Hiện nay, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp của nước ta chiếm trên 32% và định hướng sẽ tăng lên 38% vào năm 2015 và 42% vào năm 2020.[9] Bên cạnh lợi ích kinh tế không thể phủ nhận t
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kỹ thuật Nông nghiệp
HÀ NỘI - 2014
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kỹ thuật Nông nghiệp
Người hướng dẫn khoa học
ThS NGUYỄN NGỌC SƠN
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới ThS Nguyễn
Ngọc Sơn, TT phát triển chăn nuôi gia súc lớn, Sở NN&PTNT Hà Nội đã tận
tình hướng dẫn và truyền đạt cho tôi các phương pháp nghiên cứu khoa học
và những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện khóa luận
Đồng thời tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo khoa Sinh – KTNN Trường
Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2, đã tạo điều kiện cho tôi được tiếp thu những kiến
thức chuyên môn về chuyên ngành kĩ thuật nông nghiệp
Trong quá trình làm khóa luận tốt nghiệp này mặc dù đã hết sức cố gắng
nhưng chắc chắn không thể tránh được những thiếu sót Vì vậy tôi kính mong
nhận được ý kiến đóng góp, chỉ bảo của quý thầy cô và các bạn Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Vũ Văn Thắng
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các kết quả nghiên cứu, số liệu được trình bày trong khóa luận:“KHẢO SÁT THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ MÔI
TRƯỜNG TRONG CHĂN NUÔI TẠI HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ
HÀ NỘI”, dưới sự hướng dẫn của ThS Nguyễn Ngọc Sơn là hoàn toàn
trung thực và không trùng với kết quả của tác giả khác Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Sinh viên
Vũ Văn Thắng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ Đ U 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 3
1.1 Thực trạng phát triển ngành chăn nuôi Việt Nam 3
1.2 Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 4
1.3 Chăn nuôi và vấn đề môi trường 5
1.3.1 Chất thải chăn nuôi 5
1.3.2 Ô nhiễm do chăn nuôi 10
1.4 Quản lí môi trường chăn nuôi 11
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG 13
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Đối tượng nghiên cứu 13
2.2 Nội dung nghiên cứu 13
2.3 Phương pháp nghiên cứu 13
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 14
3.1 Tình hình phát triển chăn nuôi của huyện Hoài Đức 14
3.1.1 Tác động của điều kiện tự nhiên –kinh tế -xã hội đến phát triển chăn nuôi 14
3.1.2 Thực trạng phát triển chăn nuôi huyện Hoài Đức 14
3.2 Môi trường trong chăn nuôi ở Hoài Đức và ý kiến của người dân 22
3.3 Quản lí chất thải và quản lí môi trường trong chăn nuôi tại Hoài Đức 25
3.3.1 Quản lí môi trường chăn nuôi trong các làng nghề chế biến nông sản 25
3.3.2 Quản lí môi trường trong các trang trại chăn nuôi gà 28
Trang 63.3.3 Công tác quản lí và bảo vệ môi trường trong chăn nuôi ở
Hoài Đức 30
3.4 Đề xuất giải pháp tăng cường quản lý môi trường chăn nuôi 33
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37 PHỤ LỤC
Trang 71
MỞ Đ U
1 T nh c p thi t của tài
Chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, tăng
tỷ trọng chăn nuôi là giải pháp chủ yếu để duy trì và nâng cao giá trị của sản xuất nông nghiệp Hiện nay, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp của nước
ta chiếm trên 32% và định hướng sẽ tăng lên 38% vào năm 2015 và 42% vào năm 2020.[9]
Bên cạnh lợi ích kinh tế không thể phủ nhận thì ngành chăn nuôi cũng đang làm nảy sinh nhiều vấn đề về chất lượng môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng dân cư địa phương và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ sinh thái tự nhiên mà nguyên nhân chính là do sự phát triển không bền vững của ngành chăn nuôi, cộng với công tác quản lý và xử lí chất thải chăn nuôi còn yếu kém
Hoài Đức là huyện có tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh vào loại bậc nhất khu vực phía Tây Hà Nội nên diện tích đất nông nghiệp đang ngày càng ít đi Trong hoàn cảnh đó, việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất đẩy mạnh phát triển chăn nuôi là hướng đi hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp của huyện Bên cạnh việc phát triển những vùng trồng trọt mang tính hàng hóa như vùng rau an toàn Song Phương, Vân Côn hay vùng cây ăn quả Đắc
Sở, Tiền Yên thì chăn nuôi của Hoài Đức cũng có nhiều chuyển biến tích cực Hoài Đức có tổng số 20 xã, thị trấn, với 40.960 hộ gồm 171.440 nhân khẩu, trong đó có 18.471 hộ làm nông nghiệp, thủy sản, chiếm 18,68% [12] Mặc dù số hộ chuyên tập trung làm nông nghiệp cũng như diện tích sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp nhưng hiệu quả, giá trị nông nghiệp vẫn tăng cao, đặc biệt chăn nuôi ngày càng chiếm tỷ trọng lớn Đàn gia súc, gia cầm của Hoài Đức đã tăng lên rõ rệt, nhiều xã đã phát huy lợi thế đồng đất và ngành nghề chế biến nông sản để phát triển mạnh đàn gia súc, gia cầm
Trang 82
Tuy vậy, phát triển chăn nuôi ở Hoài Đức vẫn còn nhiều khó khăn Chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng Tình trạng dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm chưa được kiểm soát, làm giảm hiệu quả sản xuất và tính bền vững của nghề chăn nuôi Công tác quản lý chất lượng giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y
và vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng, chống dịch bệnh còn nhiều bất cập Đặc biệt có tới 90% số hộ chăn nuôi quy mô lớn, nhỏ của Hoài Đức nằm ở vườn hộ gia đình xen kẽ trong khu dân cư, vì thế ô nhiễm môi trường trầm trọng.[8]
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành đề tài “Khảo sát thực
trạng công tác quản lí môi trường trong chăn nuôi tại huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội”
2 Mục tiêu của tài
Đánh giá thực trạng quản lí và xử lí chất thải chăn nuôi cũng như công tác quản lí môi trường trong chăn nuôi tại Hoài Đức từ đó đề xuất giải pháp phù hợp trong quản lý môi trường chăn nuôi, góp phần giảm thiểu ô nhiễm
Trang 93
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Thực trạng phát triển ngành chăn nuôi Việt Nam
Việt Nam là nước có nền kinh tế nông nghiệp lâu đời với hai ngành truyền thống là trồng trọt và chăn nuôi Sản lượng lương thực tăng nhanh trong thời gian gần đây đưa Việt Nam từ một nước thiếu lương thực vào những năm 1980 trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 - 3 Thế giới Sản xuất lương thực đạt sản lượng cao đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, gia cầm và đưa chăn nuôi phát triển nhanh và ổn định
Hiện nay nhu cầu thực phẩm trong điều kiện dân số tăng và đời sống ngày càng được nâng cao đã và đang đặt ra cho các nhà quản lý nông nghiệp phải nhanh chóng hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp Trong khi diện tích dành cho sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm do phát triển đô thị, công nghiệp, giao thông và các công trình dịch vụ khác, phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung, nâng cao quy mô là xu thế tất yếu nhằm nâng cao năng suất
và chất lượng thịt, trứng, sữa cung cấp cho nhân dân và cho xuất khẩu
Theo thống kê của Cục Chăn nuôi (Bộ NN-PTNT) năm 2013[9]:
Chăn nuôi trâu: tổng số trâu của cả nước năm 2013 khoảng 2,56 triệu con
Đàn trâu chủ yếu được nuôi nhiều ở các tỉnh miền núi và trung du với khoảng 1,4 triệu con (chiếm 55,6% của cả nước), vùng đồng bằng đàn trâu chiếm tỷ lệ thấp và có xu hướng giảm dần do diện tích chăn thả thu hẹp và cơ giới hóa trong nông nghiệp ngày càng cao
Chăn nuôi lợn: Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống của nông dân và là ngành
chăn nuôi chủ yếu ở nước ta Theo kết quả điều tra 1/10/2013 của Tổng cục Thống kê, cả nước có 26,3 triệu con lợn; đàn lợn nái có 3,9 triệu con Sản
Trang 104
lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 3,3 triệu tấn tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước Đàn lợn vẫn được nuôi chủ yếu theo phương thức bán thâm canh trong nông hộ (90 - 95%) với quy mô nhỏ (3- 5 con/hộ), số hộ nuôi quy mô lớn hơn
từ 6 con trở lên chỉ chiếm 1,8% Một tỷ lệ nhỏ đàn lợn (5- 10%) được nuôi trong
các trang trại theo phương thức thâm canh (công nghiệp) [9]
Chăn nuôi gia cầm: Tổng số gia cầm của cả nước năm 2013 ước đạt 314,7
triệu con, tăng 2,04%; trong đó gà có 231,8 triệu con, tăng 3,6% so với năm
2012
Những năm gần đây, nhiều chính sách của Đảng và Chính phủ về phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã đi vào thực tiễn cuộc sống, có những tác dụng tích cực giúp ổn định và phát triển chăn nuôi, trong đó những thành tựu nổi bật đó là:
- Cải tạo nâng cao tầm vóc đàn bò vàng Việt Nam đáp ứng nhu cầu đàn cái nền cho lai tạo nhân giống bò sữa, bò thịt; các giống lợn, giống gia cầm đã được cải tiến, nâng cao chất lượng đáng kể trong sản xuất
- Cơ cấu chăn nuôi đang chuyển dịch dần sang hướng trang trại và công nghiệp;
- Bước đầu hình thành ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi
và chế biến sữa đạt trình độ, công nghệ tiên tiến;
- Năng suất và tăng trưởng ngành chăn nuôi trong những năm qua luôn tăng cao năm sau so với năm trước đáp ứng về cơ bản nhu cầu thực phẩm (thịt, trứng) cho tiêu dùng trong nước
1.2 Chi n lược phát triển chăn nuôi n năm 2020 [ 9]
Theo Quyết định phê duyệt của Chính phủ về định hướng phát triển chăn nuôi đến 2020, “chăn nuôi sẽ được thay đổi cơ bản theo hướng công nghiệp có năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao; kiểm soát
Trang 115
được dịch bệnh và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; đáp ứng đủ nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và hướng tới xuất khẩu”, “nâng cao tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp: đạt 32% vào năm 2010; 38% năm 2015 và 42% năm 2020”
Tất cả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước là điểm tựa vững chắc giúp ngành chăn nuôi có cơ sở pháp lý để phát triển trong thời hội nhập
1.3 Chăn nuôi và v n môi trường
Bên cạnh lợi ích kinh tế mang lại, thì chăn nuôi cũng đang nảy sinh nhiều vấn đề về chất lượng môi trường, đe dọa sức khỏe của cộng đồng dân
cư địa phương và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ sinh thái tự nhiên mà nguyên nhân chính là do sự phát triển không bền vững của ngành chăn nuôi, cộng với công tác quản lý và xử lí chất thải chăn nuôi còn yếu kém
1.3.1 Ch t thải chăn nuôi
1.3.1.1 Khối lượng ch t thải
Hàng ngày, gia súc và gia cầm thải ra một lượng phân và nước tiểu rất lớn Khối lượng phân và nước tiểu được thải ra có thể chiếm từ 1,5 – 6% khối lượng cơ thể gia súc Thống kê cho thấy trung bình bò thải ra 15 kg chất thải/con/ngày; lợn thải 1,5 - 2,5 kg chất thải/con/ngày và gia cầm thải 100 -
120 g chất thải/con/ngày.[4]
Khối lượng chất thải chăn nuôi tùy thuộc vào giống, độ tuổi, giai đoạn phát triển, khẩu phần thức ăn và thể trọng gia súc và gia cầm Riêng đối với gia súc, lượng phân và nước tiểu tăng nhanh theo quá trình tăng thể trọng Nếu tính trung bình theo khối cơ thể thì lượng phân thải ra mỗi ngày của vật nuôi rất cao, nhất là đối với gia súc cao sản
Ngoài phân và nước tiểu, lượng thức ăn thừa, ổ lót, xác súc vật chết, các vật dụng chăm sóc, nước tắm gia súc và vệ sinh chuồng nuôi cũng đóng góp đáng kể làm tăng khối lượng chất thải Lượng nước sử dụng cho lợn vào khoảng 100 lit/con/ngày, chủ yếu là tắm rửa cho lợn và vệ sinh chuồng trại.[4]
Trang 126
1.3.1 2 Thành phần ch t thải chăn nuôi [4]
Chất thải chăn nuôi là một tập hợp phong phú bao gồm các chất ở tất cả các dạng rắn, lỏng hay khí phát sinh trong quá trình chăn nuôi, lưu trữ, chế biến hay sử dụng chất thải Các chất thải chăn nuôi được phát sinh chủ yếu từ:
- Chất thải của bản thân gia súc, gia cầm như phân, nước tiểu, lông, vảy
da và các phủ tạng loại thải của gia súc, gia cầm
- Nước thải từ quá trình tắm gia súc, rửa chuồng hay rửa dụng cụ và thiết bị chăn nuôi, nước làm mát hay từ các hệ thống dịch vụ chăn nuôi…
- Thức ăn thừa, các vật dụng chăn nuôi, thú y bị loại ra trong quá trình chăn nuôi
- Các chất hữu cơ gồm các chất protein, carbonhydrate, chất béo và các sản phẩm trao đổi của chúng
- Các chất vô cơ bao gồm các hợp chất khoáng (đa lượng, vi lượng)
Trang 13 Nước tiểu
Nước tiểu gia súc là sản phẩm bài tiết của con vật, chứa đựng nhiều độc
tố, là sản phẩm cặn bã từ quá trình sống của gia súc, khi phát tán vào môi trường có thể chuyển hoá thành các chất ô nhiễm gây tác hại cho con người
và môi trường Thành phần chính của nước tiểu là nước, chiếm 99% khối lượng Ngoài ra một lượng lớn nitơ (chủ yếu dưới dạng urê) và một số chất khoáng, các hormone, creatin, sắc tố, axít mật và nhiều sản phẩm phụ của quá trình trao đổi chất của con vật
Trong tất cả các chất có trong nước tiểu, urê là chất chiếm tỷ lệ cao và
dễ dàng bị vi sinh vật phân hủy trong điều kiện có oxy tạo thành khí amoniac gây mùi khó chịu Amoniac là một khí rất độc và thường được tạo ra rất nhiều
từ ngay trong các hệ thống chuồng trại, nơi lưu trữ, chế biến và trong giai đọan sử dụng chất thải Tuy nhiên nếu nước tiểu gia súc được sử dụng hợp lý hay bón cho cây trồng thì chúng là nguồn cung cấp dinh dưỡng giàu nitơ, photpho và các yếu tố khác ở dạng dễ hấp thu cho cây trồng
Nước thải
Nước thải chăn nuôi là hỗn hợp bao gồm cả nước tiểu, nước tắm gia súc, rửa chuồng Nước thải chăn nuôi còn có thể chứa một phần hay toàn bộ lượng phân được gia súc, gia cầm thải ra Nước thải là dạng chất thải chiếm khối lượng lớn nhất trong chăn nuôi Theo khảo sát của Trương Thanh Cảnh
và ctv (2006) [3] trên gần 1.000 trại chăn nuôi heo qui mô vừa và nhỏ ở một
số tỉnh phía Nam cho thấy hầu hết các cơ sở chăn nuôi đều sử dụng một khối
Trang 148
lượng lớn nước cho gia súc Cứ 1 kg chất thải chăn nuôi do lợn thải ra được pha thêm với từ 20 đến 49 kg nước Lượng nước lớn này có nguồn gốc từ các hoạt động tắm cho gia súc hay dùng để rửa chuồng nuôi hàng ngày… Việc xử dụng nước tắm cho gia súc hay rửa chuồng làm tăng lượng nước thải đáng kể, gây khó khăn cho việc thu gom và xử lý nước thải sau này Thành phần của nước thải rất phong phú, chúng bao gồm các chất rắn ở dạng lơ lửng, các chất hòa tan hữu cơ hay vô cơ, trong đó nhiều nhất là các hợp chất chứa nitơ và photpho Nước thải chăn nuôi còn chứa rất nhiều vi sinh vật, ký sinh trùng, nấm, nấm men và các yếu tố gây bệnh sinh học khác Do ở dạng lỏng và giàu chất hữu cơ nên khả năng bị phân hủy vi sinh vật rất cao Chúng có thể tạo ra các sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm cho cả môi trường đất, nước và không khí
Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải phụ thuộc vào thành phần của phân, nước tiểu gia súc, lượng thức ăn rơi vãi, mức độ và phương thức thu gom (số lần thu gom, vệ sinh chuồng trại và có hốt phân hay không hốt phân trước khi rửa chuồng), lượng nước dùng tắm gia súc và vệ sinh chuồng trại…
bị bệnh hay chết do bị bệnh phải được thiêu hủy hay chôn lấp theo các quy định về thú y Chuồng nuôi gia súc bị bệnh, chết phải được khử trùng bằng vôi hay hóa chất chuyên dùng trước khi dùng để nuôi tiếp gia súc Trong điều
Trang 159
kiện chăn nuôi phân tán, nhiều hộ gia đình vứt xác chết vật nuôi bị chết do bị dịch ra hồ ao, cống rãnh, kênh mương… đây là nguồn phát tán dịch bệnh rất nguy hiểm
Thức ăn thừa, ổ lót chuồng và các ch t thải khác
Trong các chuồng trại chăn nuôi, người chăn nuôi thường dùng rơm, rạ hay các chất độn khác,… để lót chuồng Sau một thời gian sử dụng, những vật liệu này sẽ được thải bỏ đi Loại chất thải này tuy chiếm khối lượng không lớn, nhưng chúng cũng là một nguồn gây ô nhiễm quan trọng, do phân, nước tiểu các mầm bệnh có thể bám theo chúng Vì vậy, chúng cũng phải được thu gom và xử lý hợp vệ sinh, không được vứt bỏ ngoài môi trường tạo điều kiện cho chất thải và mầm bệnh phát tán vào môi trường
Ngoài ra, thức ăn thừa, thức ăn bị rơi vãi cũng là nguồn gây ô nhiễm,
vì thức ăn chứa nhiều chất dinh dưỡng dễ bị phân hủy trong môi trường tự nhiên Khi chúng bị phân hủy sẽ tạo ra các chất kể cả chất gây mùi hôi, gây ô nhiễm môi trường xung quanh, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của gia súc và sức khỏe con người
Vật dụng chăn nuôi, bệnh phẩm thú y
Các vật dụng chăn nuôi hay thú y bị loại bỏ như bao bì, kim tiêm, chai
lọ đựng thứa ăn, thuốc thú y,… cũng là một nguồn quan trọng dễ gây ô nhiễm môi trường Đặc biệt các bệnh phẩm thú y, thuốc khử trùng, bao bì đựng thuốc có thể xếp vào các chất thải nguy hại cần phải có biện pháp xử lý như chất thải nguy hại
Kh thải
Chăn nuôi là một ngành sản xuất tạo ra nhiều loại khí thải nhất Có tới trên 170 chất khí có thể sinh ra từ chăn nuôi, điển hình là các khí CO2, CH4, NH3, NO2, N2O, NO, H2S, …và hàng loạt các khí gây mùi khác Hầu hết các khí thải chăn nuôi có thể gây độc cho gia súc, cho con người và môi trường
Trang 1610
Ở những khu vực chăn nuôi có chuồng trại thông thóang kém thường
dễ tạo ra các khí độc ảnh hưởng trực tiếp, gây các bệnh nghề nghiệp cho công nhân chăn nuôi và ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân xung quanh khu vực chăn nuôi Trừ khi chất thải chăn nuôi được thu gom sớm, lữu trữ và xử lý hợp quy cách, ở điều kiện bình thường, các chất bài tiết từ gia súc , gia cầm như phân và nước tiểu nhanh chóng bị phân giải tạo ra hàng lọat chất khí có khả năng gây độc cho người và vật nuôi nhất là các bệnh về đường hô hấp, bệnh về mắt, tổn thương các niêm mạc, gây ngạt thở, xẩy thai và ở trường hợp nặng có thể gây tử vong
Ti ng ồn
Tiếng ồn trong chăn nuôi thường gây nên bởi hoạt động của gia súc, gia cầm hay tiếng ồn sinh ra từ họat động của các máy công cụ sử dụng trong chăn nuôi Trong chăn nuôi, tiếng ồn chỉ xảy ra ở một số thời điểm nhất định (thường là ở thời gian cho gia súc, gia cầm ăn) Tuy nhiên tiếng ồn từ gia súc gia cầm là những âm thanh chói tai, rất khó chịu, đặc biệt là trong những khu chuồng kín Người tiếp xúc với dạng tiếng ồn này kết hợp với bụi và các khí độc ở nồng độ cao trong chuồng nuôi hay khu vực xung quanh rất dễ rơi vào tình trạng căng thẳng dẫn tới ảnh hưởng tới trạng thái tâm lý, sức khỏe và sức
đề kháng với bệnh tật Ngoài ra tiếng ồn quá lớn còn có thể gây nên hiện tựơng điếc tạm thời hay mất hẳn thính giác sau một thời gian dài tiếp súc với tiếng ồn
1.3.2 Ô nhiễm do chăn nuôi
Hầu hết các nghiên cứu về ô nhiễm môi trường do chăn nuôi tại các địa phương khác nhau, trên các mô hình chăn nuôi khác nhau và đối tượng vật nuôi khác nhau [1][2][5] đều có chung một số nhận xét:
- Việc phát triển chăn nuôi đã kéo theo sự gia tăng về mức độ ô nhiễm môi trường ở các vùng nông thôn Phát triển sản xuất chăn nuôi với qui mô
Trang 1711
ngày càng lớn, với mật độ nuôi cao có thể gây ô nhiễm từ bên trong chuồng trại, ô nhiễm từ hệ thống lưu trữ chất thải và ô nhiễm từ nguồn nước thải sinh
ra trong việc dội chuồng và tắm rửa gia súc
- Trang trại, gia trại và hàng vạn hộ chăn nuôi nhỏ lẻ đã trở thành tâm điểm về tình trạng ô nhiễm môi trường
- Sự ô nhiễm đất, không khí và nguồn nước do các chất thải chăn nuôi
đã làm ảnh hưởng đáng kể tới hệ sinh thái và sức khoẻ con người
- Đặc biệt nguy hiểm ô nhiễm môi trường về vi sinh vật (các mầm bệnh truyền nhiễm) làm phát sinh các loại dịch bệnh như ỉa chảy, lở mồm long móng, tai xanh, cúm gia cầm H5N1
- Chăn nuôi là một trong những nguồn gây ô nhiễm lớn nhất Chăn nuôi
sử dụng tới 70% diện tích đất giành cho nông nghiệp hoặc 30% diện tích bề mặt của hành tinh Trên toàn cầu, có 4 nguồn phát thải lớn nhất khí nhà kính:
sử dụng năng lương hóa thạch, sản xuất công nghiệp, chăn nuôi (bao gồm cả
sử dụng phân bón từ chăn nuôi) và khí sinh ra từ công nghiệp lạnh Chăn nuôi sản sinh ra tới 18% tổng số khí nhà kính của thế giới tính quy đổi theo CO2, trong khi đó ngành giao thông chỉ chiếm 13,5% Chăn nuôi sinh ra 65% tổng lượng NO, 37% tổng lượng CH4 hay 64% tổng lượng NH3 do họat động của loài người tạo nên Chăn nuôi đóng góp đáng kể đến việc làm tăng nhiệt độ trái đất do sản sinh các khí gây hiệu ứng nhà kính như CH4, CO2, NH3…, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sản xuất, sinh hoạt và biến đổi khí hậu toàn cầu.[7]
1.4 Quản l môi trường chăn nuôi
Cục Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT vừa đưa ra con số đáng lo ngại khi tổng khối lượng chất thải chăn nuôi từ gia súc, gia cầm thải ra môi trường hàng năm khoảng 73 triệu tấn, còn 90% khối lượng chất thải rắn trong sản xuất nông nghiệp chưa được xử lý, thải ra môi trường hàng năm nhưng vẫn chưa có phương án xử lý triệt để nguồn ô nhiễm này [2]
Trang 1812
Hiện tại Việt Nam có gần 9 triệu hộ chăn nuôi quy mô gia đình và khoảng 18 ngàn trang trại chăn nuôi tập trung nhưng chỉ có 8,7% hộ xây dựng hầm biogas và chỉ có 0,6% số hộ gia đình cam kết bảo vệ môi trường
Về phía các trang trại chăn nuôi tập trung, mặc dù phần lớn đã có hệ thống xử lý chất thải nhưng hiệu quả xử lý chưa triệt để, số trang trại chăn nuôi có hệ thống xử lý chất thải bằng biogas khoảng 67%; số trang trại có đánh giá tác động môi trường chiếm chưa đầy 14%; 37,2% hộ chăn nuôi thâm canh và 36,2% chăn nuôi thời vụ không có biện pháp xử lý chất thải [2]
Tình trạng trên đã gây ra ô nhiễm nghiêm trọng môi trường đất, nước, không khí ở nông thôn Trong khi đó, quản lý Nhà nước về môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi còn thiếu và sự phân công, phân cấp trách nhiệm chưa rõ ràng, thiếu hợp lý, thiếu số lượng và hạn chế về năng lực Nhận thức của các cấp, ngành, địa phương và toàn xã hội nói chung về tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi chưa đầy đủ và đúng mức
Trang 1913
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2 1 Đối tượng nghiên cứu
- Môi trường chăn nuôi
- Công tác quản lí chất thải, quản lí môi trường trong chăn nuôi
2 2 Nội dung nghiên cứu
- Tình hình phát triển chăn nuôi huyện Hoài Đức
- Thực trạng quản lí và xử lí chất thải chăn nuôi tại Hoài Đức
- Công tác quản lí môi trường trong chăn nuôi tại Hoài Đức
- Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lí môi trường trong chăn nuôi
2 3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra tại thực địa kết hợp phỏng vấn Tiến hành điều tra bằng bảng câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn phù hợp với mục tiêu nghiên cứu
- Ngoài ra, phương pháp thảo luận nhóm với các đối tượng khác nhau (người chăn nuôi, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lí ở địa phương, ) cũng đã được tiến hành để thu thập thông tin, số liệu nghiên cứu
Trang 2014
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3 1 Tình hình phát triển chăn nuôi của huyện Hoài Đức
3 1 1 Tác ộng của i u kiện tự nhiên - kinh t - xã hội n phát triển chăn nuôi
Hoài Đức là huyện nằm phía Tây Hà Nội, cách trung tâm thủ đô khoảng 16km, có 8.245,16ha đất tự nhiên (đất nông nghiệp 4.820,21ha); dân
số khoảng 175.000 người (khoảng 105.000 người trong độ tuổi lao động), giáp các huyện Từ Liêm, Quốc Oai, Chương Mỹ, Đan Phượng và Phúc Thọ Với tổng số 20 xã, thị trấn, Hoài Đức có 40.960 hộ gồm 171.440 nhân khẩu (98.872 người trong độ tuổi lao động), trong đó có 18.471 hộ sinh sống bằng phát triển nông nghiệp, thủy sản, chiếm 18,68%.[8]
Là huyện nằm tiếp giáp với đại lộ Thăng Long, quốc lộ 32, tuyến đường sắt và nhiều tỉnh lộ chạy qua đó là những điều kiện hết sức thuận lợi
để Hoài Đức tập trung phát triển kinh tế Hoài Đức có nhiều dự án đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị nên diện tích đất nông nghiệp đang dần
bị thu hẹp lại Trong hoàn cảnh đó, việc chuyển dịch cơ cấu theo hướng hàng hóa, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đang là hướng đi hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp của huyện Mặc dù diện tích đất nông nghiệp không lớn, song với lợi thế về thị trường tiêu thụ sản phẩm và lợi thế về nguồn phụ phẩm chế biến nông sản rất dồi dào, chăn nuôi của huyện Hoài Đức phát triển mạnh Nhiều xã đã phát huy lợi thế đồng đất và ngành nghề chế biến nông sản để phát triển mạnh đàn gia súc, gia cầm như Cát Quế, Dương Liễu, Yên Sở, Tiền Yên
3 1 2 Thực trạng phát triển chăn nuôi huyện Hoài Đức
Huyện Hoài Đức có nhiều làng nghề trồng rau màu, chế biến nông sản thực phẩm như: Dương Liễu, Cát Quế, Minh Khai, Tiền Yên những phụ
Trang 2115
phẩm từ làng nghề được các hộ dân tận dụng làm thức ăn chăn nuôi Bên cạnh
đó, người dân vốn có kinh nghiệm lại rất năng động mở rộng thị trường tiêu thụ trong địa phương và các vùng lân cận Với những lợi thế đó nên chăn nuôi được huyện Hoài Đức phát triển mạnh, thu nhập từ chăn nuôi đã góp phần nâng cao đời sống của nhân dân
Theo số liệu của Trung tâm phát triển chăn nuôi gia súc lớn thuộc Sở NN- PTNT Hà Nội [11], chăn nuôi gia súc, gia cầm toàn huyện thời điểm tháng 4 năm 2014 như sau:
Trang 22Số hộ Trong ó cơ c u từng loại gồm Tổng số
(con)
Số hộ Trong ó bao gồm lợn nái
(con)
lợn
ực giống (con)
lợn khác (con)
Gà Vịt, ngan ngỗng
Số lƣợng nuôi hộ
>10 con
Số lƣợng Nuôi Hộ
>100 (con)
Số lƣợng (con)
Số hộ Hộ
Nuôi
>500 con
Số lƣợng (con)
Số
hộ
Số hộ Nuôi
> 500 con
Trang 2418
Nhƣ vậy:
Có 2.421 hộ chăn nuôi lợn, với tổng đàn 36.684 con Trong đó:
- Đàn lợn nái: 1.714 con Có 29 hộ nuôi trên 10 con
- Đàn lợn thịt: 34.970 con Có 83 hộ nuôi trên 100 con
Đàn gia cầm đƣợc nuôi trong 7.247 hộ, với tổng đàn 291.800 con Trong đó:
- Gà có 7179 hộ nuôi với 267.100 con Có 60 hộ nuôi trên 500 con
- Vịt, ngan, ngỗng có 78 hộ nuôi với quy mô 24.700 con Có 16 hộ nuôi trên
500 con