1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề thờ cúng tổ tiên của người công giáo họ đạo lai tê (lương tài, bắc ninh)

83 741 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khuôn khổ của khóa luận tốt nghiệp đại học, người viết không thể khảo sát việc thực hành thờ kính tổ tiên của tất cả các giáo họ Công giáo trên khắp cả nước, mà chỉ xin dừng lại ở

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ TRANG

VẤN ĐỀ THỜ KÍNH TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO HỌ ĐẠO LAI TÊ

(LƯƠNG TÀI - BẮC NINH)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Việt Nam học

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ TRANG

VẤN ĐỀ THỜ KÍNH TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO HỌ ĐẠO LAI TÊ

(LƯƠNG TÀI - BẮC NINH)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Việt Nam học

Người hướng dẫn khoa học

ThS NGUYỄN THỊ TÍNH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận tốt nghiệp Đại học “Vấn đề thờ kính tổ tiên của người

Công giáo họ đạo Lai Tê” được hoàn thành, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản

thân, người viết cũng nhận được rất nhiều sự đóng góp và giúp đỡ Nhân đây

người viết xin dành những lời cảm ơn chân thành nhất tới các tập thể và cá

nhân đã đóng góp tư liệu và công sức cho khóa luận này

Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ThS Nguyễn Thị

Tính, người đã tận tình hướng dẫn em làm việc đạt hiệu quả cao nhất và dành

nhiều công sức để đóng góp cho khóa luận

Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong khoa Ngữ Văn đã giúp đỡ

em trong quá trình nghiên cứu đề tài khóa luận tốt nghiệp Đại học này

Đặc biệt, con xin gửi lời cảm ơn tới linh mục Đaminh Nguyễn Xuân

Hùng, thầy Giuse Hoàng Trọng Hữu, Ban hành giáo họ đạo Lai Tê và các quý

vị đã cung cấp thông tin, tư liệu và giúp đỡ con trong suốt quá trình tìm hiểu,

nghiên cứu đề tài khóa luận này

Dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng khóa luận này không tránh khỏi những

thiếu sót, hạn chế Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy - cô

và các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Thị Trang

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Vấn đề thờ kính tổ tiên của người Công giáo

họ đạo Lai Tê” là một đề tài do chính tôi thực hiện, không có sự trùng lặp với

bất kì đề tài của tác giả khác

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Thị Trang

Trang 5

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

Ep 4, 16 Thư của thánh Phao-lô gửi đoàn Epheso

Hc 7, 27-28 Sách huấn ca, chương 7 câu 27 – 28

Hc 3, 6 Sách huấn ca, chương 3 câu 6

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Nhiệm vụ - phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Kết quả đóng góp của khóa luận 6

6 Cấu trúc của khóa luận 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỌ ĐẠO LAI TÊ 7

1.1 Nguồn gốc đạo Công giáo tại họ đạo Lai Tê 7

1.1.1 Sơ lược về việc truyền bá đạo Công giáo tại Việt Nam 7

1.1.2 Quá trình truyền bá và phát triển đạo Công giáo tại Lai Tê 8

1.2 Đời sống tôn giáo của giáo dân họ đạo Lai Tê 12

1.2.1 Tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống 12

1.2.2 Các tổ chức, hội đoàn tôn giáo ở họ đạo Lai Tê 14

1.2.3 Sinh hoạt tôn giáo ở họ đạo Lai Tê 16

CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM VÀ CÁC NGHI THỨC CƠ BẢN VỀ VIỆC THỜ KÍNH TỔ TIÊN CỦA GIÁO DÂN HỌ ĐẠO LAI TÊ 19

2.1 Các quan niệm và cơ sở về việc thờ kính tổ tiên của người Công giáo Lai Tê 19

2.1.1 Quan niệm chung về thờ kính tổ tiên của người Công giáo Lai Tê 19

2.1.2 Quan niệm về cái chết và sự tồn tại linh hồn của giáo dân họ đạo Lai Tê 24

2.1.3 Cơ sở thờ kính tổ tiên của người Công giáo Lai Tê 26

Trang 7

2.2 Các nghi thức thờ kính tổ tiên của giáo dân họ đạo Lai Tê 29

2.2.1 Nghi thức thờ kính tổ tiên trong đám tang và giỗ chạp 30

2.2.2 Nghi thức thờ kính tổ tiên tháng Cầu hồn 42

2.2.3 Nghi thức thờ kính tổ tiên dịp Tết Nguyên Đán 44

2.2.4 Nghi thức thờ kính tổ tiên khi gia đình có việc trọng đại 48

CHƯƠNG 3 NHỮNG TỒN TẠI VÀ XU HƯỚNG THỜ KÍNH TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO LAI TÊ 51

3.1 Những vấn đề tồn tại trong việc thờ kính tổ tiên của người Công giáo Lai Tê 51

3.2 Xu hướng thờ kính tổ tiên của người Công giáo Lai Tê 55

KẾT LUẬN 60 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng lâu đời của cư dân Việt Nam, nó đã trở thành một nhân tố quan trọng của nền văn hóa bản địa, có một vị trí và vai trò thiết yếu trong đời sống xã hội Tín ngưỡng ấy đã mang trong mình những giá trị to lớn Nó góp phần duy trì ý thức về cội nguồn, dấy lên lòng hiếu thảo nhân nghĩa và trở thành một đạo lý tốt đẹp trong mỗi gia đình Được thể hiện bằng nhiều tên gọi, nhiều dạng thức khác nhau, nhưng tựu trung, thờ cúng tổ tiên vẫn là công việc báo hiếu với những người đã khuất

Bất cứ một cá nhân, đoàn thể hay tôn giáo nào tồn tại trên mảnh đất ngàn năm văn hiến này đều thực hiện việc báo hiếu với tổ tiên, coi đó là những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc, cần được lưu giữ và phát huy

Người Công giáo ngày nay cũng cử hành nghi thức thờ kính tổ tiên như những người không Công giáo Đó là hành vi xuất phát từ tiếng gọi lương tâm

và lẽ phải Giáo lý của giáo hội và những quy tắc đạo đức buộc người tín hữu phải kính nhớ tiền nhân, biểu thị lòng kính nhớ ấy bằng việc làm, sự tưởng nhớ và lời cầu nguyện Những nghi thức báo hiếu, kính nhớ tổ tiên của người Công giáo chẳng những không ảnh hưởng gì đến niềm tin tôn giáo mà còn làm cho những sinh hoạt tôn giáo trong cộng đồng người Công giáo thêm phong phú, đa dạng Mặt khác, những sinh hoạt đó cũng góp phần tạo nên những nét đẹp văn hóa của dân tộc ta Do đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu vấn

đề thờ kính tổ tiên của người Công giáo ở Việt Nam là rất cần thiết Trong khuôn khổ của khóa luận tốt nghiệp đại học, người viết không thể khảo sát việc thực hành thờ kính tổ tiên của tất cả các giáo họ Công giáo trên khắp cả nước, mà chỉ xin dừng lại ở việc khảo sát vấn đề thờ kính tổ tiên ở một làng Công giáo cụ thể là làng Lai Tê (Bắc Ninh)

Trang 9

Làng Lai Tê (hay còn gọi là làng Bùi) hiện nay là một trong những làng toàn tòng Công giáo (tên gọi để chỉ những làng có toàn bộ những người theo đạo Công giáo) có lịch sử lâu đời tại quê hương Kinh Bắc Trên mảnh đất này, giáo dân đã xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc với những đặc trưng văn hóa của một làng Công giáo

Tuy nhiên, trước sự thay đổi mạnh mẽ của cơ chế thị trường, trước làn sóng đô thị hóa ồ ạt như hiện nay, diện mạo và những nét văn hóa truyền thống của làng Lai Tê đang dần biến đổi Việc thực hành những nghi thức thờ kính tổ tiên có vai trò to lớn trong việc duy trì mô hình gia đình truyền thống, gắn kết các thế hệ với nhau và là chỗ dựa vững chắc cho giáo dân, nay cũng có nguy cơ mai một Thực trạng đó đặt ra những vấn đề cần được quan tâm nhằm tìm lại những giá trị tốt đẹp của làng Công giáo Lai Tê Đây là việc làm hết sức cần thiết và là trách nhiệm của giáo dân Lai Tê nói riêng và người Công giáo nói chung Để làm tốt vấn đề này, việc tìm hiểu cơ sở, quan niệm và nghi thức thờ kính tổ tiên của giáo dân Công giáo đóng vai trò rất quan trọng

Xuất phát từ những lí do khoa học, thực tiễn nêu trên, với ý thức lưu

giữ một phong tục, tập quán tốt đẹp, tôi xin chọn đề tài: “Vấn đề thờ kính tổ

tiên của người Công giáo họ đạo Lai Tê (Lương Tài- Bắc Ninh)” làm đề tài

khóa luận tốt nghiệp đại học Qua công trình này, người viết cũng muốn góp chút ít phần của mình trong công việc đề cao nét đẹp văn hóa của người Công giáo nói chung và của người Công giáo Lai Tê nói riêng

Trang 10

Phong tục thờ cúng tổ tiên trong gia đình Việt Nam, Nxb Vănhóa Dân tộc

2001; tác giả Nguyễn Đăng Duy trong Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở

Việt Nam, Nxb VHTT, Hà Nội 2001 và tác phẩm Văn hóa tâm linh, Nxb

VHTT, Hà Nội 2002 đã khẳng định người Công giáo có thực hành thờ kính tổ

tiên Tác giả Vũ Mai Thùy trong tác phẩm Phong tục tập quán người Việt,

Nxb VHTT, Hà Nội 2004 cũng có nhắc đến vấn đề thờ kính tổ tiên của người Công giáo Việt Nam

Trong các tác phẩm viết về Công giáo, các tác giả cũng quan tâm tới

vấn đề này Tác phẩm Nghi lễ và lối sống Công giáo trong văn hóa Việt Nam,

Nxb KHXH, 2001, tác giả Nguyễn Hồng Dương đã trình bày chi tiết về cách nhìn nhận, ứng xử của Công giáo Việt Nam từ buổi đầu đến Công đồng

Vatican II và sau Công đồng Vatican II Tác giả Hà Huy Tú trong Tìm hiểu

nét đẹp văn hóa Thiên Chúa giáo, Nxb VHTT cũng lược qua những vấn đề

thờ kính tổ tiên của người Công giáo

Nghiên cứu chuyên sâu cũng đã chú ý tới việc người Công giáo thờ

kính tổ tiên Tác giả Trần Đăng Sinh trong luận án Tiến sĩ Triết học: Những

khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay cũng phác họa qua những nét cơ bản của việc thờ kính

tổ tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay Tác giả Lê Đức Hạnh

trong đề tài Vấn đề thờ cúng tổ tiên của người Công giáo vùng Đồng bằng

Bắc Bộ - Việt Nam cũng đã nêu lên sự khác nhau của việc thờ cúng tổ tiên

giữa người Công giáo và không Công giáo Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra được những nét đặc trưng trong việc thờ cúng tổ tiên của người Công giáo vùng Bắc Bộ - Việt Nam: “Thờ cúng tổ tiên giữa người Công giáo và người không Công giáo có những khác biệt trong hình thức thể hiện Với quan niệm

tổ tiên chỉ hưởng dùng những công phúc, nên trong Công giáo, giỗ chạp thường chú trọng đến việc xin lễ, đọc kinh chung và làm những việc lành để

Trang 11

hướng về ông bà tổ tiên, họ ít quan tâm đến việc sửa soạn đồ cúng, tuyệt đối không đốt vàng mã Trên bàn thờ tổ tiên chỉ có cắm hương trước di ảnh tưởng nhớ ông bà cha mẹ, một đĩa trái cây, một bình hoa với mục đích tôn kính ông

bà cha mẹ chứ không hàm ý mời ông bà cha mẹ dùng Chính vì thế mà giỗ chạp trong Công giáo là dịp những người sống lập công phúc thay cho người chết để họ mau đền hết tội lỗi của mình, sớm được hưởng nhan Chúa nơi Thiên đàng”

Vấn đề này cũng được đề cập đến trong các bài viết, bài nghiên cứu được trích trong các tạp chí, các tờ báo…Tác giả Nguyễn Hồng Dương trong

Bước đường hội nhập văn hóa dân tộc của Công giáo Việt Nam trên tạp chí

Nghiên cứu Tôn giáo số 1 (01) năm 1999 đã khẳng định sự hội nhập của Công giáo Việt Nam với dân tộc trong đó thờ kính tổ tiên là một biểu hiện Tác giả Phạm Quỳnh Phương trong bài viết in trong Tạp chí Dân tộc học số 4 năm 2000 cũng có bàn về những vấn đề thờ kính tổ tiên hiện nay của người Công giáo

Ngoài những tác giả nêu trên, các Giám mục, linh mục cũng là những người bàn nhiều về vấn đề trên Linh mục Giuse Nguyễn Hữu An trong bài

Mồng hai Tết: Từ đạo hiếu đến đạo Thiên Chúa in trên tạp chí Sinh viên

Công giáo giáo phận Vinh viết: “Ngày Tết mọi người được liên kết trong niềm vui yêu thương chia sẻ Ngày Tết còn liên kết người sống với người chết, hiệp thông con cháu với tổ tiên ông bà cha mẹ đã qua đời Nhiều người

có thói quen đi tảo mộ những ngày trước Tết Người ta tin rằng dịp đầu năm ông bà tổ tiên về sum họp với con cháu Niềm tin đó có tác dụng tích cực giúp người sống luôn nhớ tới cội nguồn, sống hiếu thảo, ăn ở xứng đáng với dòng tộc của mình”. Tổng giám mục Huế Stêphanô Nguyễn Như Thể, Giám mục Nha Trang Phaolô Nguyễn Văn Hòa, khi tham gia Thượng Hội Đồng Giám

Trang 12

có lời phát biểu nói lên tầm quan trọng của việc thờ kính ông bà tổ tiên của

người Công giáo Linh mục Thiện Cẩm trong bài Từ đạo ông bà đến đạo

Thiên Chúa của nguyệt san Công Giáo và Dân Tộc (Uỷ ban đoàn kết Công

giáo TPHCM) số 3 (03) năm 1995 cũng nói đến việc báo hiếu tổ tiên của người Công giáo Việt Nam

Trên đây là những công trình đã đề cập đến vấn đề thờ kính tổ tiên của người Công giáo Việt Nam Qua số lượng lớn những công trình nghiên cứu nêu trên, có thể thấy: thờ kính tổ tiên của người Công giáo là vấn đề thu hút

sự quan tâm của nhiều học giả Tuy nhiên, việc nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu những nét chung nhất trong việc báo hiếu của người Công giáo nói chung Những công trình nghiên cứu cụ thể về những nghi thức thờ kính

tổ tiên của từng địa phận, từng hạt, từng giáo xứ, giáo họ thì còn vắng bóng

Như vậy, cho đến nay, chưa có công trình nào khảo sát, mô tả một cách

có hệ thống, chi tiết, cụ thể vấn đề thờ kính tổ tiên của giáo dân họ đạo Lai

Tê Do đó, đây là một đề tài hấp dẫn lôi cuốn tác giả Dựa trên cơ sở tập hợp những nguồn tư liệu và thừa hưởng những thành quả của các học giả đi trước, tác giả đi tới việc phác họa một bức tranh chung về việc thờ kính tổ tiên của người Công giáo Lai Tê

3 Nhiệm vụ - phạm vi nghiên cứu

Trang 13

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp liên ngành, đa ngành

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp logic và lịch sử

- Phương pháp điền dã

- Phương pháp nghiên cứu xã hội học

5 Kết quả đóng góp của khóa luận

Khóa luận là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về vấn đề thờ kính tổ tiên của người Công giáo Lai Tê Khóa luận miêu tả, trình bày những nghi thức thờ kính tổ tiên của người Công giáo họ đạo Lai Tê, đồng thời cũng đưa ra những vấn đề còn tồn tại và những dự đoán về xu hướng của việc thờ kính tổ tiên của người Công giáo nơi đây Từ đó khẳng định giáo dân Công giáo Lai Tê đã, đang và sẽ thực hành những nghi thức thờ kính tổ tiên, một nét đẹp văn hóa truyền thống không chỉ diễn ra trong cộng đồng những người không theo đạo Công giáo, mà diễn ra ngay cả trong cộng đồng giáo dân Công giáo Lai Tê

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1 Lịch sử hình thành và phát triển họ đạo Lai Tê

Chương 2 Quan niệm và các nghi thức cơ bản về việc thờ kính tổ tiên của giáo dân họ đạo Lai Tê

Chương 3 Những vấn đề tồn tại và xu hướng thờ kính tổ tiên của người Công giáo Lai Tê

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

HỌ ĐẠO LAI TÊ

1.1 Nguồn gốc đạo Công giáo tại họ đạo Lai Tê

1.1.1 Sơ lược về việc truyền bá đạo Công giáo tại Việt Nam

Công giáo chỉ được truyền bá vào Việt Nam một cách có hệ thống và quy mô kể từ đầu thế kỉ XVII với các thừa sai dòng Tên

Trước đó, ngoài phần chú thích khi nói về một lệnh cấm đạo Giatô năm

1663, sách Khâm định Việt sử thông giám Cương mục (gọi tắt là Cương mục)

có viết: “Đạo Giatô, theo bút tích của tư nhân, tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533) đời Lê Trang Tông, có người Tây dương tên I-nê-khu, lén truyền đạo Giatô ở làng Ninh Cường và Quần Anh, huyện Nam Trân và làng Trà Lũ, huyện Giao Thủy” (thuộc tỉnh Nam Định hiện nay) thì không có một sử liệu nào cụ thể ghi rõ công cuộc truyền đạo Công giáo vào Việt Nam Do đó, theo đánh giá của các nhà sử học Việt Nam thì các linh mục tu sĩ dòng Phan Sinh,

Đa Minh hoặc Âu Tinh đi theo làm mục vụ cho các thủy thủ trên thuyền chắc chắn đã có dịp tiếp xúc với dân chúng Việt Nam Nhưng vì không hiểu tiếng nói của nhau, các cuộc tiếp xúc này có lẽ đã không đem lại kết quả nào về mặt truyền giáo

Bước sang thế kỷ XVII, Việt Nam rơi vào tình trạng chia cắt: Đàng Trong và Đàng Ngoài, rồi tiếp đó là chiến tranh Trịnh Mạc, chiến tranh Trịnh Nguyễn diễn ra lên miên, dân tình khốn khổ điêu linh Lúc này, nhiều Thừa sai Công giáo người Bồ Đào Nha và người Pháp xâm nhập mạnh cả vào hai miền Đàng Trong và Đàng Ngoài Điển hình là sự có mặt của Giám mục người Pháp Alexander de Rhodes (1591-1660), người đã có công mẫu tự

Trang 15

tiếng Việt theo chữ Latinh thành chữ quốc ngữ mà ngày nay ta vẫn sử dụng để làm phương tiện truyền bá đạo rất có hiệu quả

Sang thế kỉ XIX, Nhà Nguyễn liên tục ra các đạo dụ cấm việc phát triển đạo Công giáo ở nước ta Thực dân Pháp lấy cớ cứu đạo, nổ súng xâm lược nước ta Gần 100 năm (1847 - 1945), đượcthực dân Pháp nâng đỡ, đạo Công giáo càng được dịp mở rộng ở nước ta

Cho đến nay, Giáo hội Công giáo phát triển rộng khắp cả nước, gần 8% dân số Việt Nam theo đạo Công giáo với hơn 5 triệu giáo dân, 33 giám mục,

3100 linh mục ở 26 giáo phận thuộc 3 giáo tỉnh là Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh

1.1.2 Quá trình truyền bá và phát triển đạo Công giáo tại Lai Tê

1.1.2.1 Tự buổi đầu đến 1883

Hiện nay, chưa có một tài liệu nào ghi lại chính xác thời gian đạo Công giáo được truyền bá vào Lai Tê Nhưng theo lời các cụ cao niên trong làng kể lại thì vào năm 1802, hai cụ tổ họ Bùi ở Hải Dương mang con cháu về đây lập nghiệp và truyền cho dân đạo Công giáo

Cũng cùng năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi, lấy hiệu là Gia Long

mở đầu triều đại nhà Nguyễn (1802 - 1945) đóng đô ở Phú Xuân, tức Huế ngày nay Vì nhớ ơn Bá Đa Lộc, vua Gia Long đã cho tự do truyền bá đạo Công giáo, mặc dù bản thân ông không theo Sau gần 20 năm được yên ổn dưới triều vua Gia Long (1802 - 1819) người Công giáo bắt đầu chịu những cuộc bách hại kể từ triều vua Minh Mạng, tiếp đó là vua Thiệu Trị, Tự Đức Với những sắc dụ cấm đạo, người Công giáo đã gặp khó khăn trong việc học hành, thi cử, làm lụng, buôn bán… Thậm chí có người bị đày ải, giết hại… Tình trạng này kéo dài đến năm 1847, khi Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng và ngày càng lấn át vị thế của triều đình Nguyễn bằng các hòa ước, nhất là sau

Trang 16

hòa ước Nhâm Tuất (1862) thì các thừa sai được tự do giảng đạo, giáo dân được nới lỏng hơn trong việc phụng tự

Thời gian này, số giáo dân trong cả nước đã tăng lên không ngừng, Tòa Thánh đã phải chia nhỏ các giáo phận ra để dễ bề coi sóc giáo dân

u, thầm lặng, các linh mục, tu sĩ, các tín đồ Công giáo Lai Tê đã xuống đường, hòa mình cùng toàn dân trong huyện Lương Tài giành chính quyền

Cùng với Tử Nê, Lai Tê là những nơi tiêu biểu trong khu vực vùng giáo Lương Tài bấy giờ theo ngọn cờ cứu nước của mặt trận Việt Minh Đồng bào thôn Lai Tê đã cùng nhân dân trong xã, huyện kéo đi phá kho thóc của địa chủ

do đồng chí Trịnh Liệt chỉ đạo Các tổ chức hội đoàn của giáo dân Lai Tê cũng gia trong đoàn biểu tình, đi đầu là đội kèn đồng, kéo vào trụ sở huyện Lương Tài ngày 19/8/1945

Ở giai đoạn này, tất cả các thôn Công giáo trong huyện triển khai chủ trương của mặt trận huyện là thành lập đội tự vệ, tuyển chọn người đi bộ đội, bảo vệ đê điều… Điểm lại số cán bộ, bộ đội Công giáo đã theo cách mạng từ buổi đầu trong huyện gồm 14 người trong đó 3 người thuộc thôn Lai Tê, 10 người thôn Tử Nê, 1 người thôn Phượng Giáo

Trang 17

Từ năm 1945 đến 1954, xã hội Việt Nam có nhiều biến động lớn Dân tộc Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến 9 năm và giành thắng lợi vẻ vang Miền Bắc được giải phóng, chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ Các làng Công giáo trong đó có làng Công giáo Lai Tê đi vào thực hiện giảm

tô, giảm tức, chuẩn bị cho cải cách ruộng đất Tuy nhiên, cũng như bao thôn làng khác, làng Công giáo Lai Tê gặp phải vấn đề lớn đó là nạn đói đang hoành hành

Ngày 5/6/1945, cha Kỳ - chánh xứ Lai Tê lúc bấy giờ đã ngả về phía cách mạng, giảm tô cho giáo dân và mở cửa kho thóc Đức Mẹ chia cho giáo dân đang bị đói Số cán bộ Công giáo Lai Tê không ngừng gia tăng, số thanh niên Công giáo đi bộ đội, hoạt động cách mạng tại địa phương là rất lớn Linh mục Kỳ cùng toàn thể giáo dân Lai Tê hoạt động tích cực phục vụ kháng chiến

Như vậy, ở Lai Tê giai đoạn này, hầu hết quần chúng nhân dân đều căm ghét thực dân Pháp gây nhiều tội ác, tham gia đấu tranh giành lại tự do cho nước nhà, sống đúng với Phúc Âm, Tin Mừng

1.1.2.3 Giai đoạn 1954 - 1975

Đây là giai đoạn làng Công giáo Lai Tê có nhiều biến chuyển lớn Ngày 20/7/1954, hiệp định Giơnevơ được ký kết, Miền Bắc được giải phóng Khó khăn chung của nhân dân Miền Bắc là phải khôi phục hậu quả của chiến tranh, khôi phục kinh tế, nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân Lẽ ra làng Công giáo Lai Tê phải cùng các làng Công giáo trong huyện Lương Tài khắc phục khó khăn, vững bước theo Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng công cuộc xã hội chủ nghĩa Nhưng Lai Tê lại gặp phải vấn đề khá phức tạp, đó là

sự tuyên truyền vận động, dụ dỗ đồng bào Công giáo di cư vào Nam của những phần tử phản động với những luận điệu như Chúa đã vào Nam, các con chiên phải đi theo Chúa Theo thống kê của Đảng Ủy xã Trung Chính, Lai Tê

Trang 18

số dân Lai Tê đã di cư vào Nam dẫn đến thôn xóm sơ xác, tiêu điều, nhà cửa, ruộng vườn bị bỏ hoang Nguyên nhân của tình trạng này có nhiều như do ruộng đất cày cấy ít, lại lụt lội, làm ăn khó khăn… nhưng nguyên nhân chủ yếu là do đồng bào Công giáo nghe theo lời tuyên truyền của địch, không hiểu được chính sách của Đảng và Nhà nước Do đó, Lai Tê thiếu sức lao động nặng nề, kinh tế giảm sút, đời sống khó khăn, tư tưởng giáo dân hoang mang, dao động…

Nắm bắt được tinh thần chung của giáo dân Lai Tê, trên tinh thần tự do tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước, các linh mục đã cùng giáo dân Lai Tê tổ chức lại Ban hành giáo, các đoàn hội để các tổ chức, đoàn hội này tập trung chủ yếu phục vụ cho các sinh hoạt Công giáo

Do chiến tranh chống Mĩ diễn ra ác liệt, thời gian sinh hoạt tôn giáo cũng như việc giữ các phép đạo cũng được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn

Nhờ những điều chỉnh đó, giáo dân Lai Tê đã yên tâm làm ăn, sống theo con đường tốt đời đẹp đạo Nhiều người có ý định bỏ vào Nam, được vận động về tư tưởng và tận mắt chứng kiến sự thay da đổi thịt trên mảnh đất quê hương, đã ở lại cùng giáo dân trong làng gắn bó làm ăn

Có thể nói, từ 1954 - 1975 đặc biệt là giai đoạn sau năm 1954, Lai Tê

đã có sự xáo động lớn về dân số Nhưng đây cũng là thời gian người Công giáo Lai Tê có những biến chuyển trong sinh hoạt tôn giáo, đó là sự gắn bó giữa tôn giáo với dân tộc Điều này có ý nghĩa với giáo dân Lai Tê, là bước đệm quan trọng để người dân Lai Tê đón nhận cuộc cách tân của Công đồng Vatican II sau đó

1.1.2.4 Giai đoạn 1975 đến nay

Trang 19

Mùa xuân 1975, miền Nam Việt Nam được giải phóng, giang sơn thu

về một mối Đất nước có nhiều chuyển biến sâu sắc, tình hình tôn giáo, đặc biệt là Công giáo có nhiều thay đổi phù hợp với hoàn cảnh xã hội

Dựa trên đường lối đổi mới toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI (1986), dựa trên định hướng con đường đi của Giáo hội, đặc biệt là sau Thư chung 1980, đồng bào theo Công giáo tại Lai Tê dần dần hòa nhập vào xã hội, xác tín mối quan hệ khăng khít giữa tôn giáo và dân tộc, hòa mình vào cuộc sống hiện tại của đất nước Đồng bào tin tưởng rằng: “Quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Người” (Thư chung mục vụ 1980)

Ở giai đoạn này, nhiều người nhạt đạo, khô đạo ở Lai Tê do được động viên, khích lệ đã có sự trở lại với niềm tin Công giáo Các hoạt động, sinh hoạt văn hóa trong làng cũng chính là những sinh hoạt tôn giáo như: đi kiệu, vãn hoa, ngắm đàng thánh giá… đã được khôi phục và phát triển Đặc biệt, sau Công đồng Vatican II, giáo dân được phép thờ cúng tổ tiên, vì vậy tại Lai

Tê, những tập tục như thờ kính tổ tiên, sinh hoạt trong dòng họ, lập gia phả…

đã được giáo dân quan tâm Xu hướng trở lại với những sinh hoạt văn hóa dân gian đang trở thành xu hướng chung trong nếp nghĩ và là lối sống của giáo dân Lai Tê

1.2 Đời sống tôn giáo của giáo dân họ đạo Lai Tê

1.2.1 Tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống

Nằm ở trung tâm Phật giáo và Nho giáo của nước ta trong thiên niên kỷ đầu công nguyên, cũng như bao làng xã cổ xưa của huyện Lương Tài trước đây, Phật giáo và Nho giáo có mặt ở Lai Tê khá sớm và phát huy ảnh hưởng khá sâu rộng

+ Phật giáo

Trang 20

Vết tích của Phật giáo còn lưu truyền ở Lai Tê qua bao thăng trầm lịch

sử đến nay vẫn còn được nhắc đến với nhiều địa danh Dấu tích chứng minh

sự có mặt của đạo Phật ở Lai Tê là “giếng chùa”, nằm gần cánh đồng phía sau làng Không hiểu ở đây ngày xưa có chùa hay là nhà chùa đã đào giếng cho dân làng sử dụng chung Hiện nay giếng đã được tu sửa lại nhưng không phục

vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân Trong cuốn Lịch sử Đảng bộ xã Trung

Chính cũng ghi rằng: “Trước khi đạo Công giáo vào Trung Chính, các thôn

trong xã đều theo đạo Phật cả xã có 7 ngôi đình của 7 thôn, riêng Nhuế Đông

có 1 ngôi đình chung của 5 thôn, gọi là đình Chạ” [12, 4]

Mấy trăm năm đã đi qua, làng Lai Tê bây giờ trở thành một làng toàn tòng Công giáo nhưng những địa danh trên vẫn còn được nhắc đến Điều đó chứng tỏ khả năng tiếp biến và thích nghi của người dân Lai Tê với con đường đi mới là từ bỏ Phật giáo để theo Công giáo

+ Nho giáo

Bắc Ninh vốn có truyền thống hiếu học, mặc dù không có những dòng

họ khoa bảng như ở Lương Xá (Phú Lương), không có những họ lớn như họ Nguyễn Đăng ở Hương Triện, họ Trần ở Nhân Thắng… nhưng vào thời Lê - Nguyễn, nhiều người ở Lai Tê đã lều chõng đi thi và có người thi đỗ rồi ra làm quan Tiêu biểu là Hoàng Sỹ Khải đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 20 tuổi, ông làm quan đến chức Thượng Thư Bộ Lễ Bùi Lượng Thái đỗ tiến sĩ khóa Quý Mùi (năm 1583) ông ra làm quan cho nhà Lê Như vậy, trong một khoảng thời gian dài, Nho giáo đã có ảnh hưởng ở Lai Tê Nhờ có Nho giáo mà người dân Lai Tê có thể tiếp xúc nhiều với văn hóa dân gian và nâng cao trình độ học vấn

+ Thờ cúng tổ tiên

Bên cạnh sự có mặt của Phật giáo và Nho giáo, một loại hiện tượng mang tính lịch sử - xã hội tồn tại ở Lai Tê, đó là vấn đề thờ cúng tổ tiên

Trang 21

Trước khi đạo Công giáo có mặt tại Lai Tê, người dân Lai Tê đã tiến hành những nghi thức thờ cúng tổ tiên Việc làm này chẳng những nhắc nhở những người đang sống phải nhớ đến cội nguồn mà còn nhắc nhở con người phải biết kính trọng, phụng dưỡng ông bà, cha mẹ lúc sinh thời và thờ phụng khi mất, bởi:

Cây có gốc mới nở ngành xanh ngọn, Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu

Tuy nhiên, từ khi theo đạo Công giáo, người dân Lai Tê dường như đã

bỏ hoàn toàn những hình thức thờ cúng tổ tiên Chỉ sau Công đồng Vatican II, việc thờ cúng tổ tiên mới bắt đầu được đề cập và tiến hành lại, trên cơ sở biến đổi cho phù hợp với đường hướng chung của giáo hội Công giáo Việt Nam

Như vậy, trước khi Công giáo có mặt ở Lai Tê, người dân ở Lai Tê đã theo những tôn giáo, tín ngưỡng khác Việc từ bỏ tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống để theo một tôn giáo mới ở Lai Tê phải trải qua một thời gian dài lâu

1.2.2 Các tổ chức, hội đoàn tôn giáo ở họ đạo Lai Tê

1.2.2.1 Ban hành giáo

Ban hành giáo là cụm từ chỉ một tổ chức Công giáo bao gồm những người trợ thủ đắc lực cho linh mục trong việc phụng vụ, mục vụ, đôn đốc các công việc có liên quan đến xứ, họ đạo như: duy trì, tổ chức các hội đoàn, xây dựng, sửa chữa nhà thờ xứ, họ đạo, cày cấy ruộng nhà thờ…

Ban hành giáo họ Lai Tê do giáo dân Lai Tê bầu ra với nhiệm kỳ hoạt động là 6 năm Sau nhiệm kỳ hoạt động, những người trong Ban hành giáo nếu được giáo dân tín nhiệm, họ có thể tiếp tục làm Nếu không hoạt động tiếp, họ được gọi là cựu

Các thành phần trong Ban hành giáo họ đạo Lai Tê gồm: 1 trùm trưởng, 1 trùm phó, 2 quản giáo nam, 2 quản giáo nữ, 1 tư bệnh

1.2.2.2 Các tổ chức hội, đoàn

Trang 22

Các tổ chức hội đoàn Công giáo tại Lai Tê đóng vai trò quyết định trong việc hình thành và tồn tại của họ đạo Công giáo này Trải qua thời gian, các tổ chức hội đoàn không ngừng đổi mới trong công tác tổ chức cho phù hợp mục đích và điều kiện thực tế Do đó, số thành viên trong các tổ chức hội đoàn cũng

có sự thay đổi Cụ thể, làng Công giáo Lai Tê gồm các hội đoàn sau:

+ Hội dòng ba Đa Minh: Hội dòng ba Đa Minh giúp ích nhiều cho Giáo hội Họ là những người ngoan đạo, làm nhiều việc từ thiện trong xứ Họ siêng năng đọc kinh chung và giờ kinh của hội thường được gọi là giờ nguyện, vào các buổi sáng sớm, buổi trưa

+ Hội Mân Côi: Phương châm hoạt động của hội là noi gương đức mẹ Maria, liên kết với nhau làm các việc lành phúc đức, quy tụ nhau lại để đọc kinh cầu nguyện Thành viên của hội thường là những phụ nữ trung niên

+ Hội Gia Trưởng Giuse: Nếu như hội Mân Côi thu hút chị em trung tuổi, đã có gia đình thì hội Gia Trưởng Giuse lại tập hợp những người nam, đã xây dựng gia đình, không phân biệt lứa tuổi Mục đích của hội là liên kết những người gia trưởng, nhằm thống nhất với nhau về đời sống của người chủ gia đình theo đường hướng Giáo hội

+ Hội trống, trắc: Hội này đã tồn tại lâu đời tại Lai Tê Trước đây, hội quy tụ những em trai nhỏ, thanh thiếu niên trong họ đạo Nhưng hiện nay, do công việc học hành của các em nhỏ nên họ đạo đã thành lập thêm một đoàn trống, trắc gồm 30 người nam Dụng cụ của hội này bao gồm một số trống nhỏ, trống lớn, thanh la, não bạt, mõ và cờ hiệu với y phục riêng Không chỉ trong các buổi lễ mà trong các cuộc rước kiệu, trong các đám tang, hội trống, trắc đều có tham gia với các điệu, các bài trống, trắc cho phù hợp

+ Đoàn dâng hoa: Được thành lập với mục đích thực hiện nghi thức tôn kính Đức Maria Hằng năm, vào tháng 5, tháng, các cuộc múa hát, dâng hoa diễn ra long trọng, trang nghiêm và vui tươi

Trang 23

+ Đoàn kèn: Đây là đoàn thể có ảnh hưởng mạnh mẽ, không chỉ phục

vụ trong phạm vi Giáo hội mà lan tỏa ra cả xã hội

+ Ca đoàn: Quy tụ những người có khả năng ca hát tham gia tập luyện các bài thánh ca nhằm phục vụ cho các nghi lễ Công giáo

+ Đoàn nghĩa binh thánh thể: Đây là tổ chức quy tụ tất cả các em thiếu nhi trong họ đạo, với mục đích sống và học tập theo gương thánh nữ Têrêsa

+ Đoàn giáo lý viên: Được thành lập để tập hợp những người có nhiệt tâm, có chuyên môn giáo lý, nhằm dạy dỗ và hướng dẫn đời sống Công giáo cho các em thiếu nhi, nghĩa binh thánh thể trong họ đạo Đoàn giáo lý viên họ Lai Tê kết hợp cùng các đoàn giáo lý khác trong xứ tổ chức cho các em thiếu nhi trong họ giao lưu với các em thiếu nhi họ đạo khác

+ Ban đón tiếp giáo dân

+ Ban ẩm thực

+ Ban trông xe

1.2.3 Sinh hoạt tôn giáo ở họ đạo Lai Tê

Nói đến sinh hoạt tôn giáo là nói đến không gian sinh hoạt, thời gian sinh hoạt và cách thức tiến hành các sinh hoạt tôn giáo

1.2.3.1 Nhà thờ xứ Lai Tê

Nhà thờ xứ Lai Tê được coi là tâm điểm của họ đạo Lai Tê Ngôi nhà thờ có vai trò hết sức quan trọng, đó không chỉ là nơi giáo dân Lai Tê đến cầu nguyện, xưng tội, làm lễ… mà còn có nhiều vai trò khác đối với làng Công giáo Lai Tê Nhà thờ Lai Tê do linh mục chính xứ, linh mục phó xứ cai quản, chăn dắt đoàn chiên của Chúa

Nhà thờ hiện nay của làng Công giáo Lai Tê được xây dựng từ năm

1930 Đến năm 1989, linh mục Trần Đăng Can về quản nhiệm xứ Lai Tê đã cho trùng tu lại Đây là ngôi Thánh đường cao to, tráng lệ và kỳ vĩ được xây

Trang 24

dựng theo kiến trúc phương Tây, được xếp vào hàng di sản đẹp bậc nhất của giáo phận Bắc Ninh

1.2.3.2 Một số hình thức sinh hoạt tôn giáo tiêu biểu của giáo dân họ đạo Lai Tê

Về cơ bản, họ đạo Lai Tê thực hiện sinh hoạt tôn giáo theo như chương trình phụng vụ đại cương Tuy nhiên về chi tiết cũng có những biến đổi cho phù hợp với điều kiện riêng của giáo dân trong họ

Sinh hoạt tôn giáo của người Công giáo nói chung và của người Công giáo Lai Tê nói riêng được chia theo 2 mùa là mùa Phục Sinh và mùa Vọng Mùa Phục sinh là mùa Chúa Giêsu chịu khổ nạn để rồi sống lại Mùa Vọng là mùa mong chờ Chúa đến Mùa Phục sinh được mở đầu vào ngày lễ Tro và kết thúc vào ngày lễ Phục Sinh, một trong những ngày lễ lớn của Giáo hội Còn mùa Vọng là mùa được kết thúc vào lễ Giáng Sinh (25/12) Đây cũng là thời điểm kết thúc một năm phụng vụ cũ để bước sang một năm phụng vụ mới

Với cách phân lịch như trên, giáo dân Công giáo Lai Tê tổ chức những sinh hoạt tôn giáo cụ thể như sau:

Các ngày trong tuần: Các buổi sáng và buổi trưa là giờ nguyện của các thành viên trong hội dòng Đa Minh Buổi tối, giáo dân trong họ tập trung đọc kinh tại nhà thờ với những kinh như: kinh làm dấu Thánh giá, kinh Chúa Thánh Thần, kinh Tin, Cậy, Mến, kinh ăn năn tội, lần hạt 5 chục, kinh cám

ơn, kinh vực sâu, kinh dâng mình Những buổi đọc kinh chung như vậy thường được gọi là những buổi nhà thờ Thời gian bắt đầu một buổi nhà thờ thường là từ lúc 18giờ và kết thúc lúc 18giờ 30 phút hoặc 19 giờ

Vào ngày Chúa Nhật (Chủ Nhật), giáo dân tham dự thánh lễ tại nhà thờ

xứ Lai Tê cùng với giáo dân toàn xứ Những buổi lễ này thường do linh mục chính xứ làm lễ Trong thánh lễ, linh mục chính xứ đọc bài giảng giải về phúc

âm, ca đoàn hát các bài thánh ca, đoàn kèn thổi những bài kèn về đạo… Đây không chỉ là thời gian để các tín đồ thực hiện các nghi thức tôn giáo mà còn

Trang 25

giúp mọi người dân trong giáo xứ gặp gỡ, trao đổi… Và cũng như các buổi nhà thờ, các buổi lễ vào ngày Chúa Nhật diễn ra không quá 1 giờ

Ngoài ra, các ngày trong xứ họ có việc như có người qua đời, có đám cưới… các thánh lễ sẽ được tổ chức theo thời gian và nghi thức mà Giáo hội

và linh mục chính xứ tổ chức

Tuy nhiên tại Lai Tê, sinh hoạt tôn giáo thực sự thể hiện rõ là những sinh hoạt văn hóa thông qua những cuộc rước kiệu, những ngày ngắm Đàng Thánh Giá và những ngày lễ lớn như lễ Phục Sinh, lễ Giáng Sinh, lễ Chúa Giêsu lên trời…

Vào những ngày lễ lớn, giáo dân Lai Tê đều nghỉ “việc xác” và tham

dự các nghi lễ Công giáo đầy đủ Giáo dân ăn mặc đẹp, xếp hàng theo các đoàn hội, tay cầm hoa hoặc nến tham gia các cuộc rước kiệu chung quanh khu vực nhà thờ

Những tháng tôn kính Đức Mẹ Maria như tháng 5, tháng 6 và tháng 10, giáo dân tổ chức các buổi rước kiệu chung quanh nhà thờ, múa hát, dâng hoa… Thông qua đó, người giáo dân Lai Tê đã khéo léo kết hợp những nét văn hóa truyền thống của dân tộc như sử dụng các làn điệu dân ca của các miền trong các bài hát dâng hoa, sử dụng các loại hình truyền thống như chèo, tuồng trong khi ngắm Đàng Thánh Giá…

Như vậy, gần 200 năm đã đi qua kể từ khi làng Công giáo Lai Tê được thành lập Từ đó đến nay, Lai Tê đã trải qua bao bước đi thăng trầm nhưng

dù lịch sử có thay đổi, con người có đổi thay, Lai Tê vẫn giữ cho mình những nét riêng của một làng Công giáo với những sinh hoạt tôn giáo, văn hóa riêng biệt Các yếu tố văn hóa truyền thống dân tộc đã được biến đổi cho phù hợp với các yếu tố tôn giáo, làm cho các tổ chức tôn giáo, các hoạt động, sinh hoạt tôn giáo không những không tách biệt với những hoạt động văn hóa, mà còn trở nên phong phú và đặc sắc hơn Đây chẳng những là nỗ lực chung của cán

Trang 26

bộ nhân dân thôn Lai Tê mà còn là cố gắng chung của những người đứng đầu Giáo hội ở Lai Tê và bà con giáo dân Lai Tê Chính những sinh hoạt, hoạt động tôn giáo đó là những nét đẹp văn hóa của người Công giáo Lai Tê nói riêng và của người Công giáo Việt Nam nói chung

CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM VÀ CÁC NGHI THỨC CƠ BẢN VỀ VIỆC

THỜ KÍNH TỔ TIÊN CỦA GIÁO DÂN HỌ ĐẠO LAI TÊ

2.1 Các quan niệm và cơ sở về việc thờ kính tổ tiên của người Công giáo Lai Tê

2.1.1 Quan niệm chung về thờ kính tổ tiên của người Công giáo Lai Tê

Thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng lâu đời của người Việt Đó cũng là một yếu tố văn hóa của người dân thiên về tình cảm hơn là lý trí và suy luận Đồng thời, thờ cúng tổ tiên được coi như một phong tục truyền thống của dân tộc Cho dù đó không phải là điều bắt buộc, song lại là thứ “luật bất thành văn” trong đời sống tâm linh của người Việt tồn tại qua bao thế hệ Sở dĩ nói như vậy là bởi, thờ cúng tổ tiên chính là tấm lòng thành kính thể hiện đạo lý

“uống nước nhớ nguồn”, biết ơn ông bà, cha mẹ đã sinh thành và gây dựng nên cuộc sống cho con cháu Nó bao gồm toàn bộ các hình thức nghi lễ, cúng bái nhằm bày tỏ lòng tôn kính của các thế hệ sau với những người thuộc thế

hệ trước đó Tuy nhiên hiện nay, xung quanh vấn đề thờ cúng tổ tiên còn

Trang 27

nhiều ý kiến khác nhau Thậm chí ngay cả khái niệm thờ cúng tổ tiên cũng còn gây ra nhiều tranh luận bất đồng

Trong khi các học giả như Toan Ánh trong Nếp cũ, Hoàng Quốc Hải trong Văn hóa phong tục cùng quan điểm cho rằng: Thờ phụng tổ tiên không

phải là một thứ tôn giáo mà là lòng thành kính và biết ơn của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, cụ kỵ đã khuất, thì Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn lại xem thờ cúng tổ tiên là tôn giáo chính thống của người Việt Nam, cho dù rằng nó không có tổ chức chặt chẽ, nhưng dường như toàn bộ cộng đồng quan niệm, tiến hành các lễ thức giống nhau, và tâm linh chủ yếu của cả cộng đồng là lực hút các yếu tố ngoại sinh hay là yếu tố gia nhập vào các tôn giáo khác Khác với những ý kiến trên, Phan Kế Bính lại không xem thờ cúng tổ tiên như một tín ngưỡng hay một tôn giáo, cũng không khẳng định như Nguyễn Đình Chiểu rằng nó là một thứ đạo khi viết:

Thà đui mà giữ đạo nhà Còn hơn sáng mắt ông cha không thờ

Ông xem đó như là một tập tục truyền thống mang ý nghĩa giá trị đạo đức, thể hiện lòng thành kính, nghĩa cử của con cháu đối với ông bà tổ tiên và đây cũng là nghĩa vụ của mỗi người

Như vậy, các cách định nghĩa, đánh giá trên về vấn đề thờ cúng tổ tiên

là không có sự thống nhất chung, nếu không muốn nói là rấtkhác nhau Tuy nhiên, phải hiểu rằng có sự khác nhau đó là do sự khác nhau về góc độ nhìn nhận Bởi trên thực tế, ta vẫn tìm ra sự đồng nhất trong sự khác biệt của các ý kiến đó, đó là: việc thờ cúng tổ tiên đã đảm nhận vai trò thắt chặt những mối liên hệ gia đình, dòng họ, làm cho những mối quan hệ sống ngày càng bền vững hơn qua những nghi lễ báo hiếu, tôn kính tổ tiên Và trải qua thời gian tồn tại lâu dài, thờ cúng tổ tiên đã trở thành một phong tục, là chuẩn mực đạo

Trang 28

đời sống tâm linh của người Việt Nam, những con người trọng lễ nghĩa, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ Và đã là người Việt Nam, không phân biệt giai cấp, giới tính, tôn giáo bất cứ ai cũng đều mang trong mình ý thức về ông bà tổ tiên, về cội nguồn dân tộc

Tuy nhiên, trên thực tế, có một bộ phận lớn trong dư luận xã hội cho rằng đạo Công giáo cấm việc thờ cúng tổ tiên Vậy, nên nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

Vấn đề thờ cúng tổ tiên của người Công giáo tại Việt Nam đã kéo theo những ý kiến khác nhau giữa các Thừa sai thuộc các dòng truyền giáo khác nhau khi truyền bá đạo Công giáo vào Việt Nam

Các Giáo sĩ dòng Tên khi truyền bá đạo Công giáo vào Việt Nam đã nhận thấy việc cúng bái tổ tiên là rất quan trọng với người Việt Nam Nhiều

vị Giáo sĩ đã để cho các tín đồ thực hiện việc cúng bái tổ tiên, coi đó là những nghi lễ dân sự, không mang ý nghĩa tôn giáo Tức là các vị Giáo sĩ đã chấp nhận và tin rằng tổ tiên có thể hưởng những ơn phúc mà con cháu làm được khi hướng dành cho tổ tiên Nhưng các vị Giáo sĩ không chấp nhận việc cúng cơm và đốt vàng mã Linh mục Đắc Lộ đã giải thích: “Song le, cũng phải hay, khi linh hồn đã ra khỏi xác thịt này, chẳng còn có dùng ăn uống hay là mặc các kỳ sự về xác Lại càng vô phép mà như cười nhạo cha mẹ khi đã sinh thì,

mà dùng những giấy mà làm nhà, cùng áo tiền vàng bạc và các kỳ sự vẽ mà cúng cha mẹ, vì chẳng có ai không mà dám cho người nào khi hãy còn sống dẫu rất khó, mà khiến nó dùng bấy giống ấy” [29, 86-87]

Trong khi đó, các giáo sĩ dòng Đaminh và Thừa sai Paris lại phản đối quyết liệt tín ngưỡng bản địa này vì cho rằng đó là một kiểu thờ “tà thần”, không khác gì những nghi lễ thờ Bụt, thờ Khổng Tử, coi ông bà tổ tiên là những vị thần, có quyền chi phối đời sống sinh hoạt của con người Chính sự hiểu lầm và suy nghĩ khác biệt của các Thừa sai về tín ngưỡng này đã dẫn đến

Trang 29

sự ra đời một số văn bản Công giáo cấm không cho tín đồ bản xứ tổ chức những nghi lễ thờ cúng tổ tiên Có thể kể đến là bản nghị quyết của Tòa điều tra được giáo hoàng Clemente XI chấp nhận trong Tông hiến đề ngày 20/11/1704, hay Tông chiếu Exiladie đề ngày 19/3/1715 của giáo hoàng Clemente XI, Tông chiếu Exquo đề ngày 11/7/1742 Với những Tông chiếu này, những nghi lễ thờ cúng tổ tiên của người Công giáo phương Đông nói chung và người Công giáo Việt Nam nói riêng (trong đó có người Công giáo Lai Tê) bị bác bỏ, ai không tuân phục Tòa thánh về những nghi lễ thờ cúng tổ tiên sẽ bị phạt vạ tuyệt thông Vạ này chỉ có Giáo hoàng mới được tha, trừ trường hợp nguy kịch đến tính mệnh

Tình trạnh này kéo dài cho đến ngày 8/12/1939, khi Thánh bộ truyền ra huấn thị Plane compertum est thì việc thờ cúng tổ tiên được nới lỏng chút ít Tiếp đó, giáo hoàng Pie XII ban hành sắc lệnh Summi Portificantus công nhận những nghi lễ thờ cúng tổ tiên không phải những nghi lễ tôn giáo mà chỉ

là biểu thị lòng sùng bái chính đáng đối với những bậc tài đức trong nước cũng như lòng hiếu thảo đối với người quá cố

Vấn đề thờ cúng tổ tiên được tái khẳng định trong Công đồng Vatican

II Công đồng Vatican II nhấn mạnh đến sự hiệp thông với người quá cố như sau: “Tất cả những ai thuộc về Chúa Kitô và lãnh nhận thánh thần, đều họp thành một Giáo hội duy nhất và liên kết với nhau trong Ngài” (15, Ep 4, 16) Bởi vậy, sự hiệp nhất giữa những người còn sống trên dương thế với các anh

em đã yên nghỉ trong bình an Chúa Kitô không hề bị gián đoạn Nhưng trái lại, Giáo hội xưa nay luôn tin rằng sự hiệp nhất đó còn vững mạnh hơn nhờ việc truyền thông cho nhau những của cải thiêng liêng Nhận biết đúng đắn sự hiệp thông này trong toàn nhiệm thể Chúa Giêsu Kitô ngay từ buổi đầu của Kitô giáo, Giáo hội lữ hành hết lòng kính nhớ dâng lời cầu cho người đã chết,

Trang 30

vì “Cầu cho người chết để họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một ý nghĩ lành Thánh” [9, 204]

Ngày 14/6/1965, khi “Thông cáo của Hội đồng Giám mục Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sỹ” chính thức ra đời, những tín

đồ Công giáo Việt Nam phấn khởi vô cùng khi họ được thực hiện lại những gì trước đây không được thực hiện Họ cảm nhận sâu sắc hơn chữ hiếu của người Việt Nam, thấy rõ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt bản địa là một nét đẹp văn hóa, mang giá trị nhân văn sâu sắc

Như vậy, sai lầm trong việc cấm không cho tín đồ thực hiện các nghi lễ thờ cúng tổ tiên của Giáo hội Công giáo xuất phát từ sự hiểu biết chưa đúng đắn về tín ngưỡng bản địa và mục đích bài trừ mê tín Kết quả là sau nhiều thế

kỷ quen sống với việc không cử hành nghi thức thờ cúng tổ tiên, người Công giáo Việt Nam đã dường như lãng quên nó Cho nên dù huấn thị của Tòa thánh đã được ban hành, việc thờ cúng tổ tiên của người Công giáo tuy có sự biến đổi, song sự biến đổi này diến ra không lớn lao gì

Trước những diễn biến của tình hình Công giáo Việt Nam sau Công đồng Vatican II, trong ý thức cũng như trong nghi thức thờ cúng tổ tiên của tín đồ Công giáo Lai Tê cũng có sự biến đổi Những biến đổi này không lớn

để dễ dàng nhận ra, cũng không phải diễn ra một chốc một lát, mà trải qua thời gian lâu dài Nhưng xét cho cùng, việc thờ cúng tổ tiên chẳng qua là sự quay trở lại với cái vốn đã có, đã xảy ra trước đó nên không mấy lạc lõng, có chăng chỉ là sự bỡ ngỡ trong việc thích ứng giữa nền văn hóa dân tộc với những nghi thức, nghi lễ Công giáo Nhưng bản chất của người Công giáo Việt Nam nói chung và người Công giáo Lai Tê nói riêng là bao dung, dễ chấp nhận, nên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt bản địa nay đã biến đổi trở thành những nghi thức thờ kính tổ tiên rất đáng trân trọng, mang giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc ở họ đạo Lai Tê Tuy nhiên, bản chất của

Trang 31

việc thờ kính tổ tiên của người công giáo Lai Tê vẫn xuất phát từ niềm tin vào

sự bất tử của linh hồn, xuất phát từ những cơ sở cụ thể

2.1.2 Quan niệm về cái chết và sự tồn tại linh hồn của giáo dân họ đạo Lai Tê

Cũng như đồng bào không theo Công giáo, đồng bào theo Công giáo Việt Nam nói chung và giáo dân Lai Tê nói riêng quan niệm chết không phải

là hết Họ tin rằng: con người có hai phần là phần hồn và phần xác Cả hai phần hồn và phần xác đều do Chúa Trời sinh ra, mỗi người sẽ là một ngôi đền thánh thờ phụng Thiên Chúa Điều này được chứng minh qua trình thuật của

Kinh thánh - cuốn sách được coi là nền tảng của giáo lý và giáo luật của

Thiên Chúa và Giáo hội Trong Kinh thánh có đoạn viết: “Đức Chúa là Thiên

Chúa lấy bụi đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.” (15, St 2,7) Giáo dân Công giáo Lai Tê tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa của họ Họ xác tín rằng: Thiên Chúa cho xác kết hợp với hồn

để tạo nên con người sống trên dương gian Sau khi chết, hồn sẽ lìa khỏi xác chờ đợi ngày sống lại Ngày đó không được xác định cụ thể, nhưng họ tin rằng ngày đó sẽ đến Vào ngày đó, xác sẽ được phục sinh và không bao giờ chết nữa, đó cũng là thời điểm mà xác hoàn toàn được biến đổi trường tồn Khi hồn lìa khỏi xác, dựa vào công trạng người đó làm trên dương gian mà hồn sẽ về nơi dành cho họ: Những người sống đẹp lòng Thiên Chúa, không mắc tội sẽ được lên Thiên đàng và được gọi là các Thánh Những người còn mang tội thì tùy thuộc vào tội nặng hay nhẹ mà phải xuống luyện ngục hay hỏa ngục để đền bù tội lỗi mình đã làm khi còn sống và được gọi là các linh hồn Trong kinh “Nghĩa đức tin” có viết: “Linh hồn là bản tính thiêng liêng chẳng hề chết được và đến ngày tận thế, xác loài người ta sẽ sống lại mà chịu phán xét, kẻ lành lên Thiên đàng, hưởng hạnh phúc đời đời, kẻ dữ sa hỏa ngục chịu phạt vô cùng” [22, 35] Kinh “Tin kính” cũng viết: “Tôi tin xác loài

Trang 32

về cái chết, về sự sống, về phần hồn, phần xác là những tín điều mà mọi giáo dân đều phải tin, mặc dù việc giải thích những điều này không được rõ ràng

và không có một cơ sở vững chắc nào, bởi lẽ những ngôn từ tự nhiên chỉ có thể diễn đạt được đến vậy Cho nên điều chính yếu là ở niềm tin của giáo dân Trong niềm tin Công giáo, những giáo dân Lai Tê luôn hướng đến sự sống

“đời sau”, mọi sự cố gắng ở “đời này” là nhằm mang lại những điều tốt đẹp cho “đời sau” Điều đó không có nghĩa là họ hướng về cái chết, mong đợi cái chết, mà đó là ý thức về cái chết của người Công giáo Lai Tê Với họ, chết là

về “quê thật”, là về hưởng hạnh phúc thật sự Thiên đàng không phải nơi chốn

cụ thể, thời gian cụ thể nào, mà Thiên đàng chính là khi con người được hưởng hạnh phúc, được gần bên Chúa Với ý thức đó, giáo dân Lai Tê sẵn sàng đón nhận cái chết như là một sự trở về cuộc sống đích thực, một bước tiếp theo của cuộc sống Và họ cố gắng sống đúng với những giáo lý, giáo luật của Thiên Chúa và Giáo hội nhằm tránh xa tội lỗi, với niềm tin sẽ được hưởng sự sống tốt đẹp ở “đời sau”

Tuy nhiên, giáo dân Công giáo Lai Tê cũng tin rằng giữa những người đang sống và những người đã khuất (các Thánh và các linh hồn) vẫn có mối liên hệ mật thiết với nhau Các Thánh sẽ cầu bầu cùng Chúa cho những người sống Những người sống có thể làm việc lành phúc đức, đọc kinh cầu nguyện

để lập công phúc cho các linh hồn luyện ngục, hỏa ngục vì các linh hồn sau khi qua đời không tự mình làm gì được nữa Những công phúc của người sống sẽ giúp các linh hồn đền bù những tội đã phạm khi còn ở trần gian Khi

đã đền bù đủ rồi, các linh hồn sẽ được lên Thiên đàng, còn những công phúc

mà người sống đã làm với ý chỉ cho các linh hồn thì các linh hồn vẫn có thể cầu bầu cùng Chúa cho chính người đang sống Đây chính là sợi dây liên kết Thiên Chúa với người đang sống, với các Thánh, các linh hồn, là cơ sở cho niềm tin về sự chuyển giao công trạng Quan niệm này khác hẳn với quan

Trang 33

niệm của người Việt không theo Công giáo Người Việt không Công giáo tin rằng người thân qua đời có thể “phù hộ độ trì” cho người đang sống, cho nên

họ có nghi thức cầu cúng, có bàn thờ gia tiên, có từ đường dòng họ với niềm tin người qua đời sẽ ban cho họ những điều tốt đẹp Sự khác nhau này được thể hiện qua số liệu điều tra thực tế tháng 3/2014 tại Lai Tê: trong 70 phiếu điều về mục đích thờ kính tổ tiên của người Công giáo Lai Tê; 82,9% số giáo dân Lai Tê cho rằng mục đích của việc thờ kính tổ tiên không phải để cầu xin người qua đời ban cho điều mình mong ước 97,1% cho rằng động cơ chủ yếu trong việc thờ kính tổ tiên của người Công giáo Lai Tê là để tỏ lòng biết ơn với người qua đời; 71,3% số ý kiến cho rằng mục đích của việc thờ kính tổ tiên còn là thực hiện một phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Với những

số liệu cụ thể trên có thể đưa ra kết luận rằng: mục đích chính của việc thực hành thờ kính tổ tiên của giáo dân Công giáo Lai Tê là để tỏ lòng biết ơn với người đã qua đời Mục đích ấy xuất phát từ quan niệm về cái chết và sự tồn tại của linh hồn của giáo dân Công giáo Lai Tê

2.1.3 Cơ sở thờ kính tổ tiên của người Công giáo Lai Tê

Cơ sở của việc thực hành thờ kính tổ tiên của người Công giáo họ đạo Lai Tê xuất phát ngay trong giáo lý của họ Tuy nhiên, niềm tin tôn giáo của

họ lại đặt trọn vẹn vào một vị Thần, một đấng tối cao là Thiên Chúa Thiên Chúa trở thành trung tâm điểm của mọi sự thể hiện, mọi cách diễn đạt Do đó, tất cả mọi sự lý giải, mọi ngôn từ diễn tả đều nhằm làm nổi bật lên hình ảnh của Chúa Trời Trong khi đó, việc thờ kính tổ tiên, báo hiếu tổ tiên là những điều thuộc về con người, giáo lý của họ đã đề ra như là những điều luật, buộc mọi người phải giữ, phải chu toàn

Cơ sở lớn nhất của việc thờ kính tổ tiên của người Công giáo Lai Tê là

cuốn sách Kinh thánh - tác phẩm kinh điển được dịch ra nhiều ngôn ngữ nhất

Trang 34

phần này được xem như là cơ sở nền tảng cho giáo lý và giáo luật của Công giáo nói chung cũng như của giáo dân họ đạo Lai Tê Con số thống kê cho thấy, 100% số gia đình Công giáo Lai Tê có ít nhất một bộ sách này trở lên Điều này cho thấy tầm quan trọng của bộ sách này đối với các gia đình Công giáo Lai Tê Trong cuốn sách này, họ tìm thấy mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa, từ đó tìm được cách ứng xử với Thiên Chúa, với con người Trong đó, mối tương quan, liên hệ giữa cha mẹ và con cái đã tạo cơ sở nền tảng cho việc thờ kính tổ tiên

Trong “thập giới” hay còn gọi là mười điều răn của Thiên Chúa, sau ba điều răn dạy người ta thờ phượng Thiên Chúa, điều răn thứ tư là điều buộc giáo dân phải “thảo kính cha mẹ” Điều này cho thấy việc thảo kính cha mẹ là điều rất quan trọng mà mỗi giáo dân Công giáo phải có trách nhiệm và nghĩa

vụ thực hiện Điều này chỉ đứng sau những việc tôn thờ Thiên Chúa

Ngoài “thập giới”, Kinh thánh còn dạy: “Hỡi con, hãy săn sóc cha con

lúc tuổi già, lúc sinh thời chớ làm người sầu tủi Trí khôn người có suy giảm, con cũng nể vì, đừng nhục mạ người lúc còn đương sức” [15, Hc 7, 27-28] Luôn quan tâm, chăm sóc cha mẹ khi khỏe mạnh cũng như lúc đau ốm là việc làm đẹp lòng Thiên Chúa Người sẽ ghi nhận và chúc phúc cho việc làm đó:

“Kẻ quý trọng cha sẽ được dài ngày, người an ủi mẹ sẽ được công ơn nơi Chúa” [15, Hc 3, 6] Giáo dân Lai Tê tin rằng việc việc hiếu thảo với cha mẹ

sẽ được Thiên Chúa ghi nhận Họ cũng tin rằng việc ruồng rẫy cha mẹ, các bậc tiền nhân sẽ không chỉ lỗi với cha mẹ, các bậc tiền nhân mà còn lỗi phạm

với Thiên Chúa Kinh thánh viết rằng ai làm việc bé mọn nhất “cho một trong

những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính ta vậy” [15, Mt 25, 40] Điều này đồng nghĩa với việc người Công giáo Lai Tê tin rằng mọi việc lành con người làm cho nhau là làm cho chính Chúa; mọi sự hiện hữu cũng là do Thiên Chúa tạo ra Ngay cả sự hiện hữu của con người

Trang 35

cũng là một hồng ân mà Thiên Chúa ban tặng Cha mẹ chỉ có vai trò cộng tác với Thiên Chúa trong việc tạo ra sự sống và duy trì sự sống Nhưng dù là cộng tác với Thiên Chúa, con cái vẫn luôn phải biết ơn công dưỡng dục sinh thành của cha mẹ không ngoại trừ một lý do nào, bởi đó không chỉ là bổn phận mà còn là việc làm đạo đức con cái dành tặng cha mẹ, cũng là việc tốt đẹp dâng lên Thiên Chúa

Như vậy, công đức của cha mẹ dành cho con cái luôn được người giáo dân Lai Tê đề cao Công ơn đó khiến cho cha mẹ luôn có quyền trên con cái,

là chỗ dựa vững chắc cho con cái Còn con cái có bổn phận hiếu thảo với cha

mẹ, là niềm vinh quang của cha mẹ, “vì Chúa đặt vinh quang của cha là ở trên con cái và để quyền cha mẹ vững chãi lướt hẳn đàn con” [15, Hc 3, 2] Để nên trọn lành theo gương Chúa Giêsu, thảo kính cha mẹ là tiêu chí đầu tiên mà

giáo dân Công giáo phải thực hiện Kinh thánh công nhận niềm hạnh phúc

của một gia đình là cha mẹ biết yêu thương con cái, con cái biết vâng lời, hiếu thảo với cha mẹ Và đây chính là cơ sở để người tín hữu nói chung và người Công giáo Lai Tê nói riêng thực hành việc thờ kính tổ tiên Theo tiêu chí này, thờ kính tổ tiên trước hết là đạo làm người, là lòng thành kính, biết ơn của thế

hệ sau với thế hệ trước Do đó, dù một thời gian dài lãng quên với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt bản địa do cách nhìn hạn chế từ phía Giáo hội, nhưng việc thờ kính tổ tiên vẫn tồn tại trong tâm khảm đời sống tâm linh của người Công giáo Lai Tê Vượt qua những thử thách ngặt nghèo của lịch sử Giáo hội, người Công giáo Lai Tê đã bước đầu tham gia, thực hiện những nghi lễ thờ kính tổ tiên với những cấp bậc, mức độ khác nhau như thờ kính những người trong họ tộc, ông bà, cha mẹ, những người thân thích khi qua đời Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận một thực tế rằng: mức độ thực hành thờ kính tổ tiên của giáo dân Lai Tê chưa sâu sắc và phổ biến như những người

Trang 36

thể hiện trong các nghi thức thờ kính tổ tiên của người Công giáo Lai Tê ở phần sau của khóa luận

2.2 Các nghi thức thờ kính tổ tiên của giáo dân họ đạo Lai Tê

Số liệu điều tra thực tế vào tháng 3/2014 là cơ sở chính để người viết khảo sát, tìm hiểu các nghi thức thờ kính tổ tiên của người Công giáo Lai Tê

Trang 37

Bảng 1: Những dịp thực hành nghi thức thờ kính tổ tiên của giáo dân Công giáo Lai Tê (Tính theo tỉ lệ phần trăm)

STT Dịp thực hành thờ kính tổ tiên Có Không

4 Gia đình có việc vui, trọng đại 47,1 52,9

2.2.1 Nghi thức thờ kính tổ tiên trong đám tang và giỗ chạp

2.2.1.1 Nghi thức thờ kính tổ tiên trong đám tang

- Trong giờ hấp hối

Bảng 2: Những nghi thức thường làm khi giáo dân Lai Tê hấp hối (Tính theo phần trăm)

1 Mời cha xứ đến làm phép xức dầu 97,1 2,9

2 Tập trung đọc kinh cầu nguyện tại gia đình

người đang hấp hối

87,1 12,9

Trang 38

Với con số 97,1% số người Công giáo Lai Tê cho rằng sẽ mời cha xứ đến làm phép xức dầu cho người đang hấp hối; 87,1% số người cho rằng sẽ tập trung đọc kinh cầu nguyện tại gia đình người đang hấp hối, có thể khẳng định rằng việc cử hành nghi thức xức dầu và đọc kinh cầu nguyện cho người đang hấp hối tại họ đạo Lai Tê là một hành vi thường xuyên và đã ăn sâu vào nếp nghĩ của giáo dân Lai Tê

Theo lời kể của các cụ trong thôn Lai Tê, trước những năm 1980, khi

có tín đồ trong họ đạo sắp qua đời, thừa tác viên có chức thánh (linh mục hay phó tế hoặc một trong số những người trong Ban hành giáo) được mời đến làm lễ xức dầu bệnh nhân Trên đường đến nhà người bệnh, thừa tác viên có chức thánh được hộ tống bằng một cậu bé và một người cầm lọng che dù thời tiết mưa, nắng thế nào Cậu bé cầm chuông đi theo, lắc chuông kêu cho tới khi đến nhà người hấp hối mới dừng lại Giáo dân Lai Tê gặp thừa tác viên đi xức dầu bệnh nhân phải quỳ xuống cho tới khi họ đi qua Việc làm này thể hiện sự sùng kính của giáo dân Lai Tê trước Mình Thánh Chúa khi thừa tác viên rước đến cho “kẻ liệt”

Ngày nay, thừa tác viên vẫn được mời đến làm lễ xức dầu bệnh nhân khi có tín đồ sắp qua đời Nhưng cảnh chuông kêu, lọng che như xưa không còn Việc cử hành xức dầu diễn ra âm thầm hơn so với thời kỳ trước

Gia đình có người hấp hối sẽ cùng thừa tác viên có chức thánh (linh mục hay phó tế hoặc một trong số những người trong Ban hành giáo) ngoài việc nâng đỡ người đang hấp hối về mặt thể xác còn chuẩn bị một bàn thờ gồm có: tượng chịu nạn, bình nước phép, nến, sách nghi thức để cử hành các nghi thức đã quy định cho người sắp qua đời

Thân nhân hoặc bà con trong làng khi biết tin người hấp hối đều tập trung lại, đọc kinh cầu nguyện cho người sắp qua đời được “ơn chết lành và

Trang 39

được hưởng nhan Chúa”, đồng thời cũng là nâng đỡ về mặt tinh thần cho thân nhân người sắp qua đời và giúp đỡ những công việc có thể

- Khi tín đồ qua đời

Ngoài việc báo tử với chính quyền thôn, khi giáo dân Lai Tê qua đời, người thân phải báo cho linh mục xứ và Ban hành giáo biết tin Nhà thờ rung chuông báo tử gọi là chuông sầu hay chuông tử Chuông này chỉ đánh một hồi, đánh thong thả từng tiếng một, không phân biệt thời gian đêm, ngày Khi nghe tiếng chuông, các tín đồ Công giáo Lai Tê sẽ biết đó là chuông báo có người trong họ đạo đã mất Dù không phân biệt được đó là nam hay nữ qua tiếng chuông báo tử, nhưng giáo dân Lai Tê có thể phân biệt được người mất

là người già hay người trẻ qua tiếng chuông, bởi nếu người mất là người cao tuổi thì tiếng chuông sầu cuối sẽ rung dài, còn nếu là người trẻ tuổi thì thì tiếng chuông sầu cuối sẽ rung ngắn Khi nghe tiếng chuông này, tín đồ Công giáo Lai Tê thường hướng về phía nhà thờ và thầm đọc Kinh Lạy Cha để cầu nguyện cho người mới qua đời Nếu người qua đời là linh mục thì chuông sầu rung lên cả ngày đêm cho tới khi việc an táng linh mục quá cố kết thúc

Từ khi tín đồ Công giáo Lai Tê qua đời cho tới khi tiến hành nghi thức

an táng tại nhà thờ, họ hàng, bà con làng xóm và các tổ chức, đoàn thể Công giáo lần lượt đến cầu nguyện canh thức bên thi hài người quá cố

Người ta đặt một bàn nhỏ, trên có nước thánh, hoa quả, một bát hương

và hương để sẵn trước linh cữu người quá cố Giáo dân Công giáo Lai Tê khi đến viếng xác người mới qua đời thường thắp hương và đọc kinh cầu nguyện cho người đã qua đời

- Nghi lễ an táng

Trang 40

Trong quy ước làng văn hóa Lai Tê có viết: “Việc tổ chức tang lễ là việc làm tỏ lòng thương nhớ giữa người còn sống với người đã qua đời, do đó

lễ tang phải được tổ chức trang nghiêm, tiết kiệm, đúng với quy ước lệ làng Thôn thành lập ban tang lễ, do trưởng thôn là trưởng ban, một đại biểu mặt trận làm phó ban, một đại biểu tôn giáo và một đại biểu của tang gia làm ủy viên để cùng bàn bạc tổ chức việc tang.”

Những quy định trong quy ước làng văn hóa của thôn Lai Tê cho thấy

sự biến đổi phù hợp giữa những quy định của xã hội với đời sống tôn giáo Là một làng toàn tòng Công giáo, những nghi thức tang lễ của người dân nơi đây

bị chi phối hoàn toàn bởi những quy định của Giáo hội, trong đó bao gồm cả những nghi thức an táng tại gia đình, nhà thờ và Vườn thánh

Bảng 3: Địa điểm tổ chức nghi lễ an táng người thân của giáo dân Công giáo Lai Tê (Tính theo phần trăm)

STT Địa điểm thực hành nghi lễ an táng Có Không

Ngày đăng: 16/07/2015, 07:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Những dịp thực hành nghi thức thờ kính tổ tiên của giáo  dân Công giáo Lai Tê (Tính theo tỉ lệ phần trăm) - Vấn đề thờ cúng tổ tiên của người công giáo họ đạo lai tê (lương tài, bắc ninh)
Bảng 1 Những dịp thực hành nghi thức thờ kính tổ tiên của giáo dân Công giáo Lai Tê (Tính theo tỉ lệ phần trăm) (Trang 37)
Bảng 3: Địa điểm tổ chức nghi lễ an táng người thân của giáo dân  Công giáo Lai Tê (Tính theo phần trăm) - Vấn đề thờ cúng tổ tiên của người công giáo họ đạo lai tê (lương tài, bắc ninh)
Bảng 3 Địa điểm tổ chức nghi lễ an táng người thân của giáo dân Công giáo Lai Tê (Tính theo phần trăm) (Trang 40)
Bảng 4: Hướng xây dựng mộ người quá cố (Tính theo phần trăm) - Vấn đề thờ cúng tổ tiên của người công giáo họ đạo lai tê (lương tài, bắc ninh)
Bảng 4 Hướng xây dựng mộ người quá cố (Tính theo phần trăm) (Trang 43)
Bảng 5: Thờ kính tổ tiên vào các dịp đặc biệt (Tính theo phần trăm) - Vấn đề thờ cúng tổ tiên của người công giáo họ đạo lai tê (lương tài, bắc ninh)
Bảng 5 Thờ kính tổ tiên vào các dịp đặc biệt (Tính theo phần trăm) (Trang 45)
Bảng  7:  Trang  hoàng  bàn  thờ  tổ  tiên  của  người  Công  giáo  Lai  Tê  (Tính theo phần trăm) - Vấn đề thờ cúng tổ tiên của người công giáo họ đạo lai tê (lương tài, bắc ninh)
ng 7: Trang hoàng bàn thờ tổ tiên của người Công giáo Lai Tê (Tính theo phần trăm) (Trang 47)
Bảng 9: Bàn thờ tổ tiên đặt tạm trên nóc tủ, giá sách theo nhóm tuổi - Vấn đề thờ cúng tổ tiên của người công giáo họ đạo lai tê (lương tài, bắc ninh)
Bảng 9 Bàn thờ tổ tiên đặt tạm trên nóc tủ, giá sách theo nhóm tuổi (Trang 59)
Bảng  thống  kê  thực  tế  (3/2014)  là  cơ  sở  để  khẳng  định  rằng:  Xét  về  giới tính, nữ giới thực hiện việc thờ kính tổ tiên một cách thường xuyên, đều  đặn và trong nhiều dịp hơn so với nam giới - Vấn đề thờ cúng tổ tiên của người công giáo họ đạo lai tê (lương tài, bắc ninh)
ng thống kê thực tế (3/2014) là cơ sở để khẳng định rằng: Xét về giới tính, nữ giới thực hiện việc thờ kính tổ tiên một cách thường xuyên, đều đặn và trong nhiều dịp hơn so với nam giới (Trang 64)
Bảng 11: Dịp thờ kính tổ tiên theo độ tuổi - Vấn đề thờ cúng tổ tiên của người công giáo họ đạo lai tê (lương tài, bắc ninh)
Bảng 11 Dịp thờ kính tổ tiên theo độ tuổi (Trang 65)
Hình 2: Bàn thờ Chúa và bàn thờ tổ tiên được đặt - Vấn đề thờ cúng tổ tiên của người công giáo họ đạo lai tê (lương tài, bắc ninh)
Hình 2 Bàn thờ Chúa và bàn thờ tổ tiên được đặt (Trang 79)
Hình 4: Thánh lễ an táng tại nhà thờ. - Vấn đề thờ cúng tổ tiên của người công giáo họ đạo lai tê (lương tài, bắc ninh)
Hình 4 Thánh lễ an táng tại nhà thờ (Trang 80)
Hình 6: Thánh lễ cầu cho các linh hồn ngày mùng 2 - 11 hằng năm. - Vấn đề thờ cúng tổ tiên của người công giáo họ đạo lai tê (lương tài, bắc ninh)
Hình 6 Thánh lễ cầu cho các linh hồn ngày mùng 2 - 11 hằng năm (Trang 81)
Hình 8: Thánh lễ cầu cho tổ tiên ngày mồng 2 Tết. - Vấn đề thờ cúng tổ tiên của người công giáo họ đạo lai tê (lương tài, bắc ninh)
Hình 8 Thánh lễ cầu cho tổ tiên ngày mồng 2 Tết (Trang 82)
Hình 9: Cô dâu, chú rể vái lạy tổ tiên trong ngày cưới. - Vấn đề thờ cúng tổ tiên của người công giáo họ đạo lai tê (lương tài, bắc ninh)
Hình 9 Cô dâu, chú rể vái lạy tổ tiên trong ngày cưới (Trang 82)
Hình 10: Nhà thờ họ đạo Lai Tê, nơi cử hành các nghi thức Công giáo. - Vấn đề thờ cúng tổ tiên của người công giáo họ đạo lai tê (lương tài, bắc ninh)
Hình 10 Nhà thờ họ đạo Lai Tê, nơi cử hành các nghi thức Công giáo (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w