1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân tố mỹ trong sự phát triển kinh tế của hàn quốc thời kỳ 1948 1991

93 1,3K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 627,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương là một trong những khu vực mà Mỹ đặc biệt quan tâm trong nỗ lực nhằm ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản tại khu vực Đông Bắc Á, ngoài Nhật Bản, Hàn Quốc trở t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA LỊCH SỬ

*********

NGUYỄN THỊ HÀ

NHÂN TỐ MỸ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN

KINH TẾ CỦA HÀN QUỐC

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên của tôi nên chắc chắn không tránh

khỏi những hạn chế Để có thể hoàn thành được công trình nghiên cứu này,

ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp nhiệt tình của Thạc sĩ Nguyễn Thị Nga Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn đến cô Người đã dìu dắt

tôi trên con đường tập dượt nghiên cứu khoa học của mình Bên cạnh đó cũng cho phép tôi được gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong quá trình làm khoa học, để tôi hoàn thành đề tài khóa luận của mình

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử đã cung cấp cho tôi những kiến thức trong quá trình học tập tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2014

Tác giả khoá luận

Nguyễn Thị Hà

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và sự hướng dẫn

của Thạc sĩ Nguyễn Thị Nga Các số liệu, kết quả trong khóa luận là hoàn toàn

trung thực

Tôi xin cam đoan những điều trên đây là đúng sự thật

Hà Nội, Ngày 25 tháng 04 năm 2014

Tác giả khoá luận

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của khóa luận 6

6 Bố cục của khóa luận 7

NỘI DUNG Chương 1 SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀN QUỐC 1948 – 1991 8

1.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ 8

1.1.1 Bối cảnh quốc tế 8

1.1.2 Tình hình trong nước 11

1.2 TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI, VĂN HÓA 13

1.2.1 Tình hình chính trị - xã hội 13

1.2.2 Văn hóa - giáo dục 18

1.3 SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀN QUỐC THỜI KỲ 1948 – 1991 20

1.3.1 Chính sách phát triển kinh tế Hàn Quốc 1948 – 1991 21

1.3.1.1 Chính sách phát triển công nghiệp 21

1.3.1.2 Chính sách phát triển nông nghiệp 24

1.3.1.3 Chính sách tài chính tiền tệ 27

1.3.1.4 Chính sách kinh tế đối ngoại 28

1.3.1.5 Chính sách đào tạo nguồn nhân lực 34

Trang 5

1.3.2 Các giai doạn phát triển kinh tế 37

1.3.2.1 Giai đoạn 1953-1961: Phát triển công nghiệp dựa vào thị trường nội địa thông qua chiến lược thay thế nhập khẩu 37

1.3.2.2 Giai đoạn 1962-1971: Phát triển kinh tế hướng vào xuất khẩu 39

1.3.2.3 Phát triển công nghiệp nặng và hóa chất (1972-1979) 41

1.3.2.4 Điều chỉnh cơ cấu, tự do hóa nền kinh tế và bước đầu thực hiện chính sách “kinh tế mới” và “toàn cầu hóa”(1980 -1991) 42

1.3.3 Nguyên nhân của sự phất triển kinh tế Hàn Quốc 44

Chương 2 VAI TRÒ CỦA MỸ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA HÀN QUỐC TỪ NĂM 1948 ĐẾN 1991 50

2.1 CHÍNH SÁCH TÌM KIẾM ĐỒNG MINH CỦA MỸ Ở KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG TRONG THỜI KỲ CHIẾN TRANH 50

2.2 HÀN QUỐC TRỞ THÀNH ĐỒNG MINH QUAN TRỌNG CỦA MỸ 55 2.3 VIỆN TRỢ KINH TẾ CỦA MỸ CHO HÀN QUỐC 55

2.3.1 Mục đích của việc viện trợ và nhận viện trợ 55

2.3.1.1.mục đích chính trị 55

2.3.1.2 Mục đích kinh tế 57

2.3.2 Hình thức viện trợ 58

2.3.3 Quá trình viện trợ 58

2.3.3.1 Viện trợ và nhận viện trợ 58

2.3.3.2 Cắt giảm viện trợ chuyển sang hình thức cho vay 63

2.3.4 Đầu tư của Mỹ vào Hàn Quốc 65

2.4 NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ 70

2.5 SO SÁNH VỚI SỰ VIỆN TRỢ CỦA MỸ CHO NHẬT BẢN 72

Trang 6

2.6 BÀI HỌC KINH NGHIỆM NGHIỆM Về VIỆC THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VIỆN TRỢ TỪ NƯỚC NGOÀI ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT

NƯỚC 75

2.6.1 Đối với Hàn Quốc 75

2.6.2 Đối với Việt Nam 78

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc thế giới bước vào thời kỳ mới, một thời

kỳ quan hệ quốc tế diễn ra căng thẳng, phức tạp, đó là thời kỳ đối đầu giữa hai phe, hai lực lượng trên thế giới, đó là thời kỳ Chiến tranh lạnh Là một đất nước chịu ảnh hưởng trực tiếp, cũng là biểu hiện rõ nét nhất của cuộc Chiến tranh lạnh - Bán đảo Triều Tiên, với sự chia cắt đất nước sau Chiến tranh thế giới thứ hai và sự thành lập hai nhà nước với hai chế độ chính trị đối lập nhau, cho đến nay mặc dù Chiến tranh lạnh đã chấm dứt hơn hai thập kỷ tuy nhiên tình trạng chia cắt trên bán đảo Triều Tiên vẫn còn tồn tại với những diễn biến phức tạp

Thực hiện tham vọng bá chủ thế giới của mình, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ đã phát động cuộc Chiến tranh lạnh, ráo riết chạy đua vũ trang và thiết lập quan hệ với nhiều khu vực, nhiều nước trên thế giới cũng như biến những nước này thành đồng minh, hay thuộc địa kiểu mới của mình để dễ dàng đạt được mưu đồ

“bá chủ thế giới” Khu vực châu Á - Thái Bình Dương là một trong những khu vực

mà Mỹ đặc biệt quan tâm trong nỗ lực nhằm ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản tại khu vực Đông Bắc Á, ngoài Nhật Bản, Hàn Quốc trở thành một đồng minh thân Mỹ trong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh, quan hệ giữa hai nước được thể hiện trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực bao gồm chính trị, kinh tế, quân sự trong đó lĩnh vực kinh tế được chú ý quan tâm

Sau chiến tranh, Triều Tiên thoát khỏi sự chiếm đóng của Nhật Bản 1945), tuy nhiên lại chịu sự chia cắt đất nước và hai miền Nam - Bắc lại chịu sự tiếp quản của hai siêu cường Xô - Mỹ theo những điều khoản mà hai nước ký trước

(1910-đó và đến năm 1948 trên bán đảo Triều Tiên đã ra đời hai nhà nước là Đại Hàn Dân Quốc và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Khi mới ra đời Hàn Quốc gặp rất

Trang 8

nhiều khó khăn, nằm ở phía Nam của bán đảo, cơ sở kinh tế còn lại từ Nhật Bản không còn nhiều, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp truyền thống đã lạc hâu thêm vào đó lại nghèo tài nguyên, dân số lại đông càng làm cho xã hội thêm bất ổn, cuối thập niên 40 và những năm đầu của thập niên 50 thế kỷ XX, kinh tế Hàn Quốc thuộc diện kém phát triển nhất khu vực và trên thế giới Tuy nhiên chỉ sau vài thập

kỷ sau đó kinh tế Hàn Quốc đã trỗi dậy phát triển mạnh mẽ trở thành một trong bốn con rồng ở châu Á Có được thành quả này chính là nỗ lực của nhà nước cũng như của nhân dân Hàn Quốc trong công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế

Nền kinh tế Hàn Quốc thế kỷ XX phát triển vượt bậc đến như vậy là do rất nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, trong tất cả những nhân tố ấy vai trò của Mỹ luôn được khẳng định và là một trong những nhân tố hàng đầu thúc đẩy kinh tế Hàn Quốc phát triển, Mỹ đóng vai trò như nhân tố không thể thiếu từ khi nền kinh tế Hàn Quốc khó khăn cũng như thời kỳ phát triển sau đó

Quan hệ kinh tế Mỹ - Hàn xuất phát từ nhiều lợi ích khác nhau từ cả hai phía

Mỹ và Hàn Quốc Hàn Quốc đóng vai trò là đồng minh thân cận, một căn cứ để Mỹ gây sức ảnh hưởng của mình tại khu vực cũng như mong muốn của Mỹ muốn biến Hàn Quốc trở thành thuộc địa kiểu mới của mình Ngược lại, để thoát khỏi hoàn cảnh hiểm nghèo Hàn Quốc cũng muốn dựa vào Mỹ như một điểm tựa vững chắc

để đứng vững cả về kinh tế cũng như về chính trị và quân sự

Với tất cả những lý do trên, người viết đã lựa chọn vấn đề “Nhân tố Mỹ trong sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc thời kỳ 1948-1991” làm đề tài khóa

luận tốt nghiệp của mình Với đề tài này tôi mong muốn làm sáng tỏ hơn quan hệ kinh tế giữa Mỹ và Hàn Quốc, vai trò của Mỹ với nền kinh tế Hàn Quốc qua các

Trang 9

thời kỳ khác nhau Ngược lại nền kinh tế Hàn Quốc có tác động trở lại đối với Mỹ như thế nào

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Nghiên cứu trong nước

Từ trước đến nay có không nhiều học giả nghiên cứu về vấn đề này, chưa có một công trình trong nước nào nghiên cứu sâu về vai trò của Mỹ đối với sự phát triển kinh tế giai đoạn 1948-1991, vấn đề này chỉ được nhắc tới trong các cuốn sách viết về sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc và một số tạp chí chuyên ngành khác

Công trình đầu tiên được người viết được nhắc tới đó là cuốn “Hàn Quốc Câu chuyện kinh tế về một con rồng”, đây là một công trình nghiên cứu một cách toàn

diện, tổng thể về nền kinh tế Hàn Quốc thông qua các chặng đường phát triển Đồng thời tác giả Nguyễn Hữu Lân đã đê cập tới vai trò của Mỹ trong sự phát triển kinh tế Hàn Quốc tại những thời kỳ nó có ý nghĩa quan trọng không thể thiếu trong tiến trình xây dựng đất nước Hàn Quốc Tuy chưa nghiên cứu sâu sắc về vấn đề này nhưng tác giả cũng đã cung cấp những kiến thức cơ bản khách quan để người đọc

có thể tham khảo và đi sâu vào nghiên cứu vấn đề này

Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên đây, trong tạp chí nghiên cứu

Đông Bắc Á, số 1, tháng 1/2007, bài viết “Quan hệ viện trợ, đầu tư phát giữa Mỹ

và Hàn Quốc giai đoạn 1948-1979”, đây là giai đoạn mà nhân tố Mỹ giữ vai trò rất

rõ nét và chủ đạo nhất trong nền kinh tế Hàn Quốc, nó giúp cho nền kinh tế Hàn Quốc khôi phục đứng vững và phát triển

Bên cạnh đó còn có trong Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 6 (76), tháng

6-2007 Bài viết “Tổng quan về quan hệ Hàn- Mỹ” của tác giả Bùi Thị Kim Huệ

viết về Lịch sử quan hệ Mỹ- Hàn từ trước năm 1948 đến nay Trong công trình này người viết đã trình bày về lịch sử mối quan hệ Hàn Quốc và Mỹ trên nhiều lĩnh vực

Trang 10

khác nhau về kinh tế, chính trị và quân sự Trong đó khía cạnh kinh tế được tác giả

đi sâu và nhấn mạnh xuyên suốt trong suốt thời kỳ từ trước năm 1882 đến nay, trong đó quan hệ hai nước trải qua nhiều giai đoạn, ở mỗi giai đoạn lại có những thăng trầm khác nhau và vai trò của Mỹ đối với Hàn và vai trò của Hàn Quốc đói với Mỹ cũng có những bước chuyển biến tương ứng với giai đoạn đó

Ngoài ra trong tạp chí châu Mỹ ngày nay, số 6 năm 1997, tác giả Vũ Đăng

Hinh đã đăng bài viết “Quan hệ kinh tế Mỹ- Hàn Quốc từ năm 1950 đến những năm 1970”, trong công trình này nhà nghiên cứu cũng đã trình bày khá đầy đủ và

rõ nét về mối quan hệ kinh tế giữa Hàn Quốc và Mỹ trong suốt ba thập kỷ Đây cũng là giai đoạn nền kinh tế Hàn Quốc từng bước trỗi dậy phát triển nhanh chóng vươn lên trở thành một cường quốc kinh tế trong khu vực nhân tố Công trình giúp người nghiên cứu có thể đi sâu tìm hiểu rõ hơn về quan hệ kinh tế giữa Hàn Quốc

và Mỹ

2.2 Nghiên cứu ở nước ngoài

Mối quan hệ giữa Hàn Quốc và Mỹ được rất nhiều học giả nước ngoài quan tâm và nghiên cứu, trong công trình nghiên cứu của mình người viết có tìm

hiểu một số tác phẩm sau:

Trước hết phải kể đến công trình “Kinh tế Hàn Quốc đang trỗi dậy” do giáo

sư tiến sĩ Byung Nak Song viết, cuốn sách do ban nghiên cứu Hàn Quốc tại Việt Nam và bao gồm nhiều cơ quan, nhiều cá nhân dịch và biên soạn, bản tiếng Việt do NXB Thống kê xuất bản Đây là công trình nghiên cứu rất công phu, đề cập đến nhiều khía cạnh của nền kinh tế Hàn Quốc trong những năm nửa cuối thế kỷ XX Trong cuốn sách này tác giả đã cung cấp cho người đọc một bức tranh toàn diện về nền kinh tế Hàn Quốc, tác giả đã nhấn mạnh đến nhiều yếu tố khác nhau dẫn đến sự thành công của nền kinh tế Hàn Quốc lúc bấy giờ, trong các nhân tố ấy vai trò của

Trang 11

kinh tế đối ngoại đặc biệt là đối với Mỹ có vai trò và ảnh hưởng nhiều nhất, được người viết trình bày khá toàn diện, sâu sắc trên nhiều phương diện, nhiều mặt khác nhau để cho người đọc có thể nhận thấy vai trò và ảnh hưởng của Mỹ đối với sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc

Công trình thứ hai người viết có đề cập đến là cuốn “After on hundrea yeaes: continuity and change in Korean - American Reloation Asiatic Research center

korea university” của tác giả Sun yoo Han, đây là công trình viết khá rõ nét vễ

quan hệ Mỹ - Hàn, trong đó trình bày khá sâu sắc và toàn diện về quan hệ trên lĩnh vực kinh tế giữa hai nước, công trình này cung cấp những nguồn tài liệu hết sức chi tiết và cụ thể cho người viết có thể hoàn thiện những nghiên cứu của mình

Ngoài ra, để thực hiện được những nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra, người viết còn tham khảo nhiều bài viết trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành, các website tin cậy Từ đó người viết có được nguồn tư liệu phong phú nhằm phục vụ cho những nghiên cứu, đánh giá của mình trong quá trình thực hiện đề tài

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Hàn Quốc là một quốc gia điển hình xuất hiện do những diễn biến của cuộc Chiến tranh lạnh Từ một quốc gia nghèo nàn và bị ảnh hưởng nặng nề bởi các cuộc

chiến tranh Hàn Quốc đã nhanh chóng trở thành một “hiện tượng” về sự phát triển

thần kỳ ở châu Á Đằng sau những thành công rực rỡ đó là rất nhiều những nhân tố chủ quan và khách quan Một trong số đó chính là nhân tố Mĩ với những khoản đầu

tư viện trợ của Mĩ Vì vậy, đề tài nghiên cứu của người viết sẽ tập trung làm rõ vị trí của nhân tố Mĩ đối với sự tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc, thực chất của quá trình đó như thế nào và nó có tác động gì đối với sự phát triển về sau của Hàn Quốc Qua đó cũng góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa Mĩ với Hàn Quốc

Trang 12

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

Để thực hiện được đề tài nghiên cứu của mình, người viết tập trung vào các hướng sau đây:

Phân tích bối cảnh trong và ngoài nước tác động tới chính sách phát triển kinh

tế của Hàn Quốc như thế nào từ đó đi tìm hiểu phân tích chính sách và quá trình phát triển kinh tế Hàn Quốc

Phân tích quá trình viện trợ đầu tư từ phía Mỹ đối với Hàn Quốc qua từng giai đoạn, từ đó làm sáng tỏ vai trò ý nghĩa tác động của Mỹ đối với Hàn Quốc, đồng thời chính việc viện trợ kinh tế cho Hàn Quốc cũng có tác động như thế nào đối với

Mỹ để từ đó người viết có thể rút ra bài học kinh nghiệm có được

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong giai đoạn 1948 - 1991

Về không gian: Đề tài nghiên cứu quá trình viện trợ phát triển kinh tế Hàn Quốc, đầu tư, kinh tế cho Hàn Quốc từ Mỹ Qua đó đánh giá những tác động đối với nền kinh tế Hàn Quốc

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp luận: Để thực hiện đề tài, người viết dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm chỉ đạo

của Đảng ta về nghiên cứu sử học

Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tôi đã

sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, xử lý tư liệu …

Trang 13

5 Đóng góp của khóa luận

Với các nguồn tài liệu tham khảo đáng tin cậy, đề tài góp phần làm sáng tỏ các vấn đề như: Bối cảnh lịch sử của Hàn Quốc Sau Chiến trah thế giới thứ hai; sự phát triển kinh tế Hàn Quốc (1948-1991), nguyên nhân phát triển kinh tế , từ đó rút ra nguyên nhân phát triển kinh tế của Hàn Quốc và đi sâu vào nghiên cứu về vai trò của Mỹ đối nền kinh tế Hàn Quốc suốt thời kỳ đó

Trên cơ sở tìm hiểu về chính sách ngoại giao kinh tế của Hàn Quốc thời kỳ Chiến tranh lạnh, viện trợ kinh tế của Mĩ cho Hàn Quốc với nguồn tư liệu và cách đánh giá khách quan Vì vậy, đề tài sẽ là nguồn tài liệu tham khảo thêm để nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử thế giới hiện đại nói chung và lịch sử các nước Đông Bắc Á nói riêng

6 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận được kết cấu

gồm có hai chương:

Chương 1 Sự phát triển của kinh tế Hàn Quốc thời kỳ 1948-1991

Chương 2 Vai trò của Mỹ đối với sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc thời kỳ 1948-1991

NỘI DUNG Chương 1

SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀN QUỐC 1948 - 1991

Trang 14

1.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ

1.1.1 Bối cảnh quốc tế

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ có tham vọng vươn lên bá chủ toàn cầu Chính vì vậy Mỹ đã ráo riết thực hiện chính sách ngoại giao của mình nhằm đạt được tham vọng này Sau chiến tranh bối cảnh quốc tế có nhiều điều kiện thuận lợi cho Mỹ:

Các nước tư bản Tây Âu dù là thắng trận hay bại trận đều bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế bị kiệt quệ và lâm vào khủng hoảng, trong khi các nước phát xít Đức, Ý chịu tổn thất to lớn về người và phải chịu những khoản bồi thường chiến phí hết sức nặng nề và phải chấp nhận việc phân chia lãnh thổ do các nước thắng trận quyết định, ngược lại hai nước đế quốc tư bản lâu đời là Anh và Pháp lại bước ra khỏi cuộc chiến tranh với tư cách là một nước thắng trận nhưng cũng chịu những thiệt hại bởi chiến tranh

Nước Anh, dù là một nước thắng trận tuy nhiên lại bị chiến tranh tàn phá một cách nghiêm trọng, những tổn thất đó làm cho kinh tế Anh kiệt quệ Đồng bảng Anh mất giá và không còn là đồng tiền thanh toán quốc tế duy nhất đồng thời mất địa vị là đội thương thuyền hàng đầu trong dịch vụ hàng hải quốc tế Chiến tranh đã đẩy nước Anh từ một chủ nợ lớn trên thế giới thành con nợ của Mỹ và phải phụ thuộc vào Mỹ để mua vũ khí chiến tranh cũng như dựa vào viện trợ của Mỹ để đối phó lại các cuộc đấu tranh giành độc lập tại các thuộc địa của Anh Tất cả những

điều này khiến cho Anh mất dần vị thế là nước “cân bằng châu Âu” Do vậy, Anh

phải nhượng bộ và cấu kết chặt chẽ với Mỹ trong việc tổ chức lại trật tự thế giới.Với Pháp, là một nước bị Đức chiếm đóng trong chiến tranh vì vậy chịu thiệt hại nặng nề về kinh tế cũng như sự suy giảm về vị thế địa chính trị trên trường quốc

tế Về kinh tế, công nghiệp giảm sút ba lần, nông nghiệp giảm hai lần so với trước chiến tranh, đồng thời việc Chính phủ Pê-tanh nhanh chóng đầu hàng và làm tay sai

Trang 15

cho Đức trong chiến tranh làm cho Pháp dù là nước thắng trận nhưng uy tín bị suy giảm nghiêm trọng do đó khi chiến tranh kết thúc Pháp không được mời tham dự các Hội nghị lớn bàn về vấn đề hậu chiến

Là một nước thắng trận lại không phải chịu nhiều ảnh hưởng từ chiến tranh đồng thời lại thu được nhiều lợi nhuận từ việc buôn bán vũ khí cho nên sau chiến tranh Mỹ vươn lên trở thành cường quốc đứng đầu hệ thống tư bản chủ nghĩa, trở thành chủ nợ trên thế giới với một nền kinh tế phát triển hùng mạnh Tất cả những yếu tố này là động lực để Mỹ mong muốn thực hiện tham vọng của mình Tuy nhiên Mỹ cũng gặp phải những khó khăn thách thức không nhỏ

Đó là Mỹ phải đối mặt với sự lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ ở khắp mọi nơi trên thế giới đe dọa sức mạnh của Mỹ Sau chiến tranh, Liên Xô mặc dù là một nước chịu thiệt hại nặng nề nhất với tổng thiệt hại lên tới con số 2 tỉ 60 triệu rúp, tổn thất khoảng 30% ngân sách quốc gia, với 27 triệu người chết trong chiến tranh, cuộc sống của người dân vô cùng khó khăn Liên Xô bước vào công cuộc khôi phục kinh tế trong hoàn cảnh hết sức nghèo nàn Tuy nhiên với vị thế một nước thắng trận, có vai trò to lớn trong việc tiêu diệt Chủ nghĩa phát xít Liên Xô trờ thành cường quốc Xã hội chủ nghĩa hàng đầu Năm 1946, Liên Xô bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế cũng trong năm này Liên Xô bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ tư Đến năm 1947, Liên Xô

đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ quân sự hóa nền kinh tế, nền kinh tế được khôi phục và vượt mức trước chiến tranh Với sự nỗ lực của nhà nước và nhân dân Liên

Xô trong công cuộc khôi phục và ổn định đời sống nhân dân, nền kinh tế Liên Xô

đã vượt lên đứng thứ hai sau Mỹ Năm 1949, Liên Xô chế tạo thành công bom nguyên tử phá vỡ thế độc quyền của Mỹ, chính vì vậy vị thế của Liên Xô ngày càng được nâng cao Hơn nữa, mô hình Xã Hội Chủ Nghĩa mà Liên Xô và các

Trang 16

nước Đông Âu xây dựng đang ngày càng lan tỏa trên thế giới, đây là một mô hình tiến bộ xã hội không còn chế độ người bóc lột người tạo ra một xã hội công bằng dân chủ trên thế giới Thêm vào đó để nâng cao vị thế và tăng cường sự hợp tác giữa các nước Xã hội chủ nghĩa, Liên Xô và Đông Âu đã cho ra đời tổ chức Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) Đặc biệt Liên Xô còn ra sức ủng hộ và giúp đỡ các dân tộc trên thế giới đấu tranh giành độc lập dân tộc vì hòa bình và tự do cho nhân loại, điều này càng làm cho sức mạnh của hệ thống Xã hội chủ nghĩa ngày càng vững chắc, Liên Xô trở thành thành trì của phong trào giải phóng dân tộc, của các cuộc đấu tranh vì hòa bình dân chủ trên thế giới

Cũng từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc tại các nước phụ thuộc thuộc địa trên thế giới diễn ra vô cùng mạnh mẽ lật đổ ách cai trị của Chủ nghĩa thực dân giành độc lập cho mình, tiêu biểu: Việt Nam, Trung Quốc… điều này thách thức vị thế của Mỹ

Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc quan hệ Xô - Mỹ ngày càng rạn nứt, quan hệ giữa Mỹ và Liên xô không còn là đồng minh cùng chống kẻ thù chung

là Chủ nghĩa phát xít như trong thời kỳ chiến tranh nữa Với sự lớn mạnh của Liên

Xô và hệ thống Xã hội chủ nghĩa, Mỹ đã tìm đủ mọi cách để ngăn cản sự phát triển của chủ nghĩa xã hội và thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới Khi Tổng thống Truman lên nhậm chức năm 1947 đã bắt đầu thực hiện chính sách cứng rắn với Liên Xô Vào tháng 3 năm 1947, Truman đã đọc bài diễn văn trước Quốc hội công bố chính

sách đối ngoại mới được gọi là “học thuyết Truman” nhằm ngăn chặn sự bành

trướng của Liên Xô và Chủ nghĩa cộng sản Với học thuyết Truman Mỹ đã công khai từ bỏ hợp tác với Liên Xô trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế như đã từng diễn ra trong Chiến tranh thế giới thứ hai và bắt đầu cuộc Chiến tranh lạnh chống

Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa Cuộc “Chiến tranh lạnh” do Mỹ phát động

Trang 17

là cuộc chiến tranh “không nổ súng, không đổ máu” nhưng luôn trong tình trạng

đối đầu căng thẳng, quyết liệt nhằm mục tiêu ngăn chặn rồi đi đến tiêu diệt Liên

Xô Tuy nhiên cuộc “Chiến tranh lạnh” không chỉ dừng lại ở chỗ“không nổ súng, không đổ máu” mà nó đã phát triển thành những cuộc chạy đua vũ trang ráo riết,

những cuộc xung đột mang tính khu vực giữa hai cực Xô - Mỹ, hai khối Đông – Tây

1.1.2 Tình hình trong nước

Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc Triều Tiên thoát khỏi thân phận thuộc địa của Nhật Bản, tuy nhiên đất nước lại phải đối mặt với những thách thức mới Trước khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc các nước phe đồng minh gặp nhau tại Cairo tháng 11/1943 và đưa ra một bản tuyên bố chung, trong bản tuyên bố này có đề cập đến vấn đề độc lập của Triều Tiên Ba nước Anh, Mỹ và Trung Quốc

đã tuyên bố Triều Tiên sẽ được độc lập khi thời cơ tới, thế nhưng Mỹ lại lo ngại rằng sau khi Nhật bại trận sẽ tạo nên một khoảng trống quyền lực trên Bán đảo và Liên Xô có thể sẽ giành lấy cơ hội này để gây ảnh hưởng của mình tại khu vực Đông Bắc Á, vì vậy Mỹ chủ trương trì hoãn và thuyết phục Liên Xô chấp nhận một chế độ quản thác tạm thời, trong sự vội vã và cố gắng nhằm ngăn chặn bước tiến của Liên Xô, Mỹ đã vạch ra ranh giới ở vĩ tuyến 38, Mỹ cũng cố gắng thiết lập một Chính phủ ở phía nam Bán đảo Triều Tiên Tháng 2/1945, ở Ianta Hội nghị tam cường diễn ra hết sức gay go và quyết liệt, trong đó có nội dung bàn về bán đảo Triều Tiên: Quân đội Liên Xô sẽ chiếm miền Bắc Triều Tiên, quân đội Mỹ sẽ chiếm miền Nam Triều Tiên Lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới Tuy nhiên do nhiều vấn đề chưa được giải quyết triệt để trong Hội nghị này nên các nước tiếp tục họp hội nghị ngoại trưởng

Trang 18

Sau khi Liên Xô đánh bại quân đội Nhật ở Viễn Đông, quân đội Mỹ và quân đội Liên Xô tiến vào giải phóng bán đảo Triều Tiên khỏi ách phát xít Nhật Nhân

cơ hội các lực lượng Anh, Pháp không đủ khả năng duy trì vị trí của mình như Mỹ,

Mỹ đã lợi dụng vị thế quân sự, kinh tế to lớn của mình để bành trướng thế lực sang Viễn Đông mà không hề đếm xỉa gì đến những cam kết ở các hội nghị trước đây Đối với Triều Tiên, Mỹ lợi dụng các thế lực thân Mỹ âm mưu biến Nam Triều Tiên trở thành căn cứ quân sự của Mỹ chống lại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa

Từ ngày 16 đến 26/12/1945, Hội nghị ngoại trưởng các nước Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc đã họp tại Matxcơva để bàn bạc cách giải quyết vấn đề Viễn Đông Đối với vấn đề Triều Tiên, hội nghị đã thông qua những quy định sau: Nhằm xây dựng một nước Triều Tiên độc lập, thành lập một Chính phủ lâm thời Triều Tiên để đảm nhận việc phát triển kinh tế, văn hóa quốc gia chung cho cả nước Triều Tiên Thanh toán càng sớm càng tốt những hậu quả do ách nô dịch của Nhật Bản để lại

Để giúp việc thành lập Chính phủ dân chủ lâm thời Triều Tiên, một ủy ban liên hiệp gồm đại biểu Bộ chỉ huy Liên Xô và Mỹ ở Triều Tiên được thành lập Ủy ban sẽ thăm dò ý kiến của các đảng phái và các tổ chức dân chủ để thảo ra những

đề nghị về việc giải quyết vấn đề Triều Tiên Những khuyến nghị của ủy ban này sẽ gửi đến 4 nước Liên Xô, Anh, Mỹ, Trung Quốc sẽ có quyết định cuối cùng

Thời gian ủy trị của 4 chính quyền không được kéo dài quá 5 năm Việc ủy trị

là một biện pháp giúp đỡ và khuyến khích sự tiến bộ về kinh tế chính trị kinh tế xã hội và tăng quyền tự quản dân chủ về thiết lập nền độc lập dân tộc của Triều Tiên

Trang 19

1.2 TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI, VĂN HÓA

1.2.1 Tình hình chính trị - xã hội

Sau khi bán đảo Triều Tiên bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc, Hàn Quốc được sự giúp đỡ của Liên Hợp Quốc mà thực chất là Mỹ, sự giúp đỡ này ngày càng được thể hiên rõ nét và sâu sắc từ sau cuộc chiến tranh Nam- Bắc Triều Tiên (1950-1953) Điều đó khiến cho tư tưởng chính trị của Mỹ có ảnh hưởng khá lớn đối với thể chế chính trị của Hàn Quốc Xây dựng có đặc trưng là quyền lực tập trung trong tay Tổng thống và theo mô hình tam quyền phân lập

Về Hiến pháp: Hiến pháp của Hàn Quốc lần đầu tiên được công bố ngày 17

tháng 7 năm 1948 và được sửa đổi vào các năm 1952, 1954 trong thời kỳ Đệ tam cộng hòa Sau cuộc nổi dậy của sinh viên năm 1962, vào thời kỳ đệ tam cộng hòa, vào thời kỳ đệ tứ cộng hòa năm 1972, thời kỳ đệ ngũ cộng hòa năm 1980 và vao thời kỳ đệ lục cộng hòa năm 1987 Những sửa đổi này tập trung chủ yếu ở hình thức tổ chức chính quyền, cách thức bầu cử Tổng thống và quyền hạn của nhiệm kỳ Tổng thống

Hiến pháp Hàn Quốc quy định chế độ Tổng thống nằm trong cơ quan hành pháp của Chính phủ nhằm đạt được sự lãnh đạo ổn đinh và có uy lưc dựa trên sự ủy nhiệm toàn dân Mọi công dân đều được hưởng đầy đủ quyền tự do cá nhân như:

Tự do ngôn luận, tự do báo chí tự do hội họp Hiến pháp còn góp phần tăng cường

sự thống nhất và hòa hợp quốc gia, đề ra mục tiêu thống nhất hai miền Nam - Bắc Hàn Quốc Nó cũng tôn trọng các nghĩa vụ quốc tế, các hiệp ước và các nguyên tắc được luật quốc tế công nhận Trong kỳ họp thứ nhất của Quốc hội ngày 31 tháng 5 năm 1948, Đại Hàn Dân Quốc được chọn làm tên chính thức, việc bầu cử Tổng thống và Chính phủ được thành lập dựa vào nguyên tắc dân chủ tự do Ngày 15 tháng 8 năm 1948 là ngày Hàn Quốc được công bố với thế giới

Trang 20

Hiến pháp Hàn Quốc quy định đảm bảo tính độc lập cho ba cơ quan quyền lực của Chính phủ là: Hiến pháp, lập pháp và tư pháp

Về lập pháp: Cơ quan lập pháp bao gồm Quốc hội một thành viên với 299 đại

biểu, 2/3 thành viên Quốc hội được bầu thông qua bỏ phiếu toàn dân trong niệm kỳ

4 năm và số ghế còn lại được phân bổ theo tỉ lệ cho các đảng dành được 5 ghế trở lên trong cuộc bầu cử trực tiếp Tổng số thành viên Quốc hội do hiến pháp quy định không dưới 200 người

Chức năng chủ yếu của Quốc Hội gồm quyền kiến nghị, bàn bạc, cân nhắc, duyệt hay bác bỏ các luật dư thảo, hoàn thành tốt và kiểm tra các bản quyết toán của ngân sách quốc gia, đồng ý ký kết hòa bình Quốc hội cũng được trao quyền chỉ trích Tổng thống và phê chuẩn các sắc lệnh về tình trạng kiểm soát bất kể sự lạm dụng quyền tổng thống một cách có hiệu quả

Về Tư pháp: Tòa án tối cao kiểm soát và xét duyệt các quyết định cuối cùng

về đơn chống lại các quyết định của của các tòa án thượng thẩm trong các vụ án tội phạm và dân sự Quyết định của tòa án tối cao là quyết định cuối cùng và không tranh cãi Chánh án tối cao do Tổng thống bổ nhiệm có nhiệm kỳ 6 năm thông qua

sự tán thành của Quốc hội

Bộ phận tòa án bao gồm ba cấp: Tòa án tối cao, Tòa án thượng thẩm, và Tòa án sơ thẩm Chánh án và tòa án tối cao bao gồm 13 thẩm phán và một chánh

án

Ngoài hệ thống tòa án có ba cấp trên còn có một số tòa án chuyên ngành như: Tòa án gia đình, tòa án chính trị, tòa án bản quyền

Về hành pháp: Với cương vị cơ là người lãnh đạo cao nhất trong cơ quan hành

pháp của Chính phủ, Tổng thống không chỉ là nguyên thủ quốc gia trong vấn đề đối nội mà còn là người đại diện nhà nước trong quan hệ ngoại giao Bên cạnh Tổng

Trang 21

thống còn có Thủ tướng Thủ tướng có trách nhiệm giám sát hoạt động của các bộ

và các cơ quan đối lập nhau, thực chất là người giúp việc cho Tổng thống Chính quyền địa phương với tư cách là một bộ phận cấu thành cơ quan hành pháp có 356

669 công chức Ngoài ra cơ quan hành pháp còn có Hội đồng nhà nước, 17 bộ và

17 cơ quan độc lập Dưới cấp chính quyền trung ương là chính quyền địa phương với tư cách là một bộ phân cấu thành cơ quan hành pháp được chia thành 2 cấp

gồm 16 tỉnh và 235 quận

Ngày 15 tháng 8 năm 1948 Đại Hàn Dân Quốc được thành lập đã xác định rõ con đường xây dựng đất nước theo hướng tư bản chủ nghĩa, thực hiện chế độ đa đảng phái chính trị, các thế lực chính trị ở Hàn Quốc đều muốn giương cao ngọn cờ

tư tưởng của đảng phái mình Vào thời kỳ đầu của nền cộng hòa thứ nhất ở Hàn Quốc xuất hiện nhiều tư tưởng đan xen nhau là tư tưởng thân Nhật, tư tưởng thân

Mỹ, tư tưởng dân tộc, tư tưởng Xã hội chủ nghĩa… những luồng tư tưởng này xung đột lẫn nhau và đều muốn vươn lên trở thành tư tưởng chủ đạo Tuy nhiên, thời kỳ đầu tư tưởng chủ đạo chếm ưu thế là tư tưởng thân Mỹ của đảng cầm quyền do Lý Thừa Văn làm Tổng thống Được sự ủng hộ mạnh mẽ từ phía Mỹ về tiền bạc và quân sự, thế lực thân Mỹ cạnh tranh quyết liệt với thế lực thân Nhật Điểm nóng mang tính chất chính trị quan trọng lúc bấy giờ đối với đảng cầm quyền là thanh toán tàn dư của Nhật Bản sau mấy chục năm Nhật Bản cai trị đất nước Tư tưởng này được các đảng phái khác cũng như được đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ tán thành vì nó phù hợp với tư tưởng dân tộc mà tất cả các đảng phái hướng tới Ngược lại, các đảng phái cũng phản đối việc Chính phủ Lý Thừa Văn quá nghiêng

về phía Mỹ Những xung đột, mâu thuẫn giữa các đảng phái chính trị gây nên sự hỗn loạn về mặt tư tưởng Để ổn định về mặt tư tưởng, chính trị, một loạt các tư tưởng mang sắc thái chính trị như: Tư tưởng uy quyền mang nặng tính trung ương

Trang 22

tập quyền, tư tưởng bá quyền, tư tưởng bè phái, tư tưởng coi trọng quan chức xem nhẹ quần chúng… đã xuất hiện và tồn tại dai dẳng một thời gian dài trong xã hội Hàn Quốc Tuy nhiên tư tưởng quyền uy, tư tưởng bá quyền lại giữ được vai trò chủ đạo đã chỉ đạo toàn bộ hệ thống hành chính quốc gia đặc biệt với cơ quan lập pháp và hành pháp Tư tưởng cứng nhắc này tuy có tác dụng nhất định về mặt ổn định xã hội nhưng nó cũng đã kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội Hàn Quốc đặc biệt là lĩnh vực quân sự và ngoại giao Có ý kiến còn cho rằng đây cũng chính là một trong những nguyên nhân gây ra cuộc nội chiến đẫm máu giữa hai miền Nam -

Bắc và ngày càng làm cho mâu thuẫn giữa hai miền càng trở nên gay gắt

Cuộc chiến tranh Nam - Bắc kéo dài ba năm đã để lại hậu quả thảm khốc cho cả hai miền nói chung và Hàn Quốc nói riêng Sau chiến tranh Hàn Quốc rơi vào tình cảnh hết sức éo le, đất nước bị tàn phá, ruộng đất bị bỏ hoang, 279.000 người thất nghiệp, hơn 100.000 trẻ mồ côi, gia đình ly tán, hơn 72.000 sinh viên, 51.000 quân nhân giải ngũ mất việc làm, nền kinh tế vốn đã lạc hậu kém phát triển nay lại càng trở nên tiêu điều dẫn đến khủng hoảng trầm trọng, nền chính trị bất ổn và đời sống xã hội ngày càng trở nên khó khăn

Năm 1960, Lý Thừa Văn và Đảng Tự do đã tổ chức bầu cử Tổng thống bất chấp sự phản đối từ phía nhân dân và Chính phủ các đảng phái Đến ngày bầu cử

15 tháng 3, sinh viên đã xuống đường biểu tình phản đối mạnh mẽ Đến tháng 4 một cuộc biểu tình lớn ở Seoul lại nổ ra khiến cho Lý Thừa Văn buộc phải từ chức, lần đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc sinh viên đã dẫn đầu một cuộc cách mạng dân chủ

Ngày 15 tháng 7 năm 1960, Hiến pháp được sửa đổi, Chính phủ gồm hai viện

và Yoon Posun làm Tổng thống Vào ngày 15 tháng 8, Yoon Posun đã chính thức nhậm chức Tuy nhiên, chính quyền mới không có đủ khả năng quản lý đất nước,

Trang 23

một số quan chức bắt đầu tham nhũng, nền kinh tế quốc dân lâm nguy, Chính phủ không đủ quyền lực để giải quyết các vấn đề tư tưởng, đường lối trong đảng cầm quyền cũng như giải quyết các vấn đề nan giải của xã hội

Ngày 16 tháng 5 năm 1961, Ủy ban cách mạng quân sự do tướng Park Chung Hee đứng đầu tuyên bố tiếp quản ba ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp, lập ra chính quyền quân sự mới Đảng Dân chủ do ông đứng đầu đã dung hòa được mâu thuẫn về mặt tư tưởng giữa các đảng phái và củng cố được chính quyền cũng như giữ cho đảng mình chiếm ưu thế Từ khi Park Chung Hee lên cầm quyền, lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại Hàn Quốc nguồn tài nguyên và nhân lực được sử dụng có hiệu quả nhất Hàn Quốc chính thức bước vào thời kỳ công nghiệp hóa đất nước tốc

độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 9,2%, thu nhập bình quân đầu người tăng từ

87 USD năm 1992 lên 1583 USD năm 1980, giá trị xuất nhập khẩu tăng cao, kinh

tế phát triển khiến cho vị thế của Hàn Quốc được nâng lên đáng kể

Mặt khác, trong những năm 60 - 70 của thế kỉ XX, cùng với sự tăng trưởng nhanh về kinh tế lại kéo theo nhiều điều bất ổn về chính trị xã hội Kinh tế phát triển, đầu tư của nước ngoài vào càng nhiều, quyền lực tập trung càng cao thì các nguy cơ tiềm tàng như tư tưởng bất dân chủ, chủ nghĩa quyền uy, tư tưởng thực dụng, tệ nạn tham nhũng, nhận hối lộ ngày càng gia tăng, nhân dân bắt đầu chán ghét đảng dân chủ nhưng lại bất dân chủ của Park Chung Hee và ngày 26 tháng 10 năm 1979 Park Chung Hee bị ám sát, sự kiện này càng làm tăng thêm những bất ổn trong đời sống chính trị, xã hội của nước này

Cuối năm 1980, Chính phủ của Tổng thống Chun Doo Hwan được thành lập, Chính phủ mới đã đưa ra được chương trình cải tổ của mình Chương trình cải tổ này tập trung vào ba vấn đề chính đó là: Ổn định giá cả tiếp tục phát triển kinh tế, cải tiến, phân phối và thu nhập Với chính sách cải cách đúng đắn cộng với tinh

Trang 24

thần trách nhiệm, tự lực, tự cường lao động sáng tạo của người dân Hàn Quốc làm cho tình hình kinh tế phát triển trở lại, đời sống xã hội được ổn định Tuy nhiên, cũng giống như những nền Cộng hòa trước đó nền Cộng hòa của Chun Doo Hwan cũng bất dân chủ như: Tình trạng gian lận trong bầu cử, tham nhũng…

Những cuộc biểu tình của sinh viên và quần chúng nhân dân đã dẫn tới những cải cách chính trị quan trọng, Hiến pháp được sửa đổi, cho phép bầu cử lại Tổng thống Tháng 12 năm 1977, Rol Taewoo đã được bấu làm Tổng thống Với cam kết thực hiện dân chủ hóa, thực hiện tốt mục tiêu trong kế hoạch 5 năm lần thứ sáu đưa đất nước tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và kết quả mà nhân dân đạt được đã vượt ra ngoài cả mong đợi

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế làm cho nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội nảy sinh, đó là tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng, chủ nghĩa thực dụng sống vì đồng tiền, lối sống hiện đại làm mất đi những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, bộ máy hành chính quan liêu tham nhũng, tất cả những điều này đã khiến cho Rol Taewoo phải từ chức

Như vậy có thể nhận thấy rằng, trong giai đoạn Hàn Quốc từng bước phát triển kinh tế đã kéo theo những mâu thuẫn, bất ổn trong đời sống chính trị cũng như về mặt xã hội, giai đoạn 1948-1991 với 5 đời thay đổi Tổng thống Mỗi đời Tổng thống được dựng lên rồi lại phải từ bỏ bởi những nguyên nhân khác nhau đã cho thấy tình hình chính trị, xã hội thời kỳ này vô cùng bất ổn

1.2.2 Văn hóa - giáo dục

Hàn Quốc có một nền văn hóa lâu đời, đa dạng phong phú kết tinh đầy bản sắc dân tộc, trong thời kỳ hiện đại văn hóa Hàn Quốc phản ánh khá rõ nét hiện thực đất nước Đó là bức tranh phản ánh đầy tính chân thực nói tới cuộc sống bi ai bởi chiến tranh, hay công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Hàn Quốc

Trang 25

Ở Hàn Quốc tồn tại nhiều tôn giáo khác nhau, mỗi tôn giáo lại mang những đặc tính và sắc thái riêng, từ xa xưa các tôn giáo, các học thuyết chính trị đã du nhập vào Hàn Quốc bằng nhiều con đường khác nhau, trong đó có hai tôn giáo ảnh hưởng tới cuộc sống cử nhân dân cũng như chính trị đó là đạo phật và nho giáo Phật giáo được du nhập vào Hàn Quốc từ rất sớm Tuy nhiên, bước vào thời

kỳ hiện đại phật giáo đã không còn là tôn giáo chủ yếu trong cuộc sống của người Hàn Quốc như hồi trước cuộc cải cách của vương triều Chosun (thế kỷ XIV) nhưng phật giáo vẫn còn rất mạnh mẽ và đầy sức sống với khoảng 12 đến 15 triệu tín đồ Nho giáo hay còn gọi là Khổng giáo, mặc dù không còn là cơ sở của chính quyền và hệ thống chính trị nữa nhưng nho giáo vẫn là trụ cột tinh thần của Hàn Quốc Nó khắc sâu vào tâm trí của người Hàn Quốc Khi người Nhật xâm chiếm Hàn Quốc năm 1910 hệ thống Khổng giáo bị biến mất, tuy vậy các giá trị cơ bản và các tiền đề xã hội của nó vẫn tồn tại ở Hàn Quốc thời kỳ hiện đại mạnh mẽ

Bên cạnh đạo Phật và đạo Khổng ở Hàn Quốc còn có Cơ đốc giáo, Đạo giáo

và một số tôn giáo khác cũng được du nhập và ngày càng phát triển ở Hàn Quốc, mặc dù mức độ ảnh hưởng có khác nhau nhưng nó góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần cũng như bản sắc văn hóa Hàn thời kỳ hiện đại

Về giáo dục, nền giáo dục hiện đại được du nhập vào Triều Tiên từ rất sớm Cuối thế kỷ XIX ở Hàn Quốc đã xây dựng hệ thống trường mới theo ba loại hình: Quốc lập, trường do giáo hội thiên chúa xây dựng và trường tư do những người có tinh thần ái quốc đứng ra thành lập Tuy nhiên, sự phát triển của hệ thống giáo dục hiện đại của Triều Tiên đã nhanh chóng bị gián đoạn từ đất nước bị quân Nhật cai trị (1910-1945) Nhờ truyền thống giáo dục, ngay sau khi đất nước được giải phóng Hàn Quốc đã nhanh chóng phát triển giáo dục, coi giáo dục là nhân tố quan trọng

để phát triển kinh tế đất nước người Hàn Quốc cho rằng: Muốn thoát khỏi cảnh

Trang 26

nghèo, con đường thông thường vẫn là bắt đầu từ sự học, học bất cứ đâu, học bắt

cứ điều gì [8; 16]

Chính phủ Hàn Quốc coi giáo dục là một trong sáu nội dung chính của công

cuộc xây dựng đất nước, khẳng định “giáo dục đào tạo là một vấn đề then chốt và không có gì quan trọng hơn” [8; 17]

Năm 1949, Hàn Quốc ra một đạo luật giáo dục, cho đến tháng 12 năm 1968 Tổng thống Park Chung Hee đã ban hành một luật giáo dục mới dựa trên luật giáo dục năm 1949, luật giáo dục năm 1968 đề cao và nhấn mạnh đến việc xây dựng một nền tảng tinh thần cho sự kế tục dân tộc cũng như những giá trị nhân văn, đạo đức xã hội

Hệ thống giáo dục của Hàn Quốc được quy định trong luật giáo dục năm 1949 gồm: Sáu năm ở bậc tiểu học, ba năm trung học cơ sở, ba năm trung học phổ thong

và bốn năm đại học cao đẳng

Từ năm 1980 chính phủ Hàn Quốc cho phép thể chế hóa giáo dục suốt đời, đến năm 1985 Tổng thống Chun Doo Hwan lên cầm quyền, một ủy ban cải cách giáo dục được thành lập do Tổng thống trực tiếp quản lý

Từ thập niên 1990 trở đi là giai đoạn tiên tiến của nền giáo dục đào tạo Hàn Quốc, giáo dục hướng tới mục tiêu hướng nội và phúc lợi xã hội

1.3 SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀN QUỐC THỜI KỲ 1948 - 1991

Lịch sử Hàn Quốc trải qua nhiều thời kỳ biến động, điều này ảnh hưởng mạnh

mẽ đến kinh tế - xã hội của Hàn Quốc Từ thời kỳ còn là một nước thuộc địa của Nhật Bản, kinh tế Hàn Quốc nói riêng là một nền kinh tế phụ thuộc Đến nay bên cạnh những di sản kinh tế thời kỳ thuộc địa, nền kinh tế Hàn Quốc lại trở nên phụ thuộc chặt chẽ vào nền kinh tế Mỹ Năm 1948 nước Đại Hàn Dân Quốc được thành lập ở miền Nam Triều Tiên, từ đây nền kinh tế Hàn Quốc trải qua nhiều thời kỳ biến

Trang 27

động khác nhau Từ một nền kinh tế nghèo nàn thuộc loại nghèo nhất thế giới, lại phải chịu sự tiêu điều đổ nát của chiến tranh tàn phá với cơ sở kinh tế, tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn, nền nông nghiệp lạc hậu tuy nhiên kinh tế Hàn Quốc lại có

thể vực dậy phát triển và trở thành một nước công nghiệp bậc nhất châu Á

1.3.1 Chính sách phát triển kinh tế Hàn Quốc 1948 - 1991

1.3.1.1 Chính sách phát triển công nghiệp

Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, Hàn Quốc trở thành một đất nước phát triển công nghiệp bậc nhất trong khu vực Để đạt được điều này Hàn Quốc đã có chính sách phát triển công nghiệp phù hợp với tình hình thực tế của đất nước Chính

sách công nghiệp ở Hàn Quốc có thể được tóm tắt như sau:

Thời kỳ 1948-1960: Là thời kỳ giải phóng đất nước và tích lũy tiềm năng cho quá trình công nghiệp Sau khi đất nước được giải phóng Hàn Quốc chuyển từ nền kinh tế thuộc địa sang nền kinh tế tự chủ, hiện đại và từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp Chính sách công nghiệp trong thời kỳ này chủ yếu dựa vào viện trợ nước ngoài để phát triển ngành sản xuất hàng tiêu dùng Các ngành công nghiệp tăng trưởng đáng kể nhất là: Công nghiệp dệt, sợi, xay sát và sản xuất đường Do ba ngành công nghiệp này đã tăng công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng đủ mức tự cung tự cấp, nền kinh tế đã được ổn định, đời sống nhân dân được đảm bảo Với sự hỗ trợ vốn bên ngoài, các nhà máy xuất khẩu phân bón đã được xây dựng ở Chungiu và Rhaju Các nhà máy sản xuất ximăng, kính, săm lốp, giầy, chất nổ và nhựa… Các ngành công nghiệp máy móc, kim khí, thép, điện lực được xây dựng ở quy mô nhỏ Để ổn định tình hình kinh tế trong nước và phát triển công nghiệp, các chính sách hỗ trợ cho phát triển công nghiệp thời kỳ này chủ yếu là: Tư bản hóa nền kinh tế, phát triển thương mại thực hiện chính sách lãi suất cao,

Trang 28

mở cửa nền kinh tế với nước ngoài, phát triển kinh tế thị trường, phổ cập giáo dục

hiện đại, ổn định giá cả và nhập khẩu công nghiệp từ bên ngoài

Thời kỳ 1961-1979: Công nghiệp hóa ở giai đoạn đầu, phát triển công nghiệp

sử dụng nhiều lao động, chi phí thấp dần thay thế cho những sản phẩm công nghiệp thô sơ, tiến tới phát triển công nghiệp nặng và hóa chất, sử dụng nhiều vốn, lao động tay nghề cao và công nghệ cao

Những năm 60 của thế kỉ XX, chính sách công nghiệp ở Hàn Quốc tập chung vào việc chuẩn bị các điều kiện cất cánh cho công nghiệp hóa trên cơ sở sử dụng hợp lý các yếu tố thắng lợi của nó trong kinh tế Chính phủ đã xây dựng một cơ cấu ngành công nghiệp tự lực cánh sinh, cơ cấu này không hướng vào tiêu dùng nhưng cũng không quá phụ thuộc vào dầu lửa như những năm 1950 Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch 5 năm lần một các ngành công nghiệp chủ yếu được phát triển như điện, phân bón, sợi, hóa học, sợi nylon, lọc dầu, PVC, ximăng Vào cuối những năm 60 của thế kỉ XX, chính sách công nghiệp Hàn Quốc hướng tới sự hiện đại hóa

cơ cấu công nghiệp, xây dựng các ngành thay thế nhập khẩu bao gồm công nghiệp thép, chế tạo máy móc và hóa chất Các ngành công nghiệp được phát triển theo nguyên tắc hướng ngoại nghĩa là sản xuất để xuất khẩu Các ngành công nghiệp chủ yếu vào cuối những năm 60 là sợi nhân tạo, hóa dầu, thiết bị điện, các ngành công nghiệp nhẹ như vải, cao su, gỗ dán, các ngành khai khoáng và chế tạo

Những năm 70 của thế kỉ trước, công nghiệp Hàn Quốc tập trung vào xây dựng các ngành công nghiệp nặng và hóa chất nhằm cung cấp nguyên vật liệu và thiết bị cho các ngành công nghiệp Loại bỏ sự phụ thuộc của các ngành công nghiệp vào nước ngoài Các ngành công nghiệp được phát triển chủ yếu trong giai

Trang 29

đoạn này là gang thép, máy móc, thiết bị vận tải, thiết bị gia dụng, đóng tàu, hóa dầu và các thiết bị công nghệ hiện đại

Nhìn chung, trong giai đoạn này chính sách công nghiệp của Hàn Quốc có những đặc điểm sau: Phát triển công nghiệp chủ yếu dựa vào vốn vay nước ngoài và thúc đẩy xuất khẩu; vai trò của Chính phủ là rất lớn; phát triển công nghiệp dựa vào lạm phát Trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa lạm phát ở Hàn Quốc là một sản phẩm được sản sinh ra trong quá trình công nghiệp hóa quá mức Tuy nhiên, Hàn Quốc đã sử dụng hiệu quả và đều đặn lạm phát cho quá trình phát triển công nghiệp hóa, dẫn tới sự phát triển vượt bậc của các ngành công nghiệp, đồng thời đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững

Phát triển công nghiệp trên cơ sở mất cân đối, các ngành công nghiệp dựa quá nhiều vào các công ty lớn trong khi đó các xí nghiệp vừa và nhỏ không được hưởng

sự ưu đãi từ phía Chính phủ, kết quả là tạo nên sự chênh lệch trong phát triển kinh

tế ngành, kinh tế vùng và lạm phát mất cân đối trong lĩnh vực phân phối thu nhập Thời kỳ 1980-1991: Hàn Quốc phát triển công nghệ dựa vào những sản phẩm

có hàm lượng kỹ thuật, công nghệ cao và có hình thức để thay thế những sản phẩm cần nhiều vốn Trong thời kỳ này các sản phẩm thuộc các ngành công nghiệp nặng

và công nghiệp hóa chất sử dụng nhiều vốn và lao động không thể cạnh tranh được trên thị trường thế giới Sự tăng trưởng thấp của nền kinh tế thế giới những năm

1980 đã dẫn đến sự xuất hiện các biện pháp bảo vệ thị trường, gây ảnh hưởng xấu đến chiến lược công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu của Hàn Quốc Để thích ứng với sự thay đổi mới kinh tế trong và ngoài nước cũng như đạt được về các mục tiêu chiến lược đề ra về phát triển công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, chính sách của Chính phủ tập trung giải quyết một số vấn đề cơ bản sau:

Trang 30

Đổi mới năng xuất lao động tích lũy công nghệ và nâng cao chất lượng các ngành công nghiệp nặng và hóa chất được thu nhỏ lại do công nghiệp trên thế giới thay đổi rất nhanh và thị trường xuất khẩu không ổn định do các biện pháp bảo hộ Các ngành công nghiệp tiên tiến như sản xuất hàng bán dẫn và động cơ được chú trọng phát triển, các công ty xí nghiệp đã chú trọng nâng cao năng suất lao động, công nghệ điện tử

Mở rộng thị trường công nghiệp hóa hướng vào khu vực tư nhân, Chính phủ

đã lập một ban điều hành tự do hóa nhập khẩu, giảm độc quyền, thúc đẩy cạnh tranh trong tất cả các ngành công nghiệp, khuyến khích sự phát triển của các chaebol thông qua các chính sách tín dụng

Đến cuối 1980, Hàn Quốc chính thức trở thành một quốc gia công nghiệp mạnh ở châu Á chiếm 94,8% xuất khẩu thuộc về hàng chế tạo Đến đầu những năm

90 Chính phủ đã cố gắng hơn nữa trong việc phát triển khoa học công nghệ, ứng dụng vào các ngành công nghiệp, cụ thể:

Thu hút nguồn nhân lực có trình độ giáo dục và đào tạo cao vào các lĩnh vực nghiên cứu và phát triển công nghệ, coi trọng vai trò của khoa học kỹ thuật trong phát triển công nghiệp

Xác định cấc nhóm ngành công nghiệp cần ưu tiên phát triển để chuyển từ nền

“kinh tế ống khói” sang nền kinh tế có kỹ thuật tinh vi và hiện đại, đó là ngành

điện tử tin học, hóa chất, cơ khí và nguyên vật liệu mới

1.3.1.2 Chính sách phát triển nông nghiệp

Hàn Quốc có diện tích là 9,902.000 ha, trong đó đất trồng trọt là 215.200 ha năm 1984 chiếm 21,7% diện tích lãnh thổ Nông nghiệp đã từng là ngành quan

trọng nhất của Hàn Quốc

Trang 31

Ngay từ khi ra đời, Hàn Quốc vốn là một đất nước có một hệ thống chủ đạo là nền nông nghiệp, điều này trái ngược hoàn toàn với Bắc Triều Tiên - công nghiệp

là chủ đạo Tuy nhiên, nông nghiệp Hàn Quốc trong giai đoạn đầu vẫn lạc hậu Từ giai đoạn 1960, nông nghiệp Hàn Quốc đã có sự phát triển quan trọng, trong giai đoạn 1960-1990, Hàn Quốc chú trọng đến việc tăng sản xuất nông nghiệp Những năm 60 chính sách nông nghiệp của Hàn Quốc đã chú trọng đặc biệt vào việc có đủ gạo ăn, loại lương thực chính của người Hàn Quốc, chiến lược trong giai đoạn này

cụ thể như sau:

Đầu tư hiện đại những yếu tố đi đầu trong nông nghiệp, Từ năm 1960 Hàn Quốc chú trọng vào đầu tư ngành phân bón, thuốc trừ sâu nhằm cải thiện năng suất nông nghiêp Trong năm 1969 sản lượng gạo tăng 30% từ 3 triệu tấn năm 1965 lên 3,9 triệu tấn vào cuối những năm 70, việc cơ giới hóa trong nông nghiêp được thực hiện rộng rãi Đầu những năm 1970 các dự án thủy lợi lần lượt được đầu tư mạnh

mẽ cho hệ thống tưới tiêu, sắp xếp lại hệ thống ruộng đất Phong trào cộng đồng mới được thực hiện những năm 1970 nhằm biến các cộng đồng nông thôn truyền

thống thành cộng đồng nông thôn mới phù hợp với xã hội công nghiệp hiện đại

Chính phủ thực hiện chính sách trợ giá đối với lúa gạo, chính sách này được

áp dụng vào năm1969 nhằm khuyến khích và phát triền sản xuất lúa gạo và tăng

thu nhập của các hộ nông thôn

Theo mô hình này Chính phủ Hàn Quốc định giá mua và khối lượng gạo Chính phủ mua hằng năm với giá cao hơn giá thường lúc thu hoạch, sau đó khi giá thị trường tăng cao gạo của Chính phủ được đem bán với giá thấp hơn giá thị trường để ổn định giá cả Tuy nhiên chính sách này lại tồn tại nhiều hạn chế vì nó trở thành gánh nặng cho ngân sách Chính phủ Vì vậy chính sách này dần dần được

thay thế bằng chính sách giá thị trường

Trang 32

Từ năm 1990, Hàn Quốc phát triển chính sách nông nghiệp dựa trên kế hoạch tổng thể hóa toàn diện để phát triển nông thôn Tháng 4 năm 1989, chính sách của

Bộ Nông - Lâm - Ngư nghiệp nhằm cải thiện cơ cấu nông nghiệp và nâng cao mức

sống của nhân dân

Đến năm 1991, Chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng kế hoạch mười năm cải thiện cơ cấu nông thôn với trọng tâm là nâng cao năng suất nông nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh Kế hoạch này đề cập đến một loạt các biện pháp phát triển nông nghiệp nông thôn theo một số hướng như sau: Chú trọng đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp tạo cho nông nghiệp có khả năng cạnh tranh cao và phát triển bền vững ở trong và ngoài nước; cơ cấu lại nguồn lực ở nông thôn thu hút lao động trẻ tham gia vào sản xuất nông nghiệp; mở rộng quy mô trang trại bằng cách nới lỏng các hạn chế pháp lý đối với quyền sở hữu diện tích đất trang trại tối đa và cung cấp

tín dụng dài hạn

Các biện pháp nâng cao thu nhập và mức sống ở nông thôn gồm tất cả các chiến lược cụ thể để đưa đến sự cải biến trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp, đào tạo nhân lực

Một nét nổi bật trong nông nghiệp của Hàn Quốc là Phong trào Saemaul Nội dung của phong trào là giác ngộ tinh thần, tư tưởng nông dân, phát triển xã hội và phát triển kinh tế Trong việc giác ngộ tinh thần và ý thức làm việc của nông dân với kế hoạch siêng năng, tự lực tự cường, nghiêm túc nhằm đưa nông dân vào những chương trình hoạt động của làng xã để xây dựng nông thôn mới Phát triển

xã hội, phong trào chú trọng phát triển 3 dự án: Dự án phát triển môi trường, dự án cải thiện nhà ở và dự án phát triển các công trình phục vụ công cộng.Trong lĩnh vực phát triển kinh tế, phong trào coi trọng hai loại dự án xây dựng cơ sở hạ tầng gồm hệ thống tưới tiêu và xây dựng đường làng, nâng cao thu nhập bằng cách tăng

Trang 33

chăn nuôi gia súc phân loại các khu vực sản xuất, phát triển hợp tác theo nhóm, thiết lập các nhà máy saemaul để tăng nguồn lợi tức theo mùa

Kết quả là Hàn Quốc lập được các hình thức tổ chức các hợp tác xã trong nông nghiệp Cuối năm 1970 có 1535 hợp tác xã nông nghiệp với phong trào sản xuất tập thể mọi người cùng làm cùng hưởng; Cơ giới hóa và hiện đại hóa nông thôn là tăng khả năng sản xuất tiêu thụ máy nông nghiệp tạo được sự cân bằng trong sử dụng nguồn lao động ở nông thôn; Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông nông thôn được nâng cấp; Năng suất nông nghiệp tăng lên đặc biệt là lúa gạo, năng suất trung bình 3,4 tấn/ ha năm 1971 lên 4,9 tấn năm 1977 Nhiều giống lúa cho năng xuất cao được áp dụng

1.3.1.3 Chính sách tài chính tiền tệ

Ngành tài chính ngân hàng được đặt dưới sự giám sát của Chính phủ, sự phát

triển của hệ thống ngân hàng Hàn Quốc qua các thời kỳ khác nhau: Năm 1950, luật ngân hàng được công bố với sự ra đời của ngân hàng trung ương Năm 1956, ngân hàng nông nghiệp được thành lập theo luật ngân hàng 1950 Trong quá trình phục

vụ cho sự phát triển và tăng trưởng kinh tế, chính sách tài chính tiền tệ của Hàn Quốc luôn phát triển hai môi trường chính là ổn định và phát triển Từ 1948-1999, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện chính sách ổn định hóa để giảm lạm phát và thực hiện các chính sách thắt chặt tiền tệ và thực hiện cải cách ngân hàng và tự do hóa

tài chính Cụ thể:

Hệ thống chính sách tài chính tiền tệ của Hàn Quốc cơ bản được thực hiện đồng thời với sự khởi đầu của các kế hoạch kinh tế 5 năm Năm 1950, mức tăng trưởng về tài chính đã đóng góp tới 30% mức tăng cung ứng tiền mặt hằng năm trong những năm 60 và 70 Mặc dù kinh tế tăng trưởng cao nhưng tình trạng lạm phát lại cao, bình quân 15,3%/năm theo đủ số giá bán buôn (WPI) Để loại bỏ tình

Trang 34

trạng lạm phát gia tăng và để ổn định nền kinh tế Chính phủ Hàn Quốc đã quan tâm phát triển nhanh và thiết lập hệ thống tài chính tăng trưởng, xác định tầm quan trọng của việc huy động các nguồn vốn và các chính sách tài chính cho quá trình tăng trưởng Tháng 11/1969, Chính phủ đã thông báo các biện pháp vững chắc để tạo nền tảng ổn định, bao gồm việc kiểm soát chặt chẽ lượt tiên mặt, kiểm soát sự thu hút vốn từ bên ngoài Thực hiện 12 nguyên tắc trong các chính sách kinh tế

1970 Nhờ chính sách thắt chặt tiền tệ và sự phát triển nhanh của các tổ chức tài

chính phi ngân hàng cơ cấu tài chính ở Hàn Quốc đã có sự thay đổi nhanh chóng

Cho tới cuối những năm 1980, ngành tài chính vẫn đặt dưới sự quản lý của Chính phủ và nền kinh tế Hàn Quốc luôn hoạt động trong điều kiện giá cả bất ổn trong đó lãi xuất cho vay thực tế là âm so với lạm phát Chính sách thắt chặt tiền tệ

và lãi xuất thấp đã bộc lộ những hạn chế gây ra những hậu quả nặng nề cho kinh tế Hàn Quốc đặc biệt gây ra tình trạng quan liêu trong nền kinh tế, nợ nước, ngoài lạm phát kinh niên Điều đó đặt ra cho Chính phủ Hàn Quốc yêu cầu phải thay đổi chính sách tài chính tiền tệ Từ năm 1991, Chính phủ Hàn Quốc thực hiện chính sách tự do hóa lãi suất và tăng cường cơ chế thị trường, từ tháng 11/1991, với sự tự

do hóa lãi suất được áp dụng đối với các khoản vay các mức cho vay trong trường hợp rút quá số tiền gửi phải triết khấu hóa đơn thương mại, chứng từ thương mại áp

dụng cho các công ty tài chính đã tự do hóa

1.3.1.4 Chính sách kinh tế đối ngoại

Trong thời kỳ phát triển công nghiệp hóa không chỉ phát triển kinh tế trong

nước Hàn Quốc và chú trọng vào việc mở rộng nền kinh tế ra bên ngoài Từ khi bị chia cắt, nền kinh tế Hàn Quốc đã có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế Mỹ Nhưng đến những năm 60 của thế kỉ XX, không chỉ với Mỹ, chính sách ngoại giao kinh tế với các nước trên thế giới của Hàn Quốc được hoàn thành, đến những năm

Trang 35

1970 chính sách quan hệ kinh tế quốc tế của Hàn Quốc được mở rộng gồm cả các

nước châu Á, Trung Đông, Mỹ, Nhật Bản

Đối với Mỹ, thì Mỹ là quốc gia được Hàn Quốc luôn đặt lên vị trí trọng tâm hàng đầu Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh vận mệnh an ninh của Hàn Quốc gắn chặt với Mỹ Trong lĩnh vực kinh tế Mỹ là nước viện trợ nhiều nhất cho Hàn Quốc và là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Hàn Quốc

Từ thời kỳ Chiến tranh lạnh, Nhật Bản đã là mô hình kinh tế để Hàn Quốc học hỏi về công nghệ, cách quản lý Quan hệ kinh tế chặt chẽ với Nhật Bản là mục tiêu quan trọng và là ưu tiên số một của Hàn Quốc Một mặt Hàn Quốc muốn tăng cường hợp tác phòng thủ đối với Nhật Bản mặt khác khuyến khích Nhật Bản tăng cường đầu tư và bình thường hóa quan hệ với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên

Bên cạnh Nhật Bản thì trong chính sách kinh tế đối ngoại của Hàn Quốc, khu vực châu Á - Thái Bình Dương được coi là thị trường buôn bán và đầu tư đầy hứa hẹn, góp phần đáng kể vào chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của Hàn Quốc Quan hệ kinh tế với khu vực châu Á - Thái Bình Dương Hàn Quốc có cơ hội

để khẳng định vai trò của mình trong khu vực, là bước đi đầu tiên để Hàn Quốc thực hiện chính sách toàn cầu hóa kinh tế Chính sách của Chính phủ Hàn Quốc là tăng cường hợp tác kinh tế với các nước thuộc nhóm các nước công nghiêp mới (NIEs), ASEAN và toàn bộ khu vực trong đó Trung Quốc là thị trường lớn nhất, đông dân,

có quan hệ lớn trong lĩnh vực thương mại và đầu tư của Hàn Quốc Chính phủ Hàn Quốc nhận định rằng Trung Quốc là bạn hàng lớn của Hàn Quốc sánh vai với Mỹ và Nhật Bản, và có vai trò to lớn trong quá trình thống nhất bán đảo Triều Tiên

Trong chính sách ngoại giao kinh tế với nước ngoài, chính sách thu hút FDI bắt đầu được Chính phủ Hàn Quốc coi trọng vào những năm 1960 Năm 1960 luật

Trang 36

khuyến khích đầu tư nước ngoài được ban hành Tháng 7 năm 1962 luật đặc biệt khuyến khích vốn đầu tư dài hạn bắt đầu có hiệu lực, kể từ năm 1962 đầu tư vào ngành chế tạo Hàn Quốc chiếm 70% tổng FDI, trong đó Nhật và Mỹ là những nhà đầu tư quan trọng nhất

Nhằm phục vụ yêu cầu của phát triển kinh tế, trong mỗi giai đoạn chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài lại có sự điều chỉnh khác nhau Trong những năm 70 của thế kỉ trước, chính sách thu hút FDI của Hàn Quốc nhằm có được kỹ thuật tiên tiến phục vụ sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, từ các ngành sử dụng nhiều lao động sang các ngành tập trung vốn và công nghệ Bước sang những năm 80 của thế kỉ XX, Chính phủ Hàn Quốc đã sửa đổi một số điểm trong chính sách đầu tư nước ngoài nhằm đáp ứng quá trình công nghiệp hóa Vào cuối những năm 80 đầu những năm

90, Chính phủ Hàn Quốc đã công bố kế hoạch tăng cường đầu tư nước ngoài và du nhập kỹ thuật mới

Cùng với chính sách thu hút FDI là chính sách thu hút viện trợ nước ngoài Từ sau ngày giải phóng, nền kinh tế Hàn Quốc gặp rất nhiều khó khăn chính nguồn viện trợ nước ngoài là nhân tố quan trọng quyết định đưa nền kinh tế Hàn Quốc thoát khỏi hiểm nghèo Từ năm 1945 đến năm 1950, tổng số viện trợ nước ngoài cho Hàn Quốc là 2,6 tỉ USD, các tổ chức chính trị về các nguồn viện trợ nước ngoài gồm ngân sách Chính phủ cứu trợ cho các khu vực có sở hữu của Mỹ (GARIOA),

cơ quan hợp tác kinh tế ECA, ủy ban hoạt động với nước ngoài (FOA), hầu hết các khoản viện trợ trên là các khoản viện trợ không hoàn lại và được phân chia làm hai loại, viện trợ theo kế hoạch và viện trợ không theo kế hoạch Các khoản viện trợ theo kế hoạch nhằm mục tiêu khôi phục, tái thiết và phát triển nền kinh tế sau chiến tranh, đầu tư cho công nông nghiệp Viện trợ không theo kế hoạch chủ yếu là xuất hẩu hàng hóa từ các nước viện trợ

Trang 37

Từ những năm 60 và 70 của thế kỉ XX, viện trợ vào Hàn Quốc có xu hướng giảm do Mỹ ngừng cấp viện trợ cho Hàn Quốc thay vào đó là các khoản viện trợ của Nhật Bản gồm 265 triệu USD không hoàn lại và 318 triệu USD bồi thường sau chiến tranh Một số nước châu Á khác cũng tăng cường viện trợ cho Hàn Quốc

Đối với hoạt động ngoại thương: Ngay từ đầu những năm 60 Chính phủ Hàn

Quốc đã thực hiện một số chính sách quan trọng đối với lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa Trong lĩnh vực nhập khẩu từ năm 1964, Chính phủ thực hiện biện pháp giảm thuế quan nhập khẩu đặc biệt là các loại nguyên liệu cần thiết cho việc xuất khẩu và những mặt hàng nhập khẩu quan trọng có liên quan đến việc hợp tác phát triển khoa học công nghệ với nước ngoài Tuy nhiên, đối với những mặt hàng không thuộc diện khuyến khích xuất khẩu, Hàn Quốc vẫn duy trì chế độ kiểm soát nhập khẩu chặt chẽ bằng các công cụ hạn ngạch và thuế quan Năm 1982, Hàn Quốc ban bố chính sách tự do hóa nhập khẩu cho phép tự do nhập khẩu các mặt hàng có tính cạnh tranh, đánh thuế thấp mặt hàng nhập khẩu Năm 1991, Hàn Quốc giảm 50% thuế đối với các sản phẩm nhập khẩu công nghệ cao

Chính sách xuất khẩu trong thời gian cầm quyền của Tổng thống Lý Thừa Văn (1948-1960), Hàn Quốc không có một chiến lược tăng trưởng rõ ràng nào hơn ngoài việc đề ra chiến lược đẩy mạnh sản xuất trong nước thay thế nhập khẩu, bởi vậy mối quan tâm chính của Chính phủ lúc này là chính trị và những chính sách kinh tế đều tập trung vào thay thế nhập khẩu dựa trên tỷ giá hối đoái mà đồng nội tệ được đánh giá cao và dựa nhiều vào sự trợ giúp từ bên ngoài Khi tướng Park Chung Hee lên cầm quyền thông qua cuộc đảo chính quân sự (16/5/1961) trong bối cảnh nền kinh tế vô cùng khó khăn, tổng sản phẩm bình quân đầu người năm 1961 chưa đạt 100 USD Hàn Quốc kém Bắc Triều Tiên cả về kinh tế, quân sự, khoa học

- kỹ thuật, chính vì vậy Chính phủ luôn coi vấn đề phát triển kinh tế là mối quan

Trang 38

tâm hàng đầu Triết lý phát triển của ông đươc thể hiện trong câu nói sau: Đối với người nghèo bên bờ vực của sự chết đói như người dân Hàn Quốc thì kinh tế học được ưu tiên cao hơn chính trị trong cuộc sống hàng ngày của họ và việc thực thi dân chủ là điều vô nghĩa Điều này đã trở thành triết lý cơ bản bắt nguốn từ chính sách thương mại và thương nghiệp của Hàn Quốc từ thập niên 60 của thế kỉ XX, triết lý này cho rằng nền kinh tế tăng trưởng càng cao, càng nhanh, càng nhiều càng

tốt Ông đưa ra mục tiêu phát triển kinh tế “trước hết là xuất khẩu”, mục tiêu này

đươc các nhà kinh doanh Hàn Quốc chấp nhận [21; 152-154]

Cùng với các chính sách tự do hóa mậu dịch Hàn Quốc đã đặc biệt chú trọng đến các chính sách khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu Để đẩy mạnh xuất khẩu Chính phủ đã tiến hành phá giá gần 100% đồng nội tệ vào 1964, biện pháp này giúp hàng xuất khẩu có thể năng cao năng lực cạnh tranh trên trị trường quốc tế [3; 61]

Về cơ cấu hàng xuất khẩu, ở mỗi giai đoạn Hàn Quốc lại đề ra việc sản xuất các mặt hàng khác nhau Giai đoạn 1962-1971, Hàn Quốc đạt được xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động, tiền lương thấp, có tính cạnh tranh cao với nước ngoài nhằm thay thế các sản phẩm thô và sơ cấp Sản phẩm xuất khẩu chính trong giai đoạn này là dệt may, cao su, gỗ… Trong giai đoạn 1971-1978, Chính phủ lại đặt chiến lược với sản xuất sản phẩm công nghiệp, công nghiệp hóa chất, hóa dầu, từ năm 1982 xuất khẩu sản phẩm có tri thức, hàm lượng công nghệ cao [21; 156]

Để khuyến khích các công ty sản xuất hàng xuất khẩu, Chính phủ Hàn Quốc

đã thực hiện chính sách thu hút về tài chính bằng cách ưu tiên các công ty và xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu được vay vốn với lãi xuất thấp và được miễn hoặc

Trang 39

giảm thuế cho các khoản thu từ xuất khẩu, biện pháp này được thực hiện cho đến năm 1983 bởi nó không còn phát huy được tính tích cực như trong giai đoạn đầu Ngoài ra, để hỗ trợ cho việc đẩy mạnh xuất khẩu, Chính phủ Hàn Quốc đã

thành lập “Tổ chức xúc tiến thương mại Hàn Quốc” (KTPC) vào năm 1964 và

Hiệp hội các nhà thương mại Hàn Quốc Chính phủ còn ban hành các đạo luật để trợ giúp các công ty huy động vốn dành cho xuất khẩu như: Luật thúc đẩy nhập khẩu tư bản nước ngoài của Hàn Quốc (1/1960) được sửa đổi năm 1962 và 1966 Năm 1965, quan hệ Nhật - Hàn được trở lại bình thường, Hàn Quốc có thể vay vốn thương mại từ Nhật Bản Đặc biệt nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu, Chính phủ

đã thực hiện chính sách đa dạng hóa thị trường nhất là từ kế hoạch 5 năm

1977-1981 Ngoài việc mở rộng xuất khẩu ra thị trường thế giới, Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu, Hàn Quốc còn mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ Latinh, Châu Phi và Đông Âu

Bên cạnh các chính sách tự do hóa có điều tiết và khuyến khích xuất khẩu, chính sách phát triển khoa học công nghệ cũng đóng vai trò hết sức quan trọng Trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa của Hàn Quốc Có thể nói rằng một trong những nhân tố dẫn đến sự thần kỳ của Hàn Quốc chính là việc Hàn Quốc đã tận dụng được có hiệu quả 5 thành tựu khoa học công nghệ của thế giới Năm 1960,

Bộ Khoa học và Công nghệ ra đời, mở đường cho công cuộc phát triển khoa học và công nghệ của Hàn Quốc Chính sách phát triển khoa học công nghệ của Hàn Quốc được thực hiện đồng thời với các chính sách kinh tế trọng điểm khác và có thể chia thành 3 giai đoạn với những đặc thù cũng khác nhau:

Trang 40

Giai đoạn 1, trong những năm 60 của thế kỉ XX, đẩy mạnh khoa học công nghệ, sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và tăng cường nhập khẩu công nghệ và bằng các phát minh sáng chế của nước ngoài

Giai đoạn 2, trong những năm 70 của thế kỉ XX, đẩy mạnh giáo dục kỹ thuật

và công nghệ trong các lĩnh vực công nghiệp nặng và hóa chất, cải tiến cơ cấu công nghiệp để thích ứng với kỹ thuật nhập khẩu, thúc đẩy với nghiên cứu đáp ứng nhu cầu phát triển của các ngành chế tạo có kỹ thuật từ trung bình đến kỹ thuật cao Giai đoạn 3, từ đầu những năm 80 đến nay, đẩy mạnh chế tác nhằm phát triển các ngành công nghiệp theo hướng tinh vi và hiện đại như vật liệu bán dẫn và vi điện tử và đào tạo những công nhân có trình độ kỹ thuật cao, mở rộng kiến thức đào tạo tại nước ngoài [3; 72]

1.3.1.5 Chính sách đào tạo nguồn nhân lực

Ở Hàn Quốc có rất nhiều nhân tố quan trọng quan hệ trực tiếp đến nội dung và chiến lược của nền giáo dục đó là: Tư tưởng truyền thống Khổng giáo, những sức

ép chính trị và sự sống còn phát triển của đất nước do thiếu tài nguyên thiên nhiên

và sự phân chia đất nước Thực hiện dân chủ hóa, sự khao khát hiện đại hóa đất nước và khoa học công nghệ tiên tiến Những yếu tố này góp phần tạo nên một đội ngũ lao động tinh hoa của đất nước Hàn Quốc Chính phủ Hàn Quốc luôn coi trọng giáo dục đào tạo, coi giáo dục đào tạo là nhân tố quyết định thúc đẩy sự tăng trưởng

và phát triển kinh tế của đất nước Hàn Quốc có một nền giáo dục toàn diện, đến đầu những năm 90, tỷ lệ nhập học của học sinh trung học tăng lên gấp 10 lần, tỷ lệ

sinh viên cao đẳng và đại học tăng 4,3 lần so với năm 1952

Để phát triển kinh tế, các tiêu chuẩn xã hội phải hoạt động có hiệu quả, các chức năng của nó phải mạnh và rộng khắp Trong sự nhiệp công nghiệp hóa nhanh

ở Hàn Quốc cần phải có nguồn nhân lực có trình độ cao có khả năng công tác với

Ngày đăng: 16/07/2015, 08:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Ngô Xuân Bình, Phạm Qúy Long, “Hàn Quốc trên con đường phát triển”, NXB Thống kê, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hàn Quốc trên con đường phát triển”
Nhà XB: NXB Thống kê
4. Lê Thành Bình (2009), “Công nghiệp hóa ở Hàn Quốc và Đài Loan”, Những vấn đề kinh tế và chính trị, Tạp chí Thế giới số 7, 159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa ở Hàn Quốc và Đài Loan
Tác giả: Lê Thành Bình
Năm: 2009
5. Ngô Xuân Bình (1996), “Tìm hiểu nền hành chính Hàn Quốc và Việt Nam”, NXB Trẻ, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nền hành chính Hàn Quốc và Việt Nam”
Tác giả: Ngô Xuân Bình
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1996
6. Dương Phú Hiệp, Ngô Xuân Bình (cb)(1999), “Hàn Quốc trước thềm thế kỷ XXI”, NXB thống kê, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Quốc trước thềm thế kỷ XXI”
Tác giả: Dương Phú Hiệp, Ngô Xuân Bình (cb)
Nhà XB: NXB thống kê
Năm: 1999
7.Trần Văn Đào, Phạm Doãn Nam (2001), “Giáo trình quan hệ kinh tế 1945 - 1990”, Học viện quan hệ quốc tế, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quan hệ kinh tế 1945 -1990”
Tác giả: Trần Văn Đào, Phạm Doãn Nam
Năm: 2001
8. Hoàng văn hiển (1998), “Giáo dục và đào tạo ở Hàn Quốc”, NXB Lao động, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo dục và đào tạo ở Hàn Quốc”
Tác giả: Hoàng văn hiển
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 1998
9. Hoàng Văn Hiển, Nguyễn Viết Thảo (1998), “Quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến 1995”, NXB Chính trị quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến 1995”
Tác giả: Hoàng Văn Hiển, Nguyễn Viết Thảo
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1998
10. Hoàng Văn Hiển, Dương Quang Hiệp(4/2001), Vài nét về quan hệ kinh tế Hàn Quốc - Mỹ (1948 - 1979), Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á số 2,(32), tr 50-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về quan hệ kinh tế Hàn Quốc - Mỹ (1948 - 1979
11. Vũ Đăng Hinh (1997), “Quan hệ Mỹ - Hàn từ những năm 1950 - 1970”, Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số 6. Tr7-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quan hệ Mỹ - Hàn từ những năm 1950 - 1970”
Tác giả: Vũ Đăng Hinh
Năm: 1997
12. Nguyễn Văn Hồng (2010), “Mấy vấn đề lịch sử châu Á và lịch sử khu vực - một cách nhìn”, NXB văn hóa dân tộc, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lịch sử châu Á và lịch sử khu vực - một cách nhìn”
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: NXB văn hóa dân tộc
Năm: 2010
13. Dương Phú Hiệp (1996), “Con đường phát triển của một số nước châu Á Thái Bình Dương”, NXB Chính trị quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường phát triển của một số nước châu Á Thái Bình Dương”
Tác giả: Dương Phú Hiệp
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
14, Bùi Thị Kim Huệ (6/2007), “Tổng quan về quan hệ Mỹ Hàn”, Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á, số 6(76), tr 11 - 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tổng quan về quan hệ Mỹ Hàn
15. Bùi Thị Kim Huệ (2010), “Quan hệ Hàn Quốc - Hoa Kỳ 1961-1993”, Luận án tiến sĩ, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Hàn Quốc - Hoa Kỳ 1961-1993”
Tác giả: Bùi Thị Kim Huệ
Năm: 2010
16. Sun - joo Han, Editor (1982), “After on Hundrea year: Continuity and change in Korean - American relation Asiatic research center Korea university”, Seol Korea Sách, tạp chí
Tiêu đề: After on Hundrea year: Continuity and change in Korean - American relation Asiatic research center Korea university”
Tác giả: Sun - joo Han, Editor
Năm: 1982
17. Youngnok Koo and Dae - Sook Suh (1988), “Korea and the United States - A Century of Cooperation”, Univerrsty of Hawaii Pres, Honolulu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Korea and the United States - A Century of Cooperation”
Tác giả: Youngnok Koo and Dae - Sook Suh
Năm: 1988
18. Chung - Yum Kim (1999), “Hoạch định chính sách trên chiến tuyến” (hồi ký của một viên chức kinh tế cấp cao Hàn Quốc 1945-1979), Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoạch định chính sách trên chiến tuyến”
Tác giả: Chung - Yum Kim
Năm: 1999
19. Byung - Naksong (2002), “Kinh tế Hàn Quốc đang trỗi dậy”, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Hàn Quốc đang trỗi dậy”
Tác giả: Byung - Naksong
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002
22. Cù Chí Lợi (7/2012), “Chính sách của Hoa Kỳ đối với khu vực châu Á- Thái Bình Dương và những hàm ý tới Việt Nam”, Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số 7.tr 3 - 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chính sách của Hoa Kỳ đối với khu vực châu Á- Thái Bình Dương và những hàm ý tới Việt Nam”, Tạp chí châu Mỹ ngày nay
23. Phan Huy Lê (2004), “Hàn Quốc lịch sử và văn hóa”, NXB Chính trị quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Quốc lịch sử và văn hóa”
Tác giả: Phan Huy Lê
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
24. Đặng Văn Lung (cb) (2002), “Tiếp cận văn hóa Hàn Quốc”, NXB Văn hóa thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn hóa Hàn Quốc”
Tác giả: Đặng Văn Lung (cb)
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Viện trợ của Mỹ cho Hàn Quốc (1945 - 1961) - Nhân tố mỹ trong sự phát triển kinh tế của hàn quốc thời kỳ 1948 1991
Bảng 1 Viện trợ của Mỹ cho Hàn Quốc (1945 - 1961) (Trang 67)
Bảng 2: Đầu tƣ trực tiếp vào Hàn Quốc của Mỹ (1962-1979) - Nhân tố mỹ trong sự phát triển kinh tế của hàn quốc thời kỳ 1948 1991
Bảng 2 Đầu tƣ trực tiếp vào Hàn Quốc của Mỹ (1962-1979) (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w