phân bố của xạ khuẩn theo nhóm màu 37Bảng 3.5 Kết quả thử hoạt tính cellulase trên môi trường chứa CMC 39Bảng 3.6 Kết quả thử hoạt tính cellulase trên môi trường chứa bột giấy 40Bảng 3.7 Hoạt tính cellulase của các chủng xạ khuẩn đã phân lập 41Bảng 3.8 Hình dạng cuống sinh bào tử của các chủng xạ khuẩn 44
Trang 10Enzyme cellulase là nhóm enzyme thủy phân có khả năng cắt mối liên kết β-1,4-0-glycoside trong phân tử cellulose, olygosaccharide, disaccharide
và một số cơ chất tương tự khác Hiện nay việc sử dụng các enzyme như cellulase trong một số ngành công nghiệp như: công nghiệp thực phẩm, công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, công nghiệp giấy, bột giấy sản xuất dung môi hữu cơ và đặc biệt trong xử lý rác thải hữu cơ là vấn đề đang được con người đặc biệt quan tâm Rác thải ở Việt Nam đang là một hiện trạng đáng lo ngại Cùng với sự phát triển kinh tế, gia tăng dân số cộng với sự lãng phí tài nguyên trong thói quen sinh hoạt của con người, rác thải hữu cơ có số lượng ngày càng tăng, tiềm ẩn ngày càng nhiều nguy cơ độc hại với môi trường và sức khỏe con người Nhiều nghiên cứu đã chứng minh được enzyme cellulase có nhiều khả năng và triển vọng giải quyết vấn đề nêu trên trong giám định và xử
lý ô nhiễm môi trường Chúng có thể hoạt động trên chất thải khó xử lý, làm thay đổi đặc tính của chất thải và đưa chúng về dạng dễ xử lý hoặc chuyển thành các sản phẩm có giá trị hơn
Enzyme cellulase được sinh tổng hợp bởi nhiều loài khác nhau như: các loài xạ khuẩn, vi khuẩn, nấm mốc, nấm men và động vật nguyên sinh Ngoài ra cellulase còn có ở các loài sinh vật khác như thực vật và động vật.Trong số các nhóm vi sinh vật nêu trên thì xạ khuẩn phân giải cellulose là một trong những đối tượng đã và đang được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm Phường Xuân Hòa, Phúc Yên, Vĩnh Phúc có diện tích tự nhiên là 423,9
Trang 112
ha, trong đó đất diện tích đất đồi khá lớn Do vậy, việc khảo sát các chủng xạ khuẩn trong đất đồi có khả năng phân hủy cellulose cao là việc có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc cải tạo đất và bảo vệ môi trường Xuất phát từ
những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Phân lập và tuyển chọn một số
chủng xạ khuẩn có khả năng sinh enzyme cellulase trong đất đồi khu vực Xuân Hòa, Phúc Yên, Vĩnh Phúc”
2 Mục tiêu đề tài
Phân lập và tuyển chọn một số chủng xạ khuẩn có khả năng sinh cellulase cao trong đất đồi tại khu vực Xuân Hòa, Phúc Yên, Vĩnh Phúc
3 Nội dung nghiên cứu
3.1 Phân lập, tuyển chọn xạ khuẩn trong đất đồi khu vực Xuân Hòa, Phúc Yên, Vĩnh Phúc
3.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái cuống sinh bào tử, bào tử và tính chất nuôi cấy của các chủng xạ khuẩn phân lập được
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Một số chủng xạ khuẩn có khả năng sinh cellulase trong đất đồi tại khu vực Xuân Hòa, Phúc Yên, Vĩnh Phúc”
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp lấy mẫu
5.2 Phương pháp phân lập xạ khuẩn
5.3 Phương pháp bảo quản chủng giống
5.4 Phương pháp quan sát hình thái xạ khuẩn
5.5 Phương pháp xác định hoạt tính cellulase của xạ khuẩn
5.6 Phương pháp thống kê và xử lý kết quả
Trang 126.2 Ý nghĩa thực tiễn
Tuyển chọn một số chủng xạ khuẩn có hoạt tính cellulase cao, ứng dụng các chủng xạ khuẩn này vào đời sống (trong chăn nuôi, môi trường) Từ các chủng xạ khuẩn có hoạt tính cellulase cao này có thể tạo ra các chế phẩm
vi sinh vật phục vụ cho việc xử lý rác thải (ủ rác thải sinh hoạt), chế biến thức
ăn gia súc probiotic, chế biến phân bón vi sinh…
7 Điểm mới của đề tài
Qua nghiên cứu, chúng tôi đã tuyển chọn được 3 chủng xạ khuẩn Đ3, Đ7, Đ9, có khả năng sinh cellulase cao trong đất đồi tại khu vực Xuân Hòa, Phúc Yên, Vĩnh Phúc
Trang 13
4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm và phân loại xạ khuẩn
Xạ khuẩn phân bố rộng rãi trong tự nhiên Chúng có trong đất, nước, rác, phân chuồng, bùn, thậm chí cả trong cơ chất mà vi khuẩn, nấm mốc không phát triển được Sự phân bố của xạ khuẩn phụ thuộc vào khí hậu, thành phần đất, mức độ canh tác của thảm thực vật
Theo Waksman thì trong một gam đất có khoảng 29.000 – 2.400.000 mầm xạ khuẩn, chiếm 9 - 45% tổng số VSV [19] Sự phân bố của xạ khuẩn còn phụ thuộc nhiều vào độ pH môi trường Chúng có nhiều trong các lớp đất trung tính và kiềm yếu hoặc acid yếu 6,8 - 7,5 Xạ khuẩn có rất ít trong lớp đất kiềm hoặc acid và càng hiếm trong các lớp đất rất kiềm, số lượng xạ khuẩn cũng thay đổi theo thời gian trong năm
Xạ khuẩn tham gia tích cực vào quá trình chuyển hóa nhiều hợp chất trong đất, nước, dùng để sản xuất nhiều enzyme như protease, amylase, cellulase… một số acid amin và acid hữu cơ Một số xạ khuẩn có thể gây bệnh cho người, động vật [4]
1.1.1 Một số phương pháp trong phân loại xạ khuẩn
Cùng với sự phát triển mạnh của sinh học phân tử, hóa sinh học, lý
sinh học … nên việc định tên một chủng xạ khuẩn được tiến hành tương đối nhanh chóng và chính xác với nhiều phương pháp như phân loại số, nghiên cứu chủng loại phát sinh… Song người ta vẫn chủ yếu dựa vào các đặc điểm
hình thái, nuôi cấy đặc điểm sinh lý, sinh hóa, miễn dịch học và sinh học
phân tử
Trang 145
1.1.1.1 Đặc điểm hình thái và tính chất nuôi cấy
Đặc điểm hình thái và tính chất nuôi cấy là một trong những thông tin quan trọng để phân loại xạ khuẩn Để làm cho các chủng xạ khuẩn cần định loại biểu hiện đầy đủ các đặc điểm, người ta thường xuyên nuôi cấy chúng trên môi trường dinh dưỡng khác nhau trong điều kiện nhiệt độ và thời gian nhất định Tiến hành quan sát mô tả chụp ảnh và ghi lại những đặc điểm hình thái và nuôi cấy của xạ khuẩn, đặc biệt là cơ quan mang bào tử, hình dạng và
bề mặt bào tử Dựa vào đặc điểm hình thái, người ta chia xạ khuẩn thành 4 nhóm chính:
Nhóm 1: Gồm các xạ khuẩn mang bào tử rõ rệt, sinh sản bằng bào tử và
phân hóa thành HSKS và HSCC
Nhóm 2: Gồm các xạ khuẩn có bào tử nang, hệ sợi phân chia theo
hướng vuông góc với nhau tạo thành các cấu trúc tương tự nang bào tử
Nhóm 3: Gồm các xạ khuẩn có dạng Nocardia, sinh sản bằng cách phân
+ Kiểu S (Spira): chuỗi bào tử xoắn
+ Kiểu SRA (Spira Rectinaculum Apertum): chuỗi bào tử xoắn có dạng móc câu hay xoắn không hoàn toàn
+ Kiểu SRF (Spira Rectus Flexibilis): chuỗi bào tử xoắn, cong đến thẳng
+ Kiểu RA (Rectinaculum Apertum): chuỗi bào tử có móc có khóa + Kiểu RA – RF (Rectinaculum Apertum - Rectus Flexibilis): chuỗi bào tử có móc hay xoắn không hoàn toàn
Trang 156
+ Kiểu RF (Rectus Flexibilis): chuỗi bào tử thẳng lượn sóng
Việc sử dụng các đặc điểm hình thái và tính chất nuôi cấy vẫn coi là những dữ liệu cơ bản dùng trong phân loại xạ khuẩn Tuy nhiên, như ta đã biết xạ khuẩn rất không bền vững về mặt di truyền, thường xuyên xảy ra sự sắp xếp lại trong trong phân tử DNA Trong cùng một loài có thể biểu hiện khác nhau về hình thái hay những loài khác nhau có thể giống nhau về mặt hình thái Vì vậy, để phân loại được chính xác, ngày nay người ta cần nghiên cứu thêm các chỉ tiêu khác bổ sung như đặc điểm sinh lý, sinh hóa, miễn dịch học hay sinh học phân tử [20]
1.1.1.2 Đặc điểm hóa phân loại( Chemotaxonomy)
Đặc điểm hóa phân loại được sử dụng rộng rãi và hiệu quả trong vòng
20 năm trở lại đây Đây là phương pháp cơ bản và có hiệu quả thông qua việc định tính và định lượng thành phần hóa học của tế bào VSV
Hóa phân loại chủ yếu dựa vào các đặc điểm sau:
Type thành phần tế bào dựa trên cơ sở phân tích acid amin trong thành phần pettide và đường trong thành phần tế bào hay các polysaccaride gắn vào thành tế bào
Type peptidoglycan (PG) dựa vào các thông tin về thành phần và cấu trúc của mạch tetrapeptide của PG cầu nối peptide và các liên kết giữa các mắt xích của PG
Acid mycolic là các phần tử có mạch dài phân nhánh thuộc chi
Nocardia, Rhodococus, Mycobacterium và Corynebacterium Đây là đặc
điểm phân loại cơ bản cho các chi đó
Acid béo thường được sử dụng trong phân loại là acid béo bão hòa mạch thẳng và không bão hòa với mạch phân nhánh kiểu iso và enteiso metyl hóa ở nguyên tử cacbon thứ 10 Sự có mặt của acid 10 – metylloctade canoit (acid tubereulostearinoic) là đặc điểm để phân loại đến chi [3]
Trang 167
Phospholipid có 5 type (PI, PII, PIII, PIV, PV) có thành phần đặc trưng, có
ý nghĩa cho phân loại xạ khuẩn
Trong phân loại xạ khuẩn thì type thành tế bào là đặc điểm quan trọng nhất Khi muốn đưa một loài mới hoặc mô tả một loài có ý nghĩa nào đó, người ta không thể nào không xác định thành tế bào
1.1.1.3 Đặc điểm sinh lý, sinh hóa
Để phân loại xạ khuẩn đến loài, người ta sử dụng hàng loạt các đặc điểm sinh lý, sinh hóa khác nhau như khả năng đồng hóa các nguồn cacbon và nitơ, nhu cầu các chất kích thích sinh trưởng, khả năng biến đổi các chất khác nhau nhờ hệ thống ezyme Nhu cầu về oxy, giới hạn pH, nhiệt độ tối ưu, khả năng chịu muối và các yếu tố khác của môi trường, mối quan hệ với chất kìm hãm sinh trưởng và phát triển khác nhau, tính chất đối kháng và nhạy cảm với chất kháng sinh, khả năng tạo thành chất kháng sinh và các sản phẩm trao đổi chất đặc trưng khác của xạ khuẩn
Hopwood (1997) khẳng định rằng phần lớn các đặc điểm sinh lý, sinh hóa cùng đặc điểm nuôi cấy dễ bị biến động và có giá trị thấp về mặt phân loại Do đó, tính không ổn định và biến dị cao của xạ khuẩn mà ngày nay những nguyên tắc sử dụng các đặc điểm sinh lý, sinh hoá để phân loại xạ khuẩn cũng phải thay đổi
1.1.1.4 Phân loại số (Numerical taxonomy)
Để phát hiện những loài mới trên cơ sở sự khác nhau về đặc điểm sinh
lý, sinh hóa người ta còn sử dụng các kết quả dựa trên phân loại số Phương pháp này dưạ trên sự đánh giá về số lượng mức độ giống nhau giữa các VSV theo một số lớn các đặc điểm chủ yếu là các đặc điểm hình thái, sinh lý, sinh hóa
Trang 178
Để so sánh các chủng xạ khuẩn với nhau, người ta căn cứ vào hệ số
giống nhau (hệ số S – Similarity) có 2 công thức tính hệ số S hay được sử
N s : Tổng số các đặc điểm dương tính (giống nhau) của hai chủng so sánh
N d : Tổng số các đặc điểm khác nhau (tổng số các đặc điểm dương tính của
chủng này và âm tính của chủng kia)
Kết quả của phân loại số là vẽ được sơ đồ phân nhánh (kiểu “rễ cây”)
của các thông số Dựa vào sơ đồ này những chủng giống nhau nhiều nhất
được xếp vào một nhóm Bằng phân loại số người ta chia xạ khuẩn chi
Streptomyces thành 2 nhóm lớn, 37 nhóm nhỏ và 13 cụm với những đại diện
nhất định [21]
1.1.1.5 Phân loại xạ khuẩn chi Streptomyces
Chi Streptomyces là một giống xạ khuẩn bậc cao được Waksman và
Hernici đặt tên năm 1943 [19] Đây là chi có số lượng loài được mô tả lớn
nhất Các đại diện chi này có HSKS và HSCC phát triển phân nhánh Đường
kính sợi xạ khuẩn khoảng 1 - 10 µm, khuẩn lạc thường không lớn có đường
kính khoảng 1 – 5 mm Khuẩn lạc chắc, dạng da mọc đâm sâu vào cơ chất Bề
mặt khuẩn lạc thường được phủ bởi KTKS dạng nhung, dày hơn cơ chất, đôi
khi có kỵ nước
Trang 189
Xạ khuẩn chi Streptomyces sinh sản vô tính bằng bào tử, trên đầu sợi
khí sinh hình thành cuống sinh bào tử và chuỗi bào tử Cuống sinh bào tử có những hình dạng khác nhau tùy loài: thẳng, lượn sóng, xoắn, có móc, vòng… Bào tử được hình thành trên cuống sinh bào tử bằng hai phương pháp phân đoạn và cắt khúc Bào tử xạ khuẩn có hình bầu dục, hình lăng trụ, hình nhăn… tùy thuộc vào loài xạ khuẩn và môi trường nuôi cấy
Thường trên môi trường có nguồn đạm vô cơ và glucose, các bào tử biểu hiện các đặc điểm rất rõ Màu sắc của khuẩn lạc và hệ sợi khí sinh cũng
rất khác nhau tùy theo nhóm Streptomyces, màu sắc này cũng có thể biến đổi
khi nuôi cấy trên môi trường khác nhau Vì vậy, Ủy ban Quốc tế về phân loại
xạ khuẩn ISP đã nêu ra các môi trường và phương pháp chung để phân loại nhóm VSV này
Các loại xạ khuẩn thuộc chi Streptomyces có cấu tạo giống vi khuẩn
Gr+, hiếu khí, dị dưỡng các chất hữu cơ Nhiệt độ tối ưu thường là 25 - 30oC,
pH tối ưu 6,5 – 8,0 Một số loài có thể phát triển ở nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn (xạ khuẩn ưa nhiệt và ưa lạnh)
Bên cạnh các đặc điểm hình thái, nuôi cấy trên xạ khuẩn thuộc chi này còn có đặc điểm hóa phân loại sau:
Type thành tế bào: Type I dạng L- ADP và glixin
Type Peptidoglycan
Axit béo: mạch thẳng bão hòa, đồng phân nhánh 15 - 17 C với số lượng
ít và số lượng lớn các axit phân nhánh 16 Ciso và 15 - 17 Canteiso
Dạng menaquinon: MK-9 (H6) hoặc MK-9 (H9)
Dạng photpholipit : PII
Không có axit mycolic [5]
Xạ khuẩn chi này có khả năng tạo thành số lượng lớn các chất kháng sinh ức chế vi khuẩn, nấm sợi, các tế bào ung thư, virus và nguyên sinh động
Trang 1910
vật Cho đến nay để xác định cho thành phần loài của chi Streptomyces, các
nhà phân loại đã sử dụng hàng loạt các điều kiện và các khóa phân loại khác nhau [19]
1.1.2 Đặc điểm sinh học của xạ khuẩn
1.1.2.1 Đặc điểm hình thái của xạ khuẩn
* Khuẩn lạc
Đặc điểm nổi bật của xạ khuẩn là có hệ sợi phát triển, phân nhánh mạnh và không có vách ngăn (chỉ trừ cuống bào tử khi hình thành bào tử) Hệ sợi xạ khuẩn mảnh hơn của nấm mốc với đường kính thay đổi trong khoảng 0,2 – 1,0 µm đến 2,0 – 3,0 µm, chiều dài có thể đạt tới một vài cm [1],[5]
Kích thước và khối lượng hệ sợi thường không ổn định và phụ thuộc vào điều kiện sinh lý và nuôi cấy Kích thước của hệ sợi xạ khuẩn là một trong những đặc điểm phân biệt khuẩn lạc của xạ khuẩn và khuẩn lạc của nấm mốc vì hệ sợi của nấm mốc có đường kính rất lớn, thay đổi từ 5 – 50 µm, dễ quan sát bằng mắt thường
Khuẩn lạc của xạ khuẩn thường chắc, xù xì có dạng da, dạng vôi, dạng nhung tơ hay dạng màng dẻo Khuẩn lạc xạ khuẩn có màu sắc khác nhau: đỏ,
da cam, vàng, nâu, xám, trắng… tùy thuộc vào loài và điều kiện ngoại cảnh Kích thước và hình dạng của khuẩn lạc có thể thay đổi tùy vào loài và tùy vào điều kiện nuôi cấy như thành phần môi trường, nhiệt độ, độ ẩm… Đường kính mỗi khuẩn lạc chỉ chừng 0,5 – 2 nm nhưng cũng có khuẩn lạc đạt tới đường kính 1 cm hoặc lớn hơn Khuẩn lạc có 3 lớp, lớp vỏ ngoài có dạng sợi bền chặt, lớp trong tương đối xốp, lớp giữa có cấu trúc tổ ong
Khuẩn ty trong mỗi lớp có chức năng sinh học khác nhau Các sản phẩm trong quá trình trao đổi chất như: chất kháng sinh, độc tố, enzyme, vitamin, acid hữu cơ có thể được tích lũy trong sinh khối của tế bào xạ khuẩn hay được tiết ra trong môi trường
Trang 2011
* Khuẩn ty
Trên môi trường đặc biệt, hệ sợi của xạ khuẩn phát triển thành 2 loại: một loại cắm sâu vào trong môi trường gọi là hệ sợi cơ chất (khuẩn ty cơ chất substrate mycelium) với chức năng chủ yếu là dinh dưỡng Một loại phát triển trên bề mặt thạch gọi là hệ sợi khí sinh (khuẩn ty sinh khí aerial mycelium) với chức năng chủ yếu là sinh sản
Nhiều loại chỉ có hệ sợi cơ chất nhưng cũng có loại (như chi
Sporichthya) lại chỉ có hệ sợi khí sinh Khi đó HSKS vừa làm nhiệm vụ sinh
sản vừa làm nhiệm vụ dinh dưỡng
1.1.2.2 Cấu tạo xạ khuẩn
Xạ khuẩn có cấu tạo tương đối giống vi khuẩn gồm có thành tế bào, màng tế bào, vật chất nhân sơ, các hạt dữ trữ Xạ khuẩn thuộc nhóm vi sinh vật Gram ( +) Thành tế bào đà khoảng 20 nm có vai trò duy trì hình dạng hệ sợi và bảo vệ tế bào, được cấu tạo chủ yếu gồm các lớp glucopeptide gồm các gốc N-Acetylglucosamine liên kết với N-Acetylmuramic ( hoặc N-Glycolylmuramic, ví
Căn cứ vào kết cấu hóa học có thể chia thành tế bào xạ khuẩn thành 4 nhóm sau:
Nhóm 1 (Type I ): có chứa L- ADP (L- diaminopimelic và glixin) Gồm các
chi Streptomyces, Norcarsioider
Nhóm 2 (Type II): có chứa m- ADP (meso- diaminopimelic) và glixin Gồm
các chi Micromospora, Actinoplans, Ampullariella
Nhóm 3 ( Type III): có chứa m- ADP (meso- diaminopimelic) Gồm có Actinomadura, Actinobigfida, Micromobispora
Nhóm 4 ( Type IV): có chứa m- ADP (meso- diaminopimelic), đường
araninose, galactose Gồm có Norcardia, Pseudonocardia, Microbacterium
Cấu tạo tế bào xạ khuẩn
Trang 2112
Khuẩn lạc xạ khuẩn tuy có dạng sợi phân nhánh phức tạp đan xen nhau nhưng toàn bộ hệ sợi chỉ là một tế bào có nhiều nhân, không có vách ngăn ngang Giống như vi khuẩn, nhân thuộc loại đơn giản, không có màng nhân Thành tế bào xạ khuẩn giống thành tế bào vi khuẩn Gram (+) Màng tế bào chất dày khoảng 50nm và có cấu trúc tương tự màng tế bào chất của vi khuẩn Nhân không có cấu trúc điển hình, chỉ là những nhiễm sắc thể không có màng Khi còn non, toàn bộ tế bào chỉ có một nhiễm sắc thế sau đó hình thành nhiều hạt rải rác trong toàn bộ khuẩn ty ( gọi là hạt Cromatin) [16]
1.1.2.3 Đặc điểm sinh lí, sinh hóa của xạ khuẩn
Xạ khuẩn là một nhóm cơ thể dị dưỡng, chúng sử dụng đường, rượu, axit hữu cơ, lipid, protein và nhiều hợp chất hữu cơ khác làm nguồn cacbon Còn nitrat, nitrit, muối amon, ure, pepton, cao thịt để là nguồn nitơ Ở các loài khác nhau thì khả năng hấp thụ các hợp chất này là khác nhau Phần lớn
xạ khuẩn là vi sinh vật hiếu khí, ưa ẩm, nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng và phát triển là 25- 300C Đa số xạ khuẩn phát triển tốt nhất trong môi trường pH
là 6,8 – 7, một số ít có khả năng phát triển tốt trong môi trường kiềm[18]
Xạ khuẩn là nhóm vi khuẩn Gram (+), đặc biệt khác với các vi sinh vật khác của nhóm nhân sơ có tỉ lệ (G+X) cao ( trên 70%), trong khi đó vi khuẩn khá thấp ( 25- 45%) Một trong những đặc điểm đáng lưu ý của xạ khuẩn là chúng không bền vững về mặt di truyền và thường xảy ra sự sắp xếp lại trong phân tử DNA Điều này gây ra tính đa dạng về hình thái, tính chất sinh lí, sinh hóa của xạ khuẩn ( khả năng đồng hóa nguồn cacbon, nitơ, hoạt tính kháng sinh, tính kháng thuốc, khả năng phân giải cellulose ) [18]
Đặc điểm của chi xạ khuẩn Streptomyces
Chi Streptomyces có số lượng loài mô tả lớn nhất, chi này có HSKS,
HSCC phát triển và phân nhánh, khuẩn lạc thường không lớn, đường kính khuẩn lạc từ 1- 5 mm Khuẩn lạc chắc dạng da, mọc đâm sâu vào cơ chất, bề
Trang 2213
mặt khuẩn lạc thường được phủ bởi HSKS dạng nhung, dày hơn HSCC và đôi khi không thấm nước Chuỗi bào tử được tạo thành trên cuống sinh bào tử, chúng có thể thẳng, lượn song hoặc xoắn Bề mặt bào tử có thể nhẵn, xù xì,
có thể long hoặc có gai Xạ khuẩn có khả năng tạo thành các loại sắc tố khác nhau, sắc tố này có thể nhuộm màu HSKS, HSCC, đôi khi nhuộm màu môi trường
Các loài thuộc chi Streptomyces có cấu tạo thành giống thành của vi
khuẩn Gram (+), là vi sinh vật hiếu khí, dị dưỡng Nhiệt độ sinh trưởng tối ưu
từ 25- 300C, pH tối ưu là 6,5 – 8 Một số loài có thể sinh trưởng ở nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn ( xạ khuẩn ưa nhiệt và xạ khuẩn ưa ẩm) Bên cạnh các đặc điểm hình thái, nuôi cấy trên xạ khuẩn thuộc chi này còn có đặc điểm hóa phân loại sau:
Type thành tế bào: Type I dạng L- ADP và glixin
Type Peptidoglucan: A3
Axit béo: mạch thẳng bão hòa, đồng phân nhánh 15- 17 C với số lượng ít và
số lượng lớn các axit phân nhánh 16 Ciso và 15- 17 Canteiso
Dạng menaquinon: MK-9 (H6) hoặc MK-9 (H9)
Dạng photpholipit : PII
Không có axit mycolic [13]
1.1.2.4 Sinh sản của xạ khuẩn
Xạ khuẩn sinh sản sinh dưỡng bằng bào tử Bào tử được hình thành trên các nhánh phân hóa từ khuẩn ty khí sinh gọi là cuống sinh bào tử Cuống sinh bào tử ở các loài xạ khuẩn có kích thước và hình dạng khác nhau Có loài dài tới 100 - 200nm, có loài chỉ dài 20 - 30nm Có cấu trúc theo hình lượn song,
có loài hình lò xo hay xoắn ốc Sắp xếp các cuống sinh bào tử cũng khác nhau mọc đơn, mọc đối, mọc vòng hoặc từng chùm Bào tử được hình thành từ cuống sinh bào tử theo kiểu kết đoạn ( fragmentation) hoặc cắt khúc
Trang 2314
(segmentation) Ngoài hình thức sinh sản bằng bào tử, xạ khuẩn còn có hình thức sinh sản bằng khuẩn ty Các đoạn khuẩn ty gãy ra môi trường phát triển
thành hệ khuẩn ty [16]
1.1.3 Vai trò của xạ khuẩn
Xạ khuẩn có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành đất và tạo độ phì nhiêu cho đất Chúng đảm nhận nhiều chức năng khác nhau trong việc làm màu mỡ cho đất bằng cách tham gia tích cực vào các quá trình chuyển hóa và phân giải nhiều hợp chất hữu cơ phức tạp và bền vững như cellulose,
mùn, kitin, ketratin, lignin [5]
Cho tới nay khoảng hơn 8000 chất kháng sinh hiện biết trên thế giới thì
có tới 80% là do xạ khuẩn sinh ra [3] Trong đó có trên 15% có nguồn gốc từ
các xạ khuẩn hiếm như: Actinomadura, Micromonospora,
Actinoplanes, Streptoverticillium, Streptosporangium, Điều đáng chú ý là
các xạ khuẩn hiếm đã cung cấp nhiều chất kháng sinh có giá trị đang dùng trong y học, thú y học, bảo vệ thực vật như gentamycin, tobramycin, vancomycin, rosamycin, tetraxycline Bên cạnh đó trong quá trình trao đổi chất, xạ khuẩn có thể sản sinh ra nhiều chất hữu cơ Trong đó, điển hình là các enzyme ngoại bào (cellulase, protease ), vitamin nhóm B (B1, B2, B5,B6,
B12), một số acid hữu cơ (acid lactate, acid acetate ) [5]
Ngày nay xạ khuẩn còn được ứng dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp lên men, chế tạo các sản phẩm enzyme, ứng dụng các chế phẩm này vào đời sống do một số xạ khuẩn có khả năng sinh ra nhiều enzyme ngoại bào như protease, amylase, kitinase Một số khác còn có khả năng tạo thành chất kích thích sinh trưởng cho thực vật
Trang 2415
1.2 Cellulose và Cellulase
1.2.1 Cellulose
Cellulose là một polysaccarite mạch thẳng gồm từ 1400 – 12000 gốc β- D- glucose liên kết với nhau bởi các liên kết β- 1,4- glucozit Trong phân tử cellulose các phan tử β- D- glucose có cấu trúc không gian dạng ghế bành Hai phân tử khác nhau góc quay 1800 Cellulose là loại hợp chất hữu cơ dồi dào trong tự nhiên chiếm tới 40-50% hydratcacbon
Cellulose có cấu trúc dạng sợi song song, dài khoảng 5μm với đường kính 3nm Các sợi này liên kết với nhau bởi các liên kết hydro và các liên kết Vandervan tạo thành các bó sợi nhỏ có đường kính 10 - 40nm gọi là các vi sợi (microfibrin) Các vi sợi có cấu trúc không đồng nhất tạo nên cấu trúc mixen của cellulose Cellulose dạng mixen gồm 2 vùng:
Vùng kết tinh (Crystolline regions): có các sợi chặt chẽ, đậm đặc ngăn cản
sự hấp thụ nước và ít chịu tác động phân giải Vùng này chiếm ¾ cấu trúc Cellulose
Vùng vô định hình (Amorphous regions): có cấu trúc kém chặt chẽ, dễ bị
trương lên và dễ bị phân giải
Trong tự nhiên cellulose khá bền vững, không tan và không bị trương lên khi hấp thụ nước Cellulose bị phân hủy khi đun nóng với axit kiềm ở nồng độ khá cao, hoặc bị phân giải bởi các cellulasesinh ra từ nhiều loại sinh vật [12]
Trang 2516
là glucose và các oligosaccarit ( có thể từ 3-6 C hoặc nhiều hơn) Sự phân cắt này hình thành các đầu khử tự do, tạo điều kiện cho exo glucanase hoạt động Bởi vậy cellulose vùng kết tinh đƣợc phân giải triệt để và hiệu quả
Exo- β- glucanase hay 1,4- β-D- glucan cellobiohydrolase, Avicelase: enzyme này tấn công vào những đầu không khử (non- reducing end) của cellulose và kết quả là tạo ra các cellobiose
B- glucosidase hay cellobiose: thủy phân cellobiose và một vài cello- oligosaccarit thành glucose Hoạt tính của β- glucosidase mạnh nhất trên cellobiose và giảm dần theo chiều dài của chuỗi [12]
1.2.3 Hệ enzyme phân giải cellulose
Một số vi sinh vật phân giải đƣợc cellulose là nhờ phức hệ enzyme cellulose gồm 4 enzyme khác nhau tác dụng với các mối liên kết của cellulose
Đầu tiên enzyme cellobiohydrolase có tác dụng cắt đứt liên kết hydro, biến cellulose tự nhiên có cấu hình không gian dạng cellulose vô định hình không
có cấu trúc lớp
Enzyme thứ hai là endogluconase có khả năng cắt đứt liên kết β-1,4- glucozit tạo thành những chuỗi dài
Enzyme thứ ba là exogluconase tiến hành phân giải các chuỗi trên thành
di saccarit gọi là cellbinose
Enzyme thứ tƣ là β- glucosidase tiến hành thủy phân cellobinose thành glucose
Hệ enzyme cellulase còn gọi là enzyme thủy phân vì nó tiến hành thủy phân cellulose Mặt khác nó còn đƣợc goi là enzyme ngoại bào, vì trong quá trình sống của vi sinh vật phân giải cellulose, enzyme này đƣợc tổng hợp bên trong tế bào và đƣợc tiết ra bên ngoài, tiến hành thủy phân cellulose bên ngoài
Trang 261.3.1 Tình hình nghiên cứu xạ khuẩn phân giải cellulose trên thế giới
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về khả năng sinh cellulase của xạ khuẩn Ở Mỹ, năm 1983 PTN của quân đội Mỹ ở Natik và trường đại học
Rutgers sử dụng chủng Trichoderma viride QM6 hoang dại để sản xuất
cellulase đầu tiên Sau đó, gây biến chủng và chọn lọc được biến chủng QM9414 có khả năng sinh cellulose cao theo Rehm, 1983 Năm 1998, YU đã
nuôi cấy Trichoderma reesei Rut 30 trong môi trường chứa 5% bột cellulose
và 1% cám mì, thu được hoạt lực CMCase 232,4 IU/g Năm 2000, Sonia Couri khảo sát khả năng sinh tổng hợp các enzyme như polygalacturonase,
cellulase, xylanase và protease từ Aspergillus niger 3T5B8 trên nguồn phế
phụ liệu nông nghiệp khác nhau bằng phương pháp lên men bán rắn và ứng dụng enzyme trong việc tách chiết dầu thực vật năm 2002, theo báo cáo gần
đây của CORAL dịch nuôi cấy Aspergillus niger trong môi trường Czapeck-
Dox chứa CMC 1% cho chạy điện di trên gel SDS-PAGE chứa 0,2% CMC phát hiện có 2 vạch có hoạt tính CMCase và trọng lượng phân tử lần lượt là 83.000 và 50.000 Dalton [21]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu xạ khuẩn phân giải cellulose ở Việt Nam
Hằng năm hoạt động trong ngành nông nghiệp đã thải ra môi trường hàng ngàn tấn phế phẩm và đang là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường Nếu lượng phế phẩm này được xử lý làm thức ăn gia súc hoặc phân bón vi sinh thì sẽ là một nguồn lợi lớn Vì vậy trê thế giới và Việt Nam đã có những nghiên cứu về khả năng sinh cellulase của các vi sinh vật trong đất để phân giải cellulose từ các phế phẩm nông nghiệp Đặc biệt xạ
Trang 2718
khuẩn là một loài vi sinh vật có khả năng sinh cellulase khá mạnh và có thể cho nguồn enzyme dồi dào phục vụ cho việc xử lý rác thải, chế biến ức ăn gia súc probiotic
Trong chăn nuôi, một trong những biện pháp nâng cao năng suất vật nuôi là nâng cao hiệu suất sử dụng các chất dinh dưỡng của thức ăn ở mức cao nhất Người ta có thể dùng chế phẩm enzyme bổ sung vào khẩu phần thức
ăn của vật nuôi Các enzyme này cùng với các enzyme có sẵn trong đường tiêu hóa sẽ phân giải các chất dinh dưỡng của thức ăn giúp cho con vật tiêu hóa được tốt hơn cellulase là một trong số các enzyme thường được bổ sung vào thức ăn chăn nuôi gia súc Tuy nhiên, người ta không bổ sung riêng chế phẩm enzyme này mà thường bổ sung với các enzyme khác như:
amylase,protease,xylanase tạo ra một chế phẩm chứa nhiều enzyme Việc
bổ sung nhiều loại enzyme giúp vật nuôi phân giải được nhiều loại cơ chất, vật nuôi sẽ hấp thụ tốt hơn các nguồn thức ăn khác nhau
Khi động vật ở giai đoạn còn non, hệ enzyme tiêu hóa của chúng chưa hoàn chỉnh, chủ yếu ở động vật ăn bột và ăn cỏ Sử dụng enzyme trong chăn nuôi, người ta thấy lợn con theo ổ tăng trọng 20% và giảm thức ăn 6 – 14% Thí nghiệm trên lợn 1 – 3 tuần tuổi thì lợn tăng trọng 8 – 40%, tăng khả năng
sử dụng thức ăn từ 10 – 18%
Ngoài ra, trong giao thông vận tải, từ sinh khối cellulose sản xuất ra etanol là nguyên liệu tuyệt vời cho động cơ đốt trong và nó có thay thế cho nhiên liệu hóa thạch để giảm bớt sự ô nhiễm môi trường và sự nóng lên toàn cầu
Trong công nghệ dệt may, người ta thấy nếu dùng cellulase ở liều thấp
để sử lý bông sẽ làm bông trắng và mịn hơn, do nó loại bỏ được các sợi và các hạt trên bề mặt sợi bông làm cho sợi phẳng, bóng mượt và mềm
Trang 2819
Trong công nghệ sản xuất các chất tẩy rửa Tác dụng của cellulose trong chất tẩy rửa chủ yếu là loại bỏ các sợi hỏng làm cho vải trở nên mịn, đẹp, mềm và sáng hơn
Cellulose còn được sử dụng hiệu quả để phá vỡ thành tế bào thực vật trong công nghệ lai ghép tế báo trần
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về xạ khuẩn và khả năng sinh cellulase của nó vẫn còn khá mới Đã có nhiều nghiên cứu về cellulase ứng dụng trong thức ăn chăn nuôi nhưng đối tượng nghiên cứu chủ yếu lại là nấm mốc, nấm men như: Nguyễn Lân Dũng (1991) đã lên men xốp sắn bằng cách sử dụng Aspergillus hennebergii, Aspergillus niger sản phẩm dùng làm thức ăn cho trâu, bò Chu Thị Thanh Bình và cộng sự (2002) đã ứng dụng các chủng nấm men trong bã thải hoa quả giàu cellulose làm thức ăn gia súc Tuy nhiên Việt nam là đất nước sản xuất nông nghiệp là chủ yếu nên việc nghiên cứu về khả năng sinh enzyme cellulase của xạ khuẩn có triển vọng rất lớn
Trang 2920
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nguyên liệu và vi sinh vật
Thiết bị: Tủ ấm, tủ sấy Binder, nồi hấp, máy lắc, máy li tâm, các dụng cụ khác trong phòng thí nghiệm Vi sinh vật, khoa Sinh - KTNN, Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2
2.2 Môi trường
2.2.1 Môi trường phân lập
Môi trường Gause I