1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng lãnh đạo xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc từ năm 1986 đến năm 2001

84 932 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 509,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được vai trò quan trọng của văn hóa với sự phát triển của đất nước, Đảng ta đã hết sức chú trọng xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ đổi mới từ

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

PGS TS VŨ QUANG VINH

Trang 2

Tiếp theo, cho phép em gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn

bè - những người đã động viên, giúp đỡ em trong quá trình làm khoa học, để

em hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp này

Cuối cùng, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới

PGS.TS Vũ Quang Vinh - người thầy đã tận tình giúp đỡ, nhiệt tình chỉ bảo,

hướng dẫn và cung cấp cho em những tài liệu quý báu trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp của mình, giúp em có bước đi vững chắc hơn trong quá trình tập dượt nghiên cứu khoa học của bản thân

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên của em nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, kính mong các thầy, cô giáo góp ý để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 4 tháng 5 năm 2014

Tác giả khóa luận

NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em được hoàn

thành dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Quang Vinh Các số liệu, dữ liệu,

kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực, các nguồn tài liệu trích dẫn

có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng Khóa luận được hoàn thành dựa trên sự kế thừa, bổ sung từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau Em xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật

Hà Nội, ngày 4 tháng 5 năm 2014

Tác giả khóa luận

NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của khóa luận 3

6 Về kết cấu khóa luận 4

Chương 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1996 5

1.1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ VĂN HÓA TRƯỚC ĐỔI MỚI 5

1.2 TỪNG BƯỚC BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI VĂN HÓA 8

1.2.1 Những đổi mới bước đầu trong tư duy, đường lối văn hóa của Đảng và tình hình văn hóa đất nước những năm đầu đổi mới 8

1.2.2 Tiếp tục đổi mới tư duy và phát triển đường lối văn hóa 12

1.3 QUÁ TRÌNH ĐẢNG CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA TRONG NHỮNG NĂM 1991 - 1996 15

1.3.1 Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống lành mạnh 16

1.3.2 Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 19

1.3.3 Từng bước đổi mới hoạt động văn học - nghệ thuật, thông tin đại chúng 23

1.3.4 Tăng cường xây dựng đời sống văn hóa cơ sở 27

Trang 5

Chương 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

VĂN HÓA THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN

ĐẠI HÓA ĐÂT NƯỚC (1996 - 2001) 32

2.1 XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC VĂN HÓA TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐÂT NƯỚC 32

2.1.1 Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng và những định hướng xây dựng, phát triển văn hóa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 32

2.1.2 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII – bước phát triển trong đường lối văn hóa của Đảng 35

2.2 QUÁ TRÌNH ĐẢNG CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC (1996-2001) 41

2.2.1 Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống lành mạnh 43

2.2.2 Gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 46

2.2.3 Xây dựng và phát triển văn học - nghệ thuật, thông tin đại chúng theo tiêu chí tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 50

2.2.4 Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” 52

Chương 3: MỘT SỐ THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ KINH NGHIỆM TRONG QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA (1986 - 2001) 57

3.1 MỘT SỐ THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CƠ BẢN 57

3.1.1 Thành tựu 57

3.1.2 Hạn chế 60

3.2 MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU 64

Trang 6

3.2.1 Đổi mới nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa, kịp thời hoạch

định đường lối văn hóa, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới là yếu

tố quan trọng thúc đẩy sự nghiệp văn hóa phát triển 64 3.2.2 Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đi đôi với không

ngừng tiếp biến văn hóa toàn nhân loại là vấn đề cốt lõi để xây dựng và

phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới 65 3.2.3 Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa là động lực quan

trọng thúc đẩy văn hóa phát triển mạnh mẽ và toàn diện 69

KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn hóa, theo nghĩa rộng là bao quát mọi mặt của đời sống xã hội, bao gồm các lĩnh vực hoạt động sống của con người và các dạng thức hoạt động khác nhau của họ Theo nghĩa hẹp, đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội và thường được biểu hiện là đời sống văn hóa tinh thần Xuất phát

từ các nhu cầu văn hóa của con người, đời sống văn hóa bao gồm toàn bộ những hoạt động sản xuất và tiêu thụ, sáng tạo và hưởng thụ những sản phẩm văn hóa, thông qua các thiết chế văn hóa và các thể chế văn hóa Từ đó tạo nên lối sống, nếp sống, phong tục tập quán… Như vậy nói đến văn hóa là nói đến những quan hệ tương tác giữa các yếu tố nói trên

Xây dựng và phát triển văn hóa là công việc chung của cả xã hội, nhưng phải bắt đầu từ từng người, từng gia đình, từng địa phương, cơ sở thì mới có thể thành công

Nhận thức được vai trò quan trọng của văn hóa với sự phát triển của đất nước, Đảng ta đã hết sức chú trọng xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ đổi mới từ 1986 đến 2001 và đạt được một số những thành tựu to lớn, tạo điều kiện thúc đẩy văn hóa – xã hội ngày càng phát triển, tăng thêm lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước

Đi sâu tìm hiểu quá trình lãnh đạo của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa từ năm 1986 đến năm 2001, không những sẽ làm phong phú thêm những trang sử vẻ vang của Đảng trong công cuộc đổi mới, mà còn góp phần

lý giải rõ hơn nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa của thời kỳ này Ngoài ra còn có thể đúc rút được những kinh nghiệm về xây dựng và phát triển văn hóa để phục vụ nhiệm vụ này của nước ta hiện nay

Trang 8

Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn nói trên, em chon đề tài: “Đảng lãnh đạo xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc từ năm 1986 đến năm 2001” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp, chuyên ngành Lịch sử Đảng

Cộng sản Việt Nam của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Xây dựng văn hóa là nội dung quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đât nước hiện nay Vì vậy vấn đề này đã được đề cập trong nhiều công trình với các góc độ khác nhau:

Về sách có: Văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới (Hồ Sĩ Vịnh, 1999); Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc (Nguyễn Khoa Điềm chủ biên, 2001); Nhận diện văn hóa Việt Nam

và sự biến đổi của nó trong thế kỷ XX (Đỗ Huy Công, 2002); Quá trình hình thành con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (Đào Duy Tùng, 2004);

Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Phạm Minh Mạc, Nguyễn Khoa Điềm chủ biên, 2003); Văn hóa và đổi mới (Phạm Văn Đồng, 1994)…

Về các bài trong tạp chí: “Giữ gìn bản sắc dân tộc – một vấn đề của toàn xã hội” (Nguyễn Khắc Khánh – Tạp chí Lịch sử Đảng số 9 – 2996);

“Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, những nhận thức mới về quan điểm chỉ đạo và giải pháp thực hiện (Hoàng Chí Bảo – Tạp chí Lịch sử Đảng số 9 – 2013);…

Các tài liệu ít nhiều đề cập đến vấn đề xây dựng đời sống văn hóa nước

ta trong thời kỳ 1986 – 2001, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có công trình nào trình bày một cách có hệ thống sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về xây dựng văn hóa một cách toàn diện, cả những thành công và những tồn tại, cũng như các kinh nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng văn hóa thời kỳ này

Trang 9

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

Làm rõ quá trình lãnh đạo, xây dựng văn hóa của Đảng từ năm 1986 đến 2001

Trình bày các phong trào xây dựng đời sống văn hóa của nhân dân dưới

sự lãnh đạo của Đảng

Nêu những thành tựu, hạn chế của việc xây dựng văn hóa trong thời kỳ này Rút ra kinh nghiệm góp phần vào xây dựng văn hóa ở nước ta hiện nay Phạm vi nghiên cứu

Chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thực tiễn giai đoạn năm 1986 – 2001

Thời gian nghiên cứu từ năm 1986 khi đường lối đổi mới được chính thức thông qua tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VI của Đảng tới năm 2001

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

Nguồn tài liệu:

Các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng Công sản Việt Nam lần thứ VI (12/1986), VII (6/1991), VIII (6/1996), IX (4/2001), nghị quyết của Hội nghị của Ban Tư Tưởng - Văn hóa Trung ương trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2011

Các sách chuyên khảo, các tạp chí,…

Phương pháp nghiên cứu:

Chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp logic, kết hợp với phân tích, tổng hợp, thống kê,… Các phương pháp được sử dựng phù hợp với từng nội dung của khóa luận

5 Đóng góp của khóa luận

Cung cấp những tư liệu cơ bản về quá trình lãnh đạo, xây dựng văn hóa của Đảng từ năm 1986 đến năm 2001

Trang 10

Trình bầy một cách có hệ thống chủ trương, sự lãnh đạo của Đảng về công tác xây dựng, phát triển văn hóa trong thời kỳ 1986 – 2001

Nêu nên những thành tựu, hạn chế và kinh nghiệm lịch sử góp phần vào công tác xây dựng, phát triển văn hóa nước ta hiên nay

đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1996 – 2001)

Chương 3: Một số thành tựu, hạn chế và kinh nghiêm trong quá trình

Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển nền văn hóa trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2001)

Trang 11

Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA

những quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen xem văn hóa như là hình thức

biểu hiện và là kết quả của hoạt động lao động của con người Theo quan

niệm của C Mác, văn hóa là toàn bộ những thành tựu được tạo ra nhờ hoạt

động sáng tạo của con người - hoạt động sản xuất vật chất và tái sản xuất ra

đời sống hiện thực của con người Văn hóa là thiên nhiên thứ hai, thiên nhiên được con người cải biến Văn hóa là tác phẩm của con người, là phương thức hoạt động sống đặc thù của con người - phương thức mà con người xây dựng thế giới tự nhiên cho mình theo quy luật của cái đẹp

Trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa vô sản, V.I Lênin cho rằng, phải kế thừa và tiếp thu những thành quả của nền văn minh nhân loại, những di sản văn hóa và thành tựu văn minh của chủ nghĩa tư bản Người nhấn mạnh, việc kế thừa và phát huy những di sản văn hóa và thành tựu văn minh của nhân loại cần phải được tiến hành một cách có chọn lọc trên quan điểm của chủ nghĩa Mác và những điều kiện của thời đại mới - thời đại

quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong Sơ thảo Nghị quyết về văn hóa vô sản,

Lênin viết: “Không phải là nghĩ ra một thứ văn hóa vô sản mới, mà là phát triển những kiểu mẫu ưu tú, truyền thống ưu tú, những kết quả tốt nhất của

Trang 12

nền văn hóa hiện tồn, xét theo quan điểm thế giới quan của chủ nghĩa Mác và những điều kiện của đời sống và của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trong thời đại chuyên chính vô sản” [27, tr.548]

Từ khát khao giải phóng dân tộc, Luận cương chánh trị của Đảng Cộng

sản Đông Dương chủ trương nâng cao dân trí, tự do báo chí Mục tiêu quan trọng nhất của vấn đề mở mang dân trí mà Đảng ta hướng tới là: tự do xem

sách báo; tự do mở trường; tự do làm sách, báo Nếu như trong Luận cương

chánh trị, Đảng ta mới đặt vấn đề nâng cao dân trí và tự do báo chí thì đến Đề cương về văn hóa Việt Nam, văn hóa được nhìn nhận rộng mở hơn với các nội

dung: lịch sử và tính chất văn hóa Việt Nam, nguy cơ của văn hóa Việt Nam dưới ách phát xít Nhật - Pháp, vấn đề cách mạng văn hóa Việt Nam, nhiệm vụ cần kíp của các nhà văn hóa mác - xít Đông Dương và Việt Nam Với bản đề cương văn hóa cách mạng đầu tiên, phạm vi vấn đề văn hóa được xác định bao gồm cả tư tưởng, học thuật và nghệ thuật Đề cương nhấn mạnh: “Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa), ở đó người cộng sản phải hoạt động” [16, tr.316]

Cùng với cách nhìn rộng mở về văn hóa như Đề cương về văn hóa Việt

Nam, Hồ Chí Minh đã nêu lên một khái niệm về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng

như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn

bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[30, tr.438]

Cùng với việc chỉ rõ nội hàm của văn hóa, Người phân tích và luôn nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa với kinh tế, chính trị, xã hội

Trang 13

Nếu trước năm 1945, Người nói về văn hóa theo nghĩa rộng thì sau Cách mạng tháng Tám thành công, đất nước ta bước vào xây dựng chế độ mới và cuộc sống mới, văn hóa được Người xác định là đời sống tinh thần của xã hội, thuộc về kiến trúc thượng tầng của xã hội Văn hóa được đặt ngang hàng với chính trị, kinh tế, xã hội, tạo thành những vấn đề chủ yếu của cách mạng

Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Người lãnh đạo nhân dân xác lập cơ sở hạ tầng mới để thực hiện mục tiêu mà cách mạng văn hóa Đông Dương phải thực hiện là văn hóa xã hội chủ nghĩa Năm 1957, Người xác định: “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm Chúng ta phải biến một xã hội dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc” [31, tr.493-494]

Trong công cuộc xây dựng xã hội mới, Người chỉ rõ: “Để phục vụ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa thì văn hóa phải xã hội chủ nghĩa về nội dung và dân tộc về hình thức” [32, tr.60] Nội dung xã hội chủ nghĩa của văn

hóa phải được xác lập trên cơ sở cái đúng, cái tốt, cái đẹp Đó là nền văn hóa

có thuần phong mỹ tục, đa dạng và phong phú Người cho rằng, hình thức dân tộc của văn hóa không phải là cái cũ, cái lỗi thời mà là yếu tố hiện đại, cái đã tiếp biến vào dân tộc Việt Nam Tính dân tộc là một hệ mở, vừa lưu giữ, vừa đổi mới Bác chỉ rõ: “Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em là sai lầm nghiêm trọng, là vi phạm chủ nghĩa giáo điều Nhưng quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em thì sẽ mắc phải sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại” [7, tr.199]

Trang 14

Sau khi thống nhất đất nước, Đảng xác định nhiệm vụ trọng tâm của cuộc cách mạng tư tưởng - văn hóa là xây dựng nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa; đồng thời, tiến hành tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng thấu suốt trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; tiến hành đấu tranh chống tư tưởng văn hóa phản động của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, V của Đảng chỉ rõ, nhiệm vụ trung tâm của cách mạng văn hóa trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước là xây dựng nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa

và tính dân tộc Nền văn hóa đó vừa tiếp thu có chọn lọc những thành quả của văn minh nhân loại, vừa kết tinh và nâng lên một tầm cao mới những giá trị tốt đẹp nhất trong truyền thống bốn ngàn năm của văn hóa Việt Nam Thực tiễn xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội những năm 1975 - 1986 đã giúp Đảng ta nhận thức rõ: đồng thời với việc xây dựng kinh tế phải coi trọng các vấn đề văn hóa; giải quyết tốt mối quan hệ đó sẽ tạo tiền đề cho đất nước phát triển bền vững

1.2 TỪNG BƯỚC BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG LỐI VĂN HÓA 1.2.1 Những đổi mới bước đầu trong tư duy, đường lối văn hóa của Đảng

và tình hình văn hóa đất nước những năm đầu đổi mới

Vào những năm giữa thập kỷ 80, đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, sản xuất tăng chậm, kinh tế mất cân đối nghiêm trọng, lưu thông phân phối rối ren, chủ nghĩa bình quân xác lập các chuẩn mực giá trị văn hóa Các hiện tượng tiêu cực phát triển, văn hóa đạo đức sa sút, văn hóa pháp luật yếu kém, kỷ cương không nghiêm, công bằng xã hội bị vi phạm Trước tình hình đó, đổi mới trở thành yêu cầu bức thiết và là vấn đề có tầm quan trọng sống còn của cách mạng nước ta

Trang 15

Trên lĩnh vực văn hóa, Đảng chủ trương đổi mới tư duy lý luận về văn hóa khi xác định: “Mỗi hoạt động văn hóa văn nghệ đều phải tính đến hiệu quả xã hội, tác động tốt đến tư tưởng, tâm lý, tình cảm, nâng cao trình độ thẩm mỹ của nhân dân” [7, tr.91] Nghị quyết Đại hội VI của Đảng chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng văn hóa những năm đổi mới là: xây dựng một nền văn hóa, văn nghệ xã hội chủ nghĩa đậm đà bản sắc dân tộc Chủ trương tính đến hiệu quả xã hội trong mỗi hoạt động văn hóa và quan điểm xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc là quá trình bổ sung và không ngừng phát triển đường lối văn hóa Đó là sự đổi mới bước đầu trong đường lối văn hóa của Đảng

Ngày 28-11-1987, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 05/NQ-TW Về đổi

mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo đưa văn hóa, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới

Nghị quyết khẳng định: Văn hóa là bộ phận trọng yếu của cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa, là một lực lượng mạnh mẽ, đồng thời là mục tiêu lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Văn hóa là nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện trình độ phát triển chung của một đất nước, một thời đại, là lĩnh vực sản xuất tinh thần tạo ra những giá trị văn hóa, những công trình nghệ thuật được lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm giàu đẹp thêm cuộc sống con người” [3, tr.47] Từ nhận thức đó, Đảng chỉ rõ: “Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn hóa, văn nghệ là yếu tố có ý nghĩa quyết định để khai thác mọi tiềm năng sáng tạo, phát triển

sự nghiệp văn hóa văn nghệ một cách thuận lợi” [3, tr.24]

Những văn kiện của Đảng về văn hóa, văn nghệ những năm 1986-1990

đã chỉ rõ những định hướng cho việc xây dựng và phát triển văn học - nghệ thuật, văn hóa trong sự nghiệp đổi mới; kịp thời uốn nắn những thiếu sót, lệch

Trang 16

lạc trong quá trình đổi mới văn hóa, văn nghệ, đồng thời đề ra những chính sách, biện pháp nhằm tạo điều kiện cho nền văn học, nghệ thuật, văn hóa phát triển mạnh mẽ, đúng hướng và tích cực góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước

Những năm đầu đổi mới, nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp nhân dân ngày một lớn, từ Trung ương đến các địa phương đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa bổ ích Theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, các ngành, các cấp, các địa phương đã tổ chức được nhiều hoạt động văn hóa mới phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức Nhiều công trình, hình thức sinh hoạt văn hóa hoạt động có kết quả như: cụm văn hóa gắn với cụm kinh tế - xã hội và cụm công nghiệp, khu sinh hoạt văn hóa ngoài trời, thuyền văn hóa, xe văn hóa, lễ hội văn hóa Sự ra đời của các câu lạc bộ, nhà văn hóa, trung tâm văn hóa và các cuộc thi hát, liên hoan sân khấu theo từng ngành, từng vùng đã tạo nên các hình thức sinh hoạt và thưởng thức văn hóa của đông đảo nhân dân ở nhiều thành phố, thị xã, thị trấn và các vùng dân cư tập trung, khu công nghiệp lớn

Văn học, nghệ thuật - một bộ phận trọng yếu của đời sống tinh thần của

xã hội đã mở rộng đề tài Với việc đi sâu phản ánh chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong chiến tranh giải phóng, bảo vệ Tổ quốc, đã bước đầu đi vào các vấn đề gai góc của đời sống thường nhật của mọi tầng lớp nhân dân Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, nhiều văn nghệ sĩ đã mạnh dạn tìm hiểu, khám phá mọi khía cạnh của đời sống nhân dân và mọi hiện tượng xã hội để cho ra đời những tác phẩm có tính cảnh báo về tình trạng tiêu cực, về sự suy thoái đạo đức trong xã hội Bên cạnh đó, hoạt động báo chí cởi mở, phong phú, đa dạng hơn làm cho hai chiều tiếng nói của Đảng, Nhà nước và của nhân dân đồng cảm Báo chí là mũi nhọn trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực

Trang 17

Công tác sưu tầm, tôn tạo các di sản văn hóa được chú ý Bộ Văn hóa - Thông tin đã tiến hành lập hồ sơ, xếp hạng các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng và danh thắng tại nhiều địa phương trong cả nước Nhiều đền chùa, miếu phủ được sửa chữa, tôn tạo do sự đóng góp của nhân dân Tuy nhiên, một số nơi có tình trạng lợi dụng lễ hội để buôn thần bán thánh và khôi phục

tệ mê tín, dị đoan

Bên cạnh những tìm tòi, trăn trở, hoạt động văn hóa - nghệ thuật những năm đầu đổi mới vẫn còn nhiều hạn chế bất cập Đó là sự thiếu quan tâm của không ít các ngành, các địa phương đối với việc tôn tạo, giữ gìn các di sản văn hóa dân tộc Tình trạng mê tín, dị đoan trong nhân dân vẫn phát triển Nhiều phong tục, tập quán lạc hậu ở các địa phương, nhất là vùng đồng bào các dân tộc thiểu số như: cúng ma, tảo hôn chưa bị bị đẩy lùi Hoạt động văn hóa, văn nghệ chưa hướng nhiều đến cơ sở, nhất là ở nông thôn, miền núi, hải đảo và vùng căn cứ cách mạng

Trong sáng tác văn học, nghệ thuật và trong một số bài phát biểu của văn nghệ sĩ đã xuất hiện một số quan điểm mơ hồ, lệch lạc về chính trị và đường lối Trong hoạt động văn hóa và biểu diễn nghệ thuật xuất hiện xu hướng thương mại hóa Một số nhà xuất bản, tờ báo vì lợi nhuận đã chạy theo thị hiếu tầm thường của một bộ phận công chúng để cho ra đời những ấn phẩm chất lượng kém Tình trạng đầu nậu sách khả phổ biến Kinh doanh văn hóa phẩm nhiễu loạn Văn hóa phẩm phản động, đồi trụy lan tràn trên thị trường

Nguyên nhân của tình trạng trên chủ yếu là do sự lãnh đạo, quản lý văn hóa - nghệ thuật còn nhiều lúng túng, sơ hở, thiếu bao quát Cơ chế lãnh đạo, quản lý chậm đổi mới, thiếu đồng bộ và chưa theo kịp yêu cầu phát triển của văn hóa - văn nghệ trong tình hình mới Trong lãnh đạo, quản lý còn tình trạng buông lỏng, cấm đoán tùy tiện, đồng thời chưa nắm chắc mối quan hệ

Trang 18

biện chứng giữa định hướng và tạo điều kiện cho sự sáng tạo, phổ biến tác phẩm văn học - nghệ thuật

Mặc dù vẫn còn một số hạn chế, song sự đổi mới về tư duy lý luận và đường lối văn hóa của Đảng, mở đầu bằng Nghị quyết số 05 của Bộ Chính trị

đã tạo ra bước chuyển biến mới trong hoạt động văn hóa - nghệ thuật những năm 1986 - 1990; đồng thời tạo tiền đề cho sự đổi mới mạnh mẽ trên lĩnh vực văn hóa những năm đầu thập kỷ 90

1.2.2 Tiếp tục đổi mới tư duy và phát triển đường lối văn hóa

Bước vào những năm đầu thập kỷ 90, trên bình diện quốc tế, thế giới diễn ra cuộc chạy đua về kinh tế, khoa học - công nghệ trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình

Cùng với xu thế toàn cầu hóa về kinh tế, thế giới thời kỳ hội nhập cũng diễn ra sự mở cửa, giao lưu rộng rãi về văn hóa Quá trình giao lưu văn hóa góp phần đưa các nước xích lại gần nhau trên cơ sở hiểu biết, tin cậy và tôn trọng lẫn nhau Tuy nhiên, quá trình hội nhập toàn cầu trên lĩnh vực văn hóa

đã ảnh hưởng đến sự sống còn của các nền văn hóa của nhiều quốc gia, dân tộc Bởi các cuộc “chiến tranh thông tin” và “xâm lăng văn hóa” của các đế quốc văn hóa đang ra sức nhất thể hóa văn hóa và đồng hóa lối sống của các dân tộc để phục vụ ý đồ thống trị các dân tộc khác trên thế giới

Ở trong nước, công cuộc đổi mới, mở cửa hội nhập quốc tế hợp tác với các nước và các dân tộc trên thế giới do Đảng ta khởi xướng mở ra bước ngoặt cho bước phát triển của đất nước Thông qua quá trình hội nhập, văn hóa Việt Nam có điều kiện tiếp thu những tinh hoa của văn hóa thế giới và học hỏi vốn văn hóa của toàn nhân loại, làm giàu cho nền văn hóa dân tộc, góp phần thúc đẩy nền văn hóa Việt Nam lên một tầm cao mới Sự chuyển đổi

từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã kích thích những tìm tòi, sáng tạo

Trang 19

trong hoạt động văn hóa - nghệ thuật và khuyến khích mọi nguồn lực để xây

dựng và phát triển văn hóa

Tuy nhiên, quá trình mở rộng giao lưu văn hóa cũng là thách thức to lớn đối với ý thức, tinh thần và bản sắc văn hóa dân tộc Trên lĩnh vực văn hóa, xuất hiện những khuynh hướng không lành mạnh, những phản văn hóa, phản giá trị, tác động xấu đến con người và văn hóa dân tộc, làm nảy sinh nguy cơ phá hoại những giá trị nhân bản, những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Thực trạng đó là những thách thức to lớn đối với Đảng và nhà nước trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc trong thời kỳ đổi mới

Tiếp nối tư duy đổi mới của Đại hội Đảng lần thứ VI và Nghị quyết số

05 của Bộ Chính trị, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII của Đảng (1991), xác

định: kinh tế và văn hóa là hai mặt tác động qua lại lẫn nhau nhằm "xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người" [10: tr.10], từng bước vươn tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Từ nhận thức đó, Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Tiếp tục xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa Việt Nam, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu

tinh hoa văn hóa nhân loại

Chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là kết quả của quá trình bổ sung và không ngừng hoàn chỉnh đường lối văn hóa của Đảng qua các kỳ Đại hội III, IV, V, VI Trong đường lối văn hóa, văn nghệ được xác định tại Đại hội lần thứ VII của Đảng, vấn đề trung tâm của nền văn hóa mới là chú trọng phát triển mọi mặt: trí, đức, thể, mỹ, tình cảm, thị hiếu của nhân cách hướng tới hình thành một môi trường văn hóa lành mạnh nhằm góp phần “Nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, xây dựng nền văn hóa mới, lối sống mới, con người mới” [9, tr.36]

Trang 20

Những chủ trương, đường lối văn hóa được xác định trong Nghị quyết Đại hội VI, VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tạo điều kiện cho văn hóa, văn nghệ phát triển Tuy nhiên, trong những năm đầu thập kỷ 90, tình hình văn hóa, văn nghệ có nhiều diễn biến phức tạp: lối sống chạy theo đồng tiền, thị hiếu không lành mạnh và những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan tăng nhanh; nhiều văn hóa phẩm độc hại lan tràn trên thị trường Trong sáng tác và lý luận, phê bình nảy sinh một số khuynh hướng sai lầm; phủ nhận thành tựu cách mạng và văn hóa, văn nghệ cách mạng, tách văn nghệ khỏi sự lãnh đạo của Đảng; khuynh hướng “thương mại hóa”, truyền bá lối sống thực dụng, sa đọa, bạo lực phát triển

Trong bối cảnh đó, đầu tháng 1-1993, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp

hành Trung ương khóa VII họp bàn và ra Nghị quyết số 04-NQ/TW Về một số

nhiệm vụ văn hóa, văn nghệ những năm trước mắt Nghị quyết đánh dấu sự

phát triển trong nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa khi khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”[11, tr.51] Đây là Hội nghị Trung ương đầu tiên của Đảng bàn về vấn đề văn hóa, văn nghệ những năm đổi mới Hội nghị nhấn mạnh nguyên nhân chủ yếu khiến cho tình hình tiêu cực trong văn hóa, văn nghệ xảy ra nghiêm trọng và kéo dài một phần do chịu tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường và những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế, nhất là sau sự sụp đổ chế độ

xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu Mặt khác là do sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước từ Trung ương đến các cấp buông lỏng, thiếu những luật lệ, thể chế của Nhà nước, thiếu đầu tư thích đáng cho lĩnh vực văn hóa, văn nghệ

Trên cơ sở phân tích sâu sắc thực trạng văn hóa văn nghệ của đất nước

và lý giải nguyên nhân của những hạn chế trong lãnh đạo và quản lý văn hóa, Nghị quyết đề ra nhiệm vụ cơ bản và lâu dài của nền văn hóa, văn nghệ dân

Trang 21

tộc, Hội nghị chỉ rõ: Phải xây dựng và phát triển nền văn hóa mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa - một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đây là sự nghiệp cao cả, trọng đại, khó khăn, do vậy phải tiến hành từng bước, có mục tiêu rõ ràng nhằm xây dựng con người Việt Nam về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống ngang tầm sự nghiệp đổi mới;

Những nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng về vấn đề văn hóa trong những năm 1991-1996, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với việc phát triển nền văn hóa dân tộc Cùng với những đổi mới trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, quân sự, ngoại giao… tư duy lý luận về văn hóa của Đảng cũng từng bước được đổi mới nhằm định hướng cho các hoạt động văn hóa phát triển lành mạnh, phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc và từng bước làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân

1.3 QUÁ TRÌNH ĐẢNG CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA TRONG NHỮNG NĂM 1991 - 1996

Quán triệt nội dung các văn kiện được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã cụ thể hóa đường lối văn hóa của Đảng thành những nội dung cụ thể:

1 Khẳng định và đề cao vai trò, vị trí của văn hóa Văn hóa có chức năng góp phần bồi dưỡng nhân cách và tinh thần cao đẹp của con người Việt Nam, có tinh thần yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, có tinh thần quốc tế chân chính, hữu nghị và hợp tác, giữ gìn thuần phong mỹ tục, xây dựng gia đình văn hóa, hạnh phúc

2 Nhà nước chủ trương bảo tồn, phát triển văn hóa Việt Nam, các di sản văn hóa dân tộc, những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại;

Trang 22

cấm truyền bá tư tưởng văn hóa phản động, đồi trụy; bài trừ mê tín và các hủ tục lạc hậu

3 Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa; nghiêm cấm các hoạt động văn hóa làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam

Ngày 19-1-1993, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 25/TTg về

Một số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật

Quyết định nêu rõ: Từ năm 1993 về sau, Nhà nước dùng kinh phí đầu tư cho các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, xây dựng những công trình văn hóa lớn không nhằm mục đích kinh doanh mà nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân Quyết định đề ra các chính sách bảo vệ và giữ gìn các di sản văn hóa, hoạt động của các loại hình nghệ thuật biểu diễn của Nhà nước, hoạt động của hệ thống thư viện, phát hành sách báo

Sự quan tâm lãnh đạo của Đảng đã góp phần nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan lãnh đạo, quản lý, văn hóa, văn nghệ Trên cơ sở đó, các cấp ủy Đảng xây dựng chủ trương, chính sách và biện pháp cụ thể để cụ thể hóa nghị quyết của Đảng và quyết định của Thủ tướng Chính phủ về văn hóa, văn nghệ Trong những năm 1991-1996, đặc biệt là từ năm 1993, Đảng tập trung lãnh đạo những vấn đề văn hóa cơ bản

1.3.1 Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống lành mạnh

Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô đã tác động xấu đến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, khiến nhiều người hoang mang, dao động, giảm sút niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam Trước tình hình đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng khẳng định, đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường mà Đảng,

Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn Cương lĩnh xây dựng đất nước quá độ lên

chủ nghĩa xã hội xác định 6 đặc trưng, 7 phương hướng xây dựng chủ nghĩa

Trang 23

xã hội trong thời kỳ quá độ nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, văn minh” Đó là thành tựu quan trọng trong hoạt động lý luận của Đảng, đồng thời đánh dấu sự xác lập hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác

- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống xã hội Việt Nam

Trong thời kỳ đổi mới, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và trong nước, Đảng lãnh đạo nhân dân ta kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa; kiên trì chế độ một đảng và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; kiên quyết đổi mới mà không “đổi màu”, hòa nhập mà không “hòa tan” Tuy nhiên, những năm đầu thập kỷ 90, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, đặc biệt là sự chống phá quyết liệt trên mặt trận tư tưởng của các thế lực thù địch cùng những khó khăn của tình hình kinh tế - xã hội trong nước, một số cán bộ, đảng viên dao động, giảm sút niềm tin Trong xã hội, tư tưởng thực dụng, chạy theo đồng tiền làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân xa rời lý tưởng, sa sút phẩm chất, đạo đức; nạn tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính và nhiều tệ nạn xã hội phát triển mạnh Trong khi đó, công tác tư tưởng chưa kịp thời phê phán những quan điểm sai trái và uốn nắn những lệch lạc, chưa tạo ra được một phong trào quần chúng hành động cách mạng sôi nổi Việc lý giải nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn thiếu thuyết phục

Ngày 18-2-1995, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 09-NQ/TW Về một số

định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay Nghị quyết nêu 6 định

hướng về công tác tư tưởng, trong đó có định hướng: “Phát triển văn hóa; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” Những định hướng về công tác tư tưởng là những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc đổi mới theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa

Cùng với việc chú trọng xây dựng tư tưởng, Đảng đặc biệt quan tâm đến xây dựng đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh trong Đảng và trong xã

Trang 24

hội Việc chú trọng xây dựng đạo đức, lối sống là sự tiếp nối tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về vấn đề xây dựng đạo đức, lối sống mới

Sau 10 năm Đảng lãnh đạo sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo nên những chuyển biến tích cực đến tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống của xã hội ta: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng và phát triển sáng tạo ngày càng tỏ rõ giá trị bền vững làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và của cách mạng nước ta Qua thực tiễn công cuộc đổi mới, đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu biết sâu sắc hơn những vấn đề cơ bản của đường lối đổi mới Vì vậy, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào công cuộc đổi mới, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng ngày càng được nâng cao Trong xã hội, nhiều giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo đức mới từng bước được hình thành Tính năng động và tính tích cực công dân được khuyến khích Không khí dân chủ trong đời sống xã hội tăng lên Thế hệ trẻ tiếp thu nhanh chóng những kiến thức mới và có ý chí vươn lên, lập nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Bên cạnh những chuyển biến tích cực, trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống vẫn còn nhiều biểu hiện tiêu cực Vấn đề đáng lo ngại được toàn xã hội quan tâm là sự chệch hướng về lý tưởng, suy thoái về đạo đức của một bộ phận cán bộ có chức, có quyền và một số người hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh

Thế hệ trẻ phân hóa về đạo đức, nếp sống khá rõ nét Một bộ phận thanh niên tiên tiến tu chí học hành để lập thân, lập nghiệp Một số khác hầu như không quan tâm đến vấn đề chính trị, tư tưởng, thiếu ước mơ, hoài bão trong cuộc sống

Trang 25

Trước tình hình đó, Đảng chủ trương tập trung nghiên cứu để đề ra một chiến lược văn hóa lâu dài, đồng bộ, có sách lược qua từng giai đoạn, có tri thức hiểu biết không chỉ văn hóa hiện nay mà còn hiểu biết về di sản văn hóa quá khứ và dự báo tiềm năng văn hóa tương lai

1.3.2 Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Trong quá trình lãnh đạo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã chú trọng gìn giữ, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Đó là: các di sản văn hóa, các lễ hội và truyền thống văn hóa tốt đẹp của cha ông, những thuần phong mỹ tục, các vốn văn hóa cổ của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Năm 1992, Chính phủ thông qua Chương trình quốc gia: Tổng kiểm kê

di sản văn hóa các dân tộc Việt Nam Tiếp đó, Quyết định số 25QĐ/TTg của

Thủ tướng Chính phủ Về một số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự

nghiệp văn hóa

Năm 1994, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ba chương trình cấp Nhà

nước, trong đó có Chương trình chống xuống cấp di tích Mục tiêu của

chương trình là tôn tạo, tu sửa, nâng cấp di tích, trong đó chủ yếu là di tích lịch sử và cách mạng Năm 1994, Nhà nước cấp 23,650 tỷ đồng, năm 1995 28,278 tỷ đồng [1: tr.49]

Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự tích cực, chủ động của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương nên trong những năm 1991-1996 nhiều

di tích được bảo tồn như: Chùa Một Cột (Hà Nội), Chùa Keo (Thái Bình), Đền Hùng (Phú Thọ), Cố đô Huế, các Tháp Chàm miền Trung, địa đạo Vĩnh Mốc (Quảng Trị),

Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước chủ trương phục hồi, phát triển các lễ hội truyền thống Những lễ hội ở mọi vùng miền của đất nước là sinh hoạt văn hóa đặc sắc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam Trong những năm

Trang 26

1991-1996, nhiều lễ hội được tổ chức Theo Báo cáo Hiện trạng văn hóa

thông tin các tỉnh, thành phố giai đoạn 1992-2002 của Bộ Văn hóa - Thông

tin, đến năm 1996, cả nước có hàng nghìn lễ hội Trong đó, Bộ Văn hóa - Thông tin phối hợp với các địa phương tổ chức hơn 100 lễ hội đặc sắc Tiêu biểu là: Hội Đức Thánh Trần (Bà Rịa - Vũng Tàu); Hội Chùa Hương, Chùa Thầy, Chùa Tây Phương (Hà Tây); Hội Làng Nùng (Hà Giang); Giỗ Tổ Hùng Vương (Thành phố Hồ Chí Minh)…

Ngoài ra, Đảng và Nhà nước coi trọng việc giữ gìn và phát huy các truyền thống văn hóa Trong số các truyền thống quý báu của dân tộc, nổi lên hàng đầu và cũng là điều cốt lõi nhất của bản sắc văn hóa Việt Nam chính là lòng yêu nước, ý chí tự lực tự cường, truyền thống vì đại nghĩa của dân tộc

Do đó, Đảng chủ trương tiếp tục phát huy chủ nghĩa yêu nước, từng bước hình thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới phù hợp với truyền thống, bản sắc dân tộc và yêu cầu của thời đại

Cùng với đó, Đảng chỉ rõ: Chúng ta phải đưa truyền thống cộng đồng lên một tầm cao mới, vì đó là sức mạnh cố kết giúp dân tộc ta đứng vững trước các thế lực thiên tai và ngoại xâm, làm nên những trang sử hào hùng của lịch sử dân tộc Trong điều kiện kinh tế thị trường, khi lối sống chạy theo đồng tiền, bất chấp đạo lý và cạnh tranh, chèn ép lẫn nhau để làm giàu bằng mọi giá thì việc phát huy ý thức cộng đồng lá lành đùm lá rách, thương người như thể thương thân và các phong trào “vì người nghèo”, “ủng hộ đồng bào bão lụt”, “ủng hộ quỹ trẻ em nghèo vượt khó”… của dân tộc có vai trò quan trọng để điều tiết, hạn chế bớt mặt trái của cơ chế thị trường, giúp cho sự nghiệp đổi mới đi đúng hướng Trong bối cảnh mới, Đảng khẳng định, tính cộng đồng phải được kế thừa, phát huy lên tầm cao mới không chỉ là cộng đồng làng xã mà còn là cộng đồng dân tộc, cộng đồng quốc tế; không chỉ là

Trang 27

tình cảm mà còn là trách nhiệm Mặt khác, những hạn chế của tính cộng đồng truyền thống như tính địa phương, cục bộ,phải được khắc phục

Đi đôi với việc giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống, các vốn văn hóa

cổ và bản sắc văn hóa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, Đảng

và Nhà nước chủ trương chống lại sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa phản động, đồi trụy cùng các giá trị văn hóa trái với thuần phong, mỹ tục và các giá trị đích thực của văn hóa dân tộc Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII chỉ rõ: “ có quy định nghiêm ngặt bảo vệ những giá trị văn hóa của dân tộc, chống xâm nhập vào nước ta những tác phẩm xấu, độc hại” [11, tr.57]

Song song với công tác phòng chống các sản phẩm văn hóa độc hại, việc chú trọng đấu tranh lập lại trật tự kỷ cương trên lĩnh vực văn hóa và đẩy mạnh bài trừ các tệ nạn xã hội cho thấy quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng môi trường văn hóa - xã hội lành mạnh Chính phủ ra nhiều chỉ thị, nghị quyết về phòng chống tệ nạn xã hội Nhiều địa phương đã

có những biện pháp kiên quyết và sáng tạo trong việc phòng chống các tệ nạn

xã hội và đấu tranh chống văn hóa phẩm đồi trụy Tuy nhiên, do công tác quản lý nhà nước của ngành văn hóa và các địa phương còn nhiều bất cập nên những năm giữa thập kỷ 90, văn hóa phẩm đồi trụy, bạo lực tràn lan khắp các

đô thị với các bức ảnh, tiểu thuyết khiêu dâm, kích động bạo lực Trước tình hình đó, ngày 12-12-1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 87/NĐ-CP, Thủ

tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 814/CT-TTg về "Tăng cường quản lý các hoạt

động văn hóa, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng" Ngày

14-12-1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 88/NĐ-CP về xử phạt vi phạm

hành chính trong các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa Tiếp đó, ngày

25-12-1995, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 64-CT/TW Về việc

tăng cường lãnh đạo, quản lý, lập lại trật tự kỷ cương trong các hoạt động

Trang 28

văn hóa và dịch vụ văn hóa, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng

Cùng với chủ trương bảo tồn và phát huy các giá trị, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, và thiết lập trật tự kỷ cương trên lĩnh vực văn hóa, dịch vụ văn hóa, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng mở rộng giao lưu văn hóa với các nước và các dân tộc trên thế giới Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII và Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII đều nhấn mạnh quan điểm: gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc

đi đôi với mở rộng giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa toàn nhân loại Đó là một chủ trương đúng đắn, đồng thời cũng là vấn đề mang tính tất yếu Bởi lẽ, quá trình quốc tế hóa về kinh tế, về thông tin sẽ tác động mạnh mẽ đến quá trình quốc tế hóa về văn hóa Mỗi giá trị văn hóa của một dân tộc được tạo ra, lập tức được cả thế giới tiếp nhận và trở thành tài sản chung của cả nhân loại Thông qua quá trình giao lưu văn hóa, văn hóa của từng khu vực, từng dân tộc

có thể tìm thấy những quy luật phổ biến, những tiếng nói chung, nhưng cũng

có những quy luật đặc thù, những tiếng nói riêng

Trong quá trình giao lưu văn hóa, Đảng ta kiên quyết bài trừ những yếu

tố phản văn hóa, ảnh hưởng đến sự phát triển của văn hóa dân tộc và nền an ninh quốc gia Trong quá trình lãnh đạo xây dựng và phát triển văn hóa, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm tới cuộc đấu tranh “diễn biến hòa bình” trên mặt trận văn hóa Bởi lẽ, lịch sử nhân loại cho thấy “văn hóa không chỉ là nền tảng

để phát triển dân tộc mà còn là công cụ bảo vệ dân tộc Một dân tộc có thể mất Tổ quốc nhưng vẫn giữ gìn được văn hóa, nhưng một dân tộc bị nước ngoài lũng đoạn về mặt văn hóa thì dân tộc đó sẽ mất tất cả” [13, tr.40]

Thực hiện chủ trương tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trên lĩnh vực văn hóa của Đảng và Nhà nước, trong những năm 1991-1996, hợp tác và giao lưu văn hóa quốc tế đạt được một số thành tựu quan trọng

Trang 29

Nhà nước ký Hiệp định văn hóa với khoảng 30 nước và hàng chục tổ chức quốc tế; có trên 100 dự án về hợp tác văn hóa [33, tr125]

Trong giao lưu văn hóa quốc tế, thành tựu nổi bật là việc triển khai toàn diện các lĩnh vực hợp tác, giao lưu văn hóa, thông tin đối ngoại, mở rộng quan

hệ ở nhiều địa bàn, nhiều châu lục từ châu Á, châu Âu, đến châu Mỹ, châu Phi Thông qua giao lưu, hợp tác về văn hóa, chúng ta đã giới thiệu được đất nước và con người Việt Nam với thế giới; tiếp thu các giá trị, tinh hoa của nền văn minh nhân loại Qua đó, tạo nên sự đồng cảm, xích lại gần nhau giữa các nước với Việt Nam và góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

1.3.3 Từng bước đổi mới hoạt động văn học - nghệ thuật, thông tin đại chúng

Văn học - nghệ thuật là nhu cầu cần thiết của con người trong mọi xã hội, nó thể hiện trình độ phát triển chung của đất nước, là lĩnh vực sản xuất tinh thần tạo ra những giá trị cao quý lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm giàu đẹp cho cuộc sống con người Văn học - nghệ thuật thể hiện khát vọng của con người về chân, thiện, mỹ Nó có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ tầng lớp dân cư, xây dựng môi trường đạo đức và con người chân chính Đề cập đến vai trò của văn học - nghệ thuật trong đời sống xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng khẳng định: “Không hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người” [7, tr.120-130]

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII khẳng định:

“Sự nghiệp văn nghệ là một bộ phận khăng khít của sự nghiệp đổi mới” [12, tr.54] Do vậy, phải thấm nhuần và thực hiện quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí

Trang 30

Minh: “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận Anh chị em văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy”

Quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Đảng, năm 1994, Chính phủ phê duyệt chương trình phát triển điện ảnh dân tộc Ngày 17-7-1995, Chính phủ ra

Nghị định số 48-NĐ/CP về tổ chức và hoạt động điện ảnh Trong hai năm

1994 và 1995, Nhà nước cấp hơn 60 tỷ đồng cho chương trình điện ảnh Chính phủ còn ra quyết định triển khai thực hiện một số chính sách phát triển văn học nghệ thuật như: Chính sách hỗ trợ 100% kinh phí cho việc xây dựng các tiết mục của các đơn vị nghệ thuật dân tộc (tuồng, chèo, cải lương, dân ca, múa rối…); chế độ đặt hàng đối với các nhà văn, nhà thơ về đề tài thiếu nhi, đề tài chiến tranh cách mạng; chính sách tài trợ các tài năng văn hóa, nghệ thuật; chính sách về nhuận bút, về quyền tác giả; chính sách trợ giá, phụ cấp cho các ngành nghệ thuật Nhằm cụ thể hóa các chính sách của Nhà nước, Bộ Văn hóa

- Thông tin ra nhiều văn bản hướng dẫn như: Thông tư số 37 (4-1995) hướng

dẫn quản lý kinh phí sự nghiệp cho các chương trình mục tiêu ngành văn hóa;

Quyết định số 42 (7-1995) về tổ chức và hoạt động của Hội đồng giải thưởng

chuyên ngành về văn hóa, nghệ thuật; Thông tư số 67 (10-1995) hướng dẫn chế độ phụ cấp lãnh đạo nhà hát, đoàn nghệ thuật

Sự lãnh đạo của Đảng và sự quan tâm của Nhà nước về cơ chế chính sách, kinh phí đã tạo nên những chuyển biến trong hoạt động văn hóa - nghệ thuật những năm 1991-1996

Trên lĩnh vực điện ảnh, từ năm 1992 đến năm 1996, Chính phủ phê duyệt và cấp kinh phí toàn phần hoặc tài trợ một phần 100 tỷ đồng cho hàng trăm phim thuộc nhiều thể loại Trong những bộ phim đó, đề tài đã gắn bó hơn với các vấn đề bức xúc của đất nước và thời đại; hướng về nông thôn và người lao động, người chiến sĩ, đồng thời chú trọng khai thác yếu tố bản sắc dân tộc Bên cạnh đó, trong các phim đã miêu tả cuộc sống đen xen những

Trang 31

mảng màu sáng, tối với những niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và bất hạnh nhằm thể hiện logic cuộc sống thường nhật trong cơ chế thị trường chứ tác giả không áp đặt chủ quan hoặc phô diễn những lời giáo huấn

Ở lĩnh vực sân khấu, từ năm 1991 trở đi, sân khấu có bước phát triển mới: vừa tôn vinh cái thiện, cái đẹp của con người, vừa lên án cái ác, cái xấu trong đời sống, đồng thời từng bước thể nghiệm, tìm tòi hướng cách tân cho sân khấu truyền thống Cùng với những cố gắng nâng cao chất lượng nghệ thuật, ngành sân khấu có nhiều nỗ lực trong việc xã hội hóa các hoạt động biểu diễn

Ngành âm nhạc do tích cực đổi mới trên cơ sở đứng vững trên đôi chân của thành tựu âm nhạc dân tộc và hiện đại nên đã được công chúng chấp nhận

và hưởng ứng Âm nhạc cách mạng - nhạc đỏ được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư đã từng bước khẳng định được chỗ đứng trong đời sống xã hội, từng bước đáp ứng nhu cầu thưởng thức âm nhạc của đông đảo nhân dân Thành tựu nổi bật của hoạt động âm nhạc những năm đổi mới là có hàng trăm

ca khúc viết về quê hương, đất nước, con người đứng được trên sân khấu và đọng lại trong tâm hồn của nhân dân

Hoạt động nhiếp ảnh ở cả ba lĩnh vực: nhiếp ảnh báo chí, nhiếp ảnh nghệ thuật, nhiếp ảnh dịch vụ đều có những thành tựu đáng kể Đó là các triển lãm lớn được tổ chức ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Tại cuộc thi ảnh quốc tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ACCU 1996), Việt Nam đạt 18 giải, trong đó có 3 giải thưởng lớn [33, tr.89]

Bên cạnh những thành tựu đạt được, hoạt động văn học - nghệ thuật những năm đầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước còn một số lệch lạc, biểu hiện ở các khuynh hướng sau:

- Khuynh hướng phủ định quá khứ hào hùng của dân tộc được thể hiện bằng những lời lẽ quy kết cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, đặc biệt là

Trang 32

cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Khuynh hướng phủ định quá khứ còn

tìm cách xuyên tạc hình tượng lãnh tụ, như tác phẩm Linh nghiệm; hạ bệ các anh hùng và danh nhân văn hóa của dân tộc, như tác phẩm Phẩm tiết; miệt thị lịch sử dân tộc và con người Việt Nam, như tác phẩm Vàng lửa và kiếm sắc

- Khuynh hướng xuyên tạc sự thật đã khai thác triệt để mảng tối của bức tranh xã hội, coi cuộc đời chỉ là những hiện tượng xấu xa, tàn bạo với

giọng văn lạnh lùng, tàn nhẫn Tiêu biểu là các cuốn sách, truyện: Nổi loạn của Đào Hiếu; Bên kia bờ ảo vọng, Những thiên đường mù của Dương Thu

Hương

- Khuynh hướng đối lập chính trị với văn nghệ được phát ngôn dưới

nhiều dạng khác nhau song phổ biến tồn tại ở các dạng phủ nhận giá trị nghệ thuật của văn học cách mạng; mơ hồ về quan điểm và nguyên lý văn nghệ cách mạng; ngộ nhận sự lãnh đạo của Đảng và cho rằng, sự lãnh đạo của Đảng là chính trị hóa sáng tạo nghệ thuật

- Khuynh hướng thương mại hóa nghệ thuật thể hiện ở chỗ, một số sách, báo xuất bản lậu có nội dung lệch lạc, giật gân, câu khách Các hiện tượng chạy “sô” trong ca hát; những cảnh đàn thê, hát mướn của các diễn viên sân khấu cùng với thực trạng làm phim “mỳ ăn liền” trong điện ảnh, việc sáng tác và biểu diễn âm nhạc “chợ trời” trong lĩnh vực âm nhạc đã tác động xấu đến thị hiếu âm nhạc, làm xói mòn lớp văn hóa nhân bản vốn có trong nền văn hóa dân tộc

Bên cạnh những khuynh hướng lệch lạc trong sáng tạo văn học - nghệ thuật, nhiều ngành nghệ thuật đang khủng hoảng trầm trọng mà điển hình là sân khấu và điện ảnh Sàn diễn, nhà hát, rạp chiếu bóng quạnh vắng, không

có người xem, nhiều nghệ sĩ bỏ nghề đi tìm nghề khác kiếm sống Quản lý văn học - nghệ thuật còn đơn giản, đại khái Trong quản lý văn hóa còn thiếu nhạy bén, có lúc, có nơi lại bỏ trống trận địa, tách hoạt động văn hóa với các

Trang 33

hoạt động kinh tế - xã hội Sự phối hợp giữa Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa - Thông tin với các Hội nghệ thuật còn hình thức, nặng về

bề nổi

Bước vào thập kỷ 90, lĩnh vực báo chí, xuất bản nhận được sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước Quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng và để từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả xã hội của hoạt động báo chí, ngày 31-3-1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra

Chỉ thị số 08-CT/TW Về tăng cường sự lãnh đạo và quản lý nhằm nâng cao

chất lượng và hiệu quả công tác báo chí, xuất bản Tiếp đó, ngày 11-6-1992,

Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thông báo về việc sắp xếp lại tổ chức ngành báo chí, xuất bản trên cơ sở rà soát, chấn chỉnh những tờ báo, tạp chí nhằm thiết lập lại trật tự, kỷ cương, thực hiện đúng Luật báo chí Ngày 19-7-1993, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký lệnh công bố Luật Xuất bản

1.3.4 Tăng cường xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là bước đi ban đầu của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam Thông qua quá trình xây dựng đời sống văn hóa cơ sở để phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa, nghệ thuật, tạo dựng một lối sống lành mạnh, phát huy những phong tục tập quán và truyền thống văn hóa tốt đẹp của nhân dân, đồng thời bài trừ những hủ tục văn hóa lạc hậu, mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội Quá trình xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là quá trình hình thành mạng lưới thiết chế văn hóa như: trung tâm văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, phòng truyền thống, trường học, công viên… nhằm tạo nên một môi trường văn hóa tốt đẹp ở cơ

sở, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân

Tổ chức, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, là vấn đề chiến lược của sự nghiệp xây

Trang 34

dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, trong đó xác định, xây dựng đời sống văn hóa là việc làm lâu dài, là công việc của toàn xã hội Đầu năm 1994, Chính phủ phê duyệt 3 chương trình quốc gia về văn hóa, trong đó có Chương trình Xây dựng và nâng cao hoạt động văn hóa, thông tin cơ sở

Nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tháng 3-1995 ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mở cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống mới ở khu dân cư Ngày 3-5-1995, Ban Thường trực ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra Thông tri số 04-TT/MTTQVN nhấn mạnh mục đích, ý nghĩa, yêu cầu của cuộc vận động Nội dung cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống mới ở khu dân

cư gồm: Vận động nhân dân giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp; vận động nhân dân phát huy truyền thống tương ái, đền ơn đáp nghĩa; thực hiện đoàn kết giữ vững kỷ cương, chống tệ nạn và tiêu cực xã hội, hòa giải mâu thuẫn nội bộ, cảm hóa người lầm lỗi; vận động nhân dân xây dựng đời sống văn hóa; giữ vững và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ thuần phong mỹ tục, quan hệ gia đình, xóm giềng

Tại các đô thị lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, các phong trào: Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống mới ở khu dân cư; xây dựng nếp sống văn minh - gia đình văn hóa mới; xây dựng thành phố xanh, sạch đẹp… phát triển mạnh mẽ

Tại các vùng cao, vùng sâu, vấn đề văn hóa thông tin và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một trong những vấn đề quan trọng không chỉ đối với ngành văn hóa mà còn đối với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Báo

cáo Về công tác văn hóa - thông tin miền núi và vùng dân tộc thiểu số

(1986-1996) của Bộ Văn hóa cho thấy, các hoạt động văn hóa thông tin ở miền núi

Trang 35

và các vùng dân tộc thiểu số như thông tin cổ động, văn hóa quần chúng, truyền hình đã được đổi mới một bước; mức hưởng thụ về văn hóa, nghệ thuật, thông tin của đa số đồng bào đã được cải thiện

Nhờ sự quan tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền, nhiều cụm văn hóa thông tin được trang bị phương tiện hoạt động Hầu hết các tỉnh, thành phố đầu

tư chiều sâu cho các bảo tàng, thư viện, nhà văn hóa, rạp chiếu bóng nhằm góp phần làm chuyển biến các hoạt động văn hóa thông tin cơ sở Đến năm 1996, tổng số thư viện quận, huyện, thị xã là 540; tổng số thư viện, phòng đọc sách,

tủ sách xã, thôn, ấp là 1.700 với 14,8 triệu bản sách [18, tr.156]

Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở còn nhiều hạn chế Sau nhiều năm hoạt động, các cơ quan chức năng chưa thường xuyên tổng kết kinh nghiệm để nâng lên thành lý luận Mặt khác, công tác nghiên cứu lý luận chưa theo kịp thực tiễn sinh động của cuộc sống Những chuẩn mực và khuôn mẫu đưa ra chỉ mang tính hình thức, khó trở thành hiện thực trong cuộc sống Việc thực hiện nếp sống mới trong việc cưới, việc tang còn nhiều lúng túng, có lúc quá khắt khe không thuyết phục được quần chúng, có lúc lại buông lỏng quản lý Xu hướng “thương mại hóa” xuất hiện trong các hoạt động văn hóa ở các đô thị Trước sự phát triển như

vũ bão của các phương tiện thông tin đại chúng như máy thu hình, video, băng, đĩa, Internet… công tác xây dựng văn hóa cơ sở gặp nhiều lúng túng, chưa tìm ra biện pháp để phát huy thế mạnh và hạn chế những tác động tiêu cực từ các phương tiện thông tin đại chúng hiện đại

Tại các tỉnh miền núi, biên giới, hải đảo, văn hóa nghệ thuật của Nhà nước hiếm khi đến phục vụ quần chúng Báo chí, xuất bản mới đáp ứng 10% nhu cầu đọc của nhân dân Các huyện miền núi hầu như không có cửa hàng hoặc quầy sách Nhà văn hóa huyện chỉ có tên, không có nhà, không hoạt động Đội chiếu bóng lưu động các huyện miền núi không còn, số hộ được

Trang 36

xem ti vi thường xuyên rất ít Nhiều hủ tục văn hóa lạc hậu trong cưới xin, ma chay, lễ hội trỗi dậy ở một số huyện vùng sâu, vùng xa…

Cùng với việc đổi mới bước đầu trong quá trình hoạch định đường lối văn hóa, công tác lãnh đạo, quản lý văn hóa, văn nghệ của Đảng cũng từng bước được đổi mới Các hoạt động văn hóa, văn nghệ phong phú hơn về nội

dung, đa dạng hơn về hình thức gắn chặt việc xây và chống, lấy xây làm

chính Hoạt động văn hóa ngày càng hướng về cơ sở, hướng về nhân dân lao động Các giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc được đề cao Với

sự phát triển của thông tin đại chúng, mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân ngày càng nâng lên Những hoạt động đa dạng, phong phú, tích cực của lĩnh vực văn hóa đã góp phần nhân lên sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân để vượt qua khó khăn, thử thách, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề cho đất nước bước vào thời kỳ mới - đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Tuy nhiên, thực tiễn xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc trong những năm 1991-1996 đặt ra nhiều vấn đề bức xúc cần giải quyết Đó là sự mai một các giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc, sự bất cập trong việc định hình các giá trị văn hóa mới, sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự xâm nhập của văn hóa phẩm phản động, đồi trụy Thực trạng đó đòi hỏi Đảng phải có bước đột phá trong lý luận để đề ra một chiến lược văn hóa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 37

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với việc đổi mới tư duy trong việc hoạch định đường lối kinh tế, quân sự, ngoại giao, Đảng Cộng sản Việt Nam bước đầu đổi mới tư duy lý luận về văn hóa Với việc thừa nhận văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh

tế - xã hội phát triển, nhận thức của Đảng về vai trò, vị trí của văn hóa được nâng lên một bước Từ những đổi mới về nhận thức, Đảng đã kịp thời đề ra đường lối văn hóa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Chủ trương xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là

sự kế thừa và phát huy những giá trị, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đồng thời là sự tiếp thu những tinh hoa của nền văn minh nhân loại nhằm hướng văn hóa Việt Nam đến những giá trị chân - thiện - mỹ để văn hóa thực sự là mục tiêu, động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 38

Chương 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

Sau 10 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu cơ bản Kinh tế tăng trưởng khá, chính trị - xã hội ổn định,

quốc phòng - an ninh được củng cố, quan hệ đối ngoại rộng mở Đời sống vật

chất của nhân dân ngày càng được cải thiện Mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân từng bước được nâng lên Lòng tin của nhân dân đối với chế độ và tiền đồ của đất nước, với Đảng và Nhà nước ngày càng tăng Những thành tựu đạt được trên tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế - xã hội đã đưa nước ta ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, đồng thời, tạo thế và lực, tạo tiền đề cần thiết để đất nước bước vào thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Bước vào thời kỳ mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6-1996) khẳng định, đất nước ta đứng trước những cơ hội phát triển mới, song cũng phải đối mặt với những thách thức gay gắt: “Thời cơ lớn được tạo

ra trước hết do những thành tựu của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc, đồng thời cũng do sự tác động của nhiều xu thế tích cực trên thế giới” [18, tr.18]

Trang 39

Xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế là hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, đấu tranh chống lại sự

áp đặt và can thiệp của nước ngoài, bảo vệ nền văn hóa dân tộc Bên cạnh những xu hướng tích cực đó, quá trình tiến hành công cuộc đổi mới đã “phạm một số khuyết điểm, lệch lạc lớn và kéo dài, dẫn đến chệch hướng ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác, ở mức độ này hay mức độ khác Nếu không được khắc phục có hiệu quả thì những khuyết điểm, lệch lạc đó sẽ làm suy yếu Đảng, làm mọt ruỗng bộ máy nhà nước, biến chất chế độ, đưa đất nước đi chệch con đường xã hội chủ nghĩa” [14, tr.13]

Các nguy cơ tụt hậu xa về kinh tế, “diễn biến hòa bình” vẫn là những thách thức lớn trong quá trình phát triển đất nước Đặc biệt nguy hại là tệ quan liêu, tham nhũng và suy thoái về tư tưởng, phẩm chất, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã làm cho bộ máy của Đảng và Nhà nước

bị suy yếu, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng, với chế độ

Trước những thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức đan xen nhau, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 6-1996) chỉ rõ: chúng ta phải chủ động nắm thời cơ, vươn lên phát triển nhanh và vững chắc, tạo ra thế và lực mới, đồng thời luôn kiên quyết, tỉnh táo để đẩy lùi và khắc phục nguy cơ

Trên lĩnh vực văn hóa, Đại hội chỉ rõ: “Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển xã hội” [14, tr.111]

Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu, hợp tác quốc

tế, nhằm xây dựng và phát triển văn hóa đáp ứng yêu cầu của công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển văn hóa trong thời kỳ mới:

Trang 40

1 Coi trọng, giữ gìn và nâng cao bản sắc dân tộc đi đôi với không ngừng tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, truyền thống, đạo đức, thẩm mỹ, tập quán tốt đẹp của di sản văn hóa - văn nghệ và lòng tự hào dân tộc; tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp thêm nền văn hóa Việt Nam; đấu tranh chống sự xâm nhập của các loại văn hóa độc hại, những khuynh hướng sùng ngoại, lai căng, mất gốc; khắc phục tâm lý sùng bái đồng tiền, bất chấp đạo lý, coi thường các giá trị nhân văn

2 Củng cố, tăng cường mạng lưới văn hóa cơ sở trên cơ sở quản lý tốt các hoạt động văn hóa - văn nghệ, khai thác mọi sắc thái và các giá trị văn hóa - nghệ thuật của tất cả các dân tộc, tạo ra sự thống nhất trong tính đa dạng, phong phú của nền văn hóa Việt Nam

3 Nâng cao hiểu biết và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh, bài trừ hủ tục mê tín, dị đoan

4 Phát triển đi đôi với quản lý tốt mạng lưới thông tin, báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, điện ảnh và các hình thức nghệ thuật khác Hoạch định chiến lược quốc gia về thông tin; nâng cao chất lượng thông tin đại chúng, đảm bảo tính trung thực, tính chiến đấu và tính đa dạng của thông tin; coi trọng phát hiện và đề cao nhân tố mới đi đôi với phê phán các hiện tượng tiêu cực; tăng cường công tác thông tin đối ngoại

5 Bảo đảm dân chủ, tự do cho mọi sáng tạo và hoạt động văn hóa, vun đắp các tài năng, đồng thời đề cao trách nhiệm của văn nghệ sĩ trước công chúng, dân tộc và thời đại Khuyến khích, tạo điều kiện thúc đẩy sáng tác văn học - nghệ thuật phản ánh các nhân tố mới trong xã hội, cổ vũ những điều tốt đẹp trong quan hệ giữa con người với xã hội, với thiên nhiên, phê phán những sai trái, lên án cái xấu, cái ác, hướng tới chân - thiện - mỹ Phổ biến các tác phẩm văn hóa - nghệ thuật tốt, “đưa các nhân tố văn hóa, tinh

Ngày đăng: 16/07/2015, 08:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (1996), Kỷ yếu Hội nghị công tác tư tưởng - văn hóa toàn quốc năm 1995 (Phần phụ lục), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội nghị công tác tư tưởng - văn hóa toàn quốc năm 1995 (Phần phụ lục)
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Năm: 1996
2. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2000), Báo cáo tổng kết công tác tư tưởng - văn hóa năm 1998, phương hướng, nhiệm vụ năm 1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác tư tưởng - văn hóa năm 1998, phương hướng, nhiệm vụ năm 1999
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Năm: 2000
3. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2000), Một số văn kiện của Đảng về công tác tư tưởng - văn hóa, tập 2 (1986 - 2000), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện của Đảng về công tác tư tưởng - văn hóa, tập 2 (1986 - 2000)
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
4. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2001), Kỷ yếu Hội nghị công tác tư tưởng - văn hóa toàn quốc năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kỷ yếu Hội nghị công tác tư tưởng - văn hóa toàn quốc năm 2000
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Năm: 2001
5. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2002), Kỷ yếu Hội nghị công tác tư tưởng - văn hóa toàn quốc năm 2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội nghị công tác tư tưởng - văn hóa toàn quốc năm 2001
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Năm: 2002
6. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2003), Kỷ yếu Hội nghị công tác tư tưởng - văn hóa toàn quốc năm 2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội nghị công tác tư tưởng - văn hóa toàn quốc năm 2002
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Năm: 2003
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1987
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1991
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1991
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương, khóa VII, Lưu hành nội bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương, khóa VII, Lưu hành nội bộ
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1993
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương, khóa VII, Lưu hành nội bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương, khóa VII, Lưu hành nội bộ
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1993
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Văn hóa - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Văn hóa - thông tin
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa - thông tin"
Năm: 1995
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia"
Năm: 1996
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương, khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương, khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1998
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7 (1940 - 1945), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7 (1940 - 1945)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
18. Nguyễn Khoa Điềm (Chủ biên) (2001), Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
19. Phạm Văn Đồng (1994), Văn hóa và đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và đổi mới
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1994
20. Phạm Minh Hạc - Nguyễn Khoa Điềm (Chủ biên) (2003), Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc - Nguyễn Khoa Điềm (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2003
21. Lê Như Hoa (1998), Bản lĩnh văn hóa Việt Nam một hướng tiếp cận, NXB Văn hóa - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản lĩnh văn hóa Việt Nam một hướng tiếp cận
Tác giả: Lê Như Hoa
Nhà XB: NXB Văn hóa - thông tin
Năm: 1998
22. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa (2004), Văn hóa và phát triển ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và phát triển ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w