KHOA NGỮ VĂN --- NGUYỄN THU HẰNG CẢM QUAN HIỆN THỰC TRONG TIỂU THUYẾT GIA ĐÌNH CỦA KHÁI HƯNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Người hướng dẫn khoa học T
Trang 1KHOA NGỮ VĂN -
NGUYỄN THU HẰNG
CẢM QUAN HIỆN THỰC
TRONG TIỂU THUYẾT GIA ĐÌNH
CỦA KHÁI HƯNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS THÀNH ĐỨC BẢO THẮNG
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành sâu sắc tới Thầy giáo - Tiến sĩ Thành Đức Bảo Thắng, người đã tận tình, chỉ bảo hướng dẫn em hoàn thành
khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam, khoa Ngữ Văn đã nhiệt tình giảng dạy, cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa và Ban Giám Hiệu nhà trường đã tạo điều kiện tốt nhất cho em được học tập và nghiên cứu tại trường
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thu Hằng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của Thầy giáo - Tiến sĩ Thành Đức Bảo Thắng Khóa luận với đề
tài Cảm quan hiện thực trong tiểu thuyết Gia đình của Khái Hưng chưa
từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác Nếu có gì sai phạm, người viết sẽ chịu mọi hình thức kỉ luật theo đúng quy định của việc nghiên cứu khoa học
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thu Hằng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nhiên cứu 8
6 Đóng góp của khóa luận 8
7 Bố cục khóa luận 9
NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 10
1.1 Tác giả Khái Hưng 10
1.1.1 Cuộc đời 10
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác 12
1.1.3 Quan điểm sáng tác 13
1.2 Cơ sở hình thành cảm quan hiện thực của Khái Hưng 14
1.2.1 Bối cảnh xã hội 14
1.2.2 Lịch sử những năm 1936 17
CHƯƠNG 2 CẢM QUAN HIỆN THỰC THỂ HIỆN QUA NỘI DUNG PHẢN ÁNH 19
2.1 Phê phán mạnh mẽ lễ giáo phong kiến 19
2.1.1 Phê phán tâm lí háo danh, đố kị, ích kỉ 19
2.1.2 Phê phán chế độ đại gia đình phong kiến 21
2.1.3 Phê phán xã hội quan trường thối nát 23
2.2 Đề cao đổi mới, dân chủ, cải cách xã hội 25
2.2.1 Đề cao và khẳng định ý thức cá nhân 25
2.2.2 Đề cao khát vọng tự do, cải cách xã hội 28
Trang 5CHƯƠNG 3 CẢM QUAN HIỆN THỰC THỂ HIỆN QUA HÌNH THỨC
NGHỆ THUẬT 32
3.1 Thế giới nhân vật 32
3.2 Ngôn ngữ nghệ thuật 35
3.2.1 Ngôn ngữ phù hợp với vị trí, vai trò của nhân vật 35
3.2.2 Ngôn ngữ đối thoại 38
3.2.3 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm 44
KẾT LUẬN 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong cái nhìn trước đây, với quan điểm duy vật triệt để, khuynh hướng
lãng mạn trước Cách mạng bị coi là phi hiện thực, xa rời hiện thực Khuynh hướng này về cơ bản, không dám trực tiếp hoặc lẩn tránh những vấn đề nóng bỏng trong xã hội cũng như cuộc đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng lao động chống thực dân phong kiến Từ đó nhiều ý kiến phủ nhận triệt để những giá trị
và đóng góp của khuynh hướng này đối với xã hội và nền văn học dân tộc Song, nhìn một cách toàn diện hơn, khuynh hướng lãng mạn không hoàn toàn
xa rời đời sống mà hướng tới phản ánh một mảng hiện thực xã hội - cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến trên tinh thần và cảm quan tư sản, tiểu tư sản
Trên tinh thần đổi mới từ 1986, văn học lãng mạn, văn xuôi Tự lực văn đoàn
được nhìn nhận, nghiên cứu, đánh giá ngày một khách quan, khoa học hơn và
đã khẳng định được những thành tựu và đóng góp to lớn của của bộ phận này với sự phát triển của văn học dân tộc Không dừng lại ở đó, ý nghĩa văn học và
ý nghĩa xã hội cũng được khẳng định khi nhiều nhà nghiên cứu đã chú ý, chỉ ra giá trị hiện thực là một trong những yếu tố tạo nên thành công trong nhiều tác
phẩm của văn xuôi lãng mạn, đặc biệt trong những năm 1936 - 1939
Khái Hưng là cây bút tiểu thuyết tiêu biểu của Tự lực văn đoàn Cùng
với Nhất Linh, Khái Hưng với những sáng tác của mình đã tạo được vị trí quan trọng, có ảnh hưởng rộng lớn tới văn xuôi nói riêng, văn học nói chung của giai đoạn 1930 - 1945 Tác phẩm của ông bao gồm nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện trẻ em, kịch, thơ, khảo cứu, phê bình, tiểu phẩm, luận
chiến… đăng trên báo Ngày nay Sáng tác của Khái Hưng vừa mở đầu, vừa thể hiện và khẳng định rất rõ mục đích, tôn chỉ của Tự lực văn đoàn Đồng thời,
góp phần đáng kể vào tiến trình hiện đại hóa nền văn xuôi Việt Nam giai đoạn
1930 - 1945 Tìm hiểu về tư tưởng, tác phẩm của ông là một vấn đề có ý nghĩa
Trang 7quan trọng khi nghiên cứu văn học giai đoạn này
1.2 Chú ý tới cảm quan hiện thực trong sáng tác của Khái Hưng là chú ý tới
một yếu tố quan trọng trong tư tưởng và quan điểm thẩm mĩ của nhà văn - cơ
sở tạo nên dấu ấn hiện thực đậm nét, ý nghĩa tích cực, tiến bộ của nhà văn thể hiện qua tác phẩm Từ đó muốn xóa đi, kéo gần lại khoảng cách đã tồn tại trong quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu cũng như bạn đọc những năm trước đây khi cho rằng văn xuôi lãng mạn hoàn toàn thoát li hiện thực
1.3. Là một sinh viên năm cuối, với vốn hiểu biết hiện thời, tôi hi vọng sẽ góp thêm tiếng nói và công sức nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu tiểu thuyết Khái Hưng để góp phần khẳng định vị trí của nhà văn trong văn học lãng mạn Việt Nam nói chung và văn xuôi lãng mạn nói riêng
Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: Cảm quan hiện thực trong
tiểu thuyết Gia đình của Khái Hưng
bộ vào xã hội
Tiểu thuyết của Khái Hưng được độc giả đón nhận nồng nhiệt Ông là một trong những tác giả được nhiều người nói tới qua các bài viết đánh giá chung về nhà văn, hoặc các bài phê bình, giới thiệu sách của Nhất Linh, Trương Tửu, Đức Phiên, Trần Thanh Mại, Hồng Điểu… đăng trên các báo:
Loa, Phụ nữ thời đàm, Ngọ báo, Sông Hương, Nhật Tân… Ngoài ra còn các
công trình nghiên cứu của Trương Chính, Dương Quảng Hàm với những nhận
Trang 8xét tinh tế Theo Dương Quảng Hàm, tác phẩm của Khái Hưng “được xếp vào khuynh hướng xã hội và được đánh giá là có nhiều đóng góp về đường xã hội
và văn chương Về đường xã hội, nhà văn muốn xóa bỏ hủ tục để cải cách xã hội theo các quan niệm mới, chỉ trích các phong tục, tập tục cũ và giãi bày những ý tưởng mới về sinh hoạt trong gia đình hoặc xã hội Về đường văn chương, Khái Hưng muốn trừ khử lối văn chịu ảnh hưởng của Hán văn mà viết lối văn bình thường, giản dị, ít dùng chữ Nho, theo cú pháp mới, để được phổ cập trong dân chúng…” [5, 445]
Vì vậy, Khái Hưng được tôn vinh là nhà tiểu thuyết có tài, là một văn sĩ
mở đầu cho một kỷ nguyên văn nghệ mới Nhiều cuốn tiểu thuyết của nhà văn được đánh giá rất cao Tuy nhiên, dưới con mắt của một số nhà phê bình đương thời thì tiểu thuyết của Khái Hưng cũng còn ít nhiều hạn chế như: đôi khi tư tưởng không thiết thực, có tác phẩm kết cấu không chặt chẽ, thậm chí hành văn còn có những lỗi về dùng từ, đặt câu…
2.2 Sau Cách mạng tháng Tám 1945
Sau Cách mạng tháng Tám, trong điều kiện chiến tranh, suốt một thời gian dài tiểu thuyết của Khái Hưng không được quan tâm và phải đến sau năm 1954, nó mới được đề cập đến Nhưng, do sự phức tạp của tình hình chính trị nên ở hai miền Nam - Bắc có cách đánh giá khác nhau
2.2.1 Ở miền Nam trước 1975
Trước 1975, nhiều tác phẩm của Khái Hưng được in lại và nhận được
sự chú ý của các nhà giáo, nhà nghiên cứu
Trước hết, phải kể đến những cuốn sách giáo khoa, sách tham khảo đã
phân tích, bình giảng, khảo luận về tiểu thuyết Khái Hưng như: Việt văn khảo
luận (Lữ Hồ), Luận đề về Khái Hưng (Nguyễn Duy Diễn và Bằng Phong)…
Nhiều bài báo, chuyên luận nghiên cứu về Tự lực văn đoàn, về tiểu thuyết
hiện đại đã đánh giá tiểu thuyết của Khái Hưng như những sự kiện, hiện
Trang 9tượng tiêu biểu Bên cạnh đó là các bài báo, hồi ký viết về tiểu sử, về những
kỷ niệm sống và sáng tác của Khái Hưng như: Tưởng nhớ Khái Hưng (Vũ Bằng), Cái chết của Khái Hưng (nhiều tác giả - Tạp chí thời tập, tập 5, trang
27) Họ hướng tới phân tích, thẩm định lại các cuốn tiểu thuyết của Khái Hưng theo những phương pháp và cách đọc mới Một số ít cho rằng khi đọc
lại những tác phẩm nổi tiếng của Tự lực văn đoàn, đôi khi không khỏi “cảm
thấy một cái gì đó nhạt nhẽo, giả tạo, hời hợt, vụng về” [10, 16] Nhưng số đông thì đánh giá cao tiểu thuyết của Khái Hưng, trong đó có những xu hướng thể hiện rõ ý đồ chính trị là đề cao khía cạnh khuynh hướng văn học tư sản Tuy vậy cũng phải kể đến những cách tiếp cận tích cực của giới trí thức miền Nam ở giai đoạn này Có nhà nghiên cứu tiếp tục những phương pháp phê bình từ thời tiền chiến Có người lại tiếp thu những phương pháp phê bình hiện đại mới du nhập từ phương Tây và đem lại những cách nhìn nhận mới
Phạm Thế Ngũ đánh giá: “Văn nghệ Tự lực văn đoàn còn như trăng mới lên,
hoa mới nở, người ta muốn vui muốn nhìn đời qua cặp kính hồng” [14, 424]
Hay: “Đến Tự lực văn đoàn đưa ra chủ trương viết giản dị, dễ hiểu, ít chữ
Nho (…) Họ muốn làm một cuộc dung hòa, bỏ câu văn Nam Phong, nhưng cũng không đi vào cái cực đoan Hoàng Tích Chu, mà muốn gây một lối văn giản dị, dễ hiểu cho đám đông trung lưu, một lối văn An Nam theo họ nói
Văn ấy có thể thấy mẫu mực trong tác phẩm đầu tay của Khái Hưng: Hồn
bướm mơ tiên” [14, 429]
Thế Phong đề cao tài năng tiểu thuyết “thiên bẩm” của Khái Hưng và khẳng định: “Về nghệ thuật tiểu thuyết, không phải mỗi lúc lại có một Khái Hưng” và “có thể gọi Khái Hưng là người đầu tiên biết viết tiểu thuyết trong lịch sử cực thịnh của văn chương Việt Nam ở giai đoạn đầu” [16, 46+47]
Mặc dù có những ý kiến khác nhau, nhưng xu hướng đề cao những sáng tác của Khái Hưng là xu hướng nổi bật Họ đã đưa ra nhận xét: Hầu hết
Trang 10các tác phẩm của ông đều xoáy vào chủ đề: đề cao tình yêu tự do, chống lễ giáo phong kiến, một phần cải cách xã hội Truyện của ông phần kết bao giờ cũng gây cảm giác bâng khuâng, man mác cho bạn đọc Bên cạnh đó, họ cũng chỉ ra được phần nào cái chưa hay trong các tiểu thuyết luận đề và tính chất lãng mạn không tưởng trong một số tác phẩm
2.2.2 Ở miền Bắc trước 1975
Trong thời kì này, có nhiều bài nghiên cứu đề cập đến Khái Hưng nhưng các đánh giá còn dè dặt, do quan điểm lúc đó khi nhìn nhận văn học lãng mạn còn bị định kiến chính trị chi phối
Vào những năm cuối thập niên 50, đầu thập niên 60 thế kỉ XX, xuất hiện một số cuốn sách và giáo trình nghiên cứu chú ý tới tiểu thuyết của Khái
Hưng như: Văn học Việt Nam 1930 - 1945 của Bạch Năng Thi và Phan Cự Đệ (NXB Giáo Dục Hà Nội, 1961), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930 -
1945 của Viện Văn học (NXB Văn hóa, 1964) Nhìn chung, do vận dụng
quan điểm chính trị, quan điểm giai cấp một cách máy móc, giáo điều vào nghiên cứu văn học nên một số người đánh giá có phần quá nghiêm khắc về tác phẩm của ông với nhiều định kiến nặng nề Những đóng góp của Khái Hưng không được đánh giá khách quan, những thiếu sót, hạn chế lại bị quá nhấn mạnh Vì vậy, tiểu thuyết của ông được hiểu là: tiêu cực, có hại, suy đồi
và có tính chất phản động như: “Trong những tác phẩm được xuất bản từ
1936 đến 1943, tuy vẫn có một số yếu tố tốt như chống quan lại phong kiến trong gia đình, phản ánh sự ti tiện của những con người đặt đồng tiền lên trên hết tất cả, phê phán một số địa chủ tham lam, ngu dốt, nhưng những mặt tiêu
cực trong tư tưởng, tình cảm của Khái Hưng phát triển mạnh hơn Tiêu sơn
tráng sĩ (…) ca ngợi bọn người phục vụ cho một chế độ suy tàn, không hề
nghĩ tới nhân dân (…) Trống mái tô vẽ lối sống của tư sản (…) Chủ nghĩa cải lương trong phản động biểu hiện rõ rệt nhất trong Gia đình Ở đây, tác giả
Trang 11muốn địa chủ là những người vừa có học, vừa rộng rãi, muốn cải thiện đời sống cho dân nghèo…” [11, 87]
2.3 Từ sau đổi mới năm 1986 đến nay
Từ sau đổi mới năm 1986 đến nay, Tự lực văn đoàn được nhìn nhận và
đánh giá khách quan, khoa học hơn Các sáng tác của Khái Hưng đã được đánh giá thỏa đáng hơn Các tác phẩm của ông đã xuất bản trở lại và được đề cao nội
dung chống lễ giáo phong kiến như: Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Gia
đình,… Những bài nghiên cứu về Tự lực văn đoàn được công bố với tinh thần
cởi mở hơn và đã đến lúc, giới nghiên cứu thấy cần có một tiếng nói chung qua trao đổi, luận bàn để có thể thống nhất được những vấn đề cơ bản
Theo giáo sư Phan Cự Đệ, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn có những cuốn
là lãng mạn tiến bộ, thấm đẫm tinh thần dân tộc và khát vọng tự do, có tiểu thuyết giàu yếu tố hiện thực Các tiểu thuyết lãng mạn đã thực hiện yêu cầu điển hình hóa theo kiểu lãng mạn, nghĩa là xây dựng được những nhân vật phóng đại và lý tưởng hóa, đứng cao hơn và nhìn chung, không chịu sự tác động của hoàn cảnh Một số nhân vật có những nét điển hình và giàu chất hiện thực
Nhà phê bình Trương Chính cũng đề cập tới tinh thần khoa học, cái nhìn khách quan khi tìm hiểu khuynh hướng này: “Đối với trào lưu văn nghệ lãng mạn, chúng ta không nên mạt sát, vơ đũa cả nắm mà cần phải đi phân tích những dòng tiến bộ trong những thời kì khác nhau Chúng ta cần hết sức
cố gắng tìm hiểu mọi nhân tố yêu nước và nhân tố tiến bộ trong những tác phẩm lãng mạn trước đây” [12, 145]
Các nhà nghiên cứu, phê bình đã khai thác một cách khá hợp lý nhiều vấn đề với thái độ khách quan, công bằng và có những phát hiện mới ở nhiều góc độ khác nhau Qua một số ý kiến cũng cho thấy, sáng tác của Khái Hưng
đã đạt được nhiều thành tựu trong quá trình hiện đại hóa
Trang 12Như vậy, với tinh thần đổi mới, khoa học và cởi mở, với ý thức công
bằng tránh định kiến, đứng trên quan điểm lịch sử, cuộc hội thảo về Tự lực
văn đoàn, đã có nhiều ý kiến đánh giá có lý, có tình và thỏa đáng về hiện
tượng văn học phong phú và phức tạp này Ngày càng có những khám phá mới và càng đi dần đến sự xác đáng hơn Tuy nhiên, việc nhìn lại những diễn biến trong quá trình khá phức tạp nên thấy rằng, vẫn cần có công trình riêng, nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện Nhất là toàn bộ sáng tác của Khái Hưng trước 1945, để từ đó xác định rõ hơn những cái được và chưa được của nhà văn đối với lịch sử văn hóa nước nhà trong giai đoạn hiện đại Hơn nửa thế kỷ đã qua, nền văn học Cách mạng đã có những bước tiến mới
Do đó, việc nhìn nhận lại một cách khoa học và thỏa đáng giá trị của văn
chương Tự lực văn đoàn nói chung, xem xét những mặt đóng góp tích cực
trong sáng tác của Khái Hưng nói riêng, không những chỉ có ý nghĩa với việc đánh giá một hiện tượng văn học, một thế hệ nhà văn của quá khứ, mà còn góp phần vào việc xây dựng và phát triển nền văn học mới đầy tính nhân văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Chỉ ra cảm quan hiện thực của Khái Hưng qua việc phân tích và làm
rõ những yếu tố hiện thực trong tiểu thuyết Gia đình
- Khóa luận hướng tới tìm hiểu và phân tích cảm quan hiện thực trong
tiểu thuyết Gia đình của Khái Hưng qua các phương diện: Nội dung phản ánh
và nghệ thuật trong tác phẩm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Khóa luận tìm hiểu: Cảm quan hiện thực của Khái Hưng trong tiểu
thuyết Gia đình
- Khóa luận tập trung phân tích tiểu thuyết Gia đình Ngoài ra chúng tôi còn khảo sát các tác phẩm tiêu biểu của Tự lực văn đoàn và khuynh hướng
hiện thực phê phán
Trang 135 Phương pháp nhiên cứu
Để thực hiện khoá luận chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
5.1 Phương pháp Tiếp cận hệ thống
Phương pháp Tiếp cận hệ thống giúp chúng tôi tìm hiểu, tiếp cận được
những yếu tố hiện thực trong tiểu thuyết Gia đình ở nhiều phương diện khác
nhau như nội dung phản ánh và nghệ thuật
5.2 Phương pháp Lịch sử - Xã hội
Tiểu thuyết Gia đình ra đời trong hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa cụ
thể nhưng phức tạp - thời kì 1930 - 1945 Vận dụng phương pháp Lịch sử- Xã hội, chúng tôi thấy được những nguyên nhân tạo nên yếu tố hiện thực trong một tác phẩm thuộc dòng văn học lãng mạn
5.3 Phương pháp Phân tích, tổng hợp
Phương pháp Phân tích, tổng hợp được vận dụng trong việc phân tích nội dung, nghệ thuật của tác phẩm để thấy được những yếu tố hiện thực chi phối trong tác phẩm
5.4 Phương pháp So sánh đối chiếu
Phương pháp So sánh đối chiếu giúp chúng tôi so sánh những tác phẩm
ra đời cùng thời với tiểu thuyết Gia đình để làm sáng tỏ những yếu tố hiện
thực trong tiểu thuyết
6 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận làm rõ Cảm quan hiện thực trong tiểu thuyết Gia đình của
Khái Hưng Trên cơ sở đó, khóa luận sẽ cho thấy rõ thành tựu của Khái Hưng trong việc phản ánh hiện thực đời sống xã hội
Khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo trong học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên
Trang 147 Bố cục khóa luận
Ngoài Phần Mở đầu, Phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phần Nội dung gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Cảm quan hiện thực thể hiện qua nội dung phản ánh
Chương 3: Cảm quan hiện thực thể hiện qua hình thức nghệ thuật
Trang 15NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Tác giả Khái Hưng
1.1.1 Cuộc đời
Khái Hưng, tên thật là Trần Giư, sinh năm 1896 (1897?), mất 1947 Khi đi buôn dầu ở Ninh Giang, ông mới đổi tên thành Trần Khánh Giư Nhà văn có rất nhiều bút danh nổi tiếng như: Bán Than, Nhát Dao Cạo, Chàng Lẩn Thẩn, Tò Mò, Nhị Linh nhưng Khái Hưng là bút danh chính, do xếp chữ Khánh Giư mà thành Ông xuất thân trong một gia đình quan lại ở làng Cổ
Am, phủ Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương (nay là xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng) Ngày xa xưa, làng Cổ Am gọi là làng Úm Mạt - đất phong cho một công chúa nhà Trần Đây là một ngôi làng nổi tiếng hiếu học
và trọng văn hóa từ ngàn xưa Làng Cổ Am từng có nhiều người đỗ đạt trong thời kì còn chế độ khoa cử Hán học Bởi vậy, trong các văn phẩm của mình, Khái Hưng luôn đề cao người có học, luôn đề cao văn hóa, điều đó có cội nguồn và cũng thật dễ hiểu
Thuở nhỏ, Khái Hưng học chữ Nho, mười hai tuổi mới theo Tây học Ông học trường Albert Sarraut, từng nổi tiếng là giỏi Pháp văn và tinh nghịch Ông đã được Hội chí chi Nam Định trao giải nhất cho bản dịch vở hài kịch Les Pleideurs của Racine (1923)
Năm 1927, sau khi đậu tú tài Pháp phần I, Khái Hưng không tiếp tục học lên để ra làm quan như đa số các bạn học cùng thời, mà bỏ học đi buôn dầu ở Ninh Giang, Hải Dương Vì tính phóng khoáng, bán chịu không thu được nợ, nhà văn thất bại sau ba năm kinh doanh tài tử Ông bỏ Ninh Giang
Trang 16lên Hà Nội dạy học ở trường tư thục Thăng Long, một trường nổi tiếng lúc bấy giờ Trong thời gian này, Khái Hưng còn làm chủ bút và viết một số bài
đăng trên tờ Phong hóa của Phạm Hữu Ninh từ số 1 đến số 13, ông cũng viết
nhiều bài nghị luận đăng trên Văn học tạp chí Năm 1931, Khái Hưng lập gia đình và cùng vợ lên Phú Thọ buôn sơn ta và chè Những cảnh và người vùng này, về sau được mô tả rất nhiều trong sáng tác của ông Sau một thời gian, ông đưa vợ về Hà Nội sinh sống
Từ 1930 - 1932, Nhất Linh từ Pháp trở về nước và cũng dạy học tại trường này Khái Hưng đã quen Nhất Linh ở đó và họ trở thành một cặp tác giả nổi tiếng Tuy Khái Hưng lớn hơn Nhất Linh 9 tuổi nhưng là người bước vào văn đàn sau nên được gọi là Nhị Linh
Khái Hưng tham gia Tự lực văn đoàn do Nhất Linh thành lập Văn
đoàn này bắt đầu xuất hiện từ năm 1932, và đến đầu 1933 thì tuyên bố chính thức thành lập với ba thành viên trụ cột là Nhất Linh, Khái Hưng và Hoàng Đạo
Trong thời gian “Đệ nhị thế chiến”, giống như Nhất Linh, Khái Hưng cũng tham gia hoạt động chính trị Do tham gia Đại Việt dân chính Đảng thân Nhật nên Khái Hưng từng bị chính quyền Thực dân Pháp bắt giam Sau ngày Nhật đảo chính Pháp tháng 3 năm 1945 Khái Hưng được trả tự do
Sau Tổng khởi nghĩa tháng Tám, Khái Hưng có viết một loạt báo, truyện ngắn kịch ngắn trên các báo của Việt Nam Quốc dân Đảng xong không một tác phẩm nào có giá trị Về nội dung tác phẩm, từ một nhà văn có khuynh hướng tư sản cấp tiến, ông đã trở thành người đi ngược với xu thế chung của lịch sử
Năm 1947, Khái Hưng mất tại Nam Định
Cuộc đời chính trị của Khái Hưng có nhiều phức tạp Nhưng nói đến
Tự lực văn đoàn không thể không nói đến Khái Hưng Trong tác phẩm Nhà
Trang 17văn hiện đại, nhà văn Vũ Ngọc Phan nhận xét về Khái Hưng như sau: “Khái Hưng như người ta đã thấy là một nhà tiểu thuyết có biệt tài Ông xét tâm lí phụ nữ Việt Nam rất đúng, ông lại để tâm đến việc cải cách hủ tục trong gia đình Việt Nam nên những tiểu thuyết phong tục của ông đều là những tiểu thuyết có giá trị Phần đông thanh niên trí thức Việt Nam là những độc giả chân thành của ông trong số số đó phụ nữ chiếm số nhiều hơn cả” [1, 92]
Như vậy, nhìn vào khối lượng sáng tác của Khái Hưng, chúng ta có thể khẳng định: Ông “xứng đáng được gọi là cây bút dồi dào, tài hoa hơn cả của
Trang 18nhóm Tự lực văn đoàn”
1.1.3 Quan điểm sáng tác
Mỗi một nhà văn nếu muốn tạo dựng được tên tuổi của mình trên văn đàn thì cần phải có quan niệm sáng tác độc đáo và mới mẻ Dù không quá bóng bẩy nhưng nhà văn Khái Hưng đã để lại trong lòng bạn đọc những ấn tượng về một nhà văn với những suy nghĩ về cách làm, cách viết riêng biệt Sống trong giai đoạn xã hội không mấy thuận lợi, ông đã bắt nhịp được với cuộc sống, đáp ứng được những đòi hỏi về văn học nghệ thuật
Dưới hiện thực xã hội với những đòi hỏi khắt khe trong đời sống văn học nghệ thuật Khái Hưng luôn chủ trương làm mới mẻ, yêu đời, tin ở sự tiến bộ, trọng tự do cá nhân… Từ đó, trong sáng tác của mình, ông cổ vũ cho cái mới, đấu tranh cho tự do cá nhân, hạnh phúc con người, phê phán cái cũ, xấu xa, lỗi thời, lạc hậu, những gì cản trở cái mới phát triển Tự đặt mình vào trong thời cuộc, khi mà cái mới, cái Âu hóa đang lan dần vào Việt Nam, nhà văn biết hòa mình vào lối sống đó để đáp ứng nhu cầu của quần chúng nhân dân
Khái Hưng đã dấn thân vào văn giới với tấm lòng của nhà giáo, với hoài bão của người cầm bút chân chính nhằm mang vẻ đẹp của Chân Thiện
Mỹ để trang trải, tô điểm cho cuộc sống có ý nghĩa đích thực của nó Khái Hưng sáng tác rất dồi dào, phong phú, với sự đam mê và giàu nghị lực
Khái Hưng xem nghề văn, nghề báo như là nguồn sống cao quý với tâm
tư, tình cảm, nhận thức của văn nhân để cùng nhau trang trải nỗi niềm Nhà giáo, nhà báo, nhà văn như ông luôn mang tâm hồn nhân bản để xây dựng cái hay, cái đẹp nhân cách con người, giá trị đạo đức trong từng cá nhân, gia đình
và xã hội Khái Hưng thẳng thắn nhìn nhận rằng ông “viết tiểu thuyết theo nhu cầu và điều kiện văn nghệ của một thời đại mà thôi” Vì vậy, ông đi sâu vào con đường “tiểu thuyết luận đề” nhằm khai phá dòng sinh khí mới trong văn học qua lăng kính xã hội Đồng thời, nêu ra thực trạng trong cuộc sống bi
Trang 19đát của xã hội đầy rẫy với nhân tình thế thái, với cảnh đời ô trọc, giá trị cao quý đích thực của nhiều tầng lớp nổi trôi, trầm luân trong cuộc sống
Những tiểu thuyết có giá trị của Khái Hưng đều phô bày cho chúng ta thấy những tình trạng xấu xa hoặc của gia đình, hoặc của xã hội Việt Nam Ông muốn phá bỏ hoàn toàn cái cũ đi và thay thế bằng một cái mới toàn diện
Là một tiểu thuyết gia, ông mong muốn trừ bỏ những cái xấu xa trong gia đình cũng như ngoài xã hội Khái Hưng còn là một tác giả viết về những tục xấu của người Việt Nam và có cái tư tưởng khuyến khích người ta sửa đổi
Như vậy, sự ảnh hưởng từ đời sống xã hội, từ ý thức thế hệ trí thức tư sản, Khái Hưng đã thực hiện được thiên chức của nhà văn là không phải chỉ
để ca tụng hay phản ánh hoàn toàn giới bần cố nông khố rách áo ôm, mà nghệ thuật của họ mở rộng ra cho tới tận chân trời đến tất cả mọi khía cạnh của xã hội, con người
1.2 Cơ sở hình thành cảm quan hiện thực của Khái Hưng
Văn học luôn bắt nguồn từ cuộc sống dù nhà văn thuộc bất kì trào lưu hay khuynh hướng nào Khuynh hướng lãng mạn nói chung, Khái Hưng nói riêng không nằm ngoài quy luật này Qua tác phẩm của mình, ông lên tiếng phê phán lễ giáo và chế độ đại gia đình phong kiến, đồng thời ông lên án sự tác oai tác quái của đồng tiền đã làm mất dần đi nhân phẩm tốt đẹp của con người Chính hiện thực xã hội đã góp phần làm cho Khái Hưng có thêm nhiều cảm hứng để sáng tác nên những tác phẩm lãng mạn thấm đẫm tinh thần hiện thực
1.2.1 Bối cảnh xã hội
Trong những năm 30 của thế kỉ XX, giai cấp phong kiến đã mất dần vai trò lãnh đạo đất nước và trở thành tay sai đắc lực của thực dân Đến thời điểm này, chính quyền Thực dân đã can thiệp khá sâu vào Đông Dương nói chung
và Việt Nam nói riêng Nhằm đặt cơ sở cho chương trình khai thác lâu dài, thực dân Pháp vừa duy trì giai cấp phong kiến, vừa thi hành hàng loạt các
Trang 20biện pháp tài chính, kinh tế áp đặt, độc quyền đối với xứ thuộc địa Để phục
vụ công cuộc khai thác, vơ vét kinh tế, thực dân chủ trương mở rộng mạng lưới giao thông giữa các vùng miền Việc mở mang giao thông đã tạo đà cho
sự phát triển nhiều mặt của xã hội
Trước hết, đô thị là thị trường trao đổi, lưu thông hàng hóa giữa các vùng miền Thị trường ngày càng phát triển mạnh mẽ với việc nhập khẩu và phân bố những mặt hàng công nghiệp, công nghiệp phẩm của phương Tây mà chủ yếu là của thực dân Pháp Đồng thời, đó là trung tâm xuất khẩu tài nguyên và hàng nông sản, thủ công mỹ nghệ của Việt Nam Như vậy, đô thị giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế nước ta Ngoài ra, nó còn trở thành trung tâm quân sự, chính trị, văn hóa của cả nước
Chính sách khai thác thuộc địa và sự ra đời của những đô thị mới kéo theo những biến động lớn trong kết cấu xã hội Kết cấu xã hội theo hướng tư sản xuất hiện và được duy trì ở các đô thị Do nhu cầu của chế độ thực dân nửa phong kiến, tầng lớp Tiểu tư sản xuất hiện và tác động mạnh tới sự biến động của xã hội thị thành Đây là tầng lớp đông đảo gồm những trí thức, tiểu thương, thợ thủ công, một số xuất thân từ nông thôn…Tính chất phức tạp của giai cấp này thể hiện ở nhiều mặt trong đời sống và ảnh hưởng nhiều đến thái
độ chính trị của họ
Ở nông thôn, vai trò và ảnh hưởng của triều đình phong kiến vẫn chi phối nặng nề đời sống xã hội bởi sự tồn tại của cả hệ thống cường hào, quan lại, địa phương Ở bình diện xã hội, nông thôn vẫn tồn tại là mâu thuẫn giữa giai cấp phong kiến và người nông dân Về văn hóa, cuộc sống nông thôn cũng đã xáo động bởi ảnh hưởng của văn hóa đô thị Về cơ bản, nông thôn Việt Nam vẫn là thành lũy vững chắc của lễ giáo cổ hủ Những hủ tục lạc hậu,
lề lối cũ đã đẩy con người vào bước đường cùng Tuy nhiên, đời sống văn hóa cũng dần được thay đổi bởi ảnh hưởng của đô thị và sự xuất hiện ngày càng
Trang 21nhiều của văn hóa phương Tây Đô thị với những lối sống theo chiều hướng hiện đại đã hấp dẫn những người nông dân với nhiều điều mới lạ
Xã hội Việt Nam từ khi bước sang thế kỉ XX đã bắt đầu có sự xâm nhập của nền văn minh công nghiệp phương Tây Các đô thị lớn, các thị xã, thị trấn, người dân tiếp xúc với lối sống văn minh tư sản và lối sống này đã tạo ra những biến đổi lớn trong sinh hoạt Các chàng trai thị thành giàu sang đua nhau mặc Âu phục với những đôi giày da đen bóng Các cô gái Bắc kì trước kia đội “nón thúng quai thao, bỏ tóc đuôi gà, dép sơn cong cớn, quần áo thâm lượt thượt…” thì nay đã “bỏ dép, bỏ nón, dùng giày mõm nhái, ô đen…”
Nhịp sống thay đổi theo sự vận động của cơ chế mới - cơ chế của xã hội đồng tiền và quyền lực, phù hợp với chính sách vơ vét kinh tế của Thực dân Tất cả những điều kiện trên đã làm đảo lộn các mối quan hệ xã hội, thay đổi quan niệm thẩm mĩ, đạo đức của dân tộc ta Một thế hệ mới xuất hiện, đó
là tầng lớp thanh niên trí thức Tiểu tư sản thành thị Họ học chữ Quốc ngữ, chữ Pháp, tiếp xúc thường xuyên với cái mới, đón nhận tư tưởng dân chủ, tự
do, thức tỉnh ý thức con người cá nhân với những nhu cầu mới về văn học nghệ thuật Họ đòi hỏi những món ăn tinh thần mới, đòi hỏi văn học phải có những thể loại phù hợp chứa đựng nội dung phong phú
Hiện thực xã hội đã chi phối quá trình tìm tòi, khám phá, lựa chọn chủ
đề, đề tài, cốt truyện và xây dựng hình tượng của các nhà văn Và tiểu thuyết của Khái Hưng đã từng làm say mê độc giả đương thời, nhất là thanh niên ở thành thị và thanh niên có học ở nông thôn Sự say mê ấy chính là sự hưởng ứng cuộc đấu tranh mới - cũ, đấu tranh để phá bỏ lễ giáo phong kiến ràng buộc người thanh niên mà cái “tôi” bắt đầu được giải phóng Những lễ giáo
cũ đã không còn phù hợp nữa, họ đang đòi một cuộc sống hiện đại trong đó cá
nhân của mỗi người được tự khẳng định mạnh mẽ trước xã hội Tác phẩm Gia
Trang 22đình là lời tuyên chiến khá hùng hồn về quyền lợi cá nhân cũng như chống lại
lễ giáo và đại gia đình phong kiến
Như vậy, một trong những cơ sở hình thành cảm quan hiện thực trong tiểu thuyết của Khái Hưng là bắt nguồn từ hiện thực xã hội bấy giờ Lễ giáo phong kiến và chế độ đại gia đình đã đẩy con người vào cuộc sống với những
bi kịch
1.2.2 Lịch sử những năm 1936
Ở vào khoảng thời gian cuối thập niên 1930, tình hình chính trị, kinh tế,
xã hội ở Việt Nam rất rối loạn, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Đây là thời kì nước ta sống trong giai đoạn nửa thuộc địa, nửa phong kiến Chế độ Thực dân Pháp ra sức bóc lột nhân dân ta bằng chính sách kinh tế vơ vét tài nguyên, sưu cao thuế nặng… và sẵn sàng đàn áp đẫm máu các phong trào Cách mạng
Trước tình hình đó, phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ đã họp bàn lại, kèm theo đó là sự ủng hộ của các đảng phái, nhân sĩ, trí thức Từ đó, Đảng Cộng Sản Đông Dương đã đề ra phong trào đấu tranh đòi các quyền tự do, dân chủ, dân sinh Những khẩu hiệu đấu tranh của họ chứa đựng nội dung cải cách dân chủ mạnh mẽ do Đảng cộng sản Đông Dương lãnh đạo Đây là một phong trào rộng lớn có tổ chức Nó khác với phong trào cải lương do một nhóm nhỏ tư sản, địa chủ khởi xướng với mục đích xin chính quyền thực dân ban cho một số quyền lợi hàng ngày và coi đó là mục đích cuối cùng
Do được tiếp xúc với một nền văn hóa mới tiến bộ hơn, một số thanh niên trí thức Tây học muốn được giải phóng con người bằng tư tưởng phương Tây Họ muốn cải cách xã hội theo lập trường tư duy cấp tiến Lập trường của
họ rất dứt khoát và quyết liệt: “Chúng tôi muốn tiêu diệt chế độ cũ” - một chế
độ đã mục nát, thối rữa và lạc hậu Không còn dừng lại ở cuộc đấu tranh chống lại nước thuộc địa, nhân dân ta còn đấu tranh chống lại các hủ tục lạc
Trang 23hậu của chế độ phong kiến Những nghi thức cũ, lối sống khuôn mẫu cũ không còn phù hợp với tư tưởng mới Và nó chính là một trong những nguyên nhân trực tiếp biến dân tộc ta trở thành một nước què quặt, ốm yếu
Đứng trước tình hình thế giới và trong nước biến động như vậy cũng đòi hỏi một nền văn học nghệ thuật phù hợp hơn Các nhà văn lãng mạn cũng dùng hết tâm huyết và bút lực để sáng tạo ra những tác phẩm mới, phù hợp với xã hội ngày càng hiện đại Đây được coi là thời kì văn học phát triển rực
rỡ với những thành tựu phong phú, những vấn đề mang ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống xã hội, đánh dấu bước tiến quan trọng trong tiến trình vận động, phát triển của lịch sử văn học
Trong thời kì này, Khái Hưng cho ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết Gia
đình được đăng báo Ngày nay năm 1936, in thành sách năm 1937 Trong tác
phẩm, nhà văn nêu lên mâu thuẫn giữa cá nhân và gia đình, giữa quan niệm
cũ và mới… Chính những ghen ghét, đố kị, những tủn mủn, nhỏ nhen đã đẩy những mâu thuẫn, xung đột lên đến đỉnh cao Viết tác phẩm này, ngòi bút của Khái Hưng hướng tới việc lên án lễ giáo phong kiến cùng chế độ đại gia đình lạc hậu
Trang 24CHƯƠNG 2 CẢM QUAN HIỆN THỰC THỂ HIỆN QUA NỘI DUNG PHẢN ÁNH
2.1 Phê phán mạnh mẽ lễ giáo phong kiến
Giá trị nội dung được chú ý trong sáng tác của các nhà văn giai đoạn
1930 - 1945 là tố cáo xã hội vô nhân đạo Là trí thức, các nhà văn cảm nhận sâu sắc nỗi đau mất nước, mất tự do và phải sống buồn tẻ, tù túng bởi cái đói, cái nghèo, bởi những bất công đầy rẫy trong xã hội Với những nỗi bất hạnh
mà dân ta đang phải gánh chịu thì các tác giả Tự lực văn đoàn nói chung và
nhà văn Khái Hưng nói riêng đã dùng hết tâm huyết của mình vào việc lên án,
tố cáo lễ giáo phong kiến lỗi thời đã đẩy người dân vào cảnh khốn cùng
2.1.1 Phê phán tâm lí háo danh, đố kị, ích kỉ
Trong Gia đình, tâm lí háo danh, đố kị, ích kỉ là tâm lí xuyên suốt tác
phẩm Đó là một gia đình mang nặng tư tưởng gia phong Ở đây, tình người không còn hiện hữu
Tâm lí háo danh ăn sâu vào bản chất của nhiều nhân vật trong tiểu thuyết Ông bà Án Báo muốn duy trì bằng được cái vòng quay của xã hội cũ: học hành - đỗ đạt - làm quan Họ vẫn mang trong mình những đặc tính cố hữu không gì lay chuyển nổi và không ngừng nhen nhóm ngọn lửa háo danh đó cho thế hệ nối tiếp Nga là nhân vật tiêu biểu nhất mang tâm lí hám danh, đố
kị, ích kỉ Một người phụ nữ thông minh, xinh đẹp, và tìm mọi cách để được làm bà Huyện Mọi hành động của nàng đều được vạch định kĩ lưỡng, cẩn trọng: “Và nàng tưởng ngay đến phương pháp để bắt An làm theo ý muốn của mình Phương pháp ấy phải dùng cho khôn khéo lắm mới được, vì già néo thì đứt dây, có thể nguy kịch” [8, 30] Cũng chỉ vì cái tham vọng làm bà lớn đã đẩy Nga từ một cô gái dịu dàng trở thành một người phụ nữ lúc nào cũng toan tính, ngay cả với Bảo - người chị em mà cô yêu quý nhất “Bây giờ chị em tử
tế với nhau yêu nhau như chân tay thực Nhưng mai kia nếu nhà chồng có
Trang 25thần thế, hách dịch hơn nhà chồng mình, biết đâu nó lại không coi mình như rơm như rác?” Tâm lí háo danh khiến cho Nga có những suy nghĩ, hành động trái hẳn ngày mới lấy An “ngoan ngoãn chiều chồng” Thậm chí sự đố kị, ích
kỉ đó đã biến Nga trở thành một con người đầy mưu mô, xảo trá và hẹp hòi khi ủng hộ cuộc hôn nhân của Bảo với mục đích: “Để sau này khỏi há miệng mỉa mai rằng nhà chồng nàng không phải một nhà quý phái” [8, 91]
Không chỉ có Nga mà trong tác phẩm, ông Điều Vạn cũng được khắc họa bởi những nét hợm hĩnh mang nặng tâm lí háo danh, đố kị Ông muốn An học ra làm quan nhưng không hẳn là lo cho tương lai, sự nghiệp của cháu mà xuất phát từ chính tâm lí hám danh, hám tiền tài danh vọng Ông vẫn ghen ghét anh cả ông, vì thấy con anh học hành giỏi giang Lòng đố kị luôn thường trực trong con người ông Vì hỏng con nên ông đành vớt vát lấy cháu Ông chỉ mong cho An ra làm quan bởi nếu An làm tri Huyện thì ở trong làng chẳng còn ai to hơn nữa, và chức tiên chỉ chắc chắn sẽ thuộc về họ ông Thế nên ngày An quyết định đi học “Người hí hửng vui sướng nhất là ông Điều Vạn” [8, 133]
Phụng - một người đàn bà có chồng làm quan, luôn tỏ ra là một bà lớn quyền uy, hách dịch với người nhà, khinh bỉ chị em Nghe tin em rể vào Đại học thì nàng sinh ra thù ghét em gái Phụng sẵn sàng đấu đá, kình địch với em gái một cách thẳng thắn, không hề giấu diếm, che đậy hay úp mở, và có lần đã mắng như tát nước vào mặt cô em gái của mình Hay Viết cũng có những tâm
lí và hành động tương tự Một người lọc lõi trong chốn quan trường, hắn thăng quan tiến chức nhờ ăn hối lộ với tất cả sự bỉ ổi của mình
Qua hàng loạt những nhân vật kể trên, Khái Hưng tỏ thái độ phê phán thứ tâm lí làm cho con người ta biến chất Bởi kết cục vì những danh hão đó
mà họ đều phải trả giá
Tác giả bài Về Tự lực văn đoàn có một nhận xét tinh tế về nét riêng nhân vật của Gia đình như sau: Tính cách của mấy nhân vật phụ nữ được xây dựng
Trang 26thành công, Nga hay ghen tị so bì nhưng nhiều lúc cũng dễ thương; Phụng quá quắt, hợm hĩnh và lấn át em chỉ vì chồng làm tri Huyện; bà Án khôn khéo hơn nham hiểm… Mỗi nhân vật đều mang một tính cách riêng tạo nên một bức biếm họa về công danh quyền lợi Đây không phải là cuộc sống cá biệt mà là một bức tranh tiêu biểu của đời sống con người, nhất là của xã hội thượng lưu Khái Hưng đặc biệt thành công trong các nhân vật phụ nữ, chẳng những ở các nhân vật “gái mới”… mà cả những nhân vật phụ nữ đại diện cho phái cũ, tiêu biểu cho tâm lí, lối sống gia đình cũ, có vai trò chi phối gia đình (Nga) Khái Hưng đã đi sâu vào tâm lí, tính cách nhân vật, phản ánh xã hội và nếp sống trong các gia đình phong kiến hoặc tiểu tư sản thời ấy Qua đây, nhà văn không chỉ phê phán mà ông còn tỏ thái độ cảm thương cho những người phụ nữ trong
xã hội phong kiến với đầy rẫy những lừa lọc, bon chen
2.1.2 Phê phán chế độ đại gia đình phong kiến
Khái Hưng là một nhà báo phê phán lễ giáo và đại gia đình phong kiến rất quyết liệt Ông là người mở đầu cho những tiểu thuyết chống phong kiến
của Tự lực văn đoàn Với hai cuốn Hồn bướm mơ tiên và Nửa chừng xuân,
những tư tưởng phản phong của những người Tự lực lần đầu tiên được thể
hiện trong lĩnh vực tiểu thuyết Nếu Hồn bướm mơ tiên phác họa và hé mở cuộc chiến chống chế độ đại gia đình thì Nửa chừng xuân, ngòi bút của Khái Hưng đã trực tiếp chĩa mũi nhọn vào lễ giáo và đạo đức phong kiến Đến Gia
đình, tác phẩm không chỉ đi sâu vào miêu tả sự rạn nứt của đại gia đình phong
kiến mà còn là bản cáo trạng kết án lễ giáo phong kiến về nhiều phương diện: chế độ quan trường, thói háo danh, ma chay, khao vọng, giỗ chạp, đa thê…
Ở Gia đình, nổi bật là cuộc sống của đại gia đình trí thức phong kiến
với nề nếp gia phong đã lỗi thời Với vợ chồng ông Án Báo, phải học để làm quan, phải có chức có quyền thì mới khẳng định được giá trị của bản thân cũng như khẳng định được vị thế của gia đình Vì tư tưởng đó mà ông lần lượt
áp đặt cho mọi thành viên trong gia đình Ông bà sẵn sàng chút giận lên con
Trang 27dâu (Vân) khi không ép được con trai (Phương) tham gia kì thi tri Huyện dù anh đã đỗ đến chức Tham tá lục sự Khi huyện Viết đã công thành danh toại với chức tri Huyện thì ông bà lại đổ dồn áp lực lên An Chính những khát khao danh vọng, quyền lực mà ông bà Án đã tạo nên bao mâu thuẫn, xung đột trong gia đình Ông bà Án chính là nguyên nhân gây nên những đổ vỡ trong gia đình mình Huyện Viết ngày càng lún sâu vào con đường tha hóa, từ tham
ô đến dâm đãng Việc chồng được thăng quan tiến chức cũng có tác động mạnh mẽ đến Phụng Mặc dù hạnh phúc gia đình đang ngày một tan vỡ nhưng Phụng vẫn có cớ dựa vào chồng để ra oai, hắt hủi các chị em trong gia đình Điều này làm Nga vô cùng căm tức Để thực hiện được khát vọng làm bà lớn của mình, Nga đã tìm mọi cách ép chồng (An) theo con đường thi cử, làm quan Mặc dù không hứng thú với chốn quan trường nhưng với bản tính nhu nhược, An cũng phải lao vào học hành, thi cử ra làm quan và dần dần cũng trở nên bỉ ổi An trở thành nạn nhân của gia đình Án Báo nói riêng, của xã hội phong kiến đang suy thoái, mục ruỗng nói chung và cũng là minh chứng cho
sự tha hóa đang dần phổ biến Từ một người hiền lành, yêu cuộc sống tự do đến khi đặt chân vào chốn quan trường An đã biết gian lận, ngoại tình…
Chống lễ giáo và đại gia đình phong kiến, ngòi bút Khái Hưng cũng có những mảng màu khá rõ nét Tiểu thuyết của ông vừa chứa đựng nhiều chất liệu của đời sống, vừa thể hiện một thái độ khoan hòa Tác giả đã phát hiện ra những mâu thuẫn, rạn nứt khó hàn gắn do tính chất lỗi thời của lễ giáo phong kiến về quyền lực của đồng tiền, danh vọng gây nên Đây là những mâu thuẫn
có thật và rất gay gắt trong cuộc sống lúc ấy, nhất là ở thành thị Nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung chính xác cho rằng Khái Hưng muốn khẳng định: Gia đình là địa ngục đối với người nào đó đâu óc ít nhiều mới mẻ, muốn sống
tự do Tâm lý háo danh và đầu óc gia tộc hẹp hòi đã đầu độc tâm hồn con người, phá hoại cả mối quan hệ cốt nhục Đây là tiếng chuông cảnh báo còn vang vọng đến bây giờ
Trang 28Qua tác phẩm Khái Hưng đã cho chúng ta thấy cái gia đình ấy hiện ra với tất cả những sai sót, những khía cạnh bi hài vốn có Đó cũng là hệ quả tất yếu khi sự bừng tỉnh của ý thức cá nhân đã dâng cao, lễ giáo và đại gia đình phong kiến với lối sống cũ trở nên lỗi thời
2.1.3 Phê phán xã hội quan trường thối nát
Giai cấp phong kiến hiện lên trong tác phẩm của các nhà văn là sản phẩm tiêu biểu của xã hội thối nát với đầy đủ các thói hư tật xấu Từ gia đình ông Án Báo, ngòi bút của Khái Hưng đã phanh phui xã hội quan trường thối nát với tất cả sự trâng tráo và bỉ ối của nó Từ những đố kỵ ghen ghét giữa các thành viên trong gia đình đến những ham muốn vật chất đã đẩy họ vào tình trạng tự đánh mất dần đi những phẩm chất tốt đẹp của mình Khi miêu tả con đường thăng quan tiến chức của huyện Viết, Khái Hưng cũng đồng thời tái hiện con đường tha hóa về nhân cách của hắn Xã hội đương thời dường như đang đồng lõa với sự tha hóa đó Ngồi trong ô tô, Viết cười một mình Chàng không còn hổ thẹn với lương tâm như hồi mới xuất chính nữa “Tàn ác lâu ngày đã thành thói quen Buổi đầu, khi nghe bọn thơ lại xui giục, chàng làm một việc bất nhân, thì chàng bứt rứt áy náy, đắn đo rụt rè, có lần hối hận suốt đêm không nhắm mắt ngủ được Nhưng dần dần chàng trở nên “can đảm” và giữ được “trơ như đá, vững như đồng” khi đứng trước những cảnh thương tâm, khi có những hành vi dã man tàn ngược Đến nỗi hễ thấy bạn đồng nghiệp nào hơi giữ gìn, hơi có lòng liêm sỉ là chàng liệt ngay vào hàng giả đạo đức” [6, 77] Viết không phải là nhân vật có bản chất tốt đẹp từ đầu nên khi miêu tả nhân vật này, Khái Hưng để cho nhân vật của mình tự do trượt dài trên con đường tha hóa Qua việc miêu tả sự tha hóa trầm trọng của huyện Viết, Khái Hưng tỏ rõ thái độ phê phán sâu sắc cái hiện thực xã hội đang hiện hữu lúc bấy giờ Chỉ vì đồng tiền, quyền lực mà con người có thể sẵn sàng đánh đổi với danh dự của bản thân
Trang 29Trong Gia đình, người khổ nhất trong chốn quan trường có lẽ chính là
An Là người theo Tây học, chịu ảnh hưởng của sách báo lãng mạn và đã đỗ
tú tài song tư tưởng lại bị lung lay bởi các thế lực tồn đọng của xã hội phong kiến An không phải là một người hám danh lợi, ham mê của cải vật chất và không học với mục đích làm quan Chàng muốn “quy điền”, muốn sống một đời tự do phóng khoáng, vui thú với thiên nhiên, với đồng quê, chứ không phải để thành địa chủ trọc phú thông thường Vị dòng họ, vì sự háo danh của
vợ, gia đình vợ nên An đã phải từ bỏ sở thích của mình, dấn thân vào con đường quan trường để cho êm cửa êm nhà An lên Hà Nội học tiếp để ra làm quan dù biết rằng tương lai của mình sẽ phải sống một cuộc đời giả dối, xấu
xa, nhục nhã, buồn chán Làm quan, rồi cũng phải ăn hối lộ: Thế nào rồi An cũng phải đi đến chỗ đó như mọi người khác, đi đến chỗ xoay tiền Bây giờ,
kể chàng cũng chịu nhận lễ đấy, nhưng chỉ nhận những thứ người ta lễ chứ không “bóp cổ” để cho người ta phải há họng
Sự thật về chốn quan trường đã được vạch ra, An tự nhủ: “Phải ta bình tĩnh sao được! “Thời nay hai chữ quan trường đã trở nên có cái ý nghĩa ghê
sợ, huyền bí Đến ta, ta cũng rùng mình mỗi khi ta nghe kể những câu chuyện
về quan, những công trình tàn ác của một vài viên tri Huyện, tri Phủ bất lương
mà mục đích làm quan là đi bóc lột dân quê ngu dại Ta biết thế mà ta còn đâm đầu vào! Hừ… Chẳng qua chỉ tại vợ ta, chú ta và cậu ta, chỉ tại gia đình
ta cả.” [6, 142] Làm quan, phải mua chuộc Công sứ, Tuần phủ, “cụ lớn vợ bé”, “phán đầu tòa” Vợ An đã phải đi lại thậm thụt ở nhà tổng đốc, mua chuộc cụ lớn bà, đánh tổ tôm với các quan lớn… Sự cạnh tranh trong giới quan lại, nhân một buổi “hầu quan Công sứ” được miêu tả: “Mọi người lũ lượt kéo nhau vào buồng giấy quan chánh, ai nấy trong trí đầy những mánh khóe để làm tỏ rạng cái tốt, cái hay của mình, và nếu gặp dịp, để làm giảm thế lực, hạ giá trị của kẻ khác”