ĐÀO LÊ HOÀI NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI THUỘC BỘ VE GIÁP ACARI: ORIBATIDA TẠI NHÀ MÁY HONDA – PHÚC YÊN – VĨNH PHÚC VÀ PHỤ CẬN NĂM 2012 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyê
Trang 1ĐÀO LÊ HOÀI
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI THUỘC BỘ VE GIÁP (ACARI: ORIBATIDA)
TẠI NHÀ MÁY HONDA – PHÚC YÊN – VĨNH PHÚC
VÀ PHỤ CẬN NĂM 2012
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh thái học
Trang 2KHOA SINH - KTNN
*************
ĐÀO LÊ HOÀI
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI THUỘC BỘ VE GIÁP (ACARI: ORIBATIDA) TẠI NHÀ MÁY HONDA – PHÚC YÊN – VĨNH PHÚC
VÀ PHỤ CẬN NĂM 2012
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh thái học
Người hướng dẫn khoa học
TS ĐÀO DUY TRINH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS Đào Duy
Trinh, thầy đã hết lòng chỉ bảo, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi
trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Tiếp theo, tôi xin cám ơn các các thầy cô giảng dạy bộ môn Động vật học của khoa Sinh – Kĩ thuật Nông nghiệp, Ban chủ nhiệm khoa Sinh – Kĩ thuật Nông nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện khóa luận này Tôi chân thành cám ơn Ban quản lí Nhà máy Honda – Phúc Yên – Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thu mẫu ở khu vực nhà máy
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn bố mẹ, người thân và bạn bè đã động viên về vật chất cũng như tinh thần trong suốt quá trình thực hiện đề tài khóa luận này
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Đào Lê Hoài
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả trình bày trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
Trang 5DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
6 MĐTB Mật độ trung bình của Oribatida
7 NM Sinh cảnh nhà máy Honda
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Địa điểm, tầng đất và số lượng mẫu thu ở khu vực
nghiên cứu tại Nhà máy Honda và phụ cận 8
2 Bảng 3.1 Thành phần họ, giống, loài Oribatida theo các
sinh cảnh tại nhà máy Honda và phụ cận 17
3 Bảng 3.2 Thành phần phân loại học của Oribatida tại nhà
4 Bảng 3.3 Thành phần họ, giống, loài Oribatida phân bố theo
độ sâu của đất tại nhà máy Honda và phụ cận 23
5 Bảng 3.4 Chỉ số Jaccard (J) sự tương đồng thành phần loài
Oribatida giữa 3 sinh cảnh nghiên cứu tại nhà máy Honda và
phụ cận
29
6 Bảng 3.5 Tỷ lệ các loài Oribatida ưu thế trong các sinh cảnh
7 Bảng 3.6 Một số chỉ số định lượng của Oribatida theo sinh
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
1 Hình 3.1 Sự tương đồng về thành phần loài Oribatida giữa
các sinh cảnh tại nhà máy Honda và phụ cận 30
2 Hình 3.2 Cấu trúc loài ưu thế của quần xã Oribatida ở sinh
5 Hình 3.5 Các giá trị chỉ số định lượng: Số lượng loài, độ đa
dạng loài H’, độ đồng đều J’ theo sinh cảnh tại nhà máy
Honda và phụ cận
35
Trang 8MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục các kí hiệu và chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới 3
1.2.Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) ở Việt Nam 4
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
2.1 Đối tượng nghiên cứu 8
2.2 Địa điểm nghiên cứu 8
2.3 Thời gian nghiên cứu 8
2.4 Dụng cụ nghiên cứu 8
2.5 Phương pháp nghiên cứu 9
2.5.1 Ngoài thực địa 9
2.5.2 Trong phòng thí nghiệm 9
2.5.3 Xử lí số liệu 11
2.6 Vài nét khái quát về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 13
2.6.1 Vị trí địa lí 13
Trang 92.6.2 Địa hình, thổ nhưỡng 14
2.6.3 Điều kiện khí hậu – thủy văn 14
2.6.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 15
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 17
3.1 Thành phần loài Oribatida tại nhà máy Honda và phụ cận 17
3.2 Thành phần phân loại học của Oribatida tại nhà máy Honda và phụ cận 20
3.3 Đ c điểm phân bố của Oribatida theo độ sâu của đất tại nhà máy Honda và phụ cận 23
3.4 Sự tương đồng thành phần loài Oribatida tại nhà máy Honda và phụ cận 27
3.5 Các loài Oribatida ưu thế trong các sinh cảnh tại nhà máy Honda và phụ cận 30
3.6 Cấu trúc quần xã Oribatida như yếu tố chỉ thị biến đổi của môi trường tại nhà máy Honda và phụ cận 34
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Năm 2012, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đứng
vị trí thứ 7 cả nước và thứ 3 các tỉnh phía Bắc, sau Hà Nội, Hải Phòng [18] Vĩnh Phúc đang phấn đấu trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015, tỉnh công nghiệp hiện đại vào năm 2020 Để đạt được mục tiêu này, Vĩnh Phúc đã đưa
ra kế hoạch cho từng giai đoạn Ở giai đoạn 2011 – 2015, một trong các định hướng của tỉnh là phát triển công nghiệp cơ khí chế tạo [19] Mà nhà máy Honda sản xuất, lắp ráp xe máy và các ngành phụ trợ - thuộc nhóm ngành công nghiệp cơ khí chế tạo [20] Vì vậy, nhà máy Honda ngày càng được đầu
tư mở rộng Để sự phát triển này bền vững, chúng ta cần phải quan tâm nhiều hơn đến môi trường, đ c biệt là môi trường xung quanh các nhà máy, xí nghiệp, trong đó có nhà máy Honda
Để có thể bảo vệ được môi trường, chúng ta cần đánh giá được môi trường, từ đó đưa ra các biện pháp cải tạo môi trường Mà Oribatida rất nhạy cảm với những biến đổi của các điều kiện môi trường sống, đ c biệt là các tác động của con người vào môi trường đất tự nhiên nên Oribatida được sử dụng như đối tượng nghiên cứu mẫu, phục vụ công tác quản lí, kiểm tra đánh giá chất lượng, sự ô nhiễm và thoái hóa đất Hơn thế nữa, Oribatida là động vật đất có mật độ quần thể lớn, có thể đạt tới vài trăm nghìn cá thể trên 1 m² đất, thành phần loài đa dạng, dễ thu lượm, dễ nhận dạng, có thể tìm thấy chúng trong đất cũng như các môi trường sống liên quan như thảm lá rừng và xác vụn thực vật, trên thân hay dưới vỏ cây gỗ, lớp thảm rêu bám trên thân cây, đất treo trên cành cây, trong tán lá cây xanh [5],[6]
Ngoài ra, Oribatida ở Việt Nam đã được nghiên cứu trong thời gian dài với nhiều công trình nghiên cứu đa dạng và bao quát ở nhiều lĩnh vực, nhưng
Trang 11chưa đầy đủ và toàn diện ở các vùng lãnh thổ, các nghiên cứu về Oribatida ở phía Nam và vùng núi cao ở phía Bắc nước ta còn nhiều hạn chế Mà nhóm động vật này rất đa dạng và phong phú nên những nghiên cứu đó là chưa đủ
Vì vậy, phải tiến hành nhiều nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ hơn về Oribata ở các vùng lãnh thổ khác nhau để có thể đánh giá được vai trò của chúng đối với môi trường đất
Vì những lí do trên, tôi chọn thực hiện đề tài “Nghiên cứu sự biến động
thành phần loài thuộc bộ Ve giáp (Acari: Oribatida) tại nhà máy Honda – Phúc Yên – Vĩnh Phúc và phụ cận năm 2012”
Bổ sung cho việc nghiên cứu Oribatida ở miền Bắc Việt Nam và tạo tiền
đề đánh giá về chất lượng môi trường ở nhà máy Honda – Phúc Yên – Vĩnh Phúc
3 Nội dung nghiên cứu
Thành phần loài, thành phần phân loại học và đ c điểm phân bố theo độ sâu đất của Oribatida ở các sinh cảnh thuộc khu vực nghiên cứu
Sự tương đồng về thành phần loài, các loài Oribatida ưu thế ở từng sinh cảnh nghiên cứu và một số chỉ số định lượng của Oribatida theo sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu
Dựa vào các bảng và các hình, từ đó đưa ra nhận xét về thành phần loài, thành phần phân loại học, đ c điểm phân bố theo độ sâu của đất, sự tương đồng về thành phần loài, các loài ưu thế cũng như một số chỉ số định lượng của Oribatida
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới
Trên thế giới, Oribatida được nghiên cứu cách đây hàng trăm năm, tuy nhiên các công trình nghiên cứu về Oribatida chỉ phát triển mạnh trong thời gian gần đây Khu hệ Oribatida trên thế giới hiện đã được mô tả khoảng 10.000 loài và số loài Oribatida thực tế có thể vào khoảng 50.000 loài Như vậy, số lượng Oribatida hiện được biết đến chỉ vào khoảng 20% tổng số loài thực tế đang tồn tại Trong khoảng 20 năm gần đây, các nghiên cứu về Oribatida diễn ra mạnh mẽ tại nhiều vùng ở các nước trên khắp các châu lục
và đã thu được nhiều kết quả to lớn Trong thời gian này, theo Balogh, số lượng giống Oribatida được phát hiện trên thế giới đã tăng từ 700 lên đến hơn 1.000 giống [16]
Năm 1905, nhà nghiên cứu người Italia A Berlese đã phát minh ra phương pháp dùng hệ thống phễu lọc để phân tách hệ động vật chân khớp bé trong đất Sau đó, năm 1917, A Tullgren cải tiến và hoàn thiện hơn Nhờ vậy, con người đã có khái niệm đầy đủ hơn về động vật đất, trong đó có nhóm loài Oribatida [5]
Ngày nay, các chuyên gia nghiên cứu vẫn chưa có một cách sắp xếp thống nhất vị trí của nhóm Oribatida nói chung trong hệ thống phân loại Thông thường, Oribatida thuộc bộ Ve giáp (Acarina) bao gồm tất cả nhóm Oribatida khác nhau nằm trong nhóm Chân khớp hình nhện (Arachnida) Trong những năm gần đây, nhờ khoa học kĩ thuật tiến bộ, nhiều nhà nghiên cứu đã nhờ sự trợ giúp của các kĩ thuật phân tích sinh học hiện đại như phương pháp phân tích ADN để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, tiến hóa của Oribatida ở mức độ loài [5]
Oribatida sống trong nhiều hệ sinh thái khác nhau, chúng được tìm thấy trong cả môi trường nước m n và nước ngọt, đ c biệt phong phú trong đất
Trang 13rừng Việc nghiên cứu sự phát triển, sinh trưởng trong mối quan hệ với các yếu tố tác động lên chúng là một hướng quan trọng được nhiều tác giả chú ý đến Bản chất và thời gian phát triển, sinh trưởng của nhóm động vật này còn chưa được điều tra một cách đầy đủ, nhưng các nhà nghiên cứu đã biết các nhân tố môi trường (nhiệt độ, độ pH, hàm lượng mùn, số lượng và chất lượng thức ăn,…) và mật độ của các nhóm chân khớp khác có thể ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của hầu hết Oribatida Chúng ta có một số hiểu biết về
đ c điểm của Oribatida như: Có kích thước đa số đạt từ 0,3 – 0,7mm Vòng đời của Oribatida bao gồm một giai đoạn ấu trùng không hoạt động và năm giai đoạn hậu phôi hoạt động gồm: ấu trùng hoạt động, tiền nhộng, hậu nhộng, nhộng tuổi ba và trưởng thành Oribatida tham gia tích cực trong sự phân hủy vật chất hữu cơ, trong chu trình nitơ và trong quá trình tạo đất Chúng tham gia vào quá trình phân hủy mùn và cấu trúc đất bằng cách nghiền nát các hợp chất hữu cơ [5]
Oribatida rất nhạy cảm với những biến đổi của môi trường sống Vì vậy,
sử dụng Oribatida như sinh vật chỉ thị để đánh giá chất lượng hệ sinh thái cạn
có rất nhiều lợi thế như có độ đa dạng cao nên dễ dàng thu lượm được số lượng lớn, việc định loại con trưởng thành tương đối dễ, hầu hết chúng sống trong tầng hữu cơ của lớp đất màu mỡ [5]
1.2.Tình hình nghiên cứu Ve giáp (Acari: Oribatida) ở Việt Nam
Lịch sử nghiên cứu của Oribatida đã có từ rất lâu trên thế giới, được nghiên cứu một cách hệ thống về cả khu hệ, sinh học, sinh thái và vai trò chỉ thị Ở Việt Nam hướng nghiên cứu về nhóm này mới chỉ bắt đầu trong thời gian gần đây [6]
Trước năm 1975, các công trình nghiên cứu về Oribatida còn lẻ tẻ, chưa chuyên sâu mà được các tác giả nghiên cứu kết hợp cùng với các nhóm sinh vật khác Năm 1967, công trình nghiên cứu đầu tiên nghiên cứu về Oribatida
Trang 14ở nước ta được công bố mang tên “New Oribatids from Viet Nam” của 2 tác giả Balogh J và Mahunka S [6]
Sau năm 1975, Oribatida Việt Nam được nghiên cứu chuyên sâu hơn bởi các nhà khoa học trong và ngoài nước [5]
Tiếp theo, có một số công trình của các tác giả nước ngoài cộng tác với Việt Nam như công trình của Vũ Quang Mạnh, M Jeleva, I Tsonev nghiên cứu về Oribatida bậc thấp ở miền Bắc Việt Nam Đến năm 1977, các tác giả trong nước bắt đầu có những nghiên cứu độc lập Vũ Quang Mạnh và cộng sự năm 1985, 1987 nghiên cứu về Oribatida bậc thấp ở Việt Nam đã đưa ra được thành phần loài Oribatida ở khu vực nghiên cứu Công trình nghiên cứu đầu tiên về nhóm Chân khớp bé (Microarthropoda) ở đất Cà Mau và Từ Liêm năm
1980, 1984 của tác giả Vũ Quang Mạnh [6]
Năm 1990, Vũ Quang Mạnh tổng kết tất cả các công trình nghiên cứu Chân khớp bé ở Việt Nam và đưa ra danh sách 117 loài Oribatida cùng với
đ c điểm phân bố của chúng theo vùng địa lý, loại đất và hệ sinh thái [3] Năm 1994, Vũ Quang Mạnh nêu lên mối liên hệ giữa Oribatida vùng ven biển và vùng đảo so với Oribatida sống trong đất liền [4]
Năm 2000, Vũ Quang Mạnh đã tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, các hướng nghiên cứu động vật đất và tổng kết vai trò của động vật đất cũng như Oribatida đối với sự phát triển bền vững của hệ sinh thái đất
Năm 2006, Vũ Quang Mạnh tổng kết và giới thiệu toàn bộ các loài Oribatida đã được phát hiện từ trước tới nay ở Việt Nam trong công trình Động vật chí Việt Nam [6]
Năm 2010, Đào Duy Trinh nghiên cứu về thành phần loài và cấu trúc quần xã Ve giáp ở Vườn quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ đã xác định được 103 loài Oribatida thuộc 48 giống và 28 họ [12]
Trang 15Năm 2010, Vũ Quang Mạnh, Sergey G Ermilov và Đào Duy Trinh công
bố 2 loài Ve giáp mới (Acari: Oribatida) ở Việt Nam là Aokiella xuansoni sp Nov Vu, Ermilov et Dao và Papillacarus benenensis sp Nov Vu, Ermilov et
Dao 2 loài này đã được thu bắt trong các năm 2008 – 2009 từ hệ sinh thái đất của Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ và Vườn quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa ở đai cao 300 – 400m so với m t nước biển; trong các sinh cảnh rừng tự nhiên và rừng nhân tác, trong tầng thảm lá rừng phủ trên m t đất, ở lớp đất m t 0 – 10cm và lớp đất sâu 11 – 20cm [17]
Năm 2011, Đào Duy Trinh và cộng sự nghiên cứu sự biến động thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) tại khu công nghiệp Bình Xuyên và phụ cận thuộc huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, thấy có tổng số 38 loài, trong đó
có 36 loài đã được định tên, còn 2 loài không định được tên ở dạng sp Môi trường sống khác nhau ở mỗi sinh cảnh thấy được các loài có sự phân bố khác nhau, ở Khu công nghiệp 28 loài, Ruộng 15 loài, Vườn quanh nhà là 22 loài [2] Năm 2012, Đào Duy Trinh và cộng sự đã nghiên cứu sự biến động về thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) tại khu công nghiệp Thụy Vân và vùng phụ cận – thành phố Việt Trì, nhận thấy có 13 họ, 19 giống và 38 loài Sau nghiên cứu nhận thấy sự biến động thành phần loài ở các sinh cảnh khác nhau và có những loài chỉ xuất hiện ở 1 sinh cảnh ho c nhiều sinh cảnh, điều này giải thích ở khu công nghiệp Thụy Vân đã có ít nhiều làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái của nhóm Oribatida [13]
Tuy nhiên, các nghiên cứu về Oribatida ở phía Nam và vùng núi cao ở phía Bắc nước ta còn nhiều hạn chế Krivolutsky, Vũ Quang Mạnh, Phan Thế Việt đã phát hiện 7 họ Oribatida là đ c trưng của miền Bắc và cũng đ c trưng cho hệ động vật mang tính Ấn Độ - Mã Lai ở khu hệ Phanxipang Ở phía Nam, chỉ mới có một vài công trình nghiên cứu ở Đà Lạt của Mahunka S
Trang 16(1989), An Khê của Vũ Quang Mạnh (1980) và Glosova (1984), Cà Mau của
Vũ Quang Mạnh (1982, 1985) [6]
Những kết quả thu được về Oribatida ở Việt Nam cho thấy việc nghiên cứu Oribatida được tiến hành một cách toàn diện và có hệ thống đạt hiệu quả cao Tuy nhiên các kết quả đạt được mới chỉ là những bước đi ban đầu, việc nghiên cứu Chân khớp b cần được đ y mạnh nghiên cứu trong những năm tiếp theo
Trang 17CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài Oribatida thuộc bộ Ve giáp (Acari: Oribatida), phân lớp Ve bét (Acari), lớp Hình nhện (Arachnida), phân ngành Chân khớp có kìm (Chelicerata), ngành Chân khớp (Arthropoda)
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Tiến hành lấy mẫu thực địa tại nhà máy Honda – Phúc Yên – Vĩnh Phúc
ở 3 sinh cảnh với tổng số mẫu là 30 mẫu Trong đó, mẫu tại NM Honda là 10 mẫu, 10 mẫu đất tại ruộng cách nhà máy 1km về hướng nam, 10 mẫu tại vườn quanh nhà cách nhà máy 2 km về hướng nam
Bảng 2.1 Địa điểm, tầng đất và số lượng mẫu thu ở khu vực nghiên cứu
tại nhà máy Honda và phụ cận
2.3 Thời gian nghiên cứu
Mẫu được thu vào tháng 10 – 2012 Tiếp theo, mẫu được xử lí, tách lọc, phân tích, nghiên cứu ở phòng thí nghiệm Động vật của khoa Sinh – Kĩ thuật Nông nghiệp thuộc trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đến tháng 4 – 2013 Sau đó, viết khóa luận đến tháng 5 – 2014
2.4 Dụng cụ nghiên cứu
- Dụng cụ thu mẫu ngoài thực địa: hộp cắt kim loại hình khối hộp chữ nhật, túi nilon đựng mẫu, dây chun, giấy etyket, bút bi, sổ ghi chép, thùng đựng mẫu, máy ảnh…
Trang 18- Dụng cụ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm:
+ Dụng cụ thu và tách Oribatida: rây lọc, phễu thủy tinh cứng, bóng bay, ống nghiệm, bông, dây chun, lọ thủy tinh…
+ Dụng cụ tách và phân tích mẫu: đĩa petri, lam kính, lamel, ống pipet, giấy lọc, bông, kính lúp, kính hiển vi,…
- Hóa chất: formol 4%, glixerol,…
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Ngoài thực địa
Ngoài thực địa thu mẫu theo phương pháp Ghilarow, 1975
Dùng hộp cắt kim loại hình khối hộp chữ nhật lấy mẫu ở hai tầng A1 từ
0 - 10cm và A2 từ 11 - 20cm Kích thước của mỗi mẫu là 5x5x10cm Diện tích bề m t tương ứng là 25cm2
Lấy mẫu đất ở 3 sinh cảnh:
+ 1 Nhà máy Honda
+ 2 Ruộng cách nhà máy Honda 1km về hướng nam
+ 3 Vườn quanh nhà cách nhà máy Honda 2 km về hướng nam
Lấy mẫu đất ở mỗi sinh cảnh tại 5 điểm, mỗi điểm lấy 2 tầng Tổng là
30 mẫu
Tất cả các mẫu sau khi thu ở thực địa đều được cho ngay vào túi nilon riêng, có ghi các thông số cần thiết (ngày tháng lấy mẫu, sinh cảnh, tầng đất ) rồi buộc ch t lại và để vào thùng vận chuyển [10],[12],[13],[14],[15],[17]
2.5.2 Trong phòng thí nghiệm
Sử dụng phương pháp phễu lọc Berlese – Tullgren do phương pháp này phổ biến, đơn giản, tiện lợi và đạt hiệu quả khá cao, có thể thu được 73 - 98% tổng số lượng Microarthropoda từ mẫu đất (Edward, 1991) Nguyên lí chung của phương pháp là dựa theo tập tính hướng sáng âm và chui sâu xuống đất của các nhóm động vật đất khi các lớp trên bị khô dần [5]
Trang 19Đ t mẫu: Trước khi đ t mẫu phải đảm bảo giá gỗ và phễu lọc sạch Các mẫu đất được đ t lên rây lọc để trên phễu Bộ phễu được đ t trên giá gỗ, vòi phễu gắn với ống thu chứa dung dịch định hình formol 4% để hứng động vật nhỏ có trong mẫu Sử dụng phễu Berlese - Tullgren, phễu bằng thủy tinh, có chiều cao 30 cm, đường kính miệng 25cm, đường kính vòi 1,5cm Giá gỗ gồm 3 tầng, mỗi tầng đ t mẫu của một sinh cảnh, mỗi tầng chia làm 2 hàng, mỗi hàng đ t 5 mẫu, lưu ý đ t 5 mẫu ở tầng 0 – 10cm ở 1 hàng, 5 mẫu ở tầng
11 – 20cm ở 1 hàng để quá trình thu và phân tích mẫu thuận tiện, nhanh chóng và tránh sai sót hơn Ống thu là một ống nghiệm bằng thủy tinh, có chứa dung dịch formol 4%, nhãn ghi đầy đủ ngày, tháng, địa điểm lấy mẫu cho vào trong ống Mẫu đất cần được bẻ nhỏ Đ t mẫu ở chỗ thoáng gió, tận dụng được ánh sáng m t trời, tránh bị động chạm, tránh mưa gió mạnh và chuột bọ trèo vào [5]
Thu mẫu: Các mẫu bị khô dần từ lớp m t và Oribatida chui dần xuống lớp sâu hơn, chui qua lưới lọc, rơi vào phễu và trượt theo thành phễu, rồi xuống ống thu Sau khi đ t mẫu 7 ngày đêm liên tục, cần nhẹ nhàng nhấc rây lọc ra Để nguyên phễu một thời gian cho thành trong của phễu khô hết, rồi lắc nhẹ phễu để một số mẫu vật dính vào thành rơi vào ống thu Tiến hành thu các ống thu, nút bông, dùng dây chun bó 5 ống thu ở cùng tầng đất trong cùng sinh cảnh vào một bó, rồi cho vào bình miệng rộng có chứa formol 4% để bảo quản khi chưa phân tích [5]
Phân tích và định hình bước đầu Oribatida: Các ống thu trong đó có cả mẫu và dung dịch định hình được đổ ra giấy thấm tròn, lọc trên phễu lọc, tráng ống nghiệm vài lần để không bị sót mẫu Giấy thấm đã lọc hết nước cùng mẫu đọng lại được lấy ra, đ t vào đĩa petri Quan sát dưới kính lúp, chọn
và nh t mẫu bằng kim mũi mác, cho vào các ống nghiệm có chứa dung dịch
Trang 20formol 4%, thêm vài giọt axit lactic và glyxerin làm cho mẫu không bị khô giòn và giúp làm trong mẫu [5]
Định loại Oribatida: Định loại Oribatida dưới kính hiển vi: Dùng kim mũi mác chuyển từng Oribatida vào chỗ lõm dưới lam kính lõm để quan sát các tư thế khác nhau theo hướng lưng bụng và ngược lại Tất cả các mẫu phân tích sau khi được TS Đào Duy Trinh kiểm tra sẽ được đưa vào ống nghiệm
có chứa formol 4%, thêm vài giọt glyxerin, bên trong có nhãn ghi thời gian lấy mẫu, địa điểm, sinh cảnh tầng đất rồi nút kín bằng bông, cho vào lọ thủy tinh lớn Các loài trong một giống được sắp xếp theo vần a, b, c Định loại tên loài theo các tài liệu phân loại, các khóa định loại của tác giả Vũ Quang Mạnh,
2007 [6],[7]
2.5.3 Xử lí số liệu
Lo i ưu thế
Trong đó: D : Độ ưu thế
na: Số lượng cá thể của loài a
n : Tổng số cá thể của toàn bộ mẫu theo sinh cảnh
Độ ưu thế được phân ra 4 mức sau:
+ Rất ưu thế: > 10% trong tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu
+ Ưu thế: 5,1 – 10% trong tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu
+ Ưu thế tiềm tàng: 2,0 – 5,0% trong tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu + Không ưu thế: < 2,0% trong tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu [5] Theo Ermilov và Chistyakov, 2007, loài ưu thế là loài có số lượng cá thể chiếm từ 5% tổng số cá thể của quần xã trở lên
Ch số tư ng đ ng th nh ph n lo i J J cc rd
Trang 21Trong đó: a: Số lượng loài g p ở sinh cảnh nghiên cứu A
b: Số lượng loài g p ở sinh cảnh nghiên cứu B c: Số lượng loài g p ở sinh cảnh nghiên cứu A và B
J: Chỉ số Jaccard, chỉ sự gần gũi thành phần loài giữa 2 quần
xã sinh vật ở hai sinh cảnh sống nghiên cứu
Trong nghiên cứu sinh thái học, chỉ số Jaccard được các nhà nghiên cứu dùng để đánh giá sự gần gũi ho c tách biệt giữa các qu n xã sinh vật ở các sinh cảnh sống khác nhau một cách khách quan
Sau khi tính được giá trị của chỉ số Jaccard của nhóm động vật cụ thể ở các vùng nghiên cứu, trên cơ sở kết quả thu được ta xếp chúng theo các nhóm mức độ giá trị khác nhau với kí hiệu riêng Chẳng hạn có thể phân chia theo các nhóm như:
1 Nhóm giá trị trong khoảng 0 – 25%;
2 Nhóm giá trị trong khoảng 26 – 50%;
3 Nhóm giá trị trong khoảng 51 – 75%;…
Cách sắp xếp các lớp giá trị này rất linh hoạt, sao cho phù hợp với số liệu của trường hợp nghiên cứu cụ thể và có thể biểu diễn được sự tách biệt khi quan sát trên biểu đồ dạng lưới Còn cách kí hiệu các lớp giá trị cần được biểu thị sao cho chúng dễ quan sát và phân biệt được sự tăng của các chỉ số, bằng
sự đậm dần các ô vuông trên biểu đồ lưới [5]
Nguyên tắc chung của quá trình sắp xếp các giá trị Jacard trên biểu đồ lưới là luôn cố gắng đưa các ô vuông mang giá trị lớn nhất càng về gần đường chéo trung tâm của biểu đồ hình vuông bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu [5]
Phân tích độ đ dạng lo i H’
Chỉ số (H’) Shannon – Weaner được sử dụng để tính đa dạng loài hay số lượng loài trong quần xã và tính đồng đều về sự phong phú cá thể của các loài trong quần xã Chỉ số này thuận lợi để xem xét số loài và mức độ đồng đều của các loài
Trang 22Trong đó: s: Số lượng loài
ni:Số lượng cá thể của loài thứ i N: Tổng số lượng cá thể trong sinh cảnh nghiên cứu
Giá trị H’ dao động trong khoảng 0 đến ∞, H’ tăng khi quần xã có nhiều loài và số lượng của các loài tương đối đều nhau Chỉ số đa dạng của quần xã phụ thuộc vào 2 yếu tố là số lượng loài và tính đồng đều về sự phong phú của các loài trong quần xã Một khu vực có số lượng loài ho c số cá thể nhiều chưa hẳn nơi đó có tính đa dạng cao Chỉ số đa dạng, ở một khía cạnh nào đó cho biết tính đa dạng của một quần xã và là một chỉ tiêu có thể đánh giá được tính đa dạng về khu hệ động, thực vật của một khu vực [5]
Trong đó: H’: Chỉ số đa dạng loài
S: Số loài có trong sinh cảnh
Giá trị J’ dao động trong khoảng từ 0 đến 1 [6]
Phư ng pháp tính toán v thống kê số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê trong tính toán và xử lí số liệu trên phần mềm Microsoft Excel 2007 và phần mềm Primer 5
2.6 Vài nét khái quát về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
2.6.1 Vị trí địa lí
NM Honda nằm tại phường Phúc Thắng, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc NM Honda ở cạnh quốc lộ 2, cách trung tâm thành phố Hà Nội 20km, cách cảng quốc tế Hải Phòng 80km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 10km, cách
ga Phúc Yên 1km, cách trục đường sắt Bắc – Nam 17km [19]
Trang 23Thị xã Phúc Yên nằm ở phía đông của tỉnh Vĩnh Phúc, có vị trí địa lí rất thuận lợi: gần với thủ đô Hà Nội, các khu công nghiệp của Hà Nội như khu công nghiệp Nội Bài, khu công nghiệp Quang Minh, khu công nghiệp Bắc Thăng Long,…, gần sân bay quốc tế Nội Bài; có thị trường rộng lớn để cung cấp và tiêu thụ hàng hóa; có hệ thống giao thông thuận tiện: nằm cạnh quốc lộ
2, quốc lộ 23, có đường sắt Hà Nội – Lào cai chạy qua, có đường cao tốc xuyên Á đi cảng Cái Lân – Quảng Ninh và Côn Minh – Trung Quốc [18]
2.6.2 Địa hình, thổ nhưỡng
* Địa hình
Thị xã Phúc Yên có địa hình đa dạng, có cả nông thôn và đô thị, có
vùng đồi rừng, bán sơn địa, vùng đồng bằng [18] Địa hình và cảnh quan của thị xã khá đa dạng và phong phú [21]
* Thổ nhưỡng
Thị xã Phúc Yên có đất feralit màu nâu vàng phát triển trên nền phù sa
cổ, đất thường chua, cấu tượng viên tơi xốp, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, chủ yếu được trồng hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày và cây lâm nghiệp; đất feralit màu vàng ho c đỏ phát triển trên phiến thạch s t, đây là loại đất rừng cho năng suất cao, ở những vùng đất dốc dưới 200m thích hợp cho phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp và các loại đ c sản…; đất feralit vàng đỏ ho c vàng xám phát triển đá macma chua là loại đất chua, tầng đất
m t mỏng, thích hợp cho phát triển nông nghiệp; đất feralit vàng đỏ ho c vàng xám phát triển trên đá sa thạch quaczit cuội kết, dăm kết, đất bị trơ sỏi đá; đất feralit xói mòn mạnh, trơ sỏi đá [22] Nói chung, thị xã có quỹ đất không lớn, đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp không giàu dinh dưỡng [21]
2.6.3 Điều kiện khí hậu – thủy văn
* Khí hậu
Trang 24Thị xã Phúc Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng m, được chia thành 4 mùa, trong đó có 2 mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 11 và mùa lạnh từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình năm 23,2 – 25oC, độ m trung bình 84 – 85%, số giờ nắng trong năm 1.400 – 1.800 giờ Hướng gió thịnh hành là hướng Đông – Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9, gió Đông – Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, kèm theo sương muối [22]
* Thủy văn
Thị xã Phúc Yên có nguồn nước ngầm dự trữ với lượng tương đối lớn, đảm bảo đủ cung cấp cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội trước mắt cũng như lâu dài Phúc Yên có sông Ba Hanh, sông Cà Lồ, hồ Đại Lải với diện tích 525ha bước đầu đã định hình là khu du lịch; ngoài ra còn có các đầm hồ khác như: đầm Láng, đầm Rượu,… có thể phát triển các loại hình du lịch vui chơi giải trí, du lịch thắng cảnh, du lịch sinh thái kết hợp nuôi trồng thủy sản [21]
2.6.4 Điều kiện kinh tế - xã hội
* Kinh tế
Cơ cấu kinh tế của thị xã Phúc Yên được xác định là: công nghiệp –
dịch vụ, du lịch – nông, lâm nghiệp Thị xã Phúc Yên đang tiến hành qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; qui hoạch chung đô thị thị xã đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; trong qui hoạch phát triển đô thị kết hợp với phát triển công nghiệp, ưu tiên cho công nghiệp sạch, công nghiệp chế biến có sử dụng nhiều lao động [21] Năm 2013, thị xã Phúc Yên được công nhận là đô thị loại III
Trang 252010 đạt khoảng 1,2 – 1,3% Dân số của thị xã trong những năm qua có xu hướng tăng nhanh ở khu vực thành thị và tăng không nhiều ở nông thôn Dân
cư phân bố không đều, tập trung nhiều tại các phường trung tâm, mật độ giữa các phường, xã chênh lệch nhau khá lớn Thị xã Phúc Yên có lực lượng lao động trong độ tuổi tăng khá nhanh [21]
Nhân dân Phúc Yên có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời; có truyền thống đấu tranh bất khuất chống gi c ngoại xâm đã được thử thách qua nhiều cuộc đấu tranh cách mạng Con người Phúc Yên cần cù trong lao động, ham học hỏi, đoàn kết, năng động, sáng tạo, sẵn sàng đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kì đổi mới [21]
Thị xã Phúc Yên có hệ thống hạ tầng kĩ thuật, hệ thống cung cấp dịch vụ tương đối hoàn chỉnh Trên địa bàn thị xã có trên 50 cơ quan, doanh nghiệp, các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề của trung ương, của tỉnh, của Hà Nội, là điều kiện thuận lợi để Phúc Yên khai thác các thế mạnh, phát triển kinh tế - xã hội [21]
Trang 26CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 h nh hần i i ati a tại nhà máy Honda và phụ cận
Bảng 3.1 Thành phần họ, giống, loài Oribatida theo các sinh cảnh tại
III Limnozetidae Grandjean, 1954
3 III 1 Limnozetes Hull, 1916
IV Mochlozetidae Grandjean, 1960
4 IV 1 Unguizetes Sellnick, 1925
V Xylobatidae J Balogh et P Balogh, 1984
5 V 1 Brasilobates Pérez-Inigo et Baggio, 1980
6 V 2 Setoxylobates Balogh et Mahunka, 1967
7 Setoxylobates foveolatus Balogh et Mahunka, 1967 x x
7 V 3 Perxylobates Hammer, 1972
8 Perxylobates brevisetus Mahunka, 1988 x x
9 Perxylobates vermiseta (Balogh et Mahunka, 1968) x x x
10 Perxylobates vietnamensis (Jeleva et Vu, 1987) x x
8 V 4 Xylobates Jacot, 1929
12 Xylobates lophotrichus (Brerlese, 1904) x x x
14 Xylobates monodactylus (Haller, 1804) x x
VI Protoribatidae J Balogh et P Balogh, 1984
Trang 279 VI 1 Liebstadia Oudemans, 1906
15 Liebstadia humerata Sellnick, 1928 x
VII Oribatulidae thor, 1929
10 VII 1 Cordiozetes Mahunka, 1983
16 Cordiozetes olahi (Mahunka, 1987) x
VIII Haplozetidae Grandjean, 1936
11 VIII 1 Magnobates Hammer, 1967
17 Magnobates flagellifer Hammer, 1967 x x
12 VIII 2 Peloribates Berlese, 1908
18 Peloribates pseudoporosus Balogh et Mahunka, 1967 x x x
19 Peloribates gressitti Balogh et Mahunka, 1967 x
13 VIII 3 Rostrozetes Sellnick, 1925
20 Rostrozetes areolatus (Balogh, 1958) x
21 Rostrozetes foveolatus Sellnick, 1925 x x
25 Scheloribates latipes (C L Koch, 1841) x x x
26 Scheloribates pallidulus (C L Koch, 1840) x
27 Scheloribates praeincisus (Berlese, 1916) x x
30 Ceratozetes gracilis (Michael, 1884) x x
XII Austrachipteriidae Luxton, 1985
19 XII 1 Lamellobates Hammer, 1958
XIII Mycobatidae Grandjean, 1954
20 XIII 1 Punctoribates Berlese, 1908
32 Punctoribates hexagonus Berlese, 1908 x x