Nguyễn Thị Thảo K36 CN Lịch sửLỜI CẢM ƠN Trong quá trình triển khai khóa luận với đề tài: “Công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Lào 1897 - 1929”, tôi đã nhận được sự giúp
Trang 1HÀ NỘI, 2014
Trang 2Nguyễn Thị Thảo K36 CN Lịch sử
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai khóa luận với đề tài: “Công cuộc khai thác
thuộc địa của thực dân Pháp ở Lào (1897 - 1929)”, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ, tạo điều kiện của Ban Chủ nhiệm cùng các thầy cô trong khoa Lịch sử, Thư viện Quốc gia, viện Hàn Lâm Khoa Học… Đặc biệt là sự tận tình chỉ bảo của giảng viên Th.S Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Nhân khóa luận được hoàn thành, tôi xin chân thành cảm ơn đến khoa Lịch sử, các cán bộ Thư viện Quốc gia… Đặc biệt là giảng viên hướng dẫn Th.S Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Do tính mới mẻ của đề tài cũng như những hạn chế về thời gian, kiến thức và tài liệu nghiên cứu, khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu xót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Thảo
LỜI CAM ĐOAN
Trang 3Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Thảo
Trang 4Nguyễn Thị Thảo K36 CN Lịch sử
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi ngiên cứu 3
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của khóa luận 5
6 Bố cục của khóa luận 5
CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH NƯỚC LÀO VÀ QUÁ TRÌNH XÂM LƯỢC CỦA THỰC DÂN PHÁP Ở LÀO (1897 - 1929) 6
1.1 TÌNH HÌNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC CUỐI THẾ KỶ XIX 6
1.2.VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC CỦA LÀO ĐỐI VỚI PHÁP 11
1.3 QUÁ TRÌNH XÂM LƯỢC LÀO CỦA THỰC DÂN PHÁP………… 12
CHƯƠNG 2 CÔNG CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA PHÁP Ở LÀO (1897 - 1929) 18
2.1 CÔNG CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN THỨ NHẤT CỦA THỰC DÂN PHÁP Ở LÀO (1897 - 1914) 19
2.1.1 Chính sách về chính trị 19
2.1.2 Chính sách về kinh tế 23
2.1.3 Chính sách về văn hóa xã hội 28
2.2 CÔNG CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN THỨ 2 CỦA THỰC DÂN PHÁP Ở LÀO (1919 - 1929) 33
2.2.1 Chính sách về chính trị 33
2.2.2 Chính sách về kinh tế 34
2.2.3 Chính sách về văn hóa - xã hội 38
2.3 SO SÁNH CÔNG CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN THỨ NHẤT VÀ LẦN THỨ HAI CỦA PHÁP Ở LÀO 41
Trang 5Nguyễn Thị Thảo K36 CN Lịch sử
2.4 NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÔNG CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA
CỦA THỰC DÂN PHÁP Ở LÀO 42
2.4.1 Đối với Pháp 42
2.4.2 Đối với Lào 44
2.4.3 So sánh với Việt Nam 46
KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 6
Năm 1893, sau khi đặt được ách cai trị ở Lào, cũng như ở 3 nước Đông Dương, thực dân Pháp đã bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa ở Lào nhằm vơ vét tài nguyên và bóc lột nhân công
Lào vốn là một nước có nhiều tài nguyên thiên nhiên nhưng do dân số ít, địa hình hiểm trở, mật độ phân bố dân cư thưa thớt và trên hết là điều kiện kinh tế Lào còn quá nghèo nàn Bởi vậy cho nên công cuộc khai thác thuộc địa ở vùng đất hoang sơ này gặp rất nhiều khó khăn và nó có nhiều nét khác biệt so với Việt Nam và CamPuChia
Nhìn chung với tình hình cai trị và mức độ khai thác thuộc địa của Pháp ở Lào đã tác động rất lớn tới tình hình ở nước Lào Nó không những biến Lào thành một nước thuộc địa phụ thuộc, biến nền kinh tế Lào ngày càng què quặt, trì trệ, chậm phát triển như ở Việt Nam và CamPuChia, mà bên cạnh đó
nó đã biến nước Lào thành một thuộc địa dự trữ của Pháp
Trang 72
Khi nghiên cứu về công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp ở Đông Dương, các nhà sử gia đã có phần chú trọng tìm hiểu nhiều hơn về Việt Nam, còn đối với Lào, thì chỉ được nghiên cứu ở mức độ khái quát
Với mong muốn tìm hiểu sâu sắc hơn về nước bạn Lào, tìm hiểu về chính sách cai trị và công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Lào và so sánh đối chiếu với Việt Nam, người viết quyết định chọn đề tài “Công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Lào (1897-1929)” làm khóa luận tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Lịch sử Thế giới
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Là một trong ba nước nằm trên bán đảo Đông Dương, hiện nay nghiên cứu về lịch sử Lào đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều học giả trong và ngoài nước Mỗi công trình nghiên cứu lại đề cập đến những khía cạnh và góc
độ khác nhau Song để đi sâu vào một giai đoạn cụ thể mang tính toàn diện thì chưa có một tác phẩm nào đề cập đến vấn đề này một cách sâu sắc
Giới sử học phương Tây, đặc biệt là giới sử học Pháp từ rất sớm đã có những
công trình nghiên cứu về nước Lào như: “ Anguste Pavie - Douvonrville A.de
- Paris 1933”… Bên cạnh đó giới sử học Anh cũng có công trình “History of Laos - N.Y.Paragon ” “(Lịch sử Lào-Paragon), của Paragon Book reprint capt 1964” Tuy nhiên nội dung các tác phẩm này chủ yếu chỉ đề cập đến sự can
thiệp của Pháp vào Lào cuối thế kỷ XIX Các sự kiện được viết chủ yếu mang tính chất dàn trải, cung cấp sự kiện Trên hết, điểm hạn chế của nó là các sự kiện được viết theo quan điểm của chủ nghĩa thực dân, do đó nó ít nhiều làm mất đi tính chân thực và khách quan vốn có
Ngay trong bản thân nước Lào cũng đã có những nhà nghiên cứu, biên
soạn về lịch sử dân tộc mình như tác phẩm “Dã sử Lào quá trình biến thành thuộc địa của Xiêm và Pháp” của tác giả Chao Nhun on Phon… Cuốn sách đã
đề cập đến một giai đoạn lịch sử liên quan đến nội dung của đề tài nhưng chủ
Trang 8sử Lào”, trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia viện nghiên cứu
Đông Nam Á (1998), Nxb Văn Hóa Thông Tin… Đây là những cuốn sách thông sử chỉ phản ánh một cách khái lược công cuộc khai thác thuộc địa ở Lào Tuy nhiên, đây cũng là tài liệu quý để chúng tôi tham khảo
Ngoài các công trình nghiên cứu trên còn có nhiều bài viết của các tác giả, các cán bộ nghiên cứu của các Viện Sử Học, Viện nghiên cứu Đông Nam
Á được đăng trên các cuốn tạp chí nghiên cứu lịch sử, tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á… và nhiều bài dịch của các tác giả về các tác phẩm nước ngoài làm tư liệu phục vụ cho nghiên cứu và cho người đọc
Như vậy, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách đầy đủ về công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Lào thời kỳ (1897 - 1929) Vì vậy, với mong muốn tìm hiểu về khoảng trống đó,
người viết đã lựa chọn đề tài “Công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân
Pháp ở Lào (1897 - 1929)” làm khóa luận tốt nghiệp với hi vọng góp phần
nhỏ bé của mình vào việc tìm hiểu Lịch sử nước Lào thời cận đại
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi ngiên cứu
Về mục đích: người viết muốn làm rõ bản chất của công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp ở Lào đồng thời thấy được mức độ, quy mô và hình thức khai thác thuộc địa của chúng so với Việt Nam và Campuchia
Trang 94
Về nhiệm vụ: khóa luận làm rõ được vì sao Lào lại có vị thế chiến lược đối với Pháp Đồng thời cho chúng ta thấy được công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp ở Lào trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa-xã hội trên cơ sở
đó phân tích hậu quả của nó đối với nước Lào
Về không gian: Đề tài đề cập đến công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Lào và hậu quả của nó đối với nước Lào Trên cơ sở đó, so sánh với Việt Nam
Về thời gian: Khóa luận lấy mốc năm 1897 là mốc mở đầu của công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp ở Đông Dương và mốc năm 1929 là mốc kết thúc công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp ở Lào Đồng thời đây cũng là mốc trước khi thực dân Pháp bước vào cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 Đề tài chủ yếu nghiên cứu thời điểm bối cảnh lịch sử từ năm 1897 đến năm 1929 Đây là thời gian thực dân Pháp tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa ở Lào
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Dựa trên thực tế công cuộc khai thác thuộc địa mà thực dân Pháp đã tiến hành ở Lào Đồng thời dựa trên các tài liệu sách tham khảo của các nhà xuất bản, các viện nghiên cứu, các công trình nghiên cứu và luận văn thạc sĩ, luận
án tiến sĩ, nhiều bài viết, bài nghiên cứu có nội dung đề cập đến vấn đề khai thác thuộc địa của Pháp ở Lào Người viết cũng sưu tầm các tài liệu từ các tạp chí nghiên cứu của các Viện nghiên cứu Đông Nam Á, lấy thêm tư liệu để giúp cho bài viết của mình được đầy đủ và phong phú hơn
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện công trình của mình, người viết đã dựa cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta trong nghiên cứu sử học
Trang 105
Người viết đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau: phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, phương pháp phân tích, so sánh…
5 Đóng góp của khóa luận
Với những kết quả nghiên cứu đạt được, khóa luận giúp cho người đọc hiểu rõ hơn về công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Lào Bên cạnh đó, người đọc cũng sẽ hiểu hơn những tác động của công cuộc khai thác thuộc địa đối với nước Lào
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài được chia làm hai chương
Chương 1: Tình hình nước Lào và quá trình xâm lược của thực dân Pháp ở Lào (1897 - 1929)
Chương 2: Công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp ở Lào (1897 - 1929)
Trang 116
CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH NƯỚC LÀO VÀ QUÁ TRÌNH XÂM LƯỢC CỦA
THỰC DÂN PHÁP Ở LÀO (1897 - 1929)
1.1 TÌNH HÌNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC CUỐI THẾ KỶ XIX
Cuối thế kỉ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc Từ đây nhu cầu về thị trường thuộc địa ngày càng nhiều Giai cấp tư sản nắm độc quyền các mạch máu kinh tế Tư bản “mẫu quốc” trở thành “bạch tuộc” và là kẻ “lãnh đạo” xâm chiếm thuộc địa, mở rộng thị trường, nhất là đế quốc Anh và Pháp [13; 7]
Cũng trong thời gian này, một thị trường rộng lớn mà các nước tư bản phương Tây lúc bấy giờ nhằm vào là các nước châu Á, nơi đất rộng người đông và hầu hết là xứ nông nghiệp, dễ dàng cho việc tiêu thụ hàng hóa, cung cấp nguyên liệu và nhân công
Các nước ở khu vực Đông Nam Á cũng trở thành đối tượng nhòm ngó, mục tiêu quan trọng và hấp dẫn cho các cuộc chiến tranh và xâm chiếm của bọn tư bản đế quốc Vì thời kỳ này chế độ phong kiến tập quyền ở các nước trong khu vực đang lâm vào tình trạng suy yếu và mục nát, bởi các cuộc ly khai cát cứ, tranh ngôi đoạt quyền giữa các phe phái phong kiến cầm quyền
và những cuộc nổi dậy của nhân dân (chủ yếu là của nông dân) chống lại bọn thống trị ngày càng nhiều, nền sản xuất trong nước bị giảm sút, tình hình xã hội không ổn định…Đó là cơ hội tốt cho sự can thiệp của bọn tư bản đế quốc
từ bên ngoài, làm cho chế độ phong kiến bị suy sụp nhanh chóng, rồi cuối cùng giai cấp phong kiến đã đầu hàng ngoại bang, trở thành tay sai cho đế quốc
Nếu như vào thời cận đại, mối quan hệ giữa các nước phương Tây với khu vực Đông Nam Á chỉ là mối quan hệ trao đổi, buôn bán, truyền đạo .thì đến lúc này người phương Tây chuyển sang chính sách xâm lược, biến các nước
Trang 12Trung Quốc là một nước phong kiến tiêu biểu cho các nước phong kiến ở phương Đông Vào thế kỷ XIX, Trung Quốc cũng đã trở thành miếng mồi béo
bở của các nước tư bản phương Tây Các nước thực dân phương Tây cũng bắt đầu thâm nhập mạnh vào thị trường Trung Quốc Chính quyền Mãn Thanh đã
ra lệnh phong tỏa các miền duyên hải, cấm buôn bán với ngoại quốc - đó là biện pháp tự vệ thụ động mang tính chất lạc hậu, không tạo được thực lực để chống xâm lược Nhưng thực dân phương Tây với khao khát tìm kiếm thị trường rộng lớn để tiêu thụ hàng hóa, vơ vét của cải, đã tìm mọi cách mở toang cánh cửa nặng nề của chế độ phong kiến Trung Quốc bằng cuộc chiến tranh thuốc phiện (1840 - 1842) Ngày 29 - 8 - 1842, Hiệp ước Nam Kinh được ký kết, Mãn Thanh chấp nhận tất cả điều khoản yêu cầu của thực dân Anh Sau đế quốc Anh, Mĩ buộc Trung Quốc ký Hiệp ước Vọng Hạ (7 - 1884), Pháp buộc Trung Quốc ký Hiệp ước Hoàng Phố (10 - 1884) Ngoài ra, triều đình Mãn Thanh còn buộc phải ký nhiều điều ước với các nước tư bản khác như Bỉ, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Nauy Lúc này chiếc bánh ngọt Trung Quốc đã trở thành miếng mồi béo bở cho các nước thực dân xâu xé và đẩy Trung Quốc vào tình trạng phụ thuộc
Đối với Đông Dương, một khu vực có vị trí địa chính trị quan trọng, không chỉ nhiều tài nguyên thiên nhiên, nhân công dồi dào, rẻ mạt mà Đông Dương còn có một ý nghĩa quan trọng đối với Pháp
Trang 138
Về phía Việt Nam, Việt Nam nằm ở phía nam Trung Quốc, lại là nước có
vị trí chiến lược quan trọng trên con đường từ Ấn Độ, Nam Dương qua Trung Quốc, Nhật Bản nên từ rất sớm, thực dân Pháp đã chuẩn bị âm mưu thôn tính Việt Nam Việt Nam còn là con mồi ngon nhất, chưa kể đến yếu tố khoáng sản, nguyên vị trí địa chiến lược cũng đã đủ làm cho thực dân Pháp phải khao
khát rồi Người Mỹ từng nói:“làm chủ Việt Nam sẽ nắm được Đông Nam Á”
Ngay từ thế kỷ XVII, các giáo sĩ, thương nhân phương Tây đã đến Việt Nam truyền đạo, buôn bán Trong thời gian Minh Mạng trị vì, phía Pháp đã
ba lần cố gắng lập lại quan hệ với Việt Nam nhưng tất cả đều bị bác bỏ một cách thẳng thừng và xóa bỏ quan hệ chính thức với nước Pháp Trước khi tiến hành xâm lược, năm 1857, vua Pháp Napoleong III đã cử De Montigny đến Huế lần 2 Ông đưa ra 3 yêu cầu đối với vua Tự Đức:
1- Đảm bảo sự tự do tín ngưỡng cho người Cơ đốc giáo
2- Cho phép lập một cơ quan thương mại của Pháp tại Huế
3- Phê chuẩn việc bổ nhiệm 1 lãnh sự Pháp tại Huế
Tuy nhiên tất cả các yêu cầu này đều bị bác bỏ một cách hằn học Chính vì điều đó sau điều ước Thiên Tân 27 - 6 - 1858 của nhà Thanh ký với Pháp, một lực lượng hải quân Pháp - Tây Ban Nha dưới sự chỉ huy của đô đốc Rigôn Đơ Giơ Nuiy đã tiến vào Đà Nẵng 31 - 8 - 1858
Đến tháng 2 - 1859, Pháp rút quân khỏi Đà Nẵng và đánh chiếm Sài Gòn Sau vài tháng thực dân Pháp đã làm chủ toàn bộ vùng châu thổ Nam Kỳ, Côn Đảo và những hòn đảo nhỏ khác nằm ngoài khơi vùng đồng bằng sông Mê Công Trước sự bành trướng ghê gớm đó của Pháp, năm 1862, vua Tự Đức đã phải ký hiệp ước với người Pháp Trong bản hiệp ước này người Pháp đã thỏa mãn mọi điều kiện mà Pháp đưa ra như nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp và đồng ý trả dần 1 khoản bồi thường lớn cho Pháp trong 10 năm, cho phép Cơ đốc giáo được tự do hành đạo trong các vùng lãnh thổ của mình
Trang 149
và mở 3 cảng Đà Nẵng, Ba Lạt, và Kiến An cho thương nhân Pháp Đặc biệt
là Điều 4 minh định “vua An Nam không được nhượng một bộ phận lãnh thổ nào cho nước ngoài nếu không được sự đồng ý của người Pháp” Như vậy, ở
Việt Nam lúc này, vua chỉ là bù nhìn, tồn tại chỉ là hình thức còn thực quyền
đã nằm trong tay người Pháp
Một quốc gia khác trên bán đảo Đông Dương là Campuchia Đất nước Campuchia giáp với Nam Kì, là xứ sở giàu có nằm trên bán đảo Đông Dương,
có vị trí quan trọng ở Đông Nam Á Lịch sử Campuchia trong suốt thời kỳ dài luôn luôn xảy ra mâu thuẫn trong hàng ngũ phong kiến Điều này là nguyên nhân tạo điều kiện cho Việt Nam và Xiêm can thiệp vào Campuchia, đồng thời cũng từ đó phát sinh mâu thuẫn sâu sắc trong quan hệ Việt - Xiêm
Khi Pháp tiến hành chinh phục Campuchia cũng là lúc Pháp đang mở rộng chinh phục Việt Nam Pháp muốn sử dụng Campuchia như một chỗ dựa để củng cố vùng chiếm được ở Nam Kỳ, làm bàn đạp để thôn tính toàn bộ Việt Nam và Lào sau đó Những hành động của Pháp ở Campuchia chưa bắt được Xiêm lùi bước Mà thay vào đó, cuộc tranh chấp giữa Pháp và Xiêm ở Campuchia dần trở nên phức tạp hơn Vào lúc này, mâu thuẫn Việt - Xiêm đã được thay bằng mâu thuẫn Pháp - Xiêm ở vấn đề Campuchia
Vai trò và ảnh hưởng của Xiêm ở Campuchia có từ lâu và rất lớn, không
dễ gì xóa bỏ Khi bản hiệp ước Pháp - Campuchia chưa được Napôlêông III phê chuẩn thì Xiêm được Anh ủng hộ - đã phản đối, nói rằng Campuchia là nước chư hầu của Xiêm, do đó mọi quan hệ Pháp - Campuchia phải có Xiêm làm trung gian Trong khi vấn đề chưa được giải quyết thì đại diện của Xiêm tại Uđông đã vận động được vua Nôrôđôm kí một văn kiện (12 - 1863) tiếp tục chấp nhận sự che chở của Xiêm và cắt đất Vua Xiêm sẽ trực tiếp đến tham dự lễ đăng quang của Nôrôđôm ở Băng Cốc Nôrôđôm lúc này ở thế bị
2 kẻ giằng kéo bằng hai hiệp ước Người Pháp kiên quyết tìm cách ngăn cản
Trang 1510
Nôrôđôm sang Băng Cốc nhận tấn phong Cuối cùng mâu thuẫn Pháp - Xiêm
về vấn đề Campuchia cũng được dàn xếp bằng Hiệp ước ngày 15 - 7 - 1864 với nội dung chủ yếu:
Xiêm thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Campuchia
Hủy bỏ bản Hiệp ước Xiêm - Campuchia ký tháng 12 - 1863 Chính phủ Pháp cắt nhượng các tỉnh Battambang và Xiêm Riệp cho Xiêm
Như vậy là đến thời điểm này, Pháp đã gạt được Xiêm ra khỏi Campuchia
để một mình độc chiếm Campuchia
Đứng trong bối cảnh như vậy, số phận của nước Lào lúc này ra sao? Có thể nói, vào thời điểm này, nước Lào không còn độc lập về mặt chính trị nữa,
mà chủ quyền của nó đã mất vào tay người Xiêm từ sau cuộc tấn công năm
1779 Ở Lào trước khi Pháp xâm lược, ảnh hưởng của Xiêm là rất lớn, muốn chiếm Lào thì Pháp phải gạt bỏ ảnh hưởng của Xiêm
Quan hệ Pháp - Xiêm căng thẳng trong những năm 1891 - 1892 Pháp quyết định dùng sức mạnh vũ lực để ép Xiêm Ngày 3 - 7 - 1893, Xiêm đã phải miễn cưỡng ký với Pháp một bản Hiệp ước, theo đó Xiêm chuyển nhượng tất cả vùng lãnh thổ phía đông tả ngạn sông Mê Công của Lào cho Pháp Vậy là, đất nước Lào sau 115 năm bị Xiêm đô hộ (1778 - 1893), nay lại
bị chia cắt làm 2, phần lớn các mường Lào vẫn tiếp tục dưới quyền cai trị của Xiêm Còn các mường Lào thuộc tả ngạn sông Mê Công được sát nhập vào Liên Bang Đông Dương thuộc Pháp Đông Dương đã trở thành một thuộc địa liền khối của thực dân Pháp
Tóm lại, đến những năm 80, 90 của thế kỷ XIX, trước sức mạnh của đại bác, của lưỡi lê thì các quốc gia phong kiến Đông Nam Á nói chung, châu Á nói chung, kể cả Lào đều đã lần lượt rơi vào tay hai kẻ thực dân sừng sỏ mạnh nhất lúc này đó là Anh và Pháp
Trang 1611
1.2.VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC CỦA LÀO ĐỐI VỚI PHÁP
Lào là một nước nằm ở phía Đông - Nam châu Á, nằm ở phía Tây bán đảo Đông Dương, nằm sâu trong lục địa, thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa ở Đông Nam Á, có diện tích 236 800km2 Nước Lào có chung đường biên giới với Việt Nam ở phía Đông, Campuchia ở phía Nam, Thái Lan ở phía Tây, Mianma và Trung Quốc ở phía Bắc
Lào là quốc gia không giáp biển duy nhất tại Đông Nam Á, nhưng nước Lào lại có sông Mê Công - sông lớn nhất châu Á và đứng hàng thứ 8 trên thế giới Dòng sông Mê Công chảy dọc suốt từ Bắc xuống Nam, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng ở độ cao khoảng 3000m, chảy qua Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam và đổ ra Biển Đông Bởi vậy, Lào có nhiều đầu mối giao thông quan trọng
Kéo dài trên 8 vĩ tuyến, từ vĩ tuyến 14 độ Bắc đến vĩ tuyến 22 độ Bắc, lại chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa cùng ánh nắng mặt trời quanh năm Thảm thực vật và hệ động vật đa dạng cho phép các cư dân ở Lào
từ xưa tới nay phát triển nghề trồng trọt và chăn nuôi Bên cạnh đó, đất nước này lại có nhiều tài nguyên khoáng sản phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế
Trong chiều dài phát triển của lịch sử, Lào luôn là đối tượng xâm lược của các nước phong kiến láng giềng Tuy nhiên từ thế kỷ XIX trở đi, Lào lại là đối tượng tranh giành của các thế lực bành trướng thực dân Bởi nếu chiếm được Lào, các nước thực dân đã tạo được chỗ đứng vững chắc để tạo được thế lực ở Đông Nam Á Nếu xét về mặt địa lý, Lào nằm trên đường giao lưu buôn bán giữa hai khu vực Tây Á và Đông Á Đến giữa thế kỷ XIX, khi thực dân Anh
về cơ bản đã hoàn thành việc xâm chiếm các nước phong kiến lạc hậu vùng Tây Á và đang tiến dần về phía đông Vào thời điểm này, Pháp cũng đã chiếm xong Việt Nam và Campuchia vào những năm 1858 - 1884 Như vậy, trong
Trang 1712
thời điểm đó ở Đông Dương chỉ còn vùng đất Lào là vẫn còn đang bỏ ngỏ Do
đó, hai tên đế quốc Pháp và Anh càng đẩy mạnh kế hoạch nhảy vào xâm
chiếm Lào
Riêng với người Pháp, trong thời điểm này họ rất quan tâm đến lãnh thổ
Lào, bởi thấy được vị trí vô cùng quan trọng của Lào đối với quyền lợi của
họ Họ coi sông Mê Công là con đường mậu dịch vô cùng quan trọng từ Nam
Kỳ, Campuchia qua Lào và tới Xiêm đến Trung Hoa Nếu chiếm được Lào thì
họ giải quyết được ba vấn đề:
Một là, thông được con đường để tiến tới Trung Quốc từ phía nam
Hai là, khi đã kiểm soát được toàn bộ thung lũng sông Mê Công, người
Pháp có khả năng đảm bảo ở mức độ cao hơn nữa quyền sở hữu thực dân của
họ ở Đông Dương Ngoài ra sẽ biến Sài Gòn nằm trên cửa sông Mê Công
thành một thương cảng nằm ở phía ngoài toàn bộ thung lũng sông Mê Công,
tạo điều kiện thống nhất giữa các xứ thuộc địa khác nhau của Pháp tại Đông
Dương
Ba là, sau khi nắm trọn bán đảo Đông Dương làm bàn đạp tiến về phía Tây
xâm chiếm Xiêm và các vùng đất khác
Ý thức được điều đó, tham vọng và quyết tâm xâm chiếm Lào của người
Pháp rất cao Như vậy, với vị trí chiến lược vô cùng quan trọng, Lào đã trở
thành nạn nhân, đối tượng tranh chấp của các thế lực bành trướng không chỉ
đối với các nước phong kiến mà còn đối với các nước thực dân
1.3 QUÁ TRÌNH XÂM LƯỢC LÀO CỦA THỰC DÂN PHÁP
Trước khi bị đế quốc Pháp xâm lược, Lào đã bị phong kiến Xiêm thống trị
trong hơn 100 năm (1779 - 1892) Không phải đến giữa thế kỷ XIX người
Pháp mới để tâm đến vùng đất Lào mà quá trình thâm nhập của họ đã diễn ra
từ rất sớm và có định hướng rõ ràng từ thế kỉ XVII Năm 1658, hội các đoàn
truyền giáo ở nước ngoài được thành lập tại Pháp với mục đích công khai là
Trang 1813
truyền đạo ở nước Lào, nhưng thực chất là để đến vùng biên giới Xiêm - Lào, nhằm mở một con đường vào vuơng quốc Lào
Nhà thám hiểm người Pháp đầu tiên đặt chân lên đất Lào là Henri Monhot
năm 1861 Monhot miêu tả “ Luông Pha Bang là một “ thị trấn nhỏ hấp dẫn”
có một phong cảnh đẹp với 8000 dân” [ 3; 979] Từ tháng 6 đến tháng 11 -
1861, Monhot đã đi điều tra vẽ bản đồ trên một vùng rộng lớn từ Pắc lay đến Luông Pha Bang Và cũng chính tại làng Ban Naphao nhỏ bé, không xa thủ
đô Luông Pha Bang, Monhot đã bị sốt rét và chết tháng 10 - 1861
Tuy Henri Monhot mất đi song ông đã để lại những quyển nhật kí quý giá đối với người Pháp Qua những trang nhật kí, người Pháp thấy được vẻ đẹp và khả năng giàu có của vùng đất này Giúp người Pháp có định hướng cho cuộc xâm lược của mình
Năm 1865, người Pháp đã tiến hành thám hiểm sông Mê Công do Đuđa đơ Lagrê chỉ huy với mục đích nghiên cứu tài nguyên của những vùng đã đi qua, nghiên cứu những phương tiện có hiệu lực để có thể hợp nhất về mặt thương mại, vùng thượng lưu sông Mê Công với Campuchia và Nam Kỳ Nói cách khác, mục tiêu mà bọn Đuđa đơ Lagrê phải đạt được là: tìm kiếm những nguồn nguyên liệu mới và thị trường mới cho tư bản Pháp, nghiên cứu những biện pháp thâm nhập và thôn tính Lào, đồng thời tiến vào miền Nam Trung Quốc
Tiếp đó, liên tục có các đoàn thám hiểm khác đi khảo sát Một đoàn thám hiểm gồm hai pháo thuyền đi từ Sài Gòn lên Luông Pha Bang Bọn gián điệp thực dân này không những đã thăm dò vùng lưu vực sông Mê Công mà còn thăm dò nhiều vùng quan trọng khác của Lào như Bôlôven, Attôpơ, Xaravan…
Trong những năm 1875 - 1877, thực dân Pháp lại cử Jules Harmand làm nhiệm vụ tiến hành những cuộc thăm dò ở Campuchia, Lào, vùng núi Trường
Trang 1914
Sơn Năm 1822, Pôn Mari Net (một tên gián điệp nhiều kinh nghiệm) tiến hành những cuộc thăm dò ở miền Hạ Lào, cao nguyên Mường Phuôn Cũng như ở Việt Nam và Campuchia, ở Lào trong những năm 1873 - 1883, thực dân Pháp đã phái hàng đoàn giáo sỹ sang truyền giáo Đồng thời Pôn Mari Net đã sục sạo suốt vùng dọc sông Mê Công - kể cả vùng dọc các sông nhánh, vào tận vùng các bộ tộc ở núi cao
Tuy nhiên, công cuộc thâm nhập vào Lào của thực dân Pháp chỉ được đẩy mạnh từ khi Pavie đến Luông Pha Bang làm lãnh sự năm 1885 Đây là cơ hội
và cũng là cái cớ đầu tiên để người Pháp bước vào tìm hiểu và can thiệp vào Lào
Ngày 30 - 9 - 1886, chính phủ Pháp cử Pavie đi công cán lần đầu tiên sang
Lào Để thực hiện phương châm “biến nước Lào thành một xứ thuộc Pháp với
sự đồng tình của dân bản xứ” [14; 233] Pavie đã tổ chức nhiều hoạt động
trên đất nước Lào, đặc biệt là các cuộc khảo sát có tính chất quân sự, thăm dò địa thể, vẽ bản đồ…
Khi Luông Pha Bang đang rối ren, Pavie đã phái ngay một kẻ thân tín bám sát Quốc vương Un Kham và vào lúc nguy nan, người này đã cứu nhà vua và đưa nhà vua đến căn cứ ở Pắclay Pavie đã phân phát thuốc men, chữa chạy cho nhà vua cùng gia đình và những người đi theo Sự táo bạo của một nhân viên phục vụ trong phái đoàn Pavie đã trở thành ân nghĩa của nước Pháp với triều đình Luông Pha Bang Cảm động trước sự cứu giúp của người Pháp, Quốc vương Un Kham đã cho rằng Pháp là người bạn tốt của Lào Vì vậy ông
đã sai tu viện trưởng đưa các biên niên sử của Quốc vương trao cho Pavie tùy
ý sử dụng Qua đó Pháp thấy rằng Luông Pha Bang là một quốc gia độc lập,
tự nguyện đặt dưới sự che chở của Xiêm Như vậy Pavie đã kiếm được cho nước Pháp một đồng minh quan trọng Ông tiếp tục liên lạc với một số nhà tu
Trang 20nhật ký ngày 23 - 3 - 1888: “Tôi nói lên ý tưởng mà tôi say sưa là biến nước Lào thành đất Pháp với sự đồng tình của nhân dân…” [13; 14]
Song cái ý tưởng mà Pháp “say sưa” đó lại gặp phải trở ngại rất lớn từ phía Xiêm, bởi Lào là vùng đất phụ thuộc vào Xiêm, hơn nữa ủng hộ phía sau Xiêm là Anh Vào tháng 3 - 1888, Bộ Ngoại giao Pháp chỉ thị cho Pavie hoàn thành tổ chức ở những vùng đã nắm được, phát triển về phía Nam, kể cả vùng Khăm muộn và Khăm Cợt Đến tháng 10 - 1888, Pavie đã điều đình với triều đình Xiêm Như vậy là Pavie đã kiếm thêm cho nước Pháp một lực lượng đồng minh nữa Vào đầu năm 1889, Pavie đã đến Khăm muộn, nhiều đơn vị quân đội được toàn quyền Đông Dương điều đến Lào, vừa nhằm gây sức ép với triều đình Băng Cốc, vừa tiến hành chiếm đóng Lào
Với mọi âm mưu đã thực hiện được và sự có mặt của quân đội Pháp ở Lào, bọn thực dân Pháp liền xúc tiến những hoạt động quân sự mạnh mẽ hơn nữa
để buộc Anh và Xiêm phải thừa nhận Lào là thuộc địa của Pháp
Thấy Pháp ráo riết tìm cách xâm chiếm Lào, Anh lại thúc giục Xiêm chia Lào thành 4 vùng và cho 4 đạo quân chiếm đóng Năm 1890, phong kiến Xiêm lại một lần nữa cho quân vào chiếm đóng Lào Tình hình trên đã dẫn đến sự đối đầu khá căng thẳng giữa Pháp và Anh ở lưu vực sông Mê Công Cuối cùng chúng buộc phải nhân nhượng nhau để tìm giải pháp thỏa đáng cho
Trang 2116
cả hai bên Do đó Pháp và Anh đồng ý phân chia khu vực ảnh hưởng, lấy sông Mê Công làm ranh giới như đã thỏa thuận giữa Makhinxơ, Bộ trưởng ngoại giao Anh và M.vatđentông, đại sứ Pháp tại Anh ngày 4 - 4 - 1890 Trong các cuộc đàm phán với đế quốc Anh về vấn đề sông Mê Công vào
1892, Pháp đã được Anh cho biết một cách hết sức rõ ràng rằng, Anh sẽ không làm gì để cản trở Pháp khi Pháp chỉ chiếm đoạt lại đất đai ở phía tả ngạn sông Mê Công
Như vậy, Anh đã bước đầu ủng hộ Pháp Bây giờ đối với Pháp, việc cần làm là làm sao để giải quyết êm đẹp mâu thuẫn với Xiêm mà hiện giờ một phần đất Lào là Luông Pha Bang đang đặt dưới quyền cai trị của Xiêm
Từ đầu tháng 4 đến tháng 6 năm 1893, toàn quyền Delanessan tức khắc cử các lực lượng vũ trang đến chiếm đóng thêm một địa điểm nữa ở Lào, đồng thời ra lệnh thành lập nhiều binh đoàn từ nhiều phía tiến về Lào, Ngày 18 - 7 -
1893, Pháp trao tối hậu thư cho Xiêm, buộc Xiêm phải chấp nhận các điều kiện của Pháp, nhưng ngày 22 - 7 - 1893, Xiêm đã bác bỏ Trước áp lực quân
sự của Pháp và do có ý kiến của Anh, Pháp liền đưa tiếp tối hậu thư bổ sung thêm một số điều khoản Phong kiến Xiêm buộc phải chấp nhận và dẫn tới việc ký bản Hiệp ước Băng Cốc ngày 3 - 10 - 1893 giữa Pháp và Xiêm Nội dung chính của bản Hiệp ước được quy định như sau:
1 Hiệp ước quy định vùng đất dọc phía Tây sông Mê Công với chiều ngang 25km phải trở thành khu phi quân sự
2 Quân Pháp được chiếm đóng Chantaburi
3 Pháp đặt lãnh sự quán tại Kòrạt và Nạn ( miền Đông Xiêm)
4 Xiêm không được xây dựng đồn trú ở Báttambang và Xiêm Riệp
[10;476]
Trang 2217
Như vậy với bản Hiệp ước này, số phận của nước Lào đã được định đoạt Nhân dân và đất nước Lào sau 115 năm bị Xiêm đô hộ (1778 - 1893), nay đất nước lại bị chia cắt làm hai, phần lớn các Mường Lào vẫn tiếp tục dưới quyền cai trị của Xiêm Còn các Mường Lào thuộc tả ngạn sông Mê Công được sát nhập vào Liên bang Đông Dương thuộc Pháp Dòng sông Mê Công chảy giữa đất nước Lào nay trở thành một con sông phân chia ranh giới một nước Lào là thuộc địa của Pháp và một vùng lãnh thổ Lào vẫn tiếp tục lệ thuộc Xiêm Rõ rang, với bản Hiệp ước này, quyền lợi của nước Lào không được đếm xỉa đến Xiêm đã chính thức trao vùng đất Lào cho Pháp, kể từ sau ngày 3 - 10 - 1893 nước Lào thuộc Pháp
Nếu như trong quá trình xâm lược Đông Dương, thực dân Pháp đã thi hành nhiều biện pháp xâm lược khác nhau Đối với Việt Nam, do không thực hiện được biện pháp ngoại giao nên Pháp đã sử dụng biện pháp tấn công trực tiếp bằng quân sự Ở Campuchia lại sử dụng biện pháp dụ dỗ, lôi kéo để tranh giành ảnh hưởng với Xiêm đối với triều đình Campuchia thì ở Lào lại là sự kết hợp tất cả các hình thức dụ dỗ, lôi kéo, ngoại giao và dùng bạo lực Điều
đó cho ta thấy mức độ quyết liệt của Pháp trong giai đoạn cuối của quá trình xâm lược Do vậy, năm 1893 được lấy làm mốc đánh dấu kết thúc thắng lợi quá trình xâm lược Đông Dương nói chung, Lào nói riêng của thực dân Pháp Cũng sau năm này, Pháp bắt đầu thực hiện chế độ cai trị ở Lào Đến năm
1899, toàn bộ lãnh thổ Lào nằm trong Liên Bang Đông Dương thuộc Pháp
Tiểu kết chương 1
Bối cảnh quốc tế và khu vực cuối thế kỷ XIX có nhiều biến động Trong
đó tầm quan trọng về mặt chiến lược của mình ở khu vực Đông Nam Á, nước Lào cuối thế kỷ XIX đã trở thành mục tiêu xâm lược của các thế lực thực dân, đặc biệt là Pháp Cuối cùng, nước Lào cũng không thể tránh khỏi số phận trở thành nô lệ như các dân tộc khác trong khu vực
Trang 2318
CHƯƠNG 2 CÔNG CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA PHÁP Ở LÀO
(1897 - 1929)
Đến giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã có một khu vực thuộc địa khá rộng lớn ở Đông Dương Với Sắc lệnh ngày 17 - 10 - 1887 Pháp đã sát nhập Nam
Kỳ, Bắc Kỳ và Campuchia thành một tổ chức thuộc địa thống nhất được gọi
là Liên Bang Đông Dương Tổ chức này trực thuộc Bộ Thuộc địa Pháp và đứng đầu là viên Toàn quyền
Từ xưa đến nay, chính quyền thực dân luôn coi thuộc địa là nguồn cung cấp nguyên liệu rẻ mạt, bền vững, ổn định, nguồn nhân công giá rẻ và dồi dào, là thị trường tiêu thụ hàng hóa công nghiệp của chính quốc rộng lớn, chắc chắn, thu lại lợi nhuận cao và là căn cứ quân sự, hậu phương vững chắc của họ trong các cuộc bành trướng và xung đột quân sự Chính nhờ có thuộc địa mà một số nước tư bản đã trở thành những cường quốc tư bản hàng đầu và giữ vị trí đó trong khoảng thời gian không phải là ngắn, chi phối thế giới Điển hình là Anh và sau đó là Pháp Đế quốc Anh có hệ thống thuộc địa rộng
lớn bao la, đứng đầu thế giới, đó là đế quốc “mặt trời không bao giờ lặn” Sau
Anh là Pháp Pháp có hệ thống thuộc địa rộng lớn và đông dân thứ hai sau Anh, vì thế vai trò và vị trí của Pháp cũng được xếp thứ hai trong thế giới tư bản cho tới tận trước khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Người ta từng
nói “thuộc địa được coi là thước đo giá trị của chủ nghĩa đế quốc trong nhiều thế kỷ đô hộ, thuộc địa trở thành tiêu chuẩn đánh giá thực dân mạnh hay yếu”
[7; 227] Bởi vậy, kể từ sau Hiệp định Pháp - Xiêm ngày 3 - 10 – 1893, nước Lào đã trở thành vùng đất do Pháp kiểm soát Một câu hỏi đặt ra với chính
phủ Pháp là: “Cai trị như thế nào đối với nước Lào mới bị chiếm thì thực dân Pháp có lẽ chưa thể xác định rõ ngay, nhưng có xu hướng dựa theo nếp cũ để phân chia nhỏ lãnh thổ hành chính và theo nguyên tắc chung “chia để trị”
Trang 2419
đối với mọi thuộc địa” [8; 160] Bởi “dù sao, một sự “tự cai trị” thuộc địa chưa bao giờ là mục tiêu trong chính sách của Pháp Điểm chính trong chính sách của Pháp là đồng hóa chứ không phải là liên kết” [3; 1084]
Ngày 19 - 1 - 1891, Pháp cùng Trung Quốc kí hiệp định về việc xác nhập lãnh thổ Lào vào Liên bang Đông Dương Quyết định của chính phủ Pháp quy
định “Lào làm thành một “xứ” nằm trong Đông Dương thuộc Pháp Ít lâu sau theo quyết định ngày 20 - 11 - 1911 nước Lào là một xứ “bảo hộ” của Pháp có chung một chế độ chính trị như Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Campuchia Như vậy, nước Pháp đã thành lập một Liên Bang Đông Dương hoàn chỉnh” [20;
36] Và cũng từ 1897 được coi là mốc đánh dấu mở đầu quá trình thực dân Pháp bắt đầu xây dựng và thực hiện chính sách cai trị ở Lào Nhìn chung, công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Lào giai đoạn (1897 - 1929) được chia làm hai giai đoạn, giai đoạn từ (1897 - 1914), giai đoạn 2 (1919 - 1929) Chính sách cai trị được thể hiện rõ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Tuy nhiên mức độ, quy mô khai thác trong từng giai đoạn là có sự khác nhau
2.1 CÔNG CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN THỨ NHẤT CỦA THỰC DÂN PHÁP Ở LÀO (1897 - 1914)
2.1.1 Chính sách về chính trị
Xuất phát từ những nhiệm vụ chiến lược chung trong chính sách thuộc địa Pháp tiến hành xây dựng bộ máy cai trị ở Lào Việc làm tiên quyết này của Pháp nhằm hai mục đích:
Một là chuẩn bị những điều kiện phục vụ cho công cuộc khai thác kinh tế
ở khu vực này
Hai là nhằm hòa nhập hơn nữa chính sách kinh tế xã hội của Pháp ở Lào với các khu vực thuộc địa khác của chúng ở Đông Dương
Trang 2520
Trong vòng 15 năm (1899 - 1914), thực dân Pháp đã dần dần thực hiện những bước đầu của việc áp đặt chế độ cai trị thực dân ở nước Lào Nhìn chung, chính sách căn bản và nhất quán trong cả quá trình thống trị Lào của
thực dân Pháp là chia để trị “Xứ Lào thuộc Pháp chỉ khoảng ba triệu dân mà thực dân Pháp đã áp đặt 3 chế độ cai trị khác nhau:”bảo hộ”, “ trực trị” và
“quân quản” [13; 17] Đối với tỉnh Luông Pha Bang là chế độ bảo hộ, đối với
vùng phía bắc Lào là chế độ quân quản, còn lại là chính quyền thực dân Pháp trực tiếp cai trị
Khi mới đặt nền thống trị lên đất nước Lào, thực dân Pháp đã đề ra nhiệm
vụ sử dụng ngay những cơ cấu xã hội đã có sẵn đặt quyền kiểm soát đối với
cơ cấu này, sao cho có thể biến nước Lào thành đối tượng thực sự của công cuộc khai thác cho chủ nghĩa đế quốc Pháp Về tổ chức hành chính, Pháp chia Lào thành hai khu vực Thượng Lào và Hạ Lào Sau năm 1899 Pháp xóa bỏ hai khu vực này và hợp nhất lại làm 1 và chia Lào thành 10 tỉnh gồm: Thượng
Mê Công, Sầm Nưa, Trấn Ninh, Saravan, Savannakhẹt, Viêng chăn, Khăm Muộn, Attapư và Luông Pha Bang
Đứng đầu xứ Lào không phải là một người hay một bộ máy cai trị của người Lào dù là trên danh nghĩa, mà là viên Thống sứ người Pháp Để cho bộ máy cai trị được hoạt động dễ dàng, chính quyền thực dân phải dựa vào cơ cấu phong kiến Lào ở vùng đồng bằng và hệ thống tù, tộc trưởng trong các bộ tộc ít người
Ở các vùng đồng bằng, với cơ cấu phong kiến tồn tại lâu đời là một
phương tiện thích hợp để chúng tiến hành bộ máy cai trị của chúng “Trong toàn quốc chúng tổ chức một hệ thống hành chính giống nhau: Tỉnh, Huyện, Trấn, Xã, Bản” [14; 239]
Ở cấp Tỉnh không có công chức người Lào đứng đầu mà là viên Công sứ Pháp, đồng thời là tỉnh trưởng hay còn gọi là ủy viên chính phủ của phủ toàn
Trang 2621
quyền Đông Dương, với chức năng giống như các viên công sứ ở các xứ khác, nhưng quyền hạn hẹp hơn đặc biệt về mặt quân sự Dưới cấp Tỉnh là Huyện thì được giao cho người bản địa Để đảm bảo lòng trung thành của các quan chức người Lào, Pháp giữ quyền quyết định mọi sự bổ nhiệm và buộc các quan chức này phải thề trung thành với nhà nước Pháp
Tại miền núi và cao nguyên, Pháp duy trì, củng cố, xây dựng hệ thống tù, tộc trưởng và người đứng đầu dòng họ, thông qua hệ thống này mà bóc lột, thống trị nhân dân các bộ tộc ít người Thực dân Pháp vẫn giữ nguyên hai gia đình hoàng tộc lâu đời: hoàng gia Luông Pha Bang và hoàng gia Chăm pa sắc như những tượng trưng tôn giáo, một lực lượng để duy trì nền thống trị của chúng ở Lào về phương diện xã hội và tinh thần
Bọn thống trị thực dân cũng còn áp dụng chính sách cổ truyền “chia để trị“ một cách rất tinh vi, gây chia rẽ trong nội bộ từng bộ tộc, gây hận thù giữa bộ tộc này và bộ tộc khác Chúng cử người Lào đến cai trị các vùng dân tộc ít người trước kia vốn phụ thuộc vào người Lào đến cai trị Pháp cũng duy trì quốc gia Lào trong tình trạng rời rạc, phân tán sự khác biệt về kinh tế, chính trị, tính biệt lập trong các vùng núi và cao nguyên
Để thiết lập các khu vực hành chính sao cho thuận lợi đối với việc cai trị của chúng, thực dân Pháp đã cắt xén đất nước Lào một cách tùy tiện Auguste Pavie đã chủ trương rằng:
1 Sát nhập vùng tả ngạn sông Mê Công ở Hạ Lào vào Campuchia
2 Sát nhập vào Trung Kỳ (Việt Nam) những vùng đất đai nào có thể sát nhập được
3 Các vùng đất đai khác của Lào sẽ được xem như là những vùng chiếm đoạt được và chia thành hai khu vực hành chính [14; 241]
Nhìn chung với bộ máy hành chính như vậy thì ở xứ bảo hộ, việc thực thi quyền lực của người Pháp chỉ mang tính chất gián tiếp Việc cai trị thực sự do
Trang 2722
các viên chức bản sứ thực hiện dưới sự chỉ đạo của các viên chức Pháp tương ứng Người Pháp chỉ can thiệp trực tiếp khi cần thiết Do vậy các quan chức bản xứ phải làm việc thực sự mà bên cạnh đó, sự kiểm soát của người Pháp vẫn là tuyệt đối Thế mới thấy, người Pháp rất khéo léo sử dụng “vốn sẵn có” của bản xứ để phục vụ cho mục đích của mình
Trong thực tế, ngay trong một phần nhỏ của lãnh thổ Lào nơi mà thực dân Pháp còn thừa nhận quyền lực của Quốc Vương Lào, nhà vua chỉ có thể có ý kiến về một vài vấn đề gì đó Nhưng có giải quyết hay không, giải quyết như thế nào thì điều đó hoàn toàn thuộc quyền của thực dân Pháp
Tóm lại, việc chia Lào thành nhiều khu vực với những cơ chế cai trị khác nhau, đi đôi với chính sách chia rẽ, gây hiềm khích, thù hằn dân tộc giữa các khối dân cư Lào, đây là một chính cách hết sức thâm độc của bọn thực dân
“chúng đã lợi dụng và khoét sâu sự phức tạp về vấn đề dân tộc Lào” [19; 30],
để ngăn cản sự phát triển ý thức dân tộc và tình đoàn kết, đấu tranh của nhân dân các bộ tộc Lào Mặt khác, nó có tác dụng làm suy yếu hơn nữa quyền lợi của chế độ phong kiến Điều đó có lợi cho Pháp là biến Lào thành một bộ phận không thể tách rời quyền cai trị của Pháp
Song song với việc củng cố và xây dựng bộ máy cai trị hành chính, thực dân Pháp xúc tiến mạnh mẽ trong việc thành lập một công cụ trấn áp nhân dân, giữ gìn an ninh trật tự Lực lượng nòng cốt đó là cảnh sát, quân đội và tòa án Đây là một mảng không thể thiếu đối với bất kỳ nước thực dân nào
Để thực hiện chính sách bình định và trị an, năm 1894 thực dân Pháp ra nghị định thành lập lực lượng bảo an và cảnh sát Lào (nhưng phần lớn là người Việt Nam) và chỉ huy là người Pháp để làm công cụ khủng bố, đàn áp nhân dân Với hình thức tuyển quân là cưỡng ép thanh niên bản xứ Như vậy
là lực lượng quân đội Lào luôn trong tình trạng sẵn sàng đối phó với phong trào đấu tranh của nhân dân yêu nước
Trang 2823
Trong thời gian đầu đối với Lào, Pháp chưa soạn thảo riêng một bộ luật để
áp dụng đối với vùng đất này Lợi dụng luật lệ của chế độ phong kiến Lào, kết hợp với sự bổ sung của người Pháp theo quyết định ngày 2 - 5 - 1908, thống
sứ Lào mới được phép ban hành ba bộ luật đó là: “Luật dân sự, hình và Thủ tục tố tụng do 1 luật gia người Pháp xào xáo chế biến ra” [8; 162] Đồng
thời, cũng lập tòa án cao cấp cho Lào và tòa án hàng Tỉnh, do Thống sứ và các ông chủ tỉnh kiêm làm chánh án Tuy nhiên, những vụ án phải đưa tới tòa Thượng thẩm hay Đại hình thì vẫn phải đưa về Hà Nội (nếu là Bắc Lào) hoặc Sài Gòn (nếu ở Nam Lào) Như vậy rõ ràng nội dung luật được chia làm hai phần: áp dụng cho người Pháp với những vụ có liên quan thì xử theo pháp luật, còn đối với người Lào thì xử theo tập quán phong kiến cũ đã áp dụng Như vậy, quá trình xây dựng bộ máy cai trị về mặt chính trị của Pháp ở Lào là quá trình thực dân Pháp cấu kết với phong kiến Lào Mối quan hệ mà Pháp xây dựng lên là mối quan hệ thầy tớ Điều cốt lõi và quan trọng nhất là Pháp nắm quyền quản lý và chi phối toàn bộ bộ máy thống trị lâu đời ở Lào, còn sự tồn tại của nhà vua Lào lúc này chỉ là mặt hình thức, sự tượng trưng về quyền lực tinh thần để giúp Pháp thực hiện những mục đích của mình ở xứ thuộc địa Nhà sử học Pháp D.G.E.Hall cũng đã từng bóc trần bộ mặt của thực
dân Pháp “Hình thức bề ngoài của chính quyền bản xứ rất đồ sộ; điều đó cũng có ích cho sự cai trị của nước ngoài bớt khó chịu hơn Hội đồng tư vấn bản xứ, cơ quan trợ giúp quan thống sứ là một ví dụ tuyệt vời về hệ thống ngụy trang mà người Pháp sử dụng” [3; 1085]
2.1.2 Chính sách về kinh tế
Chính sách của đế quốc Pháp đối với thuộc địa nói chung là sự đồng hóa
Jules Ferry đã từng nói: “chính sách của nước Pháp chỉ có thể có một mục đích là sự đồng hóa” Trắng trợn hơn, Toàn quyền Đông Dương Anbe Sarô