Việc giáo dục kĩ năng sống là một việc làm rất cần thiết trang bị thêm cho họ nhiều tri thức kĩ năng để làm việc và thành công trong cuộc sống.Trong chương trình giáo dục phổ thông đối v
Trang 1TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 12
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Sinh học
Người hướng dẫn khoa học
ThS NGUYỄN THỊ VIỆT NGA
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này lời đầu tiên cho em gửi lời cảm
ơn chân thành tới thầy giáo ThS Nguyễn Thị Việt Nga đã trực tiếp hướng dẫn
và giúp đỡ em tận tình trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong tổ phương pháp dạy học trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2, cùng tập thể các thầy, cô giáo khoa Sinh – KTNN, Ban giám hiệu nhà trường và toàn thể các bạn sinh viên đã tạo điều kiện thuận lợi và đóng góp những ý kiến quý báu để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Tăng Thị Dung
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan những vấn đề em trình bày là của riêng bản thân em dưới sự hướng dẫn của ThS Nguyễn Thị Việt Nga Đề tài và nội dung khóa luận không trùng với bất kì công trình nghiên cứu nào của các tác giả khác Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Tăng Thị Dung
Trang 4BĐKH : Biến đổi khí hậu
UNICEF : Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc
UNESCO : Tổ chức Giáo dục - khoa học -Văn hoá Liên hợp quốc CLB : Câu lạc bộ
Nxb : Nhà xuất bản
ThS : Thạc sĩ
Trang 5PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Những đóng góp của đề tài 4
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Tổng quan các vấn đề liên quan đến đề tài 5
1.2 Một số vấn đề về KNS 7
1.3 Khái quát về tích hợp và dạy học tích hợp 15
1.4 Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích hợp trong dạy học Sinh học 12 17
1.5.Thực trạng và nhận thức của giáo viên về giáo dục kỹ năng sống trong dạy học sinh học ở trường THPT 24
Chương 2 TÍCH HỢP GIÁO DỤC KNS TRONG DẠY HỌC 25
SINH HỌC 12 25
2.1 Nguyên tắc tích hợp giáo dục KNS trong DHSH 25
2.2 Quy trình tích hợp 25
2.3 Tích hợp GD KNS trong chương trình Sinh học 12 26
Khát quát nội dung chương trình sinh học 12 26
2.4 Nội dung tích hợp giáo dục KNS trong chương trình sinh học 12 28
2.5 Một số địa chỉ tích hợp GD KNS cụ thể 35
Trang 62.6 Một số giáo án sử dụng tích hợp GD KNS trong dạy học Sinh học 12 65 PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC
Trang 7PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Luật giáo dục năm 2005 Điều 2 đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Như vậy giáo dục phổ thông đã chuyển từ trang bị kiến thức cho học sinh sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em Đặc biệt là năng lực hành động, năng lực thực tiễn
Phương pháp giáo dục phổ thông cũng đã được đổi mới theo hướng
“phát huy tính tích cực tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý thức vươn lên” (Luật giáo dục năm 2005- điều 5)
Việc giáo dục kĩ năng sống là một việc làm rất cần thiết trang bị thêm cho họ nhiều tri thức kĩ năng để làm việc và thành công trong cuộc sống.Trong chương trình giáo dục phổ thông đối với môn Sinh Bộ GD- ĐT đã khẳng định một trong các mục tiêu về kiến thức: “hiểu được những ứng dụng của sinh học và thực tiễn sản xuất đời sống” và thái độ có ý thức kĩ năng học được vào cuộc sống lao động, học tập
Con người trong xã hội hiện đại ngày nay phải đối mặt với nhiều vấn
đề phải xử lí nhiều nguồn thông tin đa dạng phức tạp mà năng lực xử lí các tình huống trong cuộc sống hàng ngày càng hạn chế Đặc biệt là lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách giàu ước mơ, ham hiểu biết, tìm tòi, khám phá, song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo kích động, đặc biệt là trong bối cảnh hội
Trang 8nhập quốc tế về văn hóa- kinh tế và cơ chế thị trường hiện nay thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực Nếu không được giáo dục KNS thì các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, vào lối sống ích kỉ, lai căng thực dụng, xa vào các tệ nạn xã hội Chính vì vậy việc giáo dục kĩ năng sống nhằm phát triển toàn diện về đức trí thể mĩ, lao động nhằm phát triển toàn diện nhân cách Do vậy việc đưa kĩ năng sống vào giáo dục là rất cần thiết
Trước những tác động xấu đó thì môn Sinh học ngày càng đóng góp một vài trò đáng kể vào sự hiểu biết tổng hợp và toàn diện những vấn đề bức xúc, xuất phát từ mối quan hệ căng thẳng giữa tự nhiên và cả xã hội Môn Sinh học cung cấp cho học sinh những phương pháp và cách thức tư duy giúp các em có những hiểu biết, nhận thức ngày càng mở rộng về môi trường sống phức tạp, cần hình thành những kĩ năng hành động trong giải quyết mối quan
hệ giữa con người với môi trường, có tác dụng tích cực trong việc giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống Với nội dung và phương pháp đặc trưng, môn Sinh học nói chung và Sinh học 12 nói riêng hoàn toàn có khả năng tham gia có hiệu quả vào nhiệm vụ giáo dục kĩ
năng sống cho học sinh Chính vì những lí do trên tôi đã chọn đề tài “Tích
hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học Sinh học 12”
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu và đề xuất quy trình tích hợp giáo dục KNS trong dạy học sinh học nhằm phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh
- Góp phần hình thành và nâng cao KNS cho học sinh
- Giúp cho GV nắm được hình thức tổ chức và phương pháp GD KNS nhằm hình thành cho học sinh có được tri thức, thái độ, hành vi đúng đắn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 9Nội dung kiến thức có thể tích hợp giáo dục KNS trong Sinh học 12
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Các bài trong chương trình Sinh học 12
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được quy trình tích hợp giáo dục KNS trong quá trình dạy học Sinh học 12 sẽ cung cấp những KNS cần thiết cho sự phát triển toàn diện về nhân cách của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Sinh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận về kĩ năng sống và tích hợp giáo dục KNS
- Tìm hiểu vấn đề tích hợp giáo dục KNS trong dạy học Sinh học ở trường THPT
- Phân tích những nội dung cần giáo dục KNS trong các bài của Sinh học 12
- Xác định các địa chỉ có thể tích hợp giáo dục KNS trong dạy học Sinh học 12
- Chỉ ra một số biện pháp tích hợp giáo dục KNS trong dạy học sinh
- Thiết kế một số giáo án minh họa kết hợp với việc giáo dục KNS
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Thu thập các tài liệu liên quan đến các chủ đề nghiên cứu như các văn bản, nghị quyết, thông tư, tài liệu chuyên môn, phần mềm
6.2 Phương pháp điều tra
Nghiên cứu, tìm hiểu chất lượng học tập của HS, thăm dò ý kiến của
HS về những tiết dạy có tích hợp và không có tích hợp giáo dục KNS cho học sinh trong chương trình Sinh học 12, các biện pháp mà giáo viên đang áp dụng để tích hợp giáo dục KNS cho các em
Trang 106.3 Phương pháp phỏng vấn, đàm thoại, trò truyện
- Mục đích: nhằm thu thập các thông tin về thực trạng kĩ năng sống của học sinh, về các biện pháp mà giáo viên đang áp dụng để tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho các em
- Cách tiến hành: Phỏng vấn trực tiếp và thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục khác (trong và ngoài giờ lên lớp)
6.4 Phương pháp quan sát
- Mục đích: Nhằm thu thập thông tin về thực trạng kĩ năng sống của học sinh, đồng thời thông qua quan sát để thu đƣợc các biện pháp mà giáo viên đang áp dụng để lồng ghép giáo dục KNS vào môn học
- Cách tiến hành: Quan sát học sinh và giáo viên trong các hoạt động hàng ngày nhƣ hoạt động học tập và hoạt động ngoài giờ lên lớp
Trang 11PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan các vấn đề liên quan đến đề tài
1.1.1 Một số nghiên cứu về KNS trên thế giới
Từ những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ “kĩ năng sống” đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF, trước tiên là chương trình
“Giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cần giáo dục cho thế hệ trẻ Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về KNS cũng như đưa ra một bảng danh mục các KNS
mà thế hệ trẻ cần có Phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với kĩ năng xã hội
Dự án do UNESCO tiến hành tới một số nước trong đó các nước Đông Nam
Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về KNS nêu trên
Do yêu cầu của phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng thay đổi khơi dậy và phát huy tiềm năng của của người học, đào tạo một thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội Theo đó, vấn đề giáo dục KNS cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh phổ thông nói riêng được đông đảo các nước quan tâm
Mặc dù giáo dục KNS của học sinh được đông đảo các nước quan tâm
và cùng xuất phát từ quan niệm chung về KNS của WHO (Tổ chức Y tế Thế giới) hoặc của UNESCO, nhưng quan niệm về nội dung giáo dục KNS của các nước không giống nhau Ở một số nước, nội hàm của khái niệm KNS
Trang 12được mở rộng, trong khi một số nước khác xác định nội hàm của khái niệm KNS chỉ gồm những khả năng tâm lí, xã hội
Mặt khác, ngay trong một quốc gia, nội dung giáo dục KNS trong lĩnh vực giáo dục chính quy và không chính quy cũng có sự khác nhau Trong giáo dục không chính quy ở một số nước, những kĩ năng cơ bản như đọc, viết, nghe, nói, được coi là những kĩ năng cơ bản lại được xác định phong phú hơn theo các lĩnh vực quan hệ của cá nhân Do phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai giáo dục KNS nên những nghiên cứu lí luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú, song chưa thật hoàn thiện và sâu sắc Cho đến nay, chưa có quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng KNS
1.1.2 Quá trình hình thành giáo dục KNS ở Việt Nam
Trong lịch sử giáo dục Việt Nam quan điểm học để làm người, nghĩa là
để biết ứng sử với đời đã được coi như những mục tiêu quan trọng của giáo dục Cho nên, giáo dục đã quan tâm cung cấp cho người học những kiến thức, thái độ và kĩ năng cần thiết để người học gia nhập cuộc sống xã hội.Tuy nhiên, những nội dung đó chưa được gọi tên là giáo dục KNS
Thuật ngữ giáo dục KNS được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trình của UNICEF (1996) “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh niên trong và ngoài nhà trường” Quan niệm về KNS được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những KNS cốt lõi như: Kĩ năng nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng quyết định, kĩ năng kiên định, kĩ năng đặt mục tiêu…do các chuyên gia Úc tập huấn Tham gia chương trình này đầu tiên bao gồm có ngành giáo dục và Hội chữ thập đỏ
Sang giai đoạn 2 chương trình này mang tên: “Giáo dục sống khỏe mạnh và kĩ năng sống” Trong giai đoạn này, nội dung của khái niệm KNS và
Trang 13giáo dục KNS đã được phát triển sâu sắc hơn
Khái niệm KNS thực sự được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kĩ năng sống” do UNESCO tài trợ được tổ chức từ 23- 25 tháng 10 tại Hà Nội Từ đó, những người làm công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về khái niệm kĩ năng sống
Hiện nay, có nhiều quan niệm về kĩ năng sống.Tuỳ từng góc độ nhìn khác nhau, người ta có những quan niệm về kĩ năng sống khác nhau Ví dụ như:
- Theo tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO): KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày Đó là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lí có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống như kĩ năng đọc, viết, làm tính,…
* KNS gắn với bốn trụ cột của giáo dục:
Trang 14Gồm các kĩ năng như: Giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông - chia sẻ
và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống
(UNESCO: Kĩ năng sống - Cầu nối khả năng tới con người Tiểu ban giáo dục UNESCO 2003)
- Theo tổ chức Y tế Thế giới - WHO: KNS là kĩ năng mang tâm lí xã hội và gián tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác có hiệu quả với người khác để giải quyết có hiệu quả những vấn đề, tình huống trong cuộc sống hàng ngày KNS là năng lực tâm lí xã hội, là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh Năng lực tâm lí xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã hội Kĩ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lí xã hội này
- Quan điểm của Quỹ cứu trợ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF): KNS là khả năng phân tích tình huống và ứng xử và khả năng tránh được các tình huống Các KNS nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức “cái chúng
Trang 15ta biết” và thái độ, giá trị „„cái chúng ta nghĩ, cảm thấy” thành hành động thực
tế „„làm gì và làm cách nào” là tích cực nhất và mang tính chất xây dựng
- Theo thuyết hành vi: KNS là những kĩ năng tâm lí xã hội liên quan đến những tri thức, những giá trị và những thái độ - là những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức cuộc sống
Từ các quan niệm về KNS nêu trên có thể rút ra nhận xét:
- Có nhiều cách biểu đạt khái niệm kĩ năng sống với quan niệm rộng hẹp khác nhau tùy theo cách tiếp cận vấn đề Khái niệm KNS được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những năng lực tâm lí xã hội Theo nghĩa rộng KNS không chỉ bao gồm năng lực tâm lí xã hội mà còn bao gồm cả kĩ năng tâm vận động
- Mặc dù cách biểu đạt khái niệm KNS có khác nhau (về việc xác định nội hàm của khái niệm nông, sâu khác nhau dẫn đến phạm vi phản ánh của khái niệm rộng hẹp khác nhau) nhưng đều thống nhất trong các quan niệm về KNS là: khẳng định KNS về phạm trù năng lực (hiểu theo nghĩa rộng) chứ không thuộc phạm trù kĩ thuật của hành động, hành vi (hiểu kĩ năng theo nghĩa hẹp)
Tóm lại, khái niệm KNS được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở từng khu vực và từng quốc gia Ở một số nước, KNS được hướng vào giáo dục vệ sinh, dinh dưỡng và phòng bệnh Một số nước khác, KNS lại hướng vào giáo dục hành vi và cách ứng xử, giáo dục an toàn giao thông, bảo vệ môi trường hay giáo dục lòng yêu hòa bình Theo đó, vấn đề phát triển KNS cho thanh thiếu niên ở các nước cũng khác nhau Có nước chỉ hạn chế những KNS cần cho lĩnh vực bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các tệ nạn xã hội, nghĩa là KNS chỉ dành cho một nhóm đối tượng có nguy cơ cao để đương đầu với những thách thức của xã hội, KNS không phải là cần cho mọi người Nhưng ở một số nước khác sự nhận thức về KNS sâu sắc hơn Do đó, KNS được phát triển cho mọi
Trang 16đối tượng để với những KNS đó con người có thể vận dụng vào giải quyết các vấn đề xã hội khác nhau, trong các hoàn cảnh và tình huống khác nhau của từng loại đối tượng Tuy nhiên xu hướng chung là sử dụng KNS của UNESCO để triển khai các hoạt động phát triển KNS cho các đối tượng trong
xã hội đặc biệt là thanh thiếu niên
- Kĩ năng sống (life skills) là khái niệm được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi lứa tuổi trong lĩnh vực hoạt động thuộc các lĩnh vực khác nhau của mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Ngay từ những thập niên đầu của thập kỉ
90, các tổ chức Liên Hợp Quốc (LHQ) như WTO (Tổ chức Y tế Thế giới), UNICEF (quỹ cứu trợ Nhi đồng Liên Hợp Quốc), UNESCO (Tổ chức Văn hóa, khoa học và Giáo dục của Liên Hợp Quốc) đã chung sức xây dựng chương trình
GD KNS cho thanh thiếu niên Tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm này vẫn nằm trong tình trạng chưa có một định nghĩa rõ ràng và đầy đủ
- Giáo dục KNS: GD KNS là trang bị những kiến thức, thái độ, hành động giúp cho người học hình thành được những KNS cần thiết, phù hợp với từng lứa tuổi, điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường sống,…GD KNS cho HS nói chung và cho HS THPT nói riêng là việc rất quan trọng, ảnh hưởng tới quá trình hình thành và phát triển nhân cách cho HS
1.2.2 Phân loại KNS
Do tiếp cận KNS tương đối đa dạng nên cũng có nhiều cách phân loại KNS:
1.2.2.1 Phân loại KNS theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
KNS được phân loại thành những kĩ năng chung và kĩ năng chuyên biệt (kĩ năng trong các lĩnh vực cụ thể)
Nhóm kĩ năng nhận thức gồm các kĩ năng cụ thể như: tư duy, phê phán, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, ra quyết định, khả năng sáng tạo, tự nhận thức về bản thân, đặt mục tiêu, xác định giá trị,…
Trang 17Nhóm kĩ năng đương đầu với cảm xúc gồm: động cơ ý thức trách nhiệm, kiềm chế căng thẳng, kiểm soát được cảm xúc, tự quản lí, tự giám sát
và tự điều chỉnh,…
Nhóm kĩ năng xã hội hay kĩ năng tương tác gồm: kĩ năng giao tiếp, tính quyết đoán, lắng nghe tích cực và thông cảm, chia sẻ,…
Ngoài những kĩ năng chung như 3 nhóm nêu trên KNS còn thể hiện trong những vấn đề cụ thể khác nhau trong đời sống xã hội như: Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh sức khỏe, vệ sinh dinh dưỡng, gia đình và cộng đồng, các vấn đề giới tính, sức khỏe sinh sản, chăm sóc người bệnh HIV/AIDS phòng tránh rượu, thuốc lá, ngăn ngừa thiên tai, bạo lực, rủi ro, đề phòng tai nạn thương tích, hòa bình, và giải quyết xung đột, bảo vệ thiên nhiên và môi trường, văn hóa, ngôn ngữ, công nghệ,…Như vậy bên cạnh những KNS chung còn có những KNS riêng cho từng lĩnh vực của đời sống con người
1.2.2.2 Cách phân loại KNS theo UNICEF
Theo cách phân loại này, KNS được chia làm 3 lọai chính:
- Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với chính mình gồm: Kĩ năng tự nhận thức, lòng tự trọng, sự kiên định, kĩ năng đương đầu với cảm xúc, đương đầu với căng thẳng,…
- Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với người khác gồm: Kĩ năng quan
hệ, tương tác liên cá nhân, sự cảm thông, kĩ năng đứng vững trước áp lực của bạn bè hoặc của người khác, kĩ năng thương lượng, kĩ năng giao tiếp có hiệu quả,…
- Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả, gồm: Kĩ năng tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, kĩ năng ra quyết định, giải quyết vấn đề
Những các phân loại nêu trên đã đưa ra bảng danh mục các KNS có giá
Trang 18trị trong nghiên cứu phát triển lí luận về KNS và chỉ có tính chất tương đối Trên thực tế, các KNS có mối quan hệ mật thiết với nhau bởi khi tham gia một tình huống cụ thể, con người cần phải sử dụng rất nhiêu kĩ năng khác nhau Ví dụ khi cần giải quyết một vấn đề nào đó, cá nhân phải sử dụng những kĩ năng như: Kĩ năng nhận thức, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng tư duy sáng tạo và kĩ năng kiên định,…
Kết quả nghiên cứu về KNS của nhiều tác giả đã khẳng định “dù phân loại theo hình thức nào thì một số kĩ năng cốt lõi như: kĩ năng xác định giá trị,
kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đương đầu với cảm xúc, căng thẳng, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực, kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng đặt mục tiêu,…”
1.2.3.Ý nghĩa KNS
KNS góp phần thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội, ngăn ngừa các vấn đề tiêu cực trong xã hội, tích cực góp phần xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp, do vậy sẽ làm giảm tệ nạn xã hội, xã hội lành mạnh, phát triển tốt đẹp
1.2.4 Sự cần thiết phải giáo dục KNS cho học sinh
1.2.4.1 Kĩ năng sống thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội
KNS chính là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái
độ, hành vi, và thói quen tích cực, lành mạnh Người có KNS phù hợp sẽ luôn vững vàng trước khó khăn thử thách, biết ứng xử giải quyết một vấn đề phức tạp một cách tích cực, yêu đời hơn, làm chủ cuộc sống của chính mình và thành công trong cuộc sống Mặt khác KNS còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề tiêu cực xã hội và bảo vệ quyền con người, bảo vệ sức khoẻ, bảo vệ môi trường, phòng chống bệnh tật,…
Tại hội nghị giáo dục thế giới họp tại Senegan tháng 4- 2000 đã thông qua kế hoạch hành động giáo dục cho mọi người (kế hoạch hành động Dakar)
Trang 19gồm 6 mục tiêu lớn Trong đó mục tiêu 3 đã vạch ra rằng: “Đảm bảo nhu cầu học tập của tất cả thế hệ trẻ và người lớn được đáp ứng thông qua bình đẳng tiếp cận với các chương trình học tập và chương trình KNS thích hợp” Mục tiêu này đã yêu cầu các quốc gia phải đảm bảo cho con người học được tiếp cận những chương trình KNS phù hợp
Mục tiêu 6 của chương trình hành động Giáo dục cho mọi người (Dakar) cũng khẳng định: Nâng cao toàn bộ các mặt của chất lượng giáo dục
và đảm bảo có thể nhận rõ và đo được những kết quả đó về các kĩ năng cơ bản của KNS UNESCO đã xác định những lĩnh vực cần được quan tâm đặc biệt
về giáo dục KNS bao gồm:
Liên quan đến việc làm: Các chương trình giáo dục KNS trong giáo dục nghề nghiệp không nên tiến hành một cách độc lập mà cần thực hiện theo hướng tích hợp vào các chương trình dạy kĩ năng nghề nghiệp (cả trong giáo dục chính quy và không chính quy) Điều này cho phép đồng thời thực hiện 2 mục tiêu: Một là, tăng cường cơ hội học tập, chuẩn bị cho cá nhân bước vào thế giới công việc bằng việc tạo cho họ đâu là các kĩ năng nghề nghiệp được đào tạo Hai là, tăng tính hiệu quả và sự phù hợp của cá nhân với các kĩ năng nghề được đào tạo (có đáp ứng nhu cầu thị trường không?Có đáp ứng đầy đủ mong muốn của cá nhân không? Có nâng cao mức độ thu nhập của họ không?
Có giảm những tổn thương/thiệt hại về kinh tế xã hội của họ không?)
Liên quan đến sức khỏe, HIV/AIDS và lạm dụng ma túy những hội nghị giáo dục đã nhận thức được nhu cầu cấp bách hiện nay là đấu tranh với đại dịch HIV/AIDS (do một nửa những người nhiễm dịch mới ở lứa tuổi 15 đến 24) Giáo dục phòng tránh HIV/AIDS là một trong 15 nội dung của giáo dục vì sự phát triển bền vững
Liên quan đến xung đột và bạo lực: Giáo dục là trọng tâm của mọi chiến lược xây dựng hòa bình Điều đó có nghĩa là thông qua giáo dục (chính
Trang 20quy và phi chính quy) những cá nhân có được kiến thức, giá trị, thái độ và các
kĩ năng sống cần thiết để xây dựng nền móng vững chắc cho sự tôn trọng quyền con người, các nguyên tắc dân chủ và chống lại bạo lực, tội ác Tiếp cận KNS tạo ra một mô hình mà mỗi con người có thể phát triển kĩ năng phân tích, tư duy phê phán, ra quyết định (học để biết), tự trọng, học để tự khẳng định mình) giao tiếp với người khác giải quyết xung đột hợp tác và cam kết
xã hội (học để chung sống với mọi người) giải quyết ổn thoả đối với mọi việc khác nhau (học để làm)
1.2.4.2 Giáo dục kĩ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ
Thế hệ trẻ chính là những chủ nhân tương lai của đất nước là những người sẽ quyết định sự phát triển của đất nước Mặt khác lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành giá trị nhân cách, ham hiểu biết, thích tìm tòi khám phá nhưng còn thiếu hiểu biết về xã hội còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo kích động Vì vậy việc giáo dục KNS cho thế hệ trẻ là rất cần thiết giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng xã hội
1.2.4.3 Giáo dục kĩ năng sống nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
Theo luật giáo dục năm 2005 xác định mục tiêu giáo dục phổ thông là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khỏe,…Hình thành bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân Mục tiêu giáo dục của Việt Nam thể hiện mục tiêu giáo dục của thế kỉ XXI: Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định và học để cùng chung sống (Delor, 1996) Vì vậy, việc giáo dục KNS cho học sinh trong các nhà trường phổ thông
là rất cần thiết, để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở trường phổ thông
Giáo dục KNS cho HS trong nhà trường phổ thông nhằm các mục tiêu sau:
- Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù
Trang 21hợp Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống hoạt động hàng ngày
- Tạo cơ hội để học sinh thực hiện tốt quyền và bổn phận của mình và phát triển hài hoà về thể chất, trí tuệ tinh thần và đạo đức
1.2.5 Cách tiếp cận giáo dục KNS
Việc giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường được thực hiện thông qua dạy học các môn học trong đó môn Sinh học và tổ chức các hoạt động giáo dục Đó là sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để tạo điều kiện, cơ hội cho học sinh được hình thành trải nghiệm KNS trong quá trình học tập Với cách tiếp cận này làm cho giờ học và hoạt động giáo dục trở nên nhẹ nhàng thiết thực và bổ ích hơn đối với học sinh
1.3 Khái quát về tích hợp và dạy học tích hợp
1.3.1 Tích hợp là gì?
Tích hợp là thiết kế các nội dung và tổ chức các hoạt động thành một thể thống nhất, có ý nghĩa để các học sinh có thể phối hợp và áp dụng các kinh nghiệm, hình thành từ các lĩnh vực khác nhau khi tìm hiểu một sự vật thông qua việc học sinh tham gia tích cực và trực tiếp một cách tự nhiên
1.3.2 Quan điểm tích hợp hiện nay
Quan điểm sư phạm tích hợp cho rằng tích hợp không phải là đặt cạnh nhau, liên kết với nhau mà là sự xâm nhập, đan xen các đối tượng hay các bộ phận của đối tượng với nhau, tạo thành một chỉnh thể Trong đó không chỉ những giá trị của từng bộ phận được bảo tồn và phát triển mà đặc biệt là ý nghĩa của toàn bộ chỉnh thể đó được nhân lên
1.3.3 Xu hướng tích hợp
Trong giáo dục, có thể tiếp cận tích hợp theo nhiều kiểu khác nhau, trong đó có 2 kiểu tích hợp phổ biến là tích hợp kiến thức và tích hợp dạy học
Trang 22Tích hợp kiến thức là sự liên kết, kết hợp, lồng ghép tri thức của các khoa học khác nhau thành một khoa học thống nhất
Tích hợp dạy học là quá trình dạy học trong đó có sự lồng ghép, liên hệ những tri thức khoa học, những quy luật chung gần gũi với nhau, qua đó người học không chỉ lĩnh hội được tri thức khoa học của môn học chính mà cả tri thức khoa học được tích hợp, từ đó mà hình thành cho người học cách nhìn khái quát hơn đối với khoa học có cùng đối tượng nghiên cứu, đồng thời có được phương pháp xem xét vấn đề một cách logic, biện chứng
Sự tích hợp kiến thức GD KNS vào môn học có thể phân thành 2 dạng:
- Dạng liên hệ
Trong trường hợp này GV phải khai thác hết môn học và liên hệ chúng với các nội dung về KNS Dựa vào nội dung bài học, GV có thể bổ sung kiến thức GD KNS có liên quan với bài học qua giờ học lên lớp
Liên hệ là kiểu tích hợp phổ biến cho đa số các môn học, tuy nhiên tiếp cận theo kiểu này, giáo viên dạy bộ môn không phải thành thạo kiến thức GD KNS thì mới có thể nhận ra mối quan hệ giữa chúng, tiếp theo đó là phải lựa chọn biện pháp dạy học cũng như nội dung GD KNS để liên hệ trong từng nội dung bài học một cách phù hợp Dạng liên hệ có ưu điểm là rất linh hoạt và giáo viên có thể cập nhật thường xuyên các kiến thức về KNS khi đưa vào bài học
- Dạng lồng ghép
Ở dạng này các kiến thức GD KNS đã có trong chương trình và SGK
và trở thành một bộ phận kiến thức của môn học
Lồng ghép toàn phần: hầu hết các kiến thức của bài học cũng chính là kiến thức về GD KNS Khi đó mục tiêu của bài học cũng chính là mục tiêu
GD KNS
Lồng ghép một phần: một phần kiến thức của bài học có nội dung về
GD KNS Ở những bài này, GV có thể tích hợp các nội dung GD KNS
Trang 23trong một số phần của nội dung bài học Tuy nhiên GV cần phân phối thời gian cho hợp lí với cấu trúc chung của bài học Tránh những trường hợp quá lạm dụng hay coi trọng nội dung GD KNS mà không chú ý tới nội dung khác của bài học
1.4 Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích hợp trong dạy học Sinh học 12
1.4.1 Một số phương pháp dạy học tích cực, giáo dục KNS cho học sinh trong giảng dạy Sinh học 12
1.4.1.1 Phương pháp vấn đáp, tìm tòi
1.4.1.1.1 Bản chất
Thuộc nhóm phương pháp dùng lời Là một trong những phương pháp
có nhiều ưu thế trong việc tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
Giáo viên tổ chức trao đổi ý kiến, cả tranh luận giữa thầy và cả lớp, có khi giữa trò với trò về một chủ đề nhất định, thông qua đó học sinh nắm được kiến thức mới Trong phương pháp này, hệ thống câu hỏi của giáo viên đóng vai trò chủ đạo, quyết định chất lượng lĩnh hội của học sinh
- Giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi dự kiến, phù hợp với trình độ
Trang 24nhận thức của từng loại học sinh trong tiến trình bài dạy, chú ý thu thập thông tin phản hồi từ học sinh
- Chỉnh sửa và rút kinh nghiệm về tính rõ ràng, chính xác và trật tự logic của hệ thống câu hỏi đã được sử dụng trong giờ dạy
Khi sử dụng các phương tiện trực quan có thể tiến hành theo các bước: Bftước 1: Giáo viên giới thiệu các phương tiện trực quan
Bước 2: Giáo viên nêu yêu cầu và kiến thức, kĩ năng cần có từ phương tiện trực quan đó
Bước 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát
Bước 4: Học sinh nêu và tổng hợp những kiến thức rút ra được từ những nhận xét, kết luận về những hiện tượng, sự vật được thể hiện qua phương tiện trực quan
Bước 5: Giáo viên chính xác hóa và chốt kiến thức
1.4.1.3 Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề
Trang 25học tập khác
Đặc trưng của phương pháp dạy học có vấn đề là học sinh được đặt vào
“tình huống có vấn đề” Là một tình huống gợi ra cho học sinh những khó khăn mà các em thấy cần và có khả năng vượt qua, nhưng không thể ngay lập tức giải quyết được, mà phải trải qua quá trình tích cực suy nghĩ (chú ý: Tình huống phải vừa sức học sinh không quá dễ không quá khó)
1.4.1.3.2 Quy trình thực hiện
Bước 1: Đặt vấn đề xây dựng bài toán nhận thức
- Xây dựng bài toán có vấn đề
- Phát hiện và nhận dạng vấn đề nảy sinh
- Giải thích và chính xác hóa tình huống để hiểu đúng vấn đề được đặt ra Bước 2: Giải quyết vấn đề được đặt ra
- Phân tích tìm hiểu vấn đề, làm rõ mối quan hệ giữa cái đã biết và cái cần tìm
- Lập kế hoạch và giải quyết vấn đề
- Tiến hành giải quyết vấn đề và đưa ra lời giải
Bước 3: Đánh giá kết quả, phân tích, khai thác lời giải
- Kiểm tra hợp lí, tối ưu của lời giải
- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra
- Đề xuất những vấn đề mới có liên quan và giải quyết nếu có thể
1.4.1.4 Phương pháp thảo luận nhóm
Trang 26dung bài học, tạo cơ hội cho các em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau, cùng nhau hợp tác giải quyết nhiệm vụ chung
Bước 4: Các nhóm thảo luận giải quyết nhiệm vụ được giao
Bước 5: Đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm Các nhóm khác nhau quan sát, lắng nghe, chất vấn, bình luận và bổ sung ý kiến
Bước 6: Giáo viên tổng kết và nhận xét
1.4.2 Một số kĩ thuật dạy học tích cực giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học sinh học 12
1.4.2.1 Kĩ thuật đặt câu hỏi
Trong dạy học theo phương pháp cùng tham gia, giáo viên phải sử dụng câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt học sinh tìm hiểu, khám phá thông tin kiến thức kĩ năng mới để đánh giá kết quả học tập của học sinh, học sinh cũng phải
sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm giáo viên và các học sinh khác về những nội dung bài học chưa sáng tỏ
Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa học sinh
và giáo viên, học sinh và học sinh Kỹ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của học sinh càng nhiều, học sinh sẽ học tập tích cực hơn
Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Câu hỏi phải liên quan đến những việc thực hiện mục tiêu bài học
- Ngắn gọn rõ ràng, dễ hiểu
- Đúng lúc, đúng chỗ
Trang 27- Phù hợp với trình độ học sinh
- Phù hợp với thời gian thực tế
- Sắp xếp theo trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp
- Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xích
- Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc
1.4.2.2 Kỹ thuật động não
Động não là kĩ thuật giúp cho học sinh trong một thời gian ngắn này được nhiều ý tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề nào đó Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế ý tưởng
Động não thường được:
Dùng trong giai đoạn giới thiệu vào một chủ đề nào đó
Sử dụng để tìm một phương án giải quyết vấn đề
Dùng để thu thập các khả năng lựa chọn và suy nghĩ khác nhau
Động não có thể tiến hành theo các bước sau:
Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề cần được trả lời hoặc giải quyết Khích lệ học sinh phát triển và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to, không loại trừ một số ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp
Phân loại ý kiến
Trang 28Kỹ thuật này có thể tiến hành như sau:
Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học) giáo viên yêu cầu học suy nghĩ, trả lời câu hỏi sau: Điều quan trọng nhất các em học được hôm nay là gì? Theo các em vấn đề là gì là quan trọng nhất mà chưa được giải đáp?
Học sinh suy nghĩ và viết ra giấy Các câu hỏi của học sinh có thể dưới nhiều hình thức khác nhau
Mỗi học sinh trình bày trước lớp trong thời gian 1 phút về những điều các em đã học được và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề các em muốn được tiếp tục tìm hiểu thêm
1.4.2.4 Kỹ thuật “hỏi và trả lời”
Đây là kĩ thuật giúp học sinh có thể củng cố, khắc sâu kiến thức đã học thông qua việc hỏi và trả lời câu hỏi
Kỹ thuật này tiến hành như sau:
- Giáo viên nêu chủ đề
- Giáo viên (hoặc 1 học sinh) sẽ bắt đầu đặt một câu hỏi về chủ đề và yêu cầu 1 học sinh khác trả lời câu hỏi đó
- Học sinh trả lời xong câu hỏi đầu tiên lại được đặt tiếp một câu hỏi tiếp theo và yêu cầu một học sinh trả lời
- Học sinh này sẽ tiếp tục quá trình trả lời và đặt câu hỏi cho các bạn cùng lớp…
- Cứ như vậy cho đến khi giáo viên quyết định dừng hoạt động này lại
1.4.2.5 Kỹ thuật “đọc hợp tác” (còn gọi là đọc tích cực)
Kỹ thuật này nhằm giúp học sinh tăng cường khả năng tự học và giúp giáo viên tiết kiệm thời gian đối với những bài học phần đọc có nhiều nội dung nhưng không quá khó đối với học sinh
- Giáo viên nêu yêu cầu câu hỏi cần định hướng học sinh đọc bài,
Trang 29phần đọc
- Học sinh làm việc cá nhân
- Đoán trước khi đọc: Để làm việc này, học sinh cần đọc lướt qua bài học, học phần để tìm ra những gợi ý từ hình ảnh tựa đề, từ/cụm từ quan trọng
- Đọc và đoán nội dung: Học sinh tìm ra ý chính của bài/phần đọc qua việc tập chung vào các ý quan trọng theo cách hiểu của mình
- Tóm tắt ý chính
- Học sinh chia sẻ kết quả học tập theo nhóm 2 hoặc 4 em và giải thích cho nhau thắc mắc (nếu có), thống nhất với nhau ý chính của bài/phần đọc
- Học sinh nêu câu hỏi để giáo viên giải đáp (nếu có)
*Lưu ý: Một số câu hỏi để giáo viên thường dùng để giúp học sinh tóm
1.4.2.6 Kỹ thuật hoàn tất một nhiệm vụ
Giáo viên đưa ra một câu chuyện/vấn đề/một bức tranh/một thông điệp/…mới chỉ được giải quyết một phần và yêu cầu học sinh/nhóm học sinh hoàn tất phần còn lại
Học sinh/nhóm học sinh thực hiện nhiệm vụ được giao
Học sinh/nhóm học sinh trình bày sản phẩm
Giáo viên hướng dẫn cả lớp cùng bình luận, đánh giá
Lưu ý: Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh cẩn thận và cụ thể để các
em hiểu được nhiệm vụ của mình Đây là một hoạt động giúp các em đọc lại những tái hiện theo yêu cầu của giáo viên
1.4.2.7 Phân tích phim
Trang 30Phim video hoặc flash có thể là một trong các phương tiện để truyền đạt nội dung bài học Phim tương đối ngắn gọn (3- 5 phút).Giáo viên cần xem qua trước để đảm bảo là phim phù hợp để chiếu cho các em xem
Trước khi cho học sinh xem phim, hãy nêu một số câu hỏi thảo luận hoặc liệt kê các ý mà các em cần tập trung Làm như vậy giúp các em chú ý tốt hơn
Học sinh xem phim: Sau khi xem phim, yêu cầu học sinh làm việc cá nhân hoặc theo cặp và trả lời câu hỏi hoặc tóm tắt các ý chính về nội dung phim đã xem
1.5.Thực trạng và nhận thức của giáo viên về giáo dục kỹ năng sống trong dạy học sinh học ở trường THPT
Giáo dục KNS cho học sinh trong dạy học Sinh học rất quan trọng và phù
hợp với thực tiễn hiện nay Tuy nhiên, qua đánh giá nhiều tiết dạy và quá trình tìm hiểu tại các trường THPT tôi nhận thấy rằng còn nhiều giáo viên hiện nay chỉ chú trọng đến việc truyền thụ kiến thức thật nhiều cho học sinh, nên không còn thời gian lồng ghép giáo dục KNS cho học sinh Hầu hết các giáo viên khi giáo dục KNS cho học sinh đã biết tiến hành theo các hướng khác nhau nhưng chủ yếu là xu hướng lồng ghép và liên hệ Qua điều tra có kết quả là hầu hết giáo viên đều cho rằng: Tích hợp giáo dục KNS cho học sinh là rất cần thiết, đặc biệt là đối với bộ môn Sinh học Thông qua việc giáo dục KNS cho học sinh không chỉ giúp các em khám phá khoa học mà còn giáo dục những kĩ năng rất cần thiết cho sự phát triển nhân cách của các em Giáo dục KNS là đáp ứng chương trình đổi mới giáo dục của đảng và nhà nước ta Đất nước đang trong quá trình phát triển cần những con người Việt Nam mới năng động, sáng tạo, vì vậy giáo dục KNS cho học sinh là việc làm rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn
Trang 31Chương 2 TÍCH HỢP GIÁO DỤC KNS TRONG DẠY HỌC
SINH HỌC 12
2.1 Nguyên tắc tích hợp giáo dục KNS trong DHSH
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo đặc trưng bộ môn
Đảm bảo tính đặc trưng và tính hệ thống của bộ môn, tránh mọi sự gượng ép
2.1.2 Nguyên tắc lựa chọn nội dung giáo dục KNS
Lựa chọn nội dung phù hợp tránh làm nặng nề các kiến thức sẵn có Xem xét và chọn lọc những nội dung có thể lồng ghép nội dung giáo dục KNS một cách thuận lợi nhất đem lại hiệu quả cao nhất nhưng vẫn nhẹ nhàng
tự nhiên
Phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức: Cần lấy những ví dụ gần gũi với thực tế đời sống của các em, của gia đình, làng xóm và ở thiên nhiên xung quanh, trình bày một cách đơn giản
2.1.3 Nguyên tắc lựa chọn phương pháp phù hợp
KNS không thể được hình thành chỉ qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu mà phải thông qua các hoạt động tương tác với người khác, và được hình thành khi người học được trải nghiệm qua các tình huống thực tế, GV thiết kế
và tổ chức các hoạt động trong và ngoài giờ học sao cho học sinh có các ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích kinh nghiệm sống của chính mình và người khác Giáo dục KNS đòi hỏi phải có quá trình: Nhận thức - thái độ - hành vi
2.2 Quy trình tích hợp
- Hoạt động 1: Nghiên cứu chương trình, SGK để xây dựng mục tiêu bài học
Trang 32- Hoạt động 2: Xác định những nội dung cần tích hợp giáo dục KNS trong bài học
- Hoạt động 3: Lựa chọn và vận dụng các phương pháp và phương tiện dạy học phù hợp, ở đây trước hết phải vận dụng các phương pháp dạy học tích cực
- Hoạt động 4: Xây dựng tiến trình dạy học cụ thể: ở hoạt động này GV thiết kế cụ thể các yêu cầu đối với HS, các hoạt động trợ giúp của GV đối với
HS và phối hợp các hoạt động đó để đạt được mục đích giáo dục KNS
2.3 Tích hợp GD KNS trong chương trình Sinh học 12
Khát quát nội dung chương trình sinh học 12
Gồm 3 phần:
- Phần năm: DI TRUYỀN HỌC
+ Chương I: Cơ chế di truyền và biến dị
Chương này cho thấy bản chất của cơ chế di truyền là cơ chế truyền đạt thông tin
+ Chương II: Tính quy luật của hiện tượng di truyền
Nhờ những kiến thức ở chương I về cơ sở vật chất và cơ chế di truyền
và biến dị mà ở chương này học sinh có cơ sở để hiểu những mối quan hệ nhân quả đã chi phối tính quy luật của hiện tượng di truyền và biến dị Chính
vì ADN nhân đôi dẫn đến NST nhân đôi Sự phân li và tổ hợp của các NST theo những cơ chế xác định mà sự di truyền diễn ra theo những quy luật có thể tiên đoán được
+ Chương III: Di truyền học quần thể
Bài 16: Giới thiệu về cấu trúc di truyền của quần thể tự thụ phấn và quần thể giao phối gần (cận huyết)
Bài 17: Trình bày cấu trúc của quần thể ngẫu phối và trạng thái cân bằng di truyền của quần thể (cân bằng Hacđi- Vanbec)
Trang 33+ Chương IV: Ứng dụng di truyền học
Với các bài 18- 20 chương này giới thiệu tóm tắt về các phương pháp tạo giống dựa trên nguồn biến dị tổ hợp, tạo nguồn đột biến nhờ công nghệ tế bào và công nghệ gen
+ Chương V: Di truyền học người
Với bài 21 và 22, chương này giới thiệu về di truyền học y học và vấn
đề bảo vệ vốn gen của loài người Chương này không giới thiệu lại các phương pháp nghiên cứu di truyền người đã có trong chương trình Sinh học 9
mà giới thiệu một số bệnh di truyền ở người, nguyên nhân và cơ chế gây bệnh
di truyền ở người
- Phần sáu: TIẾN HÓA
+ Chương I: Bằng chứng và cơ chế tiến hóa: Gồm 8 bài, nội dung chính của chương trình bày chủ yếu về thuyết tiến hoá tổng hợp, với quần thể là đơn
vị tiến hoá
+ Chương II: Sự phát sinh và phát triển của sự sống trên Trái Đất
Toàn bộ chương gồm 3 bài giới thiệu khái quát về quá trình hình thành
sự sống trên toàn Trái Đất qua các giai đoạn tiến hoá hoá học tiến hoá tiền sinh học và tiến hoá sinh học song hành cùng với sự biến đổi của Trái Đất qua các đại địa chất Ngoài ra, chương này cũng đề cập sự tiến hoá hình thành nên loài người hiện đại
- Phần bảy: SINH THÁI HỌC
+ Chương I: Cá thể và quần thể sinh vật Chương này nói về sự tác động của các nhân tố sinh thái của môi trường lên cơ thể sinh vật với môi trường, sự tác động trở lại của sinh vật lên môi trường Khái niệm về quần thể Các mối quan hệ sinh thái giữa các cá thể trong nội bộ quần thể, cấu trúc dân số của quần thể, kích thước và sự tăng trưởng số lượng cá thể của quần thể Sự sinh sản và tử vong, sự phát tán các cá thể của quần thể Sự biến động
Trang 34số lượng và cơ chế điều hòa số lượng cá thể của quần thể
+ Chương II: Quần xã sinh vật Chương này trình bày các vấn đề như sau: Khái niệm về quần xã Các mối quan hệ sinh thái mang tính tương trợ
và đấu tranh giữa các cá thể khác nhau trong quần xã Mối quan hệ dinh dưỡng và những hậu quả của nó Mối quan hệ cạnh tranh khác loài - sự phân hóa ở sinh thái, sự diễn thế sinh thái
+ Chương III: Hệ sinh thái, sinh quyển, bảo vệ môi trường Chương này trình bày về khái niệm hệ sinh thái- cấu trúc hệ sinh thái - các kiểu hệ sinh thái Sự chuyển hóa vật chất trong hệ sinh thái, sự chuyển hóa năng lượng trong hệ sinh thái, sinh quyển, sinh thái học và việc quản lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, quan niệm về quản lí nguồn lợi thiên nhiên những biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường
2.4 Nội dung tích hợp giáo dục KNS trong chương trình sinh học 12
2.4.1 Những KNS cụ thể được tích hợp trong dạy học Sinh học
- Kĩ năng giao tiếp: Biết cách ứng xử phù hợp, bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ đối với những đối tượng đặc biệt như phụ nữ có thai, người già, người bị nhiễm HIV/AIDS
- Kĩ năng nhận thức: Nhận biết sự thay đổi về tâm lí và sinh lí của bản thân ở tuổi vị thành niên để có thái độ đúng đắn có lối sống lành mạnh về thể chất và tinh thần
- Kĩ năng tự bảo vệ: Biết cách tự chăm sóc sức khoẻ của bản thân liên quan đến các vấn đề vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, dinh dưỡng, phòng bệnh Tự bảo vệ tránh xâm hại tình dục và đảm bảo sinh hoạt an toàn ở nhà, ở trường, ở nơi công cộng
- Kĩ năng kiên định và kĩ năng từ chối: Kiên quyết giữ vững lập trường
và nói lời từ chối trước những lời mời mọc sử dụng chất gây nghiện rủ rê, tham gia các hoạt động tiêu cực của người xấu hoặc sự lôi kéo chơi bời, kiên
Trang 35quyết không tham gia vào việc làm hành vi tiêu cực
- Kĩ năng ứng phó với các tình huống căng thẳng: Xác định rõ những mối quan hệ giữa bản thân với các đối tượng xung quanh để có thể chia sẻ, giúp đỡ tìm ra các giải pháp tối ưu khi gặp các tình huống căng thẳng trong cuộc sống
- Kĩ năng ra quyết định: Có khả năng quyết định đúng nên và không nên làm gì để bảo vệ sức khoẻ của bản thân gia đình và cộng đồng, để bảo vệ môi trường, để phòng tránh bị xâm hại
- Kĩ năng suy nghĩ sáng tạo: Thu thập và sử lí thông tin qua việc quan sát hình ảnh, hình vẽ, mô hình, thí nghiệm, thực hành, đọc SGK,…các phương tiện thông tin đại chúng như internet, tivi, sách báo để từ đó có được các kĩ năng tự nhận thức
- Kĩ năng tư duy, bình luận phê phán qua việc phân tích, đối chiếu các thông tin Từ đó phân tích các lựa chọn và trình bày các ý tưởng qua việc viết báo cáo và trình bày các thông tin Sinh học
- Kĩ năng giải quyết vấn đề thông qua việc xử lí các tình huống liên quan đến nội dung bài học, thực tế sản xuất và cuộc sống, qua đó có được những kĩ năng nhận diện vấn đề một cách linh hoạt sáng tạo
- Kĩ năng vận dụng kiến thức đã học để tìm hiểu thực tiễn, áp dụng vào thực tiễn
- Kĩ năng phòng tránh thiên tai và các nguy cơ tiềm ẩn trong môi trường sống xung quanh các em
2.4.2 Các chủ đề cần tích hợp giáo dục KNS trong chương trình Sinh học 12
2.4.2.1 Chủ đề môi trường
Môi trường là không gian sống của con người và sinh vật là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người
Trang 36và cũng là nơi phân hủy và phát triển, lao động và nghỉ ngơi, hưởng thụ của con người Nói cách khác, không có môi trường sẽ không tồn tại sự sống trên Trái Đất
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng về kinh tế xã hội đã làm cho môi trường bị xuống cấp, nhiều nơi bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và đời sống của người dân, những hiểm họa suy thoái môi trường ngày càng đe dọa cuộc sống của loài người trên Trái Đất
Những biểu hiện của sự suy thoái môi trường Việt Nam hiện nay:
đông nên diện tích đất bình quân đầu người thuộc diện thấp đứng thứ 159/200 quốc gia Thế nhưng chất lượng đất không ngừng bị giảm sút và thoái hoá do xói mòn, chất thải, ô nhiễm, sử dụng phân hoá học,…
nhưng đến năm 2005 chỉ còn lại 37% Tuy đến thời điểm này diện tích rừng
đã được tăng lên nhưng chất lượng rừng vẫn tiếp tục giảm sút
quá mức và ô nhiễm nghiêm trọng Một số nơi đã diễn hoang mạc hoá
triệu chất thải, tăng khoảng 15% gây nguy hại cho sức khoẻ và môi trường
Môi trường bị ô nhiễm đã gây ra những tác hại nghiêm trọng cụ thể: không khí ô nhiễm có thể giết chết nhiều cơ thể sống trong đó có con người
Ô nhiễm tầng ôzon có thể gây bệnh đường hô hấp, bệnh tim mạch bệnh viêm họng, đau ngực, tức thở Các chất hoá học và kim loại nặng nhiễm trong thức
ăn nước uống có thể gây ung thư Dầu tràn có thể gây ngứa rộp da Ô nhiễm tiếng ồn gây điếc, cao huyết áp, trầm cảm, và bệnh mất ngủ, Theo thống kê Việt Nam có gần 200000 người mắc bệnh ung thư mỗi năm, mà nguyên nhân
Trang 37chủ yếu là do tác nhân môi trường gây nên
- Thứ nhất phải có hình thức xử phạt thật nặng và nghiêm minh với các
cá nhân cơ quan có hành vi phá hoại môi trường Bên cạnh đó cần giáo dục ý thức cho người dân qua các hình thức tuyên truyền, cổ động về vấn đề môi trường tại các đơn vị hành chính cấp xã, phường, …không vứt rác bừa bãi, trồng cây xanh góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tạo cảnh quan,…
Do đó, ngoài việc truyền thụ kiến thức và rèn luyện kĩ năng giáo viên cần hình thành cho học sinh một nhân cách, lối sống tốt, giúp các em có thái độ và cái nhìn đúng đắn về môi trường và hậu quả của việc phá hoại môi trường Nói về góc độ môn Sinh học, trách nhiệm của giáo viên là phải từng bước hình thành cho các em một lối sống lành mạnh, biết yêu quý thiên nhiên
và sống thân thiện với thiên nhiên Từ đó các em có trách nhiệm bảo vệ thiên nhiên và môi trường, giữ gìn vệ sinh nơi các em đang sinh sống và học tập
2.4.2.2 Chủ đề biến đổi khí hậu (BĐKH)
* Định nghĩa: Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm
khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo gây ảnh hưởng đến khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên, tác động đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội, đến sức khỏe và phúc lợi của con người
* Nguyên nhân của BĐKH: ngoài những nguyên nhân tự nhiên gây ra,
có thể nói hoạt động của con người là nguyên nhân chủ yếu gây nên BĐKH hiện nay trên Trái Đất Tình hình đô thị phát triển mạnh mẽ, gia tăng các hoạt động giao thông vận tải, phá rừng và cháy rừng…đã làm nghiêm trọng thêm tình hình ô nhiễm không khí, giữ lại lượng bức xạ sóng dài khiến cho nhiệt độ Trái Đất nóng lên
Hiện nay, nhân loại đang phải đối mặt với những thách thức lớn nhất
Trang 38đó là vấn đề trái đất của chúng ta ngày một nóng lên và ngày càng xuất hiện nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan như: bão lũ, động đất, sóng thần, sự dâng cao của mực nước biển,…mà nguyên nhân chính của các hiện tượng trên là
do “biến đổi khí hậu” Nhận thức được tác hại của BĐKH gây ra, thế giới đã nhận định rằng chúng ta phải ứng phó với BĐKH Là giáo viên Sinh học cần triển khai lồng ghép và tích hợp vấn đề BĐKH vào chương trình giảng dạy, tùy từng độ tuổi, đặc điểm tâm sinh lí cho học sinh mà lựa chọn các nội dung thích hợp để các em thấy được những nguyên nhân, tác hại của BĐKH gây ra,
từ đó đề ra những biện pháp chống BĐKH
2.4.2.3 Chủ đề cải thiện môi trường sinh thái và bảo tồn sự đa dạng sinh học
Ở Việt Nam do phá rừng đã làm cho đất bị thoái hóa nghiêm trọng gần
10 triệu hecta đất trống đồi núi trọc hiện nay là mối quan tâm lớn và là vấn đề bức xúc cần được giải quyết Mỗi năm nước ta sử dụng khoảng 15000 đến
20000 tấn thuốc trừ sâu Bình quân lượng thuốc sử dụng trên một hecta gieo trồng là 0,4- 0,5 kg
Sự suy thoái môi trường sinh thái gắn liền với sự suy kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và giảm tính đa dạng sinh học Sự tàn phá rừng và gây ONMT đã làm giảm tính đa dạng sinh học là nguyên nhân làm cho các loài và các hệ sinh thái bị suy giảm một cách nghiêm trọng Dù biết phá rừng là một thảm họa, là phá nơi sống của họ, săn bắt động vật quý hiếm làm cho nhiều loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng
Theo sách đỏ Việt Nam đã nêu: 365 loài động vật và 356 loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tiêu diệt Nguyên nhân chủ yếu là do thực hiện các hoạt động sản xuất kinh tế, khai thác tài nguyên bất hợp pháp,…
Do nhận thức không đầy đủ về quy luật tự nhiên và ý thức BVMT của người dân còn hạn chế Hiện nay còn một số bộ phận không nhỏ nhân dân
Trang 39biết rõ về tai họa môi trường bởi những hành vi của họ gây ra nhưng vẫn phá rừng bừa bãi buôn bán bất hợp pháp động vật quý hiếm, thải các chất độc hại
ra môi trường Đa dạng sinh học không những cung cấp trực tiếp các phúc lợi cho xã hội như: lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng, năng lượng, mà còn có giá trị đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ sinh học, trong ứng dụng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, y tế, du lịch,…
Để bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái ở Việt Nam cần thực hiện một số biện pháp sau đây: xây dựng các chế tài hữu hiệu thể thực hiện tốt Luật Bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ rừng và các quy định sẵn có của Chính phủ liên quan đến BVMT trong các lĩnh vực, củng cố và nâng cao năng lực, của các cơ quan BVMT, thực hiện đúng chính sách dân số, đánh giá tác động
và dự báo biến động môi trường để có biện pháp phòng tránh hữu hiệu
Trong lĩnh vực lâm nghiệp: Tăng cường trồng rừng, trước hết là rừng đầu nguồn, phủ xanh đất trống đồi trọc, bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn Bảo vệ rừng tự nhiên, ngăn cấm khai thác rừng tự nhiên Thành lập ngân hàng giống cây trồng, bảo tồn những nguồn gen quý
2.4.2.4 Chủ đề giáo dục giới tính - sức khỏe sinh sản vị thành niên
Lứa tuổi vị thành niên là một giai đoạn ngắn nhưng lại ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển toàn diện của cuộc đời mỗi người Giai đoạn này được thể hiện bằng sự phát triển nhanh chóng khác thường về cả thể chất lẫn trí tuệ, tâm sinh lí, quan hệ xã hội và tinh thần
Các em học sinh trung học đang ở độ tuổi vị thành niên có nhiều bỡ ngỡ trước sự thay đổi của bản thân khi bước vào tuổi dậy thì và có nhiều tò
mò, thắc mắc về vấn đề giới tính nhưng lại không được giải đáp thỏa đáng Mặt khác, hiện nay, sự phát triển nhanh chóng các mặt của đời sống xã hội, sự phát triển một cách ồ ạt các hệ thống truyền tải thông tin như internet, điện thoại di động…đã làm ảnh hưởng đến những quan điểm, nhận thức về quan
Trang 40hệ tình dục, tình yêu, hôn nhân ở thanh thiếu niên Nhiều thanh thiếu niên bắt đầu quan hệ tình dục trong khi chưa hiểu biết đúng đắn về sức khỏe sinh sản
Sự thiếu hiểu biết này có thể dẫn đến những hậu quả trầm trọng: mang thai ngoài ý muốn dẫn đến nạo phá thai ở độ tuổi vị thành niên; sinh con và nuôi con khi độ tuổi còn quá trẻ, làm dở dang việc học tập; mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và đời sống tinh thần sau này
- Vấn đề giáo dục giới tính bao gồm rất nhiều nội dung như sức khỏe sinh sản, các mối quan hệ cá nhân, sự phát triển giới tính, tình cảm,… Trong sự phát triển mạnh mẽ của xã hội hiện nay thì sự hiểu biết cơ bản về giới tính của mỗi người rất quan trọng Trong chủ đề này các em sẽ được trang bị những kiến thức bảo vệ sức khỏe của mình và của cộng đồng, biết quan hệ ứng xử với người khác phù hợp với chuẩn mực giới tính và đạo đức xã hội, đồng thời biết bảo vệ hạnh phúc gia đình, duy trì nòi giống, phòng chống bệnh xã hội Giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản nhằm cung cấp cho các em những kiến thức đầy đủ về giới tính, sức khỏe sinh sản,
về tình bạn.tình yêu
2.4.2.5 Chủ đề sức khỏe và đời sống
Ăn uống thông minh, tăng cường rau, hoa quả: Đây là phương án được giới y học khuyến cáo rất nhiều, nhưng đứng về mặt môi trường lại có ý nghĩa khác Theo đó, người ta khuyến khích việc canh tác hữu cơ, trồng các loại rau, hoa quả không dùng phân hóa học thuốc trừ sâu Việc lựa chọn thực phẩm để cân bằng dưỡng chất, ngon miệng lại mang tính môi trường quả là không đơn giản, người tiêu dùng rất dễ bị nhầm lẫn Ngoài ra, việc ăn quá nhiều thịt cũng không tốt cho sức khỏe con người, trong khi đó riêng ngành chăn nuôi cũng là nơi sản xuất ra các loại khí gây ONMT