Tuy Thuẫn râu là loài cây thuốc quý nhưng ở nước ta cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về các đặc điểm sinh học, sinh thái, trữ lượng cũng như nhân
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
LÊ THỊ THANH NGA
BƯỚC ĐẦU NHÂN GIỐNG BẰNG HOM
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
LÊ THỊ THANH NGA
BƯỚC ĐẦU NHÂN GIỐNG BẰNG HOM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ của
TS Đỗ Thị Xuyến và TS Hà Minh Tâm Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc nhất đến các thầy cô
Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ phòng Thực vật – Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức và
cá nhân trong và ngoài trường Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Sinh _ KTNN – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và Ban chủ nhiệm
đề tài “Nghiên cứu thu thập mẫu, đánh giá hoạt tính kháng u (invitro) và các nhóm
hợp chất chính trong loài Thuẫn râu – Scutellaria barbata D Don (họ Bạc hà –
Lamiaceae Lindl.) ở Việt Nam Mã số VAST 04.03/13 thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam”; đặc biệt là sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự góp ý của thầy (cô) và các bạn để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Lê Thị Thanh Nga
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là của chính tôi Kết quả nghiên cứu không sao chép và trùng khớp với bất kì khóa luận nào Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước hội đồng bảo vệ
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Lê Thị Thanh Nga
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.2 Ở Việt Nam 5
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 Đối tượng nghiên cứu 11
2.2 Phạm vi nghiên cứu 11
2.3 Thời gian nghiên cứu 11
2.4 Nội dung nghiên cứu 11
2.5 Phương pháp nghiên cứu 11
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 15
3.1 Kết quả thu thập các chủng thuộc loài Thuẫn râu (S.Barbata) ở Việt Nam 15
3.2 Nhân giống bằng hom loài Thuẫn râu (S.Barbata) ở Việt Nam 16
3.2.1 Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ sống của các chủng Thuẫn râu 16
3.2.2 Ảnh hưởng của thời gian giâm hom đến tỷ lệ sống của các chủng Thuẫn râu 19
3.3 Sự Sinh trưởng của Thuẫn râu (S barbata) trong điều kiện trồng 23
3.3.1 Thời gian nảy chồi của các chủng Thuẫn râu 24
3.3.2 Thời gian ra hoa và kết quả của chủng Thuẫn râu 26
3.3.3 Thời gian quả chín của chủng Thuẫn râu 28
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ sống của các chủng Thuẫn râu 17
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của thời gian giâm hom đến tỷ lệ sống của các chủng Thuẫn râu 20
Bảng 3.3 Thời gian nảy chồi đầu tiên 24
Bảng 3.4 Thời gian nảy chồi ra hai lá hoàn thiện 25
Bảng 3.5 Thời gian ra hoa của các chủng Thuẫn râu 26
Bảng 3.6 Tổng số thời gian ra hoa của các chủng Thuẫn râu 28
Bảng 3.7 Thời gian quả chín của các chủng Thuẫn râu 29
Bảng 3.8 Tổng số thời gian quả chín trên cây của các chủng Thuẫn râu 31
Trang 8DANH MỤC ẢNH
Ảnh 1 Hom giâm chủng HY 14 ngày 14
Ảnh 2 Hom giâm chủng BN 30 ngày 14
Ảnh 3 Hom giâm chủng BN nảy chồi sau 30 ngày 14
Ảnh 4 Hom giâm chủng HY ra hoa sau 10 tuần 14
Ảnh 5 Mẫu Thuẫn râu thu được từ Bắc Ninh (Chủng BN) 16
Ảnh 6 Mẫu Thuẫn râu thu được từ Hải Dương (Chủng HD) 16
Ảnh 7 Mẫu Thuẫn râu thu được từ Hưng Yên (Chủng HY) 16
Ảnh 8 Thuốc điều hòa sinh trưởng, kích thích ra rễ Root Vimix-3 23
Ảnh 9 Giâm hom chủng BN 23
Ảnh 10 Giâm hom chủng HD 23
Ảnh 11 Giâm hom chủng HY 23
Ảnh 12 Đưa cây chủng BN ra trồng 32
Ảnh 13 Chủng BN ra hoa 32
Ảnh 14 Đưa cây chủng HD ra trồng 32
Ảnh 15 Chủng HD ra hoa 32
Ảnh 16 Đưa cây chủng HY ra trồng 32
Ảnh 17 Chủng HY ra hoa 32
Ảnh 18 Chủng BN trưởng thành 33
Ảnh 19 Chủng BN tàn lụi 33
Ảnh 20 Chủng HD trưởng thành 33
Ảnh 21 Chủng HD tàn lụi 33
Ảnh 22 Chủng HY kết quả 33
Ảnh 23 Chủng HY tàn lụi 33
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biều đồ 3.1 Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ sống của các chủng Thuẫn
râu sau 15 ngày 19
Biều đồ 3.2 Ảnh hưởng của thời gian giâm hom đến tỷ lệ sống của các
chủng Thuẫn râu sau 15 ngày 22
Biều đồ 3.3 Tổng số thời gian ra hoa của các chủng Thuẫn râu 28 Biều đồ 3.4 Tổng số thời gian quả chín trên cây của các chủng Thuẫn
râu 31
Trang 10MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên động, thực vật phong phú và đa dạng Theo kết quả điều tra chưa đầy đủ của Viện Dược liệu, Bộ Y tế, ghi nhận 3.948 loài thuộc 307 họ thực vật và nấm lớn có công dụng làm thuốc Trong số này, phần lớn
là các loài mọc tự nhiên (trên 85%) Từ nguồn cây thuốc thiên nhiên, hàng năm đã cung cấp 10.000-20.000 tấn các loại dược liệu khác nhau cho nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu (Nguyễn Tập, 2011) [15]
Những năm gần đây, loài Thuẫn râu (Scutellaria barbata) được một số nước
trong khu vực như Hàn Quốc, Trung Quốc,… nghiên cứu và sử dụng làm thuốc Ở Trung Quốc, Thuẫn râu được sử dụng nhiều trong y học cổ truyền với tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trị ung thư, tiêu viêm, giảm đau, Theo các công bố của một
số nước lân cận, nhân giống loài này bằng phương pháp hữu tính đạt tỷ lệ thành công khá cao Nhưng ở nước ta ngoài tự nhiên, đây là loài rất khó gặp, có khả năng tái sinh tự nhiên từ hạt kém
Ở Việt Nam, loài Thuẫn râu - Scutellaria barbata D Don (họ Bạc hà –
Lamiaceae Lindl.) hay còn gọi là Bán chi liên, Hoàng cầm râu, Thẩm râu, Nha loát thảo, Hiệp diệp, Hàn tín thảo là loài cây thuốc có khả năng chữa được nhiều bệnh như điều trị các khối u tân sinh, áp xe phổi, lao phổi xơ, viêm ruột thừa, viêm gan,
xơ gan cổ chướng, hạ sốt, lợi tiểu, trị mụn nhọt, sưng đau, viêm mủ, rắn độc cắn, với ghi nhận đặc biệt cây có thể chữa bệnh ung thư phổi, ung thư gan, ung thư trực tràng, ung thư vú ở thời kỳ đầu (theo Đỗ Huy Bích và cộng sự, 2004; Đỗ Thị Thảo, 2004; Võ Văn Chi, 2007)
Gần đây, loài Thuẫn râu đang thu hút được khá nhiều nghiên cứu bởi các nhà khoa học nước ngoài Tuy Thuẫn râu là loài cây thuốc quý nhưng ở nước ta cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về các đặc điểm sinh học, sinh thái, trữ lượng cũng như nhân giống, gây trồng loài này ở Việt Nam Các nhà khoa học nước ta đều đánh giá, việc nghiên cứu loài Thuẫn râu ở Việt Nam
Trang 11mới chỉ đi được những bước đi đầu tiên, cần nhiều nghiên cứu tiếp theo để có thể đưa loài này vào danh sách các loài nhằm mục đích phát triển nguồn dược liệu trong nước Do Thuẫn râu là loài khó gặp nên việc tìm ra vùng phân bố của loài này và lưu giữ được giống lấy từ các vùng khác nhau để so sánh và nghiên cứu là rất cần thiết Để tạo cơ sở khoa học và nguồn nguyên liệu bền vững cho việc tiến hành các nghiên cứu tiếp theo về loài Thuẫn râu, chúng tôi đề xuất đề tài “Bước đầu nhân
giống bằng hom một số chủng Thuẫn râu (Scutellaria barbata D.Don) ở Việt Nam”
Mục đích nghiên cứu
Tạo cơ sở bước đầu cho quá trình nhân giống và phát triển loài Thuẫn râu ở
Việt Nam, làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn nguyên liệu cây làm thuốc ở Việt Nam
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
diện về loài Thuẫn râu ở Việt Nam
đầu tạo cơ sở cho việc xây dựng nguồn nguyên liệu bền vững cho ngành Dược
Điểm mới của đề tài
Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam tiến hành nghiên cứu các đặc điểm về nhân giống bằng hom loài Thuẫn râu ở Việt Nam
Cấu trúc khóa luận
Gồm38 trang,23 ảnh, 1 hình vẽ, 4 biểu đồ, 8 bảng được chia thành các phần chính như sau: Mở đầu (2 trang), Chương 1 (Tổng quan tài liệu:8 trang), Chương 2 (Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 4 trang), Chương 3 (Kết quả nghiên cứu: 19 trang),Kết luận và kiến nghị: 2 trang), Tài liệu tham khảo (31 tài liệu: 3 trang)
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Trên thế giới
Hiện nay, nhiều quốc qua trên thế giới đã có những chính sách bảo tồn, khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên ở mức độ hợp lý, vừa bảo tồn vừa phát triển bền vững nguồn tài nguyên Việc thành lập các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, nhằm bảo tồn các hệ sinh thái, bảo tồn các quần thể loài và nguồn gen chứa đựng trong các hệ sinh thái Mặt khác, việc xây dựng các vườn thực vật, các trung tâm nghiên cứu nhằm nghiên cứu bảo tồn và phát triển nguồn gen các loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, các loài có triển vọng khai thác, đang được quan tâm
Ví dụ như ở Nam Ninh (Trung Quốc) có vườn thực vật, nơi trồng và bảo tồn được 2.500 loài cây thuốc; ở Bắc Kinh có vườn thực vật trồng và bảo tồn được 1.000 loài cây thuốc,… Việc bảo tồn và phát triển thành công các nguồn gen cây quý hiếm được ghi nhận ở nhiều nước trên thế giới như Thái Lan, Ấn Độ, Nhật Bản, Mỹ,…
Ở Đông Nam Á, từ những năm của thập niên 90 của thế kỷ trước, chương trình Tài nguyên thực vật Đông Nam Á (PROSEA) đã nghiên cứu phân chia tài nguyên thực vật thành trên 30 loại tài nguyên thực vật khác nhau Trong đó nổi bật là nguồn tài nguyên cây lương thực, tài nguyên cây gỗ, tài nguyên cây thuốc… Trong các công trình công bố, đã mô tả và chỉ ra hiện trạng bảo tồn, tình hình khai thác, buôn bán sản phẩm của loài ở các quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam
Thuẫn râu (Scutellaria barbata) là loài thảo dược được phân bố tự nhiên chủ
yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Châu Á gồm Ấn Độ, Nêpal, Nhật Bản, Triều Tiên, Mianma, Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Thái Lan Những năm gần đây, Thuẫn râu là loài cây thuốc đang được tiến hành nghiên cứu nhiều ở các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản,… Trong y học cổ truyền ở Trung Quốc, Thuẫn râu được biết với tên gọi là Bán Chi Liên, loài được sử dụng toàn cây khô làm thuốc
hạ sốt, lợi tiểu, điều trị khối u tân sinh, áp xe phổi, lao phổi, viêm ruột thừa, viêm gan, xơ gan cổ trướng Dùng ngoài thì cây tươi giã đắp và nấu nước rửa, trị mụn
Trang 13nhọt, sưng đau, viêm vú, viêm mủ da, rắn độc cắn, sâu bọ cắn đốt, dùng thay ích mẫu chữa bệnh phụ khoa Ở Triều Tiên Thuẫn râu được biết với tên gọi là
Banjiryum cũng được sử dụng nhiều trong y học cổ truyền với tác dụng thanh nhiệt,
giải độc, trị ung thư, tiêu viêm, giảm đau
Nghiên cứu về thành phần hoá học của loài Thuẫn râu đầu tiên phải kể đến tập thể các nhà khoa học người Đài Loan và Nhật Bản Năm 1987-1989, các nhà khoa học của Nhật Bản (Tomimori) và Đài Loan (Lin và Kuo) đã tiến hành độc lập nghiên cứu thành phần hóa học của loài Thuẫn râu thu hái ở Trung Quốc và đã phân lập được một số ditecpenoit Qua khảo sát hoạt tính sinh học của các hợp chất này, người ta thấy rằng, chúng có khả năng điều trị các khối u, viêm gan và ung thư gan
ác tính ở Trung Quốc và Đài Loan [ ghi theo 9] Từ đó, loài Thuẫn râu đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới
Năm 2004, Yin X., J Zhou, C Jie, D Xing and Y Zhang đã khẳng định dịch chiết với 30% ethanol của loài Thuẫn râu có hoạt tính chống ung thư Các tác giả đã nghiên cứu tác dụng của dịch chiết này trên tế bào ung thư phổi A549 Kết quả nghiên cứu cho thấy dịch chiết này ức chế sự phát triển của dòng tế bào trên với
IC50 là 0,21mg/ml [30]
Bên cạnh đó, còn có một số công trình nghiên cứu về loài Thuẫn râu như Yu
và cộng sự (2004) đã tìm ra hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu loài Thuẫn râu [31]; Sato và cộng sự đã tiến hành phân lập được hai hợp chất flavonoit có hoạt tính kháng khuẩn là apigenin và luteolin [ghi theo 9]
S J Dai et al (2006), trong «Phytochemistry» đã chứng minh sự có mặt của một số hợp chất ditecpenoit mới là barbatin A-C Các tác giả cũng đã chỉ ra rằng các hợp chất này thể hiện hoạt tính gây độc tế bào trên các dòng tế bào ung thư khác nhau [trích theo 22]
Bên cạnh đó, phải kể đến các nghiên cứu của Kim Dong II et al (2005), T K Lee et al (2004), W Lihui et al (2012) [25] về hoạt tính sinh học của loài Thuẫn
râu (S barbata),… Thuẫn râu đã ức chế sự phát triển các tổn thương tiền ung thư ở
tuyến vú và sự sinh u ở mô hình ung thư da chuột nhắt trắng Ngoài ra tác dụng ức
Trang 14chế của Thuẫn râu trên sự phát triển các dòng tế bào ung thư phụ khoa cũng đã được chứng minh
Đặc biệt, gần đây Công ty dược phẩm Binovo Inc đã đăng ký phát triển chế phẩm thuốc làm từ dịch chiết nước và ethanol của loài Thuẫn râu dùng điều trị bệnh ung thư Trong đó, các tác giả đã cho thấy dịch chiết của Thuẫn râu cho hoạt tính ức chế mạnh sự phát triển của tế bào ung thư vú và đáng quan tâm nhất đó là các dịch chiết này không ảnh hưởng đến các tế bào lành Đây thực sự là một phát hiện rất quan trọng và tạo ra một động lực lớn cho sự phát triển của cây Thuẫn râu nhằm tạo
ra chế phẩm trong điều trị bệnh ung thư hiện nay
Các nghiên cứu về loài Thuẫn râu thường chỉ tập trung vào thành phần hóa học
và tác dụng của loài Về nhân giống và gây trồng thì cho đến nay, có rất ít thông tin
về việc nghiên cứu nhân giống và gây trồng đối với các loài thuộc chi Thuẫn nói chung Hiện chỉ có hai loài mới được nghiên cứu gây trồng thử nghiệm đó là loài
Thuẫn baican (Scutellaria baicanlensis) được đưa vào gieo trồng tại một số khu vực thuộc các nước Đông Á và loài Thuẫn râu (Scutellaria barbata) được trồng thử
nghiệm ở Trung Quốc Các thông tin trồng thử nghiệm loài Thuẫn râu cũng không được công bố nhiều
1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam trong vài thập kỷ qua, công tác nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc rất được Nhà nước quan tâm, chỉ đạo Tuy vậy hiện nay nguồn dược liệu tự nhiên đang bị cạn kiệt, do tác động của con người và các yếu tố tự nhiên đã làm mất
đi nhiều loài cây thuốc Bên cạnh đó, số lượng cây thuốc của nước ta được đưa vào nghiên cứu về thành phần hóa học còn hạn chế Do vậy, việc phát triển nguồn dược liệu chủ động, nghiên cứu hoạt tính sinh học là hướng phát triển bền vững đang được quan tâm
Những năm gần đây, một số loài cây thuốc trước kia được cho là khá phong phú nhưng hiện đã và đang đứng trước nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng như Hoa tiên, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Hoàng tinh cách, Bình vôi,… Để đáp ứng yêu cầu về bảo vệ các loài thực vật quý, hiếm, nhiều nhà khoa học đã cho ra đời các công trình nghiên cứu như “Hướng dẫn khoanh vùng bảo vệ tái sinh và khai thác dược liệu”
Trang 15(Đỗ Huy Bích và cộng sự, 1978); “Những loài thực vật hiếm hoặc đang có nguy cơ
bị tiêu diệt ở Việt Nam” (Phan Kế Lộc và cộng sự, 1995); “Bảo tồn nguồn gen cây thuốc” (Trần Khắc Bảo, 1991); “Sách đỏ Việt Nam” (N T Bân và cộng sự 1996, 2007); «Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam» (Nguyễn Tập, 2011) [ghi theo 15],… Bên cạnh đó, nhiều đề tài, dự án nghiên cứu về bảo tồn và phát triển bền vững các loài thực vật được thực hiện và đạt được những kết quả cao Cho đến nay, nhiều loài quý, hiếm đã được quan tâm phát triển và bảo tồn có hiệu quả như Sâm ngọc linh, Hoa tiên, các loài lan Hài,… Một số loài cây thuốc được chọn lọc từ tự nhiên và phát triển thành vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất và xuất khẩu như Thanh hao hoa vàng, Bách bệnh, Trinh nữ hoàng cung,… [7]
Ở Việt Nam, Thuẫn râu - Scutellaria barbata D Don (họ Bạc hà – Lamiaceae
Lindl.) hay còn gọi là Hoàng cầm râu, Thẩm râu, Bán chi liên, Nha loát thảo, Hiệp
diệp, Hàn tín thảo, Loài này còn có tên đồng nghĩa là S rivularis Wall ex Benth 1830; S adenophylla Miq 1861; S cavaleriei Levl 1910; S komarovii Levl 1910
Trong y học cổ truyền, Thuẫn râu có tính hàn, vị hơi cay, đắng, là loài cây thuốc có khả năng chữa được nhiều bệnh như điều trị các khối u tân sinh, áp xe phổi, lao phổi xơ, viêm ruột thừa, viêm gan, xơ gan cổ chướng, hạ sốt, lợi tiểu, trị mụn nhọt, sưng đau, viêm mủ, rắn độc cắn, với ghi nhận đặc biệt cây có thể chữa bệnh ung thư phổi, ung thư gan, ung thư trực tràng, ung thư vú ở thời kỳ đầu (Đỗ Huy Bích và cộng sự, 2004; Đỗ Thị Thảo, 2004; Võ Văn Chi, 2007)
Đặc biệt Võ Văn Chi (2012) còn nêu 2 cách thường dùng là: dùng uống để trị các khối u tân sinh, áp xe phổi (lao phổi xơ), viêm ruột thừa, viêm gan, xơ gan cổ trướng; dùng ngoài trị các loại mụn nhọt, sưng đau, viêm vú, viêm mủ da, sâu quảng, rắn độc cắn, sâu bọ cắn đốt, đòn ngã tổn thương [2]
Trên cơ sở các kinh nghiệm điều trị của nền Y học cổ truyền Phương Đông, những năm gần đây cơ sở chữa bệnh từ thiện «Tuệ Tĩnh Đường – Tp Hồ Chí Minh » đã sử dụng cây Thuẫn râu và Bạch hoa xà thiệt thảo trong việc phòng chống các khối u theo một bài thuốc bí truyền do cơ sở Phật giáo Nhật Bản Kyoto tặng Đây là bài thuốc được nhiều người đánh giá rất cao về hiệu quả điều trị của nó
Trang 16Đồng Nai đã phát triển và đưa vào sử dụng một loại thực phẩm chức năng Katana
có chứa cây Thuẫn râu để hỗ trợ điều trị bệnh u xơ tử cung và tuyến tiền liệt Ngoài
ra, hiệu phòng chống khối u của cây Thuẫn râu cũng đã được các nhà khoa học tại viện Dược liệu - Bộ Y tế nghiên cứu và khẳng định [ghi theo 9]
Gần đây, trên thị trường có sản phẩm trà hòa tan «Bạch liên thảo« do Công
ty Dược liệu Trung ương II sản xuất có thành phần gồm Bạch hoa xà thiệt thảo và Thuẫn râu (trong sản phẩm gọi là Bán chi liên) và đường lactoza, dùng pha uống hàng ngày làm thuốc thanh nhiệt, mát gan, lợi tiểu [4]
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về loài Thuẫn râu
Về mặt hóa học: Đỗ Thị Thảo (2004) đã bước đầu phân lập được một
neo-clerodan ditecpenoit và hai flavonoit Trong đó, hợp chất scutebarbalactone VN đã được xác định là chất mới Năm 2005, Đỗ Thị Thảo và cộng sự đã thử hoạt tính của các hợp chất tách chiết được từ Thuẫn râu là apigenin, luteolin và 8-13-epoxy-3-en-7-hydroxy-6,11-O-dibenzoyl-15,16-clerodanolid (scutebarbalactone VN) trên 4 dòng tế bào ung thư là KB (ung thư biểu mô người), LNCap (ung thư tuyến tiền liệt), LU (ung thư phổi) và MCF7 (ung thư vú) Kết quả cho thấy các hợp chất apigenin và luteolin không có hoạt tính chống các tế bào ung thư (với IC50<10μM) trong thử nghiệm Riêng hợp chất 8-13-epoxy-3-en-7-hydroxy-6,11-O-dibenzoyl-15,16-clerodanolid có hoạt tính kháng mạnh đối với cả 4 dòng tế bào ung thư trong thử nghiệm (với IC50 từ 2,15 đến 8,3 μM), trong đó tác dụng kháng mạnh nhất trên dòng tế bào ung thư vú (với IC50 là 2,15μM), còn với dòng tế bào ung thư biểu mô người thì tương đối yếu hơn (với IC50 là 8,3 μM) [16] Tuy nhiên, cấu hình tuyệt đối của chất scutebarbalactone VN vẫn chưa được xác định
Trang 17Năm 2009, Nguyễn Văn Hùng và cộng sự công bố dịch chiết và một số hợp chất được phân lập từ Thuẫn râu thể hiện tính chống ôxy hóa khá tốt, đồng thời cũng thể hiện hoạt tính ức chế sự phát triển của một số dòng tế bào ung thư [10]
Về các bài thuốc, Võ Văn Chi (2013) trong tạp chí «Cây Thuốc quý« [3, 4] đã
nêu khá chi tiết về một số bài thuốc thường được dùng để trị bệnh trong đó có vị Hoàng cầm râu – tên gọi khác của loài Thuẫn râu hay còn gọi là Bán chi liên Bên cạnh các bài thuốc, tác giả còn đưa ra các ví dụ minh chứng về hiệu quả điều trị của
các bài thuốc này [4]
Về mặt sinh học: theo ghi nhận của Vũ Xuân Phương (2000) chi Thuẫn hay
còn gọi là chi Hoàng cầm (Scutellaria) ở nước ta có 15 loài (trong đó có loài Thuẫn râu - Scutellaria barbata), 3 trong số 15 loài có thể là loài đặc hữu của Việt Nam
Các loài thuộc chi này có đặc điểm hình thái tương đối gần nhau [14]
Theo Lã Đình Mỡi và cộng sự (2009), hầu hết các loài trong chi Thuẫn đều có tinh dầu, nhiều loài trong chi này được sử dụng làm thuốc trong y học dân tộc ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới Dịch chiết hoặc nước ép từ một số loài được dùng làm thuốc chữa đau dạ dày, lợi tiểu và trị sốt rét Một số loài được giã nhỏ hoặc sắc lấy nước đặc làm thuốc đắp ngoài chữa mụn nhọt, ghẻ lở và nấm ngoài da Trong y học dân gian ở một số địa phương trên đất nước ta, một số loài trong chi Thuẫn (Hoàng cầm) đã được dùng làm thuốc chữa cảm sốt, cầm máu, viêm dạ dày, chữa trị mụn nhọt, rắn độc cắn,… [11]
Trang 18Về đặc điểm hình thái: Loài Thuẫn râu (Scutellaria barbata) với đặc điểm
nhận biết đặc trưng bởi cỏ đứng hay bò, cao 15-30 cm Thân vuông, thường nhẵn
Lá hình trứng-mũi mác, cỡ 1,5-3 x 0,5-1,2 cm, chóp lá tù hay nhọn, gốc cụt hay hình tim, mép xẻ răng cưa thưa, 2 mặt gần như nhẵn; gân bên 3-4 đôi; cuống lá dài 3-6 mm Hoa mọc đối ở nách lá phía đỉnh cành, thường hướng về một phía Lá bắc giống lá ở thân, càng lên ngọn lá càng nhỏ dần Cuống hoa dài 1-2 mm Đài hình chuông, dài 1,5-2 mm, có lông rải rác ở phía ngoài, 2 môi; tràng màu xanh lam hay tím, dài 8-10 mm, ống tràng thẳng, thường nhẵn ở phía ngoài, 2 môi: môi trên dạng
mũ, đỉnh có khuyết; môi dưới 3 thùy, thùy giữa lớn hơn 2 thùy bên Nhị 4, hướng lên phía môi trên của tràng, thụt vào trong ống tràng; chỉ nhị có lông ở phía dưới Bầu nhẵn; vòi nhụy xẻ 2 thùy ở đỉnh Quả hình thận, dài 0,8-1 mm, màu đen, sần Loài Thuẫn râu có thời gian ra hoa vào khoảng tháng 5-7, có quả chín vào tháng 6-8(9), loài được ghi nhận có mặt ở các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Hà Nội, Hoà Bình, Hải Dương, Ninh Bình, Thanh Hoá, Quảng Trị Thường mọc ở bờ ruộng, rãnh nước, bãi hoang hay nơi ẩm thấp gần nước [7] Nhưng thực tế việc gặp loài này ngoài tự nhiên là rất khó
Về nhân giống và gây trồng: loài Thuẫn râu nói riêng và cả các loài thuộc chi Thuẫn nói chung cho đến nay, chưa có thông tin gì về việc nghiên cứu nhân giống
và gây trồng đối với các loài thuộc chi này ở Việt Nam Trong tự nhiên, các loài thuộc chi Thuẫn râu tái sinh chủ yếu bằng hạt và phát tán nhờ gió Ở nước ta, mức
độ gặp của các loài thuộc chi này không nhiều ngoài tự nhiên, như loài Thuẫn ấn độ
(S indica) mới chỉ ghi nhận có ở Lạng Sơn và Hà Nam; Thuẫn bắc bộ (S
tonkinensis) là loài đặc hữu của Việt Nam, chỉ có ở vùng núi cao của Lào Cai (Sa
Pa), Vĩnh Phúc (Tam Đảo); Thuẫn java (S javanica) có ở Vĩnh Phúc, Nghệ An; Thuẫn nam bộ (S cochinchinensis) là loài đặc hữu của Việt Nam, chỉ có ở Ninh Bình, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Ninh Thuận; Thuẫn nhiều màu (S
discolor) có ở Lâm Đồng, Thuẫn râu (S barbata) có một số tỉnh phía Bắc [6]
Theo đánh giá, các loài thuộc chi Thuẫn (Scutelleria) nói chung và Thuẫn râu (S barbata) nói riêng là các loài mang nguồn gen có triển vọng khai thác Theo Lã
Đình Mỡi và cộng sự (2009) cho rằng các loài này hầu như chưa được nghiên cứu
Trang 19gì về mặt giá trị tài nguyên, đặc biệt là đối với các loài đặc hữu như việc phân tích hóa học, giá trị sử dụng, triển vọng khai thác, gây trồng, bảo tồn, Nếu được quan tâm nghiên cứu, đây sẽ là nguồn nguyên liệu chứa các hợp chất flavonoid đầy triển vọng trong công nghiệp dược ở nước ta [11]
Tuy Thuẫn râu là loài cây thuốc quý nhưng ở nước ta cho đến nay, chưa có
công trình nào nghiên cứu về nhân giống và gây trồng loài Thuẫn râu – Scutellaria
barbata D Don ở Việt Nam Do vậy, đề tài của chúng tôi hy vọng sẽ đóng góp một
số dẫn liệu còn thiếu hoặc chưa đầy đủ về loài thực vật quý này
Trang 20CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các chủng thuộc loài Thuẫn râu (Scutellaria barbata) ở Việt Nam phân bố tại
các điểm ngoài tự nhiên
Ngoài ra, các tư liệu, tiêu bản lưu giữ về loài này tại các phòng tiêu bản trong nước cũng sẽ được nghiên cứu
2.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Các chủng thuộc loài Thuẫn râu được thu thập ở Việt Nam
+ Địa điểm gây trồng tại vườn thí nghiệm của Phòng Thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
2.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 01/2013 – tháng 4/2014
2.4 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra, thu thập các chủng thuộc loài Thuẫn râu (S barbata) tại các vùng
phân bố ở Việt Nam
- Nhân giống bằng hom các chủng thuộc loài Thuẫn râu (S barbata) ở Việt
Nam
- Bước đầu nghiên cứu sự sinh trưởng của các chủng thuộc loài Thuẫn râu (S
barbata) trong điều kiện trồng
2.5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu nhân giống bằng hom một số chủng Thuẫn râu (Scutellaria
barbata) ở Việt Nam, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
2.5.1 Phương pháp kế thừa: Kế thừa các tài liệu về loài Thuẫn râu đã được
công bố để nhằm mục tiêu tìm hiểu về đặc điểm hình thái, sinh học sinh thái của loài, nhằm mục tiêu thu thập đúng đối tượng để gây trồng
2.5.2 Phương pháp điều tra thực địa: Được thực hiện trong các chuyến đi thực
địa nhằm thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu ở trạng thái tươi, quan sát về phân bố, môi trường sống và các đặc điểm khác
Trang 21Để làm tốt phương pháp này, trước hết phải tìm hiểu các địa điểm có loài phân
bố nhằm mục đích thiết kế các tuyến điều tra có hiệu quả nhất (Phương pháp điều tra và thu thập mẫu thực vật được thực hiện theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997, 2007) Chúng tôi thực hiện điều tra tại các vùng theo các tuyến và điểm nghiên cứu Tiến hành thu thập mẫu vật Mẫu vật thu thập ở hai dạng là: dạng 1 - mẫu ép khô để nghiên cứu và lưu trữ trong các phòng tiêu bản và dạng 2 - mẫu tươi sống có thể trồng để lưu giữ nguồn gen
2.5.3 Phương pháp chuyên gia: Dựa vào khẳng định chuyên gia để nhận dạng
mẫu nghiên cứu
2.5.4 Phương pháp nhân giống bằng hom:
Sử dụng kế thừa phương pháp nhân giống bằng hom của Đỗ Văn Tuân (2012) khi tác giả tiến hành bảo tồn một số loài cây thuốc tại VQG Tam Đảo (Vĩnh Phúc) Tác giả đã sử dụng 3 nồng độ của thuốc điều hòa sinh trưởng là 500 ppm, 1.000 ppm, 1.500 ppm Theo tác giả, sử dụng thuốc điều hòa sinh trưởng Axit β-indol axetic (IAA) với nồng độ 1.000 ppm và thời gian 15 giây là thích hợp nhất cho một
số loài thân thảo hay sử dụng thương phẩm thuốc kích thích ra rễ “Root vimix-3” của Công ty hỗ trợ Phát triển kỹ thuật và chuyển giao Công nghệ (Sutraco) tại Hà Nội cũng với thành phần IAA cùng các nguyên tố vi lượng khác, nhưng pha 10 ml thuốc Root vimix-3 trong 10 lít nước, ngâm cành giâm vào trong 5 phút
Do số lượng cây mẹ quá ít làm cho nguồn hom giống bị hạn chế, bên cạnh đó
vì đây là thử nghiệm ban đầu nên chúng tôi chưa có điều kiện làm nhiều thí nghiệm
ở nhiều nồng độ khác nhau của chất điều hòa sinh trưởng Do vậy, các thí nghiệm được tiến hành trong điều kiện sử dụng kết quả trên của tác giả Đỗ Văn Tuân (2012) với thuốc kích thích ra rễ là Root vimix-3
2.5.4.1 Chuẩn bị hom giâm: Cách thức chuẩn bị hom giâm và phương pháp
nhân giống bằng hom được tiến hành theo Hoàng Đức Phương, 2004 và Đỗ Văn Tuân, 2012 [21]
Chọn những cành giâm trên cây mẹ khỏe mạnh, không sâu bệnh, thường là những cành bánh tẻ, không mang hoa hay quả
Trang 22Cắt hom có chiều dài từ 7-10 cm, thường có khoảng 2-4 cặp mắt lá (2-4 cặp mầm ngủ), vết cắt ở phía ngọn cách mầm ngủ khoảng 1-1,5 cm Có thể ngắt bớt các
lá hay cắt bỏ khoảng 1/3 lá để tránh sự thoát hơi nước nhiều Trong trường hợp cành giâm chưa kịp cắt thành đoạn ngắn thì phải ngâm vào nước và tưới ẩm lên lá Vết cắt phải sắc, nhọn, cắt vát, tránh giập nát
Sau khi cắt hom giâm, ngâm vào dung dịch Benlat 0,1% trong 15 phút để diệt nấm Xử lý với thuốc kích thích ra rễ Root vimix-3 với thời gian 5 phút
Do quá trình thu mẫu ngoài tự nhiên được khá ít nên tất cả các thí nghiệm đều lấy mẫu tối thiếu (nghĩa là 30 đối với mỗi công thức thí nghiệm)
Khi giâm cây trên luống thì hom giâm phải đặt hơi xiên, ấn chặt đất ở gốc cho khỏi đổ ngã Sau đó theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng
2.5.5 Phương pháp xử lý số liệu: Được tiến hành trong phòng thí nghiệm, bao
gồm việc xử lý, phân tích và tổng hợp các số liệu thu được
Trang 23Ảnh 1 Hom giâm chủng HY 14 ngày Ảnh 2 Hom giâm chủng BN 30 ngày
Ảnh 3 Hom giâm chủng BN nảy chồi
sau 30 ngày
Ảnh 4 Hom giâm chủng HY ra hoa sau 10
tuần