1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng dạy học nêu vấn đề hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản hạnh phúc của một tang gia (trích số đỏ vũ trọng phụng)

58 807 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 607,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tác giả xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: Vận dụng dạy học nêu vấn đề hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” trích Số đỏ - Vũ Trọng Phụng là kết q

Trang 1

“HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA” (TRÍCH SỐ ĐỎ - VŨ TRỌNG PHỤNG)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học:

ThS TRẦN HẠNH PHƯƠNG

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành, sâu sắc tới Th.S Trần Hạnh Phương, người đã luôn quan tâm, động viên và tận tình hướng dẫn tác giả trong quá trình thực hiện khóa luận

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành các thầy, cô giáo trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn cùng tất cả các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình tác giả học tập và nghiên cứu

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Tác giả

Bùi Thị Khen

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: Vận dụng dạy học nêu vấn

đề hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” (trích

Số đỏ - Vũ Trọng Phụng) là kết quả nghiên cứu của riêng tác giả dưới sự hướng dẫn của Th.S Trần Hạnh Phương

Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa được công

bố trong bất cứ công trình nào

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Tác giả

Bùi Thị Khen

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Đối tượng nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Đóng góp của khoá luận 4

9 Bố cục của khóa luận 4

NỘI DUNG 5

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 5

1.1 Cơ sở lí luận 5

1.1.1 Vấn đề tiếp nhận văn học 5

1.1.2 Vấn đề đọc hiểu 9

1.1.3 Dạy học nêu vấn đề 12

1.2 Cơ sở thực tiễn 16

Chương 2 VẬN DỤNG DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA” (TRÍCH SỐ ĐỎ - VŨ TRỌNG PHỤNG) 19

2.1 Tạo tình huống có vấn đề và nêu vấn đề 19

2.2 Đàm thoại, phát kiến qua hệ thống câu hỏi 20

2.3 Tìm tòi, giải thích nguyên nhân hành động của nhân vật, sự tồn tại của các sự kiện, hiện tượng văn học hoặc giải thích ý nghĩa của tiêu đề tác phẩm trong sự thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức 25

2.4 Đánh giá tìm hiểu các nhận định và kết luận 28

Chương 3 THIẾT KẾ THỂ NGHIỆM 32

KẾT LUẬN 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Những năm gần đây, ở nước ta vấn đề dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông ngày càng được quan tâm nhiều hơn Bởi lẽ thực tiễn giảng dạy môn Ngữ văn còn nhiều bất cập, chất lượng giảng dạy còn nhiều hạn chế

Về phía người dạy, hoặc là quá thiên về một thứ nghiệp vụ tầm thường, hoặc quá thiên về chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa thẩm mĩ trừu tượng Dạy học chỉ với mục đích học sinh thi đỗ tỉ lệ cao, bài kiểm tra kiến thức tốt, có một ít hiểu biết văn học, kĩ năng làm bài khá nhưng cảm xúc văn chương tác động đến tâm hồn lại ít ỏi Ngược lại, có những giáo viên có thể làm cho học sinh hứng thú với bài giảng, nhưng học xong đầu óc học sinh chỉ còn lại một mớ ấn tượng và cảm xúc, còn hiểu biết văn học lại thiếu hệ thống, không chính xác, năng lực văn chương không phát triển và hình thành vững chắc Những hiện tượng đối lập như thế không phải là ít trong thực tiễn nhà trường phổ thông hiện nay

Tương ứng với cách dạy học như trên, học sinh không có sự tìm tòi, suy nghĩ sáng tạo, cũng không được khuyến khích sáng tạo mà chỉ tiếp thu một cách thụ động Và tất nhiên chất lượng dạy học cũng theo chiều hướng đi xuống Hơn nữa, học sinh còn phải đối mặt với các bài kiểm tra, các kì thi Áp lực đó khiến các em chỉ học vẹt, học ghi nhớ máy móc để đối phó Do đó, việc học dễ trở thành nhồi nhét kiến thức, khó vận dụng sáng tạo Thậm chí, nguy hiểm hơn, những học sinh có tư duy sẽ mất dần tính ham hiểu biết, hứng thú suy nghĩ độc lập sáng tạo, nhiễm xu hướng rập khuôn

Có nhiều nguyên nhân tạo ra bất cập này nhưng một trong những nguyên nhân là do phương pháp dạy học chưa phù hợp Phương pháp dạy học Ngữ văn theo kiểu truyền thống: thầy đọc- trò chép, thầy thuyết minh- trò nghe, thầy chỉ sử dụng một số phương pháp chủ yếu: giảng bình…, không những không phát huy được năng lực sáng tạo của học sinh mà còn làm cho các em

Trang 7

chán nản, mệt mỏi, nhiều em cảm thấy học Ngữ văn như một cực hình, vô cùng nặng nề

Để có thể khắc phục hạn chế này cần có một giải pháp là vận dụng phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, đặc biệt là DHNVĐ ở nhà trường THPT Mặc dù DHNVĐ chưa có vị trí xứng đáng trong hệ thống phương pháp dạy học Ngữ văn và còn tương đối mới lạ Song

có thể xem đây là những gợi ý cho việc giảng dạy những tác phẩm văn chương để có thể phát huy toàn diện sức mạnh của môn Ngữ văn trong nhà trường THPT

Là một sinh viên sư phạm, một giáo viên tương lai, thông qua thực hiện

đề tài này, người viết mong muốn sẽ tích lũy được những kiến thức quý báu, bước đầu tiếp cận phương pháp dạy học đổi mới và phương pháp nghiên cứu khoa học để phục vụ cho nghề nghiệp sau này

2 Lịch sử vấn đề

* Trên thế giới

DHNVĐ xuất phát từ thuật ngữ “Ơrixtic” hay còn gọi là phương pháp phát kiến, tìm tòi Phương pháp này còn có tên gọi là “Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề”

Phương pháp này đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu như A Ja Ghecđơ, B E raicop… vào những năm 70 của thế kỉ XIX.Các nhà khoa học này đã nêu lên phương án tìm tòi, phát hiện trong quá trình dạy học nhằm hình thành năng lực nhận thức của học sinh bằng cách đưa học sinh vào hoạt động tìm kiếm ra tri thức, học sinh là chủ thể của hoạt động học, là người sáng tạo ra hoạt động học Đây có thể coi là một trong những cơ sở lí luận của phương pháp dạy học nêu vấn đề

Vào những năm 50 của thế kỉ XX, xã hội bắt đầu phát triển mạnh, xuất hiện mâu thuẫn giữa yêu cầu giáo dục ngày càng cao, khả năng sáng tạo của học sinh ngày càng tăng với cách thức tổ chức dạy học lạc hậu Chính vì vậy,

Trang 8

phương pháp “Dạy học nêu vấn đề” hay còn gọi là “Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề” chính thức ra đời Phương pháp này đặc biệt chú trọng ở Ba Lan V.Ôkon (nhà giáo dục học Ba Lan) đã làm sáng tỏ DHNVĐ thật sự là một phương pháp dạy học tích cực Tuy nhiên những nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc ghi lại những thực nghiệm thu được từ việc sử dụng phương pháp này mà chưa đưa ra đầy đủ cơ sở lí luận cho phương pháp này

Những năm 70 của thế kỉ XX, M.I.MacKmutov đã đưa ra đầy đủ cơ sở lí luận của phương pháp DHNVĐ

Ngoài ra cũng có rất nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục nghiên cứu phương pháp này như Xcatlin, Machiushin, Lecne, …

* Ở Việt Nam

Người đầu tiên đưa phương pháp DHNVĐ vào Việt Nam là dịch giả Phan Tất Đắc Về sau có nhiều nhà khoa học nghiên cứu phương pháp này như Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Bá Kim, … Gần đây, Nguyễn Kì

đã đưa phương pháp này vào nhà trường và thực nghiệm ở một số môn như Toán, Văn, Đạo đức…

DHNVĐ thật sự là phương pháp tích cực trong công cuộc đổi mới phương pháp dạy học Phương pháp này được xem là một trong những phương pháp chủ đạo được sử dụng trong nhà trường phổ thông

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Tìm hiểu lí thuyết dạy học nêu vấn đề

4.2 Vận dụng dạy học nêu vấn đề vào đọc hiểu văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” (trích Số đỏ -Vũ Trọng Phụng) ở SGK Ngữ văn 11 (tập 1)

Trang 9

5 Đối tượng nghiên cứu

8 Đóng góp của khoá luận

Ngoài tìm hiểu những lí thuyết về tiếp nhận văn học, khóa luận còn tập trung tìm hiểu lí thuyết về dạy học nêu vấn đề Trên cơ sở nắm vững những lí thuyết, tác giả vận dụng dạy học nêu vấn đề hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” (trích Số đỏ - Vũ Trọng Phụng) Qua khóa luận, tác giả không chỉ đưa ra một phương thức tiếp cận tác phẩm trong nhà trường mà còn củng cố, nâng cao phương pháp dạy học Ngữ văn nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh

9 Bố cục của khóa luận

Gồm 3 phần:

Phần Mở đầu

Phần Nội dung: Gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2 Vận dụng dạy học nêu vấn đề hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” (trích Số đỏ- Vũ Trọng Phụng)

Chương 3 Thiết kế thể nghiệm

Phần Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 10

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

GS Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn “Đọc - hiểu tác phẩm văn chương” lại quan niệm “tiếp nhận tác phẩm văn học là quá trình đem lại cho người đọc

sự hưởng thụ và hứng thú trí tuệ hướng vào hoạt động để củng cố và phát triển một cách phong phú những khả năng thuộc thế giới tinh thần và năng lực cảm xúc của con người trước đời sống [7; 321]

Như vậy có nhiều quan niệm về tiếp nhận tác phẩm văn học nhưng về thực chất, tiếp nhận văn học là một cuộc giao tiếp đối thoại tự do giữa người đọc với nhà văn thông qua tác phẩm Nó đòi hỏi người đọc phải tham gia bằng tất cả trái tim, khối óc, hứng thú, nhân cách và trí tuệ của mình

Tiếp nhận văn học hiểu một cách giản dị hơn, đó là quá trình “đồng sáng tạo” văn bản, văn bản nhà văn viết ra chỉ có một nhưng bạn đọc mỗi thời đại

sẽ bồi đắp cho nó những lớp ý nghĩa sinh động khác nhau

Bởi thế, tiếp nhận văn học có tác dụng thúc đẩy ảnh hưởng văn học làm cho tác phẩm không đứng yên mà luôn luôn vận động, phong phú thêm trong quá trình phát triển của lịch sử văn học

Việc dạy học TPVC trong nhà trường thực chất là dạy học cho học sinh cách tiếp nhận văn học, nhưng tiếp nhận văn học với học sinh là tiếp nhận

Trang 11

dưới sự giúp đỡ của giáo viên Mỗi tác phẩm văn chương đều được người nghệ sĩ sáng tạo bằng những phương thức riêng, vì vậy giáo viên phải nắm được các phương thức đặc trưng ấy để giúp học sinh có cách tiếp cận cho phù hợp và đạt hiệu quả cao

* Đặc trưng tiếp nhận văn học

- Con đường nhà văn sáng tạo tác phẩm

Quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ có thể hình dung như sau:

Đời sống→ Nhà văn → Tác phẩm Nhà văn đứng trước cuộc sống muôn màu muôn vẻ, bằng óc tưởng tượng

và trí tưởng tượng phong phú, nhà văn đã tạo ra TPVH- “đứa con tinh thần của mình” Song văn chương là địa hạt của sự sáng tạo, nó không bao giờ dung nạp những thứ có sẵn, theo khuôn mẫu từ trước mà đòi hỏi sự sáng tạo của người nghệ sĩ Bởi thế TPVC đích thực sẽ vượt qua sự băng hoại của thời gian và sống mãi với loài người cho đến ngày tận thế

- Con đường chiếm lĩnh tác phẩm văn học

Tiếp nhận văn học trước hết đòi hỏi người đọc phải có khă năng cảm thụ, thấu hiểu lớp ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu trong thơ hay tình tiết, cốt truyện, nhân vật trong văn xuôi Sau đó qua việc hệ thống hình tượng như là sự kết tinh sâu sắc của tư tưởng, tình cảm của nhà văn, người đọc sẽ tiếp xúc với ý

đồ sáng tạo của người nghệ sĩ Người đọc sẽ sống với tác phẩm văn học, rung động với nó, vừa đắm chìm trong thế giới nghệ thuật của nhà văn, vừa tỉnh táo lắng nghe những thông điệp của tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp qua tài năng sáng tạo của người nghệ sĩ

Bằng trí tưởng tượng, kinh nghiệm sống, vốn văn hóa và những rung động sâu sắc trong tâm hồn, người đọc sẽ cùng tái hiện bồi đắp những nét phác họa thường rất hàm súc của nhà văn thành những bức tranh đời sống chân thực, sống động, những hình tượng hoàn chỉnh để rồi quan sát, đối

Trang 12

chiếu, đối thoại, yêu, ghét, tự rút ra cho mình những bài học nhân sinh quý giá Văn học qua quá trình tiếp nhận tích cực ấy sẽ giúp con người có thêm những hiểu biết, trải nghiệm về cuộc đời

Như vậy, chiếm lĩnh tác phẩm văn học thực chất là quá trình đi ngược lại con đường sáng tạo của nhà văn

Tác phẩm → Nhà văn → Đời sống

* Hoạt động tiếp nhận văn học

- Đọc tác phẩm

Tác phẩm tồn tại dưới dạng văn bản là một hệ thống hoàn chỉnh, là lớp

vỏ ngôn từ được tổ chức theo một kiểu, loại nào đó tùy thuộc vào chức năng

nó phải thực hiện theo dụng ý của nhà văn Cho nên, bước đầu tiên chiếm lĩnh tác phẩm văn học là phải đọc để giãi mã hệ thống kí hiệu ngôn từ đó Nếu như với những môn khoa học thực nghiệm, để khai thác thông tin người ta có thể tiến hành thí nghiệm, trực quan…thì với tiếp nhận văn học, đó là bước đầu tiên, không thể thay thế Nói đọc mang tính đặc thù của văn học là thế Với mỗi loại văn bản khác nhau sẽ có những cách đọc khác nhau

- Hoạt động phân tích tác phẩm

Tác phẩm văn học là một chỉnh thể thống nhất giữa nội dung và hình thức nghệ thuật Phân tích tác phẩm chính là chia nhỏ đối tượng để nhìn cụ thể các yếu tố làm nên chỉnh thể một cách sâu sắc hơn

Hoạt động này giúp bạn đọc có cái nhìn sâu sắc hơn, cụ thể hơn về đối tượng Phân tích càng cụ thể, chi tiết và đầy đủ bao nhiêu người đọc càng hiểu

về tác phẩm sâu sắc bấy nhiêu Song, sau khi chia tách đối tượng, người đọc phải tiến hành tổng hợp để có cái nhìn khái quát về đối tượng Bởi vậy, sau khi phân tích, học sinh phải tiến hành tổng hợp, khái quát để nhận định chủ đề, tư tưởng tác phẩm cũng như thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm qua tác phẩm

- Hoạt động cắt nghĩa tác phẩm

Là hoạt động quan trọng trong cơ chế tiếp nhận, nó bắt đầu từ việc lí giải

Trang 13

những chi tiết, hình ảnh tiến tới cắt nghĩa hình tượng trong tác phẩm, cao hơn nữa là cắt nghĩa hoàn toàn tác phẩm

Hoạt động này sẽ tạo cái nhìn đa chiều đối với mỗi tác phẩm, đồng thời là

cơ sở đánh giá mức độ hiểu biết của mỗi người, vì có hiểu mới cắt nghĩa được

Có thể thấy quá trình tiếp nhận văn học được xác lập theo một trật tự từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Đây là cả một quá trình, là hoạt động

đi trước tạo tiền đề cho hoạt động đi sau giúp cho quá trình văn học diễn ra một cách trọn vẹn

1.1.2.2 Bạn đọc với vấn đề tiếp nhận văn học

Có thể khẳng định rằng: Bạn đọc đóng một vai trò quan trọng trong đời sống văn học Tác giả khi sáng tạo ra một tác phẩm văn học, gửi gắm trong đó những ước mơ, lí tưởng, hoài bão thì nó chỉ là trang giấy bất động Chỉ khi bạn đọc tiếp nhận nó thì tác phẩm văn học mới thực hiện được chức năng xã hội của mình

Đối với nhà văn, người đọc luôn là hiện thân của nhu cầu xã hội để tác phẩm hướng tới giải đáp, lí giải, tuyên truyền hay thuyết phục Trước khi viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt câu hỏi đầu tiên hướng về người sẽ đọc tác phẩm của mình: “viết cho ai?” Sau đó mới là các vấn đề: “viết để làm gì?”;

“viết cái gì?” và “cách viết như thế nào?” Điều đó khẳng định bạn đọc có vai trò quan trọng đối với hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học

Trang 14

Như vậy hoàn toàn có căn cứ để coi người đọc là yếu tố bên trong của quá trình sáng tác văn học Nói cách khác vai trò của bạn đọc đối với sứ mệnh, sự sống của tác phẩm nghệ thuật là không thể phủ nhận

Nhưng mỗi bạn đọc tùy thuộc vào lứa tuổi sống, tâm lí, trình độ, học vấn, vốn văn hóa và phải có tình yêu với cái đẹp, với văn chương để lắng nghe được tiếng nói của nhà văn, cảm nhận vẻ đẹp ngôn từ, hiểu được giá trị tác phẩm làm giàu có thêm vốn sống, vốn văn hóa cho bản thân

Nói tóm lại người tiếp nhận không chỉ tham gia vào quá trình sáng tác như cái đích hướng đến của nhà văn mà còn có thể trở thành sản phẩm của nhà văn Khi đến với tác phẩm văn học chân chính, người đọc sẽ được cung cấp tri thức, thanh lọc tâm hồn, giáo dục nhân cách, nâng cao những cảm xúc thẩm mỹ Đó là mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa tác phẩm và bạn đọc ở bình diện tiếp nhận văn học

1.1.2 Vấn đề đọc hiểu

1.1.2.1 Khái niệm đọc hiểu

Đọc - hiểu là một khâu quan trọng của quá trình tiếp nhận văn bản của người đọc, nên cũng có nhiều khái niệm khác nhau về vấn đề này

Theo “Từ điển tiếng Việt”: Đọc là tiếp nhận nội dung của một tập hợp kí hiệu” [16; 431]

Đọc là khâu đầu tiên, là tiền đề tiếp nhận của tác phẩm văn học Đọc không chỉ để lĩnh hội thông tin, làm giàu hiểu biết, làm phong phú thêm tâm hồn mà còn góp phần hoàn thiện nhân cách con người Đọc là một hoạt động đặc trưng của con người, một hoạt động mang tính văn hóa nhằm thỏa mãn một nhu cầu đời sống Đồng thời nó cũng phản ánh những năng lực, tầm văn hóa của người tiếp nhận Đọc gắn liền với hiểu vì mục đích cuối cùng của đọc

là để hiểu

Theo “Từ điển tiếng Việt”: Hiểu là nhận ra ý nghĩa, bản chất, lí lẽ của cái gì bằng sự vận dụng trí tuệ [16; 436]

Trang 15

Hiểu còn được xem là một cấp độ, kĩ năng trong tư duy bậc cao Hiểu là một mức độ cần đạt đến của đọc, do đó đọc luôn gắn liền với hiểu và hiểu một đối tượng không chỉ dừng lại ở việc quan sát cái bên ngoài mà phải đi sâu khám phá cái bên trong của nó

Như vậy đọc và hiểu là hai phạm trù khác nhau nhưng chúng luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ

Vậy đọc hiểu là gì?

Theo GS Nguyễn Thanh Hùng: “Đọc - hiểu là một hoạt động của con người Nó không chỉ là hình thức nhận biết nội dung tư tưởng từ văn bản mà còn là một hoạt động tâm lí giàu cảm xúc và có tính trực giác Đọc - hiểu mang tính chất đối diện của mình, đối diện với văn bản Nó có cái hay là tập trung, tích đọc và lắng nghe năng lực cá nhân Đây là hoạt động thu nạp, tỏa sáng âm thầm với sức mạnh nội hóa kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm nghệ thuật và kinh nghiệm văn hóa trong cấu trúc tinh thần cá thể” [6; 22]

Theo Nguyễn Thái Hòa trong “Vấn đề đọc hiểu và dạy đọc hiểu”: “Đọc - hiểu dù đơn giản hay phức tạp là hành vi ngôn ngữ, sử dụng một loạt thủ pháp

và thao tác bằng cơ quan thị giác, thính giác để tiếp nhận, phân tích, giải mã

và ghi nhớ nội dung thông tin, cấu trúc văn bản” [3; 6]

Hiểu một cách ngắn gọn thì đọc- hiểu được coi là phương pháp dạy học đăc thù và có một cách thức phù hợp nhất

1.1.3.2 Chức năng của đọc hiểu

Văn chương là loại hình nghệ thuật ngôn từ lấy ngôn ngữ làm chất liệu

để xây dựng nên hình tượng nghệ thuật Thông qua hình tượng nghệ thuật, nội dung tư tưởng của tác phẩm sẽ được thể hiện Do vậy, bạn đọc muốn giải mã được những kí tự ngôn ngữ để chiếm lĩnh, xử lý những thông tin trong tác phẩm thì không có cách nào khác là tiến hành quá trình đọc - hiểu

Trang 16

Tác phẩm văn chương là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”

Nó thuộc về cái tinh thần, là cái vô hình, vô ảnh Không chỉ vậy, nó còn là sản phẩm của sự hư cấu, tưởng tượng của nhà văn Bạn đọc muốn tiếp nhận được tác phẩm văn học cần phải có tầm đón nhận nhất định Nó phụ thuộc vào vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống và các điều kiện cụ thể của mỗi người Để làm được điều đó, bạn đọc không có cách nào khác là phải đọc Đọc - hiểu tác phẩm văn học không chỉ là một hoạt động nhận thức nội dung tư tưởng văn bản mà còn là một hoạt động trực quan sinh động, giàu cảm xúc, có tính trực giác và khái quát trong sự nếm trải của con người

Trong dạy học hiện nay, với quan niệm dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm nhằm hướng tới quá trình tự vận động bên trong của học sinh thì vấn đề đọc - hiểu được đặt ra có tính cấp bách và ngày càng có vai trò quan trọng Đọc - hiểu không chỉ giúp bạn đọc tìm được những tầng ý nghĩa

ẩn sâu trong từng câu chữ, nhận thấy tư tưởng, tình cảm mà nhà văn muốn gửi gắm trong tác phẩm mà thông qua đọc - hiểu chúng ta sẽ có nhu cầu nhận thức thêm kinh nghiệm, hiểu biết về đời sống xã hội Từ đó dần tích lũy kiến thức để hiểu văn, hiểu đời, hiểu người và tự hoàn thiện nhân cách của mình Hơn nữa, khi diễn ra quá trình đọc - hiểu giữa bạn đọc và tác giả luôn diễn ra một cuộc giao tiếp ngầm thông qua văn bản Văn bản nào cũng có những khoảng trống để cho bạn đọc thỏa sức liên tưởng, tượng tượng và sáng tạo Khi lấp đầy những khoảng trống đó cũng là lúc người đọc hiểu và tiếp nhận thông tin mà tác giả cần truyền tải qua văn bản Qua quá trình tiếp nhận

ấy, khoảng cách giữa bạn đọc và nhà văn rút ngắn lại, bạn đọc được coi là người đồng sáng tạo cùng nhà văn

Đọc - hiểu giúp cho quá trình khám phá nội dung tư tưởng của tác phẩm trở nên dễ dàng Từ đó có thể vận dụng phương pháp dạy đọc- hiểu vào việc đọc và tạo lập văn bản tương đương

Như vậy, có thể nói, con đường ngắn nhất để bạn đọc tiếp xúc với giá trị

Trang 17

của tác phẩm văn học là thông qua đọc- hiểu Đọc - hiểu chính là con đường đặc thù để tiếp nhận tác phẩm văn học

1.1.3 Dạy học nêu vấn đề

1.1.3.1 Khái niệm dạy học nêu vấn đề

Có rất nhiều khái niệm của các nhà nghiên cứu về dạy học nêu vấn đề như:

V ÔKôn viết: “Dạy học nêu vấn đề dưới dạng chung nhất là tập hợp những hành động như tổ chức các tình huống có vấn đề, phát biểu vấn đề…, giúp đỡ cần thiết cho học sinh trong việc giải quyết vấn đề, kiểm tra những phép giải đó và cuối cùng, điều khiển quá trình hệ thống hóa và củng cố những kiến thức tiếp thu được” [15; 103]

T.V Cuđriapxep cũng viết: “Dạy học nêu vấn đề bao gồm việc tạo ra trước học sinh những tình huống có vấn đề, làm sao cho các em ý thức được, thừa nhận và giải quyết những tình huống này trong quá trình hoạt động chung của học sinh và giáo viên, với tính tự giác cao nhất của học sinh và dưới sự chỉ đạo chung của giáo viên” [10; 52]

Từ những khái niệm trên cần hiểu DHNVĐ là sự tổ chức quá trình dạy học bao gồm việc tạo ra tình huống có vấn đề trong giờ học, kích thích ở học sinh nhu cầu giải quyết những vấn đề nảy sinh, lôi cuốn các em vào hoạt động nhận thức tự lực nhằm nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, phát triển tính tích cực trí tuệ và hình thành cho các em năng lực tự mình thông hiểu và lĩnh hội thông tin khoa học mới

1.1.3.2 Vai trò, ý nghĩa đối với GV và HS

DHNVĐ có khả năng kích thích tính ham hiểu biết ở học sinh, từ đó họ

có hứng thú tìm hiểu tác phẩm và các em sẽ được lôi cuốn vào quá trình phân tích tác phẩm một cách độc lập và tích cực Với DHNVĐ việc hình thành kiến thức văn học và phát triển các năng lực văn học ở học sinh gắn liền hữu cơ với nhau

GV vận dụng DHNVĐ trong dạy học tác phẩm văn chương là sự đề cao

Trang 18

nhân cách học sinh, tôn trọng bản lĩnh học sinh và tạo điều kiện để các em hoạt động tích cực, tư duy sáng tạo nhằm tự phát triển và tự hoàn thiện mình Được như vậy, học sinh sẽ tìm thấy niềm say mê, phấn khởi trong việc phân tích, đánh giá tác phẩm văn chương

DHNVĐ có tác động tích cực đến cả người dạy Nó phá vỡ nếp cũ, thói quen tiêu cực trong việc giảng dạy của GV Do vậy, người thầy với vai trò truyền thụ cách cảm, cách hiểu của mình về tác phẩm văn chương cho học sinh chuyển sang vai trò tổ chức, định hướng quá trình học sinh tự cảm thụ và chiếm lĩnh tác phẩm Từ đó, cơ chế dạy học Ngữ văn cũng thay đổi theo chiều hướng dân chủ, tích cực

DHNVĐ góp phần không nhỏ trong việc tạo ra sức hấp dẫn của môn Ngữ văn trong nhà trường mà còn khơi dạy niềm say mê đối với hoạt động tiếp nhận văn bản dưới nhiều góc độ khác nhau

1.1.3.3 Nội dung của DHNVĐ

* Vấn đề trong dạy học TPVC

Theo Lecnhe định nghĩa “Vấn đề”: “Vấn đề là một câu hỏi nảy sinh hay được đặt ra cho chủ thể, mà chủ thể chưa biết lời giải đáp từ trước và phải tìm tòi, sáng tạo lời giải, nhưng chủ thể có sẵn một số phương tiện ban đầu để sử dụng thích hợp vào việc tìm tòi đó [11; 325]

Vấn đề trong dạy học TPVC là mâu thuẫn giữa tri thức văn học và phương thức phân tích, cắt nghĩa, bình giá tác phẩm đã có ở học sinh với các giá trị nội dung tư tưởng và giá trị thẩm mỹ cần tìm của tác phẩm Mâu thuẫn này chỉ được giải quyết nhờ những hoạt động nỗ lực bằng tư duy sáng tạo và cảm xúc thẩm mỹ của học sinh

Vấn đề là hiệu quả tác động của TPVC với tư duy học sinh và được học sinh chấp nhận giải quyết

Trong dạy học TPVC việc tạo điều kiện để học sinh nhìn thấy và tự

Trang 19

nêu vấn đề là là điều cần thiết và có tác dụng lớn hơn việc giáo viên nêu vấn

đề cho học sinh tiếp nhận và giải quyết

Vấn đề nêu ra phải phản ánh được bản chất của hiện tượng văn học, phản ánh được giá trị thẩm mỹ của tác phẩm và kích thích được hứng thú và cảm xúc của học sinh Hệ thống vần đề là chất keo gắn kết, duy trì tư duy logic và cảm xúc thẩm mỹ của học sinh

* Tình huống có vấn đề

• Tình huống có vấn đề

“Tình huống có vấn đề” là khái niệm chủ yếu và khời đầu quan niệm DHNVĐ V Ôkon nói: “nét bản chất của DHNVĐ không phải là sự đặt ra các câu hỏi mà tạo ra tình huống có vấn đề” [15; 315] Có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng bản chất của tình huống có vấn đề là: “Một khó khăn được chủ thể ý thức rõ ràng hay mơ hồ, mà muốn khắc phục thì phải tìm tòi những tri thức mới, những phương thức hành động mới” [15; 321]

• Tình huống có vấn đề trong giảng dạy TPVC ở trường THPT

Tình huống có vấn đề trong dạy học TPVC là một trạng thái tâm lí xuất hiện ở học sinh trước một mâu thuẫn, một nghịch lí, một sự ngạc nhiên, hay một thắc mắc Đó là những khó khăn không khắc phục được bằng những tri thức văn học vốn có trong quá trình cảm thụ và tiếp nhận của TPVC

Việc tạo dựng THCVĐ là hoạt động cơ bản nhất, quan trọng nhất của quá trình vận dụng DHNVĐ trong giảng dạy TPVC ở trường THPT Điều khác nhau cơ bản của DHNVĐ trong các môn học khác không chỉ tạo ra được

tư duy logic, tư duy sáng tạo mà còn phải kích thích được cảm xúc thẩm mỹ ở học sinh

Các THCVĐ không phải là một tập hợp ngẫu nhiên mà tồn tại trong một mối liên hệ chặt chẽ tạo thành một hệ thống logic Tình huống trước là cơ sở của tình huống sau, tình huống sau là sự phát triển tiếp tục hoặc là kết quả của

Trang 20

tình huống trước và việc xử lý tình huống trước

Nhưng tóm lại khi tạo ra tình huống có vấn đề phải đảm bảo tính cơ bản, bao quát toàn bộ nội dung học tập và có tác động tới các trình độ khác nhau của HS

• Các loại tình huống có vấn đề trong DH TPVC ở trường THPT

- Tình huống bất lực

- Tình huống phản bác nhau

- Tình huống nhập vai

- Tình huống cảm mà không hiểu

- Tình huống mà nội dung tác phẩm chứa đựng mâu thuẫn

- Tình huống mâu thuẫn giữa các cấp độ về nội dung và hình thức của tác phẩm

- Tình huống không đồng nhất

* Câu hỏi có vấn đề trong dạy học TPVC

Câu hỏi có vấn đề có cơ sở là tình huống có vấn đề, nó gắn bó chặt chẽ với THCVĐ Câu hỏi có vấn đề là một dạng biểu hiện của “vấn đề”

Trong mối quan hệ với THCVĐ có câu hỏi trở thành “vấn đề” nhưng cũng có câu hỏi không trở thành “vấn đề” mà chỉ góp phần vào việc giải quyết, xử lý các THCVĐ, từ đó học sinh sẽ nhìn thấy một vấn đề nào đó Câu hỏi có vấn đề không nhằm mục đích yêu cầu học sinh tái hiện tri thức cũ mà yêu cầu học sinh sử dụng tri thức đã biết để tìm tòi, phát hiện ra kiến thức mới

Câu hỏi có vấn đề vạch ra được mối quan hệ hữu cơ giữa những thành tố

cụ thể với những vấn đề tổng hợp của tác phẩm giúp hoạt động phân tích tránh được tình trạng vụn vặt, thiếu tính hệ thống

1.1.4.4 Biện pháp vận dụng

DHNVĐ trong dạy học TPVC ở trường THPT, được xác định thông qua những biện pháp sau đây nhằm giải quyết nhiệm vụ nhận thức và phát triển ở học sinh:

Trang 21

* Tạo dựng tình huống có vấn đề và nêu vấn đề

Giáo viên sẽ yêu cầu các em đọc kĩ văn bản, đưa ra cảm nhận về văn bản

để các em phát hiện ra tình huống và đưa ra hướng giải quyết

* Đàm thoại phát kiến

Đó là quá trình thực hiện thông qua một số câu hỏi có tính logic cao Với biện pháp này giáo viên sẽ tổ chức học sinh thực hiện các hoạt động quan sát, tìm tòi, phân tích, cắt nghĩa các hiện tượng văn học mới đáng lưu ý và từng chi tiết nghệ thuật độc đáo của tác phẩm trong các mối quan hệ với nhau

* Tìm tòi giải thích nguyên nhân

Đó là xem xét diễn biến, nguyên nhân hành động của nhân vật, sự tồn tại của các sự kiện, hiện tượng văn học giải thích ý nghĩa của tiêu đề tác phẩm trong sự thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức Qua đó, nhận ra

sự vận động hợp lí và nhất quán của tác phẩm nghệ thuật

* Đánh giá tìm hiểu các nhận định và kết luận

Đó là việc tìm hiểu các nhận định, kết luận của các nhà phê bình văn học, các nhà giáo có liên quan tới việc củng cố, nhấn mạnh sự đồng tình hoặc chưa nhất trí với cách hiểu, cách đánh giá của giáo viên và học sinh về tác phẩm đang dạy Biện pháp này có khả năng to lớn trong việc mở rộng năng lực nghiên cứu, hoạt động tranh luận về tác phẩm văn chương

Trang 22

như vậy dẫn đến hiện tượng học sinh có cách học lắng nghe và ghi chép một cách máy móc, không hiểu bài Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau khi dự giờ giảng văn trong nhà trường đã phải thốt lên: “Tôi hoàn toàn thất vọng khi thấy

GV nói hàng giờ còn học sinh thì ghi chép” Hiện tượng này đến ngày nay vẫn còn tồn tại và không phải là ít Chính vì vậy cần tìm ra phương pháp dạy học phù hợp để nâng cao chất lượng giáo dục và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

Trong những năm gần đây, chúng ta đã tiếp cận gần hơn những phương pháp dạy học tiên tiến trên thế giới, trong đó đáng chú ý là DHNVĐ Đối với dạy học Ngữ văn ở nước ta, đây là một phương pháp còn tương đối mới lạ, nhưng vai trò của nó đã được nhấn mạnh và khẳng định trong quá trình giảng dạy Tuy nhiên, “hiểu phương pháp một cách không đầy đủ, vận dụng nó một cách non yếu đấy là một biện pháp tích cực nhất để vô hiệu hóa những phương pháp mới” (Machiushin) Có thể khẳng định việc sử dụng chưa hiệu quả, chưa phát huy được nguồn sức mạnh tiềm tàng của DHNVĐ trong dạy học Ngữ văn là một vấn đề cần sớm khắc phục Thiết nghĩ, cần phải xem lại

kĩ thuật vận dụng phương pháp này vào dạy học Ngữ văn vào thực tiễn từng bài học cụ thể chứ không phải chỉ dừng lại ở những gợi ý hay đề xuất Thêm vào đó chương trình, SGK Ngữ văn THPT có nhiều thay đổi cần phải thay đổi phương pháp dạy học sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất

Được tìm hiểu, bàn luận về hiện thực dạy diễn ra ngay trong cuộc sống hiện tại của mình- tất nhiên là một “hiện thực đã được thẩm mỹ hóa” (Bakhtin) sẽ gây hứng thú học tập cho học sinh, nhưng chắc chắn các em sẽ không tránh khỏi lúng túng trước món ăn tinh thần đầy hấp dẫn và mới lạ này Nhằm giúp giáo viên nhận thức đúng đắn hơn về phương pháp dạy học tích cực, vừa “gõ vào trí thông minh”, phát huy hứng thú học tập của học sinh; vừa là một chìa khóa để tiếp cận những tác phẩm ẩn chứa nhiều vấn đề

Trang 23

phức tạp của đời sống một cách dễ dàng hơn, DHNVĐ thực sự phát huy sức mạnh của mình Với khóa luận này, người viết hy vọng sẽ tiếp cận gần hơn DHNVĐ và vận dụng DHNVĐ để khắc phục những khó khăn trong giảng dạy với hy vọng đạt kết quả tốt nhất trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường THPT

Trang 24

Chương 2 VẬN DỤNG DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA” (TRÍCH SỐ ĐỎ - VŨ TRỌNG PHỤNG)

2.1 Tạo tình huống có vấn đề và nêu vấn đề

Giáo viên yêu cầu các em đọc kĩ văn bản sau đó nêu vấn đề thông qua hệ thống câu hỏi để các em phát hiện ra tình huống có vấn đề Để kích thích sự hứng thú học tập học sinh đối văn bản “Hạnh phúc của một tang gia”(trích Số đỏ- Vũ Trọng Phụng), GV có thể nêu một số vấn đề như sau:

 Vấn đề 1:

Em hãy nêu cảm nhận chung về văn bản khi đã đọc ở nhà Trong văn bản

em thấy chi tiết, hình ảnh nào hay nhất, gây ấn tượng mạnh mẽ nhất đối với em? Hãy giải thích lí do em thích?

Trang 25

hiệu quả do thủ pháp này taọ ra) Điệp khúc “đám cứ đi…” lặp lại trong đoạn cuối có tác dụng gì đặc biệt về mặt nghệ thuật?

Qua việc GV nêu vấn đề qua hệ thống câu hỏi, học sinh đã được đặt vào tình huống có vấn đề Thông qua câu hỏi sẽ nảy sinh ở các em một vấn đề mà các em mong muốn có thể biết, có thể tự mình giải quyết và tìm ra câu trả lời Với những câu hỏi này vừa đặt học sinh vào tình huống có vấn đề, vừa tạo tâm thế để tiếp nhận văn học…

2.2 Đàm thoại, phát kiến qua hệ thống câu hỏi

Đó là quá trình thực hiện thông qua một số câu hỏi có tính logic cao Với biện pháp này, GV sẽ tổ chức cho học sinh thực hiện các hoạt động quan sát, tìm tòi, phân tích, cắt nghĩa các hiện tượng văn học đáng lưu ý và từng chi tiết nghệ thuật độc đáo của tác phẩm trong mối quan hệ với nhau

CH1: Dựa vào phần Tiểu dẫn (SGK) và bài chuẩn bị ở nhà, em hãy nêu những nét cơ bản về tác giả “Vũ Trọng Phụng”?

DKTL:

Vũ Trọng Phụng là nhà văn lớn có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Cuộc đời ông tuy hết sức ngắn ngủi, nhưng ông để lại một sự nghiệp văn học lớn, trong đó có những tác phẩm đáng gọi là kiệt tác Ông sinh năm 1912 tại Hà Nội trong một gia đình nông dân nghèo Chính quê nhà văn là làng Hảo (tức Bần Yên Nhân, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên) Ông thân sinh ra Vũ Trọng Phụng là thợ điện, mất khi nhà văn mới 7 tháng Mẹ nhà văn làm nghề khâu vá thuê, khi chồng mất mới 24 tuổi,

đã ở vậy nuôi con

Năm 1926, Vũ Trong Phụng đỗ bằng tiểu học nhưng vì nghèo túng, phải thôi học để đi làm kiếm tiền Năm 1927, xin được chân đánh máy chữ cho nhà

in Viễn Đông, nhưng ít lâu sau bị mất việc Từ đó, Vũ Trọng Phụng chuyển hẳn sang nghề làm báo, viết văn Đầu 1938 thì ông lấy vợ, có con nhưng cuộc

Trang 26

sống rất chật vật, bấp bênh, nghèo túng Ông mất ngày 10-3-1939 vì bệnh lao

để lại mẹ già, người vợ trẻ và đứa con gái chưa đầy một tuổi

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo khổ, một thứ “nghèo gia truyền”, tuổi thơ lại gặp bao tủi cực, lại liên tiếp gặp trắc trở khi vào đời, ở Vũ Trọng Phụng vốn có cái mầm bất mãn với cuộc sống Hơn nữa chịu sự giáo dục của lễ giáo phong kiến qua bà mẹ là người sống khuôn phép và mực thước, Vũ Trọng Phụng phản ứng gay gắt với lối sống Âu hóa rởm đang diễn

ra lúc bấy giờ

Tất cả yếu tố đó đều có ảnh hưởng sâu sắc tới sáng tác của nhà văn CH2: Em hãy nêu xuất xứ của văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” và tóm tắt nội dung của văn bản?

DKTL:

Văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” thuộc chương 15 của tiểu thuyết

“Số đỏ” Đây là trong những chương đặc sắc nhất và có nhan đề đầy đủ là:

“Hạnh phúc của một tang gia- Văn minh nữa cũng nói vào- Một đám ma gương mẫu”

Tóm tắt nội dung văn bản: Cụ tổ ốm nặng, cả nhà, đám con cháu đều mong cụ chết sớm để chia gia tài Tình cờ nhờ bài thuốc vớ vẩn của Xuân Tóc

Đỏ, cụ lại qua khỏi và có phần đỡ hơn Nhưng cũng chỉ vì một câu nói của Xuân (theo thỏa thuận với ông Phán mọc sừng- con rể cụ cố Hồng, cháu rể cụ

cố tổ) ngay giữa nhà, trước mặt mọi người và cụ cố: Ngài là một người chồng mọc sừng! Cụ cố tổ uất quá, tắc thở, và ba hôm sau, ông cụ già chết thật Văn bản “Hạnh phúc một tang gia” trích “Số đỏ” lần đầu tiên đăng ở Hà Nội báo từ năm 1936, in thành sách 1938

CH3: Em hãy cho biết bố cục văn bản: “Hạnh phúc của một tang gia”? DKTL:

Bố cục đoạn trích có thể chia làm ba phần như sau:

Trang 27

Phần 1: “Từ đầu… đến hay việc Xuân Tóc Đỏ đã gây ra choTuyết vậy”: Niềm vui và hạnh phúc của các thành viên gia đình cùng tất cả mọi người khi

cụ cố tổ qua đời

Phần 2: “Tiếp theo… đến đám cứ đi”: Cảnh đám ma gương mẫu- một đám ma có một không hai

Phần 3: Đoạn còn lại: Cảnh hạ huyệt

CH4: Trong đám ma cụ cố tổ được xem là: “cảnh đám ma gương mẫu” qua tìm hiểu em hãy cho biết có thể chia làm mấy cảnh nhỏ?

DKTL:

Có thể chia làm hai cảnh nhỏ: Cảnh thứ nhất là cảnh đám cứ đi, cứ đi từ trên đường và cảnh thứ hai là cảnh hạ huyệt Tác giả tả theo trình tự tả bao quát từ xa rồi tả gần, rồi tả cụ thể một số gương mặt Nhà văn chớp được những cử chỉ, lời nói thật tiêu biểu, đắt giá

CH5: Hình ảnh đám tang cùng hình ảnh đám đông đi đưa đám đã được tác giả miêu tả như thế nào?

DKTL:

Hình ảnh không khí đám tang mà như đám rước được tổ chức theo lối hổ lốn đủ cả Tây, Ta cốt để khoe sang, khoe giàu một cách lố bịch và hợm hĩnh Kèn Ta, kèn Tàu, kèn Tây, lại lợn quay đi lọng, … người đi đưa rất đông đúc; hàng trăm câu đối, vòng hoa… Cảnh những người đi đưa đám toàn là những trai thanh, gái lịch giàu có, sang trọng nhưng đi đưa chiếu lệ, vừa đi vừa trò chuyện làm ăn, trai gái trêu trọc nhau một cách công khai Đoạn ghi lại những câu thì thào của đám đông thật đáng xấu hổ và sỉ nhục cho sự giả dối của đám người giàu có đi đưa đám

CH6: Câu văn “Đám cứ đi” được lặp lại nhằm mục đích gì?

DKTL:

Câu văn ngắn lặp lại và xuống dòng góp phần diễn tả tốc độ chậm chạp

Trang 28

đến dềnh dàng của đám tang Một mặt để thể hiện sự quyến luyến đau xót của những người sống, mặt khác để cố ý khoe khoang, khoe giàu của gia đình cụ

CH8: Tại sao nói cảnh hạ huyệt là một màn kịch nhỏ? Các nhân vật hài hước biểu diễn trên sân khấu như thế nào? Tiếng khóc của ông Phán mọc sừng như thế nào và có ý nghĩa gì?

DKTL:

Cảnh hạ huyệt- màn hài kịch cuối cùng của chương truyện mở đầu bằng cảnh cậu Tú Tân biểu diễn chụp ảnh trong bộ áo tang luộm thuộm, yêu cầu mọi người đứng thế này thế nọ để chụp tanh tách hết kiểu này đến kiểu khác

… Tiếp theo là cảnh Xuân Tóc Đỏ đứng cầm mũ nghiêm trang một cách giả

vờ Cụ cố Hồng ho, khạc, mếu máo và ngất đi Ông Phán mọc sừng khóc to những âm thanh lạ: “hứt, hứt, hứt, khóc đến lả người đi, khóc mãi không thôi” Nhưng đó là một diễn viên điệu nghệ, đến mức Xuân Tóc Đỏ cũng không ngờ khi y bất ngờ nhận được một cái giấy bạc năm đồng gấp tư mà ông Phán khéo léo vừa khóc vừa dúi vào tay mình

Tóm lại đám tang diễn ra như một tấn đại hài kịch, nói lên sự lố lăng, đồi bại của xã hội tư sản thượng lưu thời trước Cách mạng Qủa thực đó là đám

ma gương mẫu cho sự giả dối, rởm hợm, háo danh của một gia đình giàu sang

mà bất hiếu, bất nghĩa

CH9: Từ niềm “hạnh phúc” của các nhân vật do cái chết của cụ cố tổ đem

Trang 29

lại và cảnh tượng của cái “đám ma gương mẫu”, em có nhận xét như thế nào về

xã hội thượng lưu bấy giờ? Thái độ của nhà văn đối với xã hội như thế nào? DKTL:

Đó là xã hội tư sản thành thị (Hà Nội) Việt Nam những năm 30 thế kỉ XX Đây thực chất là một xã hội thực dân nửa phong kiến đầy bất công, giả dối, nhố nhăng với những phong trào Âu hóa, vui vẻ trẻ trung do bọn thực dân Pháp khởi xướng, một xã hội “chó đểu”, khốn nạn đáng khinh bỉ, lên án và tố cáo Qua đó, có thể thấy Vũ Trọng Phụng tỏ thái độ phê phán mạnh mẽ bản chất giả dối và sự lố lăng, đồi bại của xã hội tư sản thành thị những năm trước cách mạng

CH 10: Khi đọc văn bản, các em cần chú ý điều gì về giọng đọc - kể? DKTL:

Yêu cầu giọng đọc cần thể hiện tiếng cười trào phúng hóm hỉnh, mạnh

mẽ và độc đáo Nhịp văn lúc chậm, lúc mau, nhấn mạnh, kéo dài một số từ ngữ đậm tính hài hước (đám cứ đi, đoạn khách đưa tang trò chuyện, tiếng khóc của ông Phán mọc sừng …)

CH 11: Khi đọc văn bản, em hãy cho biết đối tượng trào phúng là ai? Em

có thể phân loại những đối tượng trào phúng đó?

 Loại ông chủ, bà chủ: Cụ cố, bà Phó Đoan

 Thành phần bình dân: Xuân Tóc Đỏ là nhân vật trung tâm

 Những tri thức Âu hóa: Văn Minh, TYPN

 Bộ máy chính quyền thực dân: cảnh sát Min Đơ, Min Toa

Ngày đăng: 16/07/2015, 08:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w