Mục đích nghiên cứu Đánh giá tính đa dạng của các loài cây gỗ trong rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp bảo vệ và tăng cường tính đa dạng thực v
Trang 2Cũng qua đây, tôi xin trân trọng cảm ơn cán bộ tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Hà
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan dây là đề tài do tôi thực hiện cùng với sự hướng dẫn của TS Lê Đồng Tấn và ThS Dương Thị Thanh Thảo Các số liệu trong đề tài là trung thực, được thu thập từ thực nghiệm và qua xử lí thống kê Các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Hà
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
5 Bố cục của khóa luận 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Quan điểm chung về đa dạng sinh học 3
1.2 Nghiên cứu về đa dạng các loài cây gỗ trên thế giới 3
1.3 Nghiên cứu về đa dạng các loài cây gỗ ở Việt Nam 5
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
2.1 Đối tượng nghiên cứu 10
2.2 Phạm vi nghiên cứu 10
2.3 Thời gian nghiên cứu 10
2.4 Phương pháp nghiên cứu 10
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 15
3.1 Thành phần loài cây gỗ trong rừng thứ sinh tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh 15
3.1.1 Số lượng loài 15
3.1.2 Mật độ cây gỗ 21
3.2 Tính đa dạng cây gỗ tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh 24
3.2.1 Đa dạng loài 24
3.2.2 Đa dạng về dạng sống 28
3.2.3 Đa dạng về giá trị sử dụng 28
3.3 Đề xuất giải pháp quản lý các loài cây gỗ phục vụ cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh 29
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33 PHỤ LỤC
Trang 5đa dạng sinh học (ĐDSH) ĐDSH là một trong những nguồn tài nguyên quý giá nhất vì nó là cơ sở của sự sống còn và phát triển bền vững của các loài sinh vật trên hành tinh chúng ta
Việt Nam được coi là một trong những trung tâm ĐDSH của vùng Đông Nam Á Tuy nhiên tài nguyên rừng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khác nhau, như chiến tranh, nhu cầu lâm sản ngày càng cao, hay sự gia tăng dân số,
sự phát triển công nghiệp hóa, dịch vụ du lịch, Do đó, nghiên cứu đa dạng
và bảo tồn thực vật đã trở thành một chiến lược trên toàn thế giới nhằm phục
vụ yêu cầu xây dựng quy hoạch, phát triển kinh tế, bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường,…
Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh nằm sát Vườn quốc gia Tam Đảo Mặc dù có diện tích không lớn, nhưng do đa dạng về địa hình và thổ nhưỡng, cho nên có nhiều kiểu rừng khác nhau với hệ thực vật rất đa dạng Các loài cây gỗ ở trạm Đa dạng sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc rất phong phú và đa dạng về thành phần loài và có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái
Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng
cây gỗ trong rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại trạm Đa dạng sinh học
Mê Linh - Vĩnh Phúc”
Trang 62 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá tính đa dạng của các loài cây gỗ trong rừng thứ sinh phục hồi
tự nhiên làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp bảo vệ và tăng cường tính đa dạng thực vật tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc
3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu thành phần loài cây gỗ trong rừng thứ sinh tại trạm Đa
dạng sinh học Mê Linh
Nghiên cứu tính đa dạng cây gỗ tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh
Đề xuất giải pháp quản lý các loài cây gỗ phục vụ cho công tác bảo
tồn đa dạng sinh học tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Đề tài là giải pháp nhằm góp phần cập nhật và bổ
sung dẫn liệu về tính đa dạng thực vật tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài phục vụ cho việc bảo tồn và tăng
cường tính đa dạng thực vật tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh
5 Bố cục của khóa luận
Gồm 40 trang, 2 ảnh, 3 bảng, chia thành các phần như sau:
Mở đầu (2 trang); Chương 1: tổng quan tài liệu (7 trang); Chương 2: đối tượng và phương pháp nghiên cứu (5 trang); Chương 3: kết quả nghiên cứu (16 trang); Kết luận và đề nghị (2 trang); Tài liệu tham khảo (4 trang); Phụ lục (không đánh số trang)
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Quan điểm chung về đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học (ĐDSH) là khoa học nghiên cứu về tính đa dạng của vật sống trong thiên nhiên Còn đa dạng sinh vật là toàn bộ các dạng khác nhau của cơ thể sống trên trái đất từ các sinh vật phân cắt đến các động vật và thực vật (trên cạn cũng như ở dưới nước) và cả loài người chúng ta, từ mức
độ phân tử đến các cơ thể, các loài và các quần xã mà chúng sống Đa dạng
sinh vật được thể hiện ở 3 cấp độ:
Đa dạng di truyền được thể hiện bằng đa dạng về nguồn gen và genotype
nằm trong mỗi loài
Đa dạng loài thể hiện bằng số lượng các loài hoặc phân loài khác nhau
sinh sống trong một vùng nhất định Trên một đơn vị diện tích ở các vùng khác nhau có số loài khác nhau chứng tỏ mức độ đa dạng khác nhau Đa dạng loài hoàn toàn bao trùm tính đa dạng di truyền và thường được coi trọng nhất khi đề cập tới tính ĐDSH
Đa dạng hệ sinh thái thể hiện bằng sự khác nhau cả các kiểu quần xã
sinh vật tạo nên do các cơ thể sống và mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các điều kiện sống (đất, nước, khí hậu, địa hình) (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008)
1.2 Nghiên cứu về đa dạng các loài cây gỗ trên thế giới
Vấn đề đa dạng sinh vật nói chung và đa dạng thực vật nói riêng cũng như bảo tồn chúng đã trở thành một chiến lược quan trọng trên toàn thế giới Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật trên phạm vi toàn thế giới Đó là Hiệp hội quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN), Chương trình môi trường liên hợp quốc (UNEP), Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF),…
Trang 8Cùng với các công trình đó, đã có hàng ngàn cuộc hội thảo khác nhau được tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, phương pháp, cùng các kết quả đạt được ở khắp mọi nơi trên toàn thế giới Nhiều tổ chức quốc tế và khu vực được tạo thành mạng lưới phục vụ cho việc đánh giá bảo tồn và phát triển ĐDSH
Tất cả các tình hình trên đây cho thấy tầm quan trọng vô cùng to lớn của vấn đề ĐDSH nói chung và đa dạng thực vật nói riêng đối với mỗi vùng lãnh thổ địa phương trong mỗi nước, đặc biệt là các khu bảo tồn như Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên,…
Cho đến nay, hầu hết các quốc gia đều đã và đang nghiên cứu đánh giá hay có những công trình về đa dạng thực vật trên cả nước hay mỗi khu vực ở mức độ khác nhau, được công bố trong các tập sách chuyên khảo như Thực vật chí, Danh lục các taxon,tài nguyên, Sách đỏ,…cũng như các bài báo hay tạp chí, báo cáo khoa học trong các hội nghị , hội thảo,…
Trong lĩnh vực nghiên cứu về đa dạng của hệ thực vật và thảm thực vật
đã có nhiều tác giả trên thế giới quan tâm và có các công trình công bố như:
- Lecomte, H, 1907-1952, Flora generale de I Indochine Tom I-VII, Pari
- Phedorov A.A, 1965 Vai trò của tài nguyên thực vật đối với kinh tế quốc dân, Tạp chí Tài nguyên thực vật, tập 1 số 1, Tiếng Nga
- Plant Resources of South - East - Asia -7, 1995 Bamboo - Bogor Indonesia
- IUCN, 1998 The world list of Threatened trees World Conservasion Press
- IUCN, 2001, Red list of Threatened Plants Website: redlist.org
- Mooney (1992) thống kê số loài cây gỗ có D1,3 > 2,5cm trong một ô tiêu chuẩn có diện tích 0,1 ha
Trang 91.3 Nghiên cứu về đa dạng các loài cây gỗ ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, do sự khác biệt lớn
về khí hậu từ vùng gần Xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên sự đa dạng về thiên nhiên, cho nên hệ thực vật rất phong phú và được coi là một trong những trung tâm đa dạng sinh vật có tính ĐDSH cao trên thế giới với nhiều loài có giá trị khoa học và kinh tế cao, loài đặc hữu, nhiều nguồn gen quý hiếm
Trải qua nhiều năm tháng, cùng với những biến cố của lịch sử, kinh tế
và chính trị, ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy thoái và sự suy thoái này diễn ra với tốc độ rất nhanh trong những năm gần đây, từ đây đã có một số tác giả nghiên cứu về rừng trong đó có cây gỗ
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về đa dạng của hệ thực vật và thảm thực vật cũng được nhiều nhà nghiên cứu tiến hành từ khá sớm Ngay từ thế kỷ
XV, XVII, có các danh y Tuệ Tĩnh và Lê Hữu Trác nghiên cứu về thực vật và cây thuốc Từ thời Pháp thuộc, các nhà nghiên cứu phương Tây như Loureiro (1790) đã mô tả gần 700 loài thực vật Nam Bộ, Pierre (1879) cũng mô tả 800 loài cây gỗ rừng Nam Bộ Lecomte (1907-1943), Petelot, Focaud đã nghiên cứu các loài thực vật và cây thuốc ở 3 nước Đông Dương Đặc biệt hiện nay việc nghiên cứu, tìm hiểu sự đa dạng của các kiểu thảm thực vật, của các loài cây quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng đang rất được quan tâm, nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên phục vụ cho nền kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái Điển hình là một số công trình của các tác giả sau:
Lâm Phúc Cố (1996) nghiên cứu rừng thứ sinh sau nương rẫy ở Púng Luông, Mù Căng Chải, tỉnh Yên Bái đã phân chia thành 5 giai đoạn và kết luận diễn thế thứ sinh sau nương rẫy ở Púng Luông theo hướng đi lên tiến tới rừng cao đỉnh Tổ thành loài tăng dần theo các giai đoạn phát triển, từ 4 loài ở giai đoạn I (dưới 5 năm), tăng lên 5 loài ở giai đoạn (trên 25 năm) Rừng phục
hồi có 1 tầng cây gỗ giao tán ở giai đoạn 10 tuổi và đạt độ tàn che 0,4 [6]
Trang 10Lê Đồng Tấn (2000) nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên sau nương rẫy tại Sơn La, tác giả kết luận: số lượng cây/ô tiêu chuẩn, mật độ cây giảm dần từ chân đồi lên sườn và đỉnh đồi Mật độ cây giảm khi độ dốc tăng
Tổ hợp loài cây ưu thế trên cả 3 vị trí địa hình và 3 cấp độ dốc là giống nhau,
sự khác nhau chính là hệ số tổ thành của các loài trong tổ hợp đó, tính chất này càng thể hiện rõ trên cùng một địa điểm (một khu đồi) Độ cao có ảnh hưởng lên sự phân bố của các loài cây và sự hình thành thảm thực vật Thoái hoá đất
có ảnh hưởng đến: mật độ cây, số lượng loài cây và tổ thành loài cây [21]
Lê Đồng Tấn, Đỗ Hoàng Chung, Báo cáo Khoa học về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ nhất: "Kết quả nghiên cứu trên ô định vị về diễn thế phục hồi tự nhiên thảm thực vật tại Vườn quốc gia Tam Đảo" Kết quả nghiên cứu trên ô định vị cho thấy thời gian phát triển của thảm thực vật từ thảm cỏ (guột) đến thảm cây bụi có cây gỗ là 6 năm, từ thảm cây bụi có cây gỗ đến rừng non với độ tàn che 0,3 là 5 năm, và từ rừng non đến rừng thứ sinh với độ tàn che 0,6 là 5 năm Như vậy, thời gian của quá trình diễn thế phục hồi rừng
tự nhiên từ thảm cỏ đến rừng thứ sinh là 16 năm [24]
Đặng Văn Sơn, Viện Sinh học nhiệt đới: "Tài nguyên thực vật cây thân
gỗ trên hệ sinh thái gò đồi thuộc huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh" Báo cáo này cung cấp thông tin về tài nguyên thực vật cây thân gỗ trên hệ sinh thái gò đồi thuộc huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh nhằm góp phần đánh giá nguồn tài nguyên thiên nhiên của một trong số những khu rừng còn sót lại
ở khu vực Đông Nam Bộ - là cơ sở cho việc phát triển trong tương lai và khai thác bền vững [16]
Một số công trình nghiên cứu tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh
- Đầu tiên phải kể đến kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tiến Bân (2005)
đã cho thấy Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc tồn tại những nhân
tố bản địa đặc hữu của khu hệ thực vật Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa với
Trang 11các ưu hợp thực vật họ Re (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Dâu tằm (Moracae), họ Mộc lan (Magnoliaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Xoài (Anacardiaceae), họ Trám (Burseraceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Sau sau (Hamamelidaceae) Đây cũng là nơi có các yếu tố thực vật di cư từ phía Nam lên như các loài cây thuộc họ Dầu Với diện tích khoảng 171 ha, Trạm
có 171 họ thực vật với 669 chi và 1126 loài, trong đó đã gặp các ngành:
+ Nghành Thông đất 2 họ, 3 chi, 6 loài
+ Nghành Mộc tặc 1 họ, 1 chi, 1 loài
+ Nghành Dương xỉ 19 họ, 34 chi, 64 loài
+ Ngành Mộc lan 147 họ, 692 chi, 1151 loài
Trong số 171 họ có 27 họ chỉ có 1 loài; 83 họ có từ 2 - 4 loài; 24 họ có
từ 5 - 9 loài; 37 họ có trên 10 loài Trong số đó có 13 họ có từ 20 loài trở lên gồm: Euphorbiaceae: 71 loài; Rubiaceae: 62 loài; Orchidaceae: 54 loài; Fabaceae: 40 loài; Cyperaceae: 37 loài; Moraceae: 29 loài; Asteraceae: 29 loài; Poaceae: 28 loài; Lauraceae: 27 loài; Myrsinaceae: 24 loài; Verbenaceae:
22 loài; Zingiberaceae: 22 loài; Araceae: 20 loài Có 39 loài thuộc dạng quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam, đó là các loài: Drynaria bonii, D fortunei, Enicosanthellum petelotii
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu tại Trạm, trong dố phải
kể đến một số công trình sau:
- Kết quả đề tài nghiên cứu “Xây dựng cơ sở dữ liệu giám sát đa dạng thực vật Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh” của Phòng Sinh thái thực vật (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật) (Nguyễn Văn Sinh, 2006) đã cho thấy, lớp phủ thực vật tự nhiên của Trạm được chia thành 4 trạng thái đặc trưng sau: trảng cỏ, trảng cây bụi, rừng thứ sinh kín và rừng thứ sinh thưa
Trong các khu vực phân bố rừng thứ sinh kín và rừng thứ sinh thưa ngoài quần xã rừng cây lá rộng hỗn loài, do nhiều loài cây gỗ cùng tham gia cấu thành nên tầng tán chiếm phần lớn diện tích, còn có những quần xã do
Trang 12một loài: Sặt (Sinobambusa sat), Nứa (Neohouzeaua dullooa), Giang (Ampelocalamus patellaris), Bồ đề (Styrax tonkinensis) hoặc Chẹo (Engelhardtia roxburghiana), hoặc do ưu hợp của 2 loài (Giang và Nứa)
chiếm ưu thế tuyệt đối ở tầng tán [17]
- Đặc biệt trong hai năm 2010 - 2011, TS Dương Đức Huyến ở viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã được xếp loại đề tài xuất sắc về “Nghiên cứu tính tăng cường đa dạng thực vật bằng những loài cây gỗ quý hiếm tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc” [9] Tác giả đã thu được kết quả
+ Đã tiến hành ứng dụng khoa học kỹ thuật để nhân giống và gây trồng thành công 20 loài tại thảm thực vật rừng Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh Tổng số cá thể đã trồng là 610 cây, tỷ lệ sống đạt 70-80%
+ So với bản kết luận của Hội đồng tư vấn (theo quyết định số KHCNVN ngày 22-9-2009 của Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) với kế hoạch trồng là 20 loài, 500 cá thể và tỷ lệ sống 60%, thực tế đề tài đã vượt mức chỉ tiêu đó với 610 cá thể, đạt 122% (vượt 22%), với tỷ lệ sống là 70-80% (vượt 10-20%)
Bên cạnh đó trong Hội nghị Khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 3 còn có nhiều báo cáo khoa học về tài nguyên rừng tại trạm ĐDSH Mê Linh:
- Ma Thị Ngọc Mai, Lê Đồng Tấn: "Một số kết quả nghiên cứu về thành phần và phân bố cây tái sinh dưới tán rừng thứ sinh tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc" [11] Báo cáo này đã thu được kết quả:
+ Đã thống kê được 33 loài cây tái sinh, trong đó có 7 loài đạt hệ số tổ thành > 5% Những loài cây tái sinh chiếm ưu thế vẫn là tổ hợp loài cây tiên phong ưu sáng
+ Sự phù hợp giữa lớp cây tái sinh với thành phần loài cây đứng
+ Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao có dạng giảm Có thể sử dụng hàm Mayer để mô phỏng quy luật phân bố cây tái sinh theo cấp độ chiều cao
Trang 13+ Phân bố cây tái sinh trên mặt đất trong tất cả các trạng thái thảm thực vật thứ sinh gồm thảm cỏ, thảm cây bụi và rừng thứ sinh để có dạng phân bố cụm
- Lê Đồng Tấn, Trần Văn Thụy, Vũ Hải Thuận: "Diễn thế thứ sinh thảm thực vật tại khu vực trạm Đa dạng sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc" Trong công trình này, các tác giả đã nghiên cứu hiện trạng các trạng thái và những đặc trưng cơ bản của loạt diễn thế Từ đó phản ánh mối quan hệ của các chuỗi diễn thế trong loạt diễn thế thứ sinh của rừng rậm thường xanh nhiệt đới gió mùa trên đất thấp vùng đồi núi thoát nước [25]
- Trần Văn Thụy, Nguyễn Anh Đức, Lê Đồng Tấn, Trần Đại Thắng:
"Đặc điểm thảm thực vật tại khu vực trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc" [30] Báo cáo này đã thu được một số kết quả sau:
+ Trình bày được đặc điểm thảm thực vật tự nhiên:
Rừng rậm thường xanh nhiệt đới gió mùa trên đất thấp (dưới 550m), thoát nước: nghiên cứu các đặc điểm về cấu trúc và sinh học; thành phần loài; cấc trúc và ĐDSH)
Thảm thực vật thủy sinh nước ngọt
Thảm thực vật nhân tạo
+ Đánh giá ĐDSH thực vật của rừng thứ sinh trong khu vực (ở mức độ trung bình tới thấp), chỉ thị mức phân li các loài khá rộng, độ tập trung các loài ưu thế chưa cao, tuy nhiên chúng đang được bảo vệ tốt…
Và đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng cây gỗ trong rừng thứ sinh phục
hồi tự nhiên tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh” của chúng tôi sẽ giúp
thống kê các loài cây gỗ ở khu vực nghiên cứu, từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp góp phần bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên này
Trang 14
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài cây gỗ trong rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc
Phương pháp điều tra
Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa nhằm thu thập các dữ liệu
về phân loại (thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu ở trạng thái tươi,… và các đặc điểm khác); thu thập số liệu về đa dạng sinh học (số lượng, chất lượng, diễn biến về số lượng và chất lượng), tình trạng suy thoái trong những vùng tiểu sinh thái cụ thể về các loài ở nơi nghiên cứu
Để làm tốt công tác điều tra thực địa, chúng tôi tiến hành nghiên cứu theo phương pháp của Thái Văn Trừng (1978) [32] và Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) [ 28] để điều tra theo tuyến và lập ô tiêu chuẩn (OTC) Xác định độ tàn che theo phương pháp của Nguyễn Văn Thêm (2002) [26]; nghiên cứu phân
bố cây theo công thức của Nguyễn Hải Tuất (1990) [31]; đo chiều cao cây tái sinh theo 8 cấp chiều cao theo Trần Đình Lý (2003) [14]
Trang 15Lập tuyến điều tra: Tuyến điều tra (TĐT) được thiết lập dựa trên các
thông tin về thảm thực vật (bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ qui hoạch các khu vực), các thông tin từ ban quản lý và cán bộ chuyên môn của khu vực nghiên cứu, Các TĐT đi qua tất cả các trạng thái rừng, các dạng địa hình, đai độ cao, các trạng thái rừng bị phá huỷ hay suy thoái do tác động của con người TĐT được xác định theo 2 hướng song song và vuông góc với đường đồng mức; chiều rộng tuyến là 10m; chiều dài tuyến tùy thuộc vào địa hình cho phép nhưng ít nhất là 500m; số lượng TĐT cho mỗi đối tượng ít nhất là 3 tuyến; khoảng cách giữa các tuyến là 50-100m tùy vào loại hình cụ thể của từng quần xã
Trên TĐT, chúng tôi thống kê tất cả cây gỗ có đường kính ngang thân
từ 5cm trở lên Số liệu được ghi chép theo mẫu sau (Biểu 1)
Biểu 1 Điều tra thực vật theo tuyến
Số hiệu tuyến……… Người điều tra………
Bắt đầu từ……… đến……… Ngày điều tra………
Chiều dài tuyến………
Lập ô tiêu chuẩn (OTC) và thu thập dữ liệu: Tại mỗi trạng thái thảm thực
vật đặt ngẫu nhiên 07 OTC; mỗi OTC có diện tích 400m2
(20 x 20m) được áp dụng để xác định sự phân bố cây theo chiều cao và theo đường kính; trong mỗi OTC, chúng tôi thiết lập các ô dạng bản có diện tích 100m2
(5 x 20m)
Trang 16Hình 1 Ô tiêu chuẩn, ô dạng bản và sơ đồ thu mẫu
Trong mỗi ô dạng bản, đo đếm các chỉ tiêu ở tất cả các cá thể có đường kính ngang thân từ 5cm trở lên theo mẫu sau (Biểu 2)
Biểu 2 Các chỉ số đo đếm cho cây tái sinh
TT
Tên họ Tên loài
HVN (m)
HDC (m)
DT (m)
D1.3 (cm)
Công dụng
Trong đó: HVN - chiều cao vút ngọn
HDC - chiều cao dưới cành
DT - đường kính tán
D1.3 - đường kính thân ở độ cao 1,3m (tính từ mặt đất lên)
Trang 17Những loài cây chưa biết tên khoa học thu thập tiêu bản để giám định
tên Phương pháp thu thập tiêu bản và xử lý mẫu theo các phương pháp thông
thường đang được áp dụng hiện nay
Phân tích và xử lý số liệu
Để tra cứu nhận biết các họ, chúng tôi căn cứ vào Cẩm nang tra cứu và
nhận biết các họ thực vật Hạt kín ở Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (1997) [1]
và Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [27]
Để xác định tên khoa học các loài, chúng tôi căn cứ vào Cây cỏ Việt
Nam của Phạm Hoàng Hộ (1999-2001) [7] Nếu vẫn còn nghi ngờ kết quả,
chúng tôi tiến hành thu mẫu để tham khảo ý kiến của các chuyên gia phân loại
Để chỉnh lý tên khoa học, chúng tôi căn cứ vào Danh lục các loài thực vật
Việt Nam do Nguyễn Tiến Bân làm chủ biên (2003, 2005)[2] [3] và Trung tâm
nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường Đại học quốc gia Hà Nội công bố năm
2001 Số liệu được xử lý trên phần mềm Excel của máy tính điện tử, có áp
dụng các phương pháp thống kê sinh học
- Sử dụng khung phân loại của UNESCO (1973) [37] để phân loại thảm
n là số cá thể của loài
N là số cá thể của tất cả các loài
Theo Daniel Marmillod, chỉ những loài cây có P > 5% mới thực sự có ý
nghĩa về mặt sinh thái trong lâm phần (Nếu P > 5% thì loài đó được tham gia
vào công thức tổ thành, nếu P < 5% thì loài đó không được tham gia vào công
thức tổ thành) Theo Thái Văn Trừng (1978) [32], trong một lâm phần nhóm
loài cây nào đó > 50% tổng số cá thể của tầng cây cao thì nhổm loài đó được
coi là nhóm loài ưu thế Vì vậy, cần tính tổng P của những loài có trị số lớn
Trang 18hơn 5%, xếp từ cao xuống thấp và dừng lại khi tổng P đạt 50% Mật độ cây (cây/ha) được tính theo công thức:
Xác định mật độ cây: Được tính trung bình trên OTC sau đó quy ra số
cây/ha theo công thức: M = x10.000
Trang 19Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thành phần loài cây gỗ trong rừng thứ sinh tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh
3.1.1 Số lượng loài
Đã thống kê được 65 loài cây gỗ thuộc 51 chi, 29 họ Trong đó:
Loài có số lượng cá thể nhiều nhất là Kháo lá nhỏ (Machilus sp.) với
250 cá thể
Những loài có số lượng cá thể ít gồm có: Lòng mức lông (Wrightia pubescens R.Br), Chòi mòi (Antidesma ghaesembilla Gaertn.), Kháo vàng bông (Machilus thunbergii Sieb & Zucc.), Dướng (Broussonetia papyrifera
(L.) L'He'r ex Vent.), Ràng ràng xanh (Ormosia balansae Drake): mỗi loài có
2 cá thể
Danh sách các loài được trình bày trong bảng 3.1
Trang 20Bảng 3.1 Danh lục các loài cây gỗ trong rừng thứ sinh tại trạm ĐDSH Mê Linh
STT
Tên loài
Dạng sống Công dụng
(1)
Số lƣợng
cá thể Khoa học Việt Nam
1 Alangiaceae Lindl - Họ Thôi ba
1 Alangium chinensis (Lour.)
2 Altingiaceae Lindl - Họ Tô hạp
2 Liquidambar formosana
3 Anacardiaceae Lindl - Họ Xoài
duperreanum Pierre Sấu Gỗ lớn G, T, Q 7
5 Rhus chinensis Muell Muối Gỗ nhỏ T 5
5 Apocynaceae Juss - Họ Trúc đào
9 Wrightia pubescens R.Br Lòng mức lông Gỗ trung
Trang 217 Elaeocarpaceae DC - Họ Côm
12 Elaeocarpus griffithii
(Wight) A Gray Côm tầng Gỗ to G, T, cho tanin 5
8 Euphorbiaceae Juss - Họ Thầu dầu
13 Antidesma ghaesembilla
14 Aporosa dioica (Roxb.)
15 Bischofia javanica Blume Nhội Gỗ trung
bình
G, T, R, Q, cho bóng mát 3
24 Sapium discolor (Champ Ex
Benth.) Muell.- Arg Sòi tía Gỗ nhỏ G, cho tinh
9 Fabaceae Lindl - Họ Đậu
25 Ormosia balansae Drake Ràng ràng
xanh
Gỗ trung
10 Fagaceae Dumort - Họ Dẻ
26 Castanopsis indica (Roxb.)
A DC Dẻ gai ấn độ Gỗ lớn G, cho tannin,
hạt ăn được 3
11 Clusiaceae Lindl - Họ Bứa
27 Garcinia hainanensis Merr Bứa hải nam Gỗ nhỏ G, Q 5
28 Garcinia cowa Roxb Tai chua Gỗ cao G 3
12 Hypericaceae Juss - Họ Ban
29 Cratoxylum cochinchinense
(Lour.) Blume
Thành ngạnh nam