1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức lãnh thổ kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở Vĩnh Phúc

27 552 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ chức lãnh thổ kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả Ngô Thuý Quỳnh
Người hướng dẫn PGS,TS. Nguyễn Minh Tuệ
Trường học Trường Đại học Sư phạm - Hà Nội
Chuyên ngành Địa lý học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 280,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức lãnh thổ kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở Vĩnh Phúc

Trang 1

Bộ giáo dục vμ đμo tạo Bộ kế hoạch vμ đầu t−

Viện chiến l−ợc phát triển

Tóm tắt Luận án tiến sĩ địa lý

Hà Nội - 2009

Trang 2

Vµo håi giê ngµy th¸ng n¨m 2009

Cã thÓ t×m luËn ¸n t¹i:

- Th− ViÖn Quèc gia - Hµ Néi

- Th− ViÖn ViÖn ChiÕn l−îc Ph¸t triÓn

Trang 3

Danh mục các công trình của tác giả đ∙ công bố

1 - Ngô Thuý Quỳnh (2004), Vĩnh Phúc: Đột phá công nghiệp - giải

pháp quyết định chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Tạp chí Hoạt động Khoa học

số 4 (539), Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội, trang 40

2 - Ngô Thuý Quỳnh (2004), Xây dựng cơ cấu kinh tế tiến bộ - Một

trong những biện pháp hàng đầu để Vĩnh Phúc phát triển, Tạp chí Kinh tế

và Phát triển số 82, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hà Nội, trang 54

3 - Ngô Thúy Quỳnh (2006), Các hành lang kinh tế ở vùng đồng

bằng sông Hồng, Tạp chí khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Số

5, 2006, trang 110

4 - Ngô Thuý Quỳnh (2007), Bài học về tổ chức lãnh thổ kinh tế ở

tỉnh Vĩnh Phúc, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 5 (409), Bộ Kế hoạch và

Đầu tư, Hà Nội, trang 51

5 - Ngô Thuý Quỳnh (2007), Tiềm năng và phương hướng tổ chức

lãnh thổ du lịch ở Vĩnh Phúc, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 12 (416), Bộ

Kế hoạch và Đầu tư, Hà Nội, trang 48

6 - Ngô Thuý Quỳnh (2008), Một số ý kiến về định hướng tổ chức

lãnh thổ khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, Tạp chí Kinh tế và

Dự báo, Số 6 (422), Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hà Nội, trang 38

Trang 4

mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế ở Việt Nam đang

“bùng nổ” Các tỉnh gặp nhiều vướng mắc khi nghiên cứu vấn đề tổ chức lãnh thổ kinh tế Trong các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh, nội dung tổ chức lãnh thổ kinh tế mới được các địa phương đề cập một cách chung chung, chưa đủ đáp ứng các yêu cầu của việc hoạch định chính sách phát triển theo lãnh thổ

Vĩnh Phúc là tỉnh đang thu hút đầu tư từ bên ngoài rất mạnh, sự phát triển của công nghiệp, dịch vụ và đô thị diễn ra nhanh và nền kinh tế phát triển với tốc độ cao (trên 15%/năm) đang đặt ra nhiều vấn đề về tổ chức lãnh thổ kinh tế,

là một trong những “địa bàn lý tưởng” để nghiên cứu vấn đề tổ chức lãnh thổ kinh tế

Với những lý do chủ yếu nêu trên Tác giả chọn vấn đề “Tổ chức lãnh thổ

kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài luận án

+ Nhiệm vụ chủ yếu của luận án

Để đạt được mục tiêu đã đề ra, luận án đó thực hiện những nhiệm vụ cơ bản dưới đây:

- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về tổ chức lãnh thổ kinh

tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, rồi từ đó vận dụng vào việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế trên địa bàn của một tỉnh cụ thể (tỉnh Vĩnh Phúc) ở nước ta

- Đánh giá thực trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh Vĩnh Phúc, tạo cơ sở cho việc lựa chọn các hình thức và phương án tổ chức lãnh thổ kinh tế hợp lý,

đem lại hiệu quả cao trong quá trình thịnh vượng kinh tế của tỉnh này

- Đề xuất định hướng tổ chức lãnh thổ kinh tế bền vững và kiến nghị những giải pháp chủ yếu để bảo đảm hiệu quả tổ chức lãnh thổ kinh tế ở tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

+ Về phạm vi nghiên cứu: Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu của luận án là

tỉnh Vĩnh Phúc (xem xét cả Vĩnh Phúc mới và cũ) Trong quá trình nghiên cứu tác giả có xem xét mối quan hệ giữa tỉnh Vĩnh Phúc với các tỉnh xung quanh và

Trang 5

2

-đặt Vĩnh Phúc trong mối quan hệ hữu cơ với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước; đồng thời có xem xét ảnh hưởng trực tiếp của các hành lang kinh tế Trung Quốc - Việt Nam

+ Về đối tượng nghiên cứu: Luận án chủ yếu nghiên cứu các hình thức tổ

chức lãnh thổ kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở tỉnh Vĩnh Phúc trong mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực xã hội, môi trường cũng như trong mối quan hệ với các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế của các tỉnh khác

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

+ Quan điểm: Tác giả đã lấy các quan điểm hệ thống, hiệu quả, khả thi,

có tầm nhìn dài hạn và trong trạng thái động để chỉ đạo đối với việc nghiên cứu luận án của mình

+ Phương pháp nghiên cứu: Tác giả đã lựa chọn và sử dụng tổng hợp các

phương pháp trên nguyên tắc đảm bảo yêu cầu tổng hợp, phù hợp, khả thi và hiện đại Các phương pháp tiêu biểu là duy vật biện chứng, phân tích hệ thống, cho điểm, khảo sát thực địa, địa lý và tổ chức lãnh thổ, bản đồ và thông tin địa

lý, dự báo, sử dụng chuyên gia

5 Những đóng góp mới và chủ yếu của luận án

- Kế thừa những tư tưởng, những thành tựu của các học giả tiêu biểu trong

và ngoài nước về nghiên cứu tổ chức không gian của Phương Tây và tổ chức lãnh thổ của Việt Nam tác giả Luận án đã làm sáng tỏ thêm khung lý luận và thực tiễn về TCLTKT trong điều kiện nước ta và vận dụng chúng vào việc nghiên cứu TCLTKT trên địa bàn một tỉnh ở nước ta mà trường hợp cụ thể là tỉnh Vĩnh Phúc: nổi bật là Tác giả đã đưa ra khái niệm về tổ chức lãnh thổ kinh

tế, những yếu tố ảnh hưởng, các nguyên tắc hình thành và bộ chỉ tiêu phân tích,

đánh giá kết quả, hiệu quả của tổ chức lãnh thổ kinh tế trong điều kiện Việt Nam

- Luận án là công trình đầu tiên phân tích thực trạng TCLTKT, làm rõ những mặt được và những mặt chưa được của việc TCLTKT trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, rút ra những bài học kinh nghiệm để làm căn cứ cho việc TCLTKT ở tỉnh này có hiệu quả hơn và theo hướng phát triển bền vững

- Đề xuất những định hướng phát triển chủ yếu đối với TCLTKT ở tỉnh Vĩnh Phúc (trong đó nêu cụ thể cho từng hình thức Khu công nghiệp, Khu du lịch, Khu nông nghiệp công nghệ cao và Chuỗi đô thị ) và kiến nghị ba nhóm biện pháp cơ bản nhằm cải thiện TCLTKT trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng phát triển bền vững và đạt hiệu quả cao

6 Cấu trúc của luận án

Tác giả đã tham khảo 96 tài liệu tiếng Việt và tiếng nước ngoài

Luận án chính gồm 176 trang thuyết minh, 4 trang bản đồ, 6 trang ảnh, 36 bảng biểu số liệu Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của Luận án được chia thành ba chương:

Trang 6

- Chương I: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ kinh tế

chương I Những vấn đề lý luận vμ thực tiễn

về tổ chức l∙nh thổ kinh tế 1.1 Những vấn đề chung, cơ bản về tổ chức lãnh thổ kinh tế theo hướng phát triển bền vững

1.1.1 Khái niệm, bản chất của tổ chức l∙nh thổ kinh tế theo hướng phát triển bền vững

a Tổ chức l∙nh thổ

+ Quan niệm chung về tổ chức lãnh thổ

Lĩnh vực tổ chức lãnh thổ ở các nước trên thế giới đã đạt được thành tựu cả trong lý luận và thực tiễn; nhiều lý thuyết và quan điểm đã xuất hiện và được ứng dụng khá thành công Nổi bật là lý thuyết trung tâm của W Christaller, lý thuyết cực của F Perroux, lý thuyết vành đai sản xuất nông nghiệp của V Thunen, lý thuyết định vị của Webber, lý thuyết phát triển phi cân đối (phát triển các đặc khu kinh tế) của các nhà khoa học Trung Quốc…

Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia và Đài Loan rất coi trọng việc nghiên cứu vận dụng các thành tựu lý luận về TCLTKT và họ đã đạt được nhiều kết quả trong lĩnh vực TCLTKT ở Trung Quốc đã hình thành và phát triển hơn 30 khu công nghiệp, 7 khu công nghệ cao, 8 khu kinh tế đặc biệt; ở Thái Lan đã phát triển 4 khu du lịch, 12 khu công nghiệp; ở Indonesia đã hình thành và phát triển

21 khu công nghiệp, 4 khu du lịch Ngoài các nước nói trên, ở Đài Loan họ cũng phát triển hơn 100 khu công nghiệp… Đây là những minh chứng xác đáng đối với việc phát triển các hình thức TCLTKT

Các chuyên gia của Liên Xô cũ sử dụng thụât ngữ phân bố lực lượng sản xuất và họ cho rằng, đó là sự sắp xếp, bố trí và phối hợp các đối tượng hay thực thể vật chất cụ thể (các hệ thống sản xuất, hệ thống tự nhiên và hệ thống dân cư [76] trên một vùng lãnh thổ cụ thể (hay xác định) Các nhà khoa học Phương Tây sử dụng thuật ngữ tổ chức không gian [91], coi nó là việc lựa chọn các

Trang 7

Nhiều học giả của Việt Nam sử dụng khái niệm “Tổ chức lãnh thổ”, họ cho

đó là tổ chức các hoạt động kinh tế, xã hội, môi trường chỉ trên mặt đất ở một lãnh thổ xác định Tác giả đồng tình với quan điểm này và cho rằng, muốn làm

rõ quan niệm về tổ chức lãnh thổ cần làm sáng tỏ một số điểm quan trọng sau

đây:

+ Tổ chức: Con người “sắp xếp” các đối tượng (các xí nghiệp, công trình;

các ngành, lĩnh vực; các điểm dân cư và kết cấu hạ tầng ) tại một lãnh thổ cụ thể trên cơ sở có căn cứ khoa học

+ Ở lãnh thổ xác định: Các hoạt động kinh tế, xã hội, môi trường diễn ra trên một lãnh thổ xác định, chúng phải được tổ chức theo yêu cầu của phát triển bền vững và phù hợp với sức chứa của lãnh thổ ấy

+ Chủ thể của việc tổ chức lãnh thổ cũng là chủ thể quản lý phát triển lãnh thổ Đó là những cơ quan Nhà nước hữu trách được quy định trong Hiến pháp và luật pháp hiện hành của quốc gia Cá nhân và tổ chức không phải cơ quan nhà nước ảnh hưởng lớn tới TCLTKT

Tóm lại, theo tác giả, tổ chức lãnh thổ có hai loại hình cơ bản là TCLTKT

và tổ chức lãnh thổ xã hội [73] Yếu tố môi trường đã được hàm chứa trong cả

tổ chức lãnh thổ kinh tế và trong tổ chức lãnh thổ xã hội

+ Đặc tính của Tổ chức lãnh thổ

Tổ chức lãnh thổ có 3 đặc tính cơ bản: Tính kết cấu hệ thống, tính lãnh thổ và tính xã hội trong trạng thái động

b- Hai loại hình quan trọng của tổ chức lãnh thổ

- Tổ chức l∙nh thổ kinh tế: Tổ chức lãnh thổ kinh tế là việc tổ chức các

hoạt động kinh tế ở lãnh thổ xác định Chủ thể của các hoạt động kinh tế là con người, các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân Đối tượng của các hoạt động kinh tế là sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm xã hội [71] Xét về thực chất và

Trang 8

vấn đề có tính cơ bản là xác định được các hình thức TCLTKT trên địa bàn nghiên cứu và tổ chức chúng thành hệ thống một cách có căn cứ khoa học với tầm nhìn dài hạn

- Tổ chức l∙nh thổ x∙ hội: Tổ chức lãnh thổ xã hội chính là việc tổ chức

các hoạt động xã hội ở lãnh thổ xác định một cách khoa học Các điểm dân cư

và các hoạt động kinh tế, xã hội của người dân luôn luôn là đối tượng chủ yếu của việc tổ chức xã hội theo lãnh thổ [73]

c- Tổ chức lãnh thổ kinh tế theo hướng phát triển bền vững

Tác giả cho rằng, bền vững là yêu cầu cao nhất và bắt buộc đối với mọi hoạt động vì sự phát triển Bền vững của sự phát triển phải bao gồm bền vững về

ba mặt: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường sinh thái Không thể thiếu một trong ba mặt này Ba mặt bền vững này liên quan mật thiết với nhau tạo nên sự bền vững chung của sự phát triển

1.1.2 Nguyên tắc chủ yếu của tổ chức l∙nh thổ kinh tế theo hướng phát triển bền vững

Tổ chức lãnh thổ kinh tế phải tuân thủ các nguyên tắc chủ yếu: phải có tính linh hoạt, phải thoả mãn yêu cầu về khả năng tài nguyên và nhu cầu thị trường, đảm bảo lợi ích của cộng đồng; phải đảm bảo hài hoà, tương tác, hỗ trợ cùng phát triển; phải đảm bảo phù hợp với trình độ quản lý và trình độ khoa học công nghệ cũng như phải nhận được sự hưởng ứng của nhân dân Tổ chức lãnh thổ kinh tế phải tính tới các yếu tố toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

1.1.3 Những điều kiện để phát triển các hình thức tổ chức l∙nh thổ kinh tế

Những điều kiện chủ yếu để hình thành và phát triển các hình thức TCLTKT là: khả năng về vận tải và mức chi phí đầu vào; đáp ứng về lao động;

đáp ứng về nước; quan tâm của các nhà đầu tư; thoả mãn về đất xây dựng; khả năng tiêu thụ sản phẩm; hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường Phải xem xét các điều kiện phát triển các hình thức TCLTKT trong trạng động và có tính tới

đầy đủ sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ

1.1.4 Nội dung của Tổ chức l∙nh thổ kinh tế

Tác giả xin nhấn mạnh những nội dung nghiên cứu chủ yếu đối với tổ chức lãnh thổ kinh tế: Phân tích và đánh giá các điều kiện và yếu tố ảnh hưởng

đến tổ chức lãnh thổ kinh tế; Phân tích hiện trạng phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế; Lựa chọn các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế và luận chứng các phương án tổ chức cũng như phối hợp các hình thức TCLTKT và xác

định giải pháp đảm bảo các hình thức TCLTKT phát triển bền vững, đem lại hiệu quả cao

1.2 Chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả của tổ chức lãnh thổ kinh tế

Đây là vấn đề rất quan trọng nhưng cho đến nay chưa có được những nghiên cứu đủ mức Để đánh giá kết quả và hiệu quả của việc phát triển các hình thức TCLTKT, kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đây [26], [31] và

Trang 9

6

-trải nghiệm thực tiễn nghiên cứu các hình thức TCLTKT ở Vĩnh Phúc, tác giả xin đề xuất những chỉ tiêu chủ yếu sử dụng để phân tích, đánh giá kết quả và hiệu quả phát triển các hình thức TCLTKT như sau:

1.2.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh trực tiếp

+ Tiết kiệm chi phí đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng (KCHT) do phát triển các hình thức TCLTKT

đ = Đp - Đt Chú giải: - đ: Tổng tiết kiệm đầu tư xây dựng KCHT

- Đp: Tổng đầu tư KCHT trong trường hợp phân bố phân tán

- Đt: Tổng đầu tư KCHT trong trường hợp phân bố tập trung

+ Tỷ lệ tiết kiệm vốn đầu tư do phát triển các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế (TTK)

đ

TTK = x 100 (%) Đp

Chú giải: - TTK: Tỷ lệ tiết kiệm (%)

- đ: Tổng tiết kiệm đầu tư xây dựng KCHT trong trường hợp phân

bố tập trung

- Đp: Tổng đầu tư KCHT trong trường hợp phân bố phân tán

+ Tỷ lệ tăng thêm của năng suất lao động của các hình thức TCLTKT so với trường hợp phân bố phân tán (TNS)

Nt - Np

TNS = x 100 (%)

Np

Chú giải: - Nt: Năng suất lao động của các hình thức TCLTKT

- Np: Năng suất lao động của trường hợp phân bố phân tán

+ Tổng doanh thu hay GDP do các hình thức TCLTKT tạo ra

Chỉ tiêu này thu được nhờ phương pháp thống kê Trên cơ sở doanh thu và chi phí trung gian của các doanh nghiệp người ta tính được giá trị GDP của các doanh nghiệp cũng như của cả hình thức TCLTKT

+ Tổng việc làm do các hình thức TCLTKT tạo ra Đối với chỉ tiêu này vấn đề quan trọng cần chú ý xem xét là số lao động tại chỗ (hoặc của

điạ phương) được thu hút vào làm việc trong các hình thức TCLTKT

+ Tổng giá trị xuất khẩu do các hình thức TCLTKT tạo ra

+ Tổng mức đóng góp vào thu ngân sách của tỉnh

1.2.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh gián tiếp

a - Nhóm chỉ tiêu phản ánh gián tiếp thông qua các biểu hiện vai trò của các hình thức TCLTKT đối với nền kinh tế

Trang 10

+ Tỷ lệ đóng góp vào tổng GDP của tỉnh (Tg)

GDPTCLT

Tg = x 100 (%) GDP toàn tỉnh

Chú giải: - GDPTCLT: GDP do các hình thức TCLT tạo ra

- GDPtoàn tỉnh: Tổng GDP của tỉnh

Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất nói lên vai trò của các hình thức TCLTKT

đối với nền kinh tế tỉnh Tỷ lệ này càng cao càng chứng tỏ vai trò lớn của các hình thức TCLTKT đối với phát triển kinh tế của tỉnh

+ Tỷ lệ đóng góp vào giá trị xuất khẩu của tỉnh (Tx)

XKTCLT

Tx = x 100 (%)

XKtoàn tỉnh

Chú giải: - XKTCLT: Giá trị xuất khẩu do các hình thức TCLT tạo ra

- XKtoàn tỉnh: Tổng giá trị xuất khẩu của tỉnh

Tỷ lệ càng cao càng có điều kiện để nền kinh tế có độ mở lớn, có mức mở cửa lớn để hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần để địa phương có khả năng ngoại

tệ đáp ứng yêu cầu nhập khẩu công nghệ hiện đại

+ Tỷ lệ đóng góp vào số việc làm trong các ngành kinh tế quốc dân (T L )

LTCLT

TL = x 100 (%)

Ltoàn tỉnh

Chú giải: - LTCLT: Lao động làm việc trong các hình thức tổ chức lãnh thổ

- Ltoàn tỉnh: Tổng lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân của tỉnh

Tỷ lệ này càng cao càng tốt, góp phần ổn định xã hội và tạo ra sự ổn định cần thiết cho quá trình phát triển Căn cứ vào những thông số nêu trên người ta còn có thể xác định được tỷ lệ của các hình thức TCLTKT chiếm trong tổng số việc làm mới được tạo ra của toàn tỉnh

+ Tỷ lệ đóng góp ngân sách của các hình thức tổ chức lãnh thổ (T NS )

NSTCLT

TNS = x 100 (%)

NStoàn tỉnh

Chú giải: - NSTCLT: ngân sách do các hình thức TCLT tạo ra

- NStoàn tỉnh: Tổng thu ngân sách của tỉnh

Tỷ lệ này càng cao càng chứng tỏ các hình thức TCLTKT có vai trò lớn

đối với quá trình phát triển chung, mà trước hết là góp phần quan trọng vào việc cân đối ngân sách cho tỉnh

Trang 11

8

-+ Hệ số tập trung hoá đối với các hình thức TCLTKT của tỉnh (H t )

Hệ số này có thể tính theo các đặc trưng giá trị gia tăng, lao động và thậm

chí cả diện tích Dưới đây là một hệ số tập trung hoá tính theo GDP

GDPTCLT của tỉnh : GDP toàn tỉnh

H t = x 100 (%) GDPTCLT của cả nước : GDP cả nước

Chú giải: - (GDPTCLT của tỉnh : GDP toàn tỉnh): Tỷ trọng các hình thức TCLTKT trong nền kinh tế của tỉnh

- (GDPTCLTcả nước : GDP cả nước ): Tỷ trọng các hình thức TCLTKT trong nền kinh của cả nước

Khi Ht lớn hơn 1 thì mức tập trung hoá của đối tượng nghiên cứu cao, khi nhỏ hơn 1 thì mức tập trung hoá của đối tượng nghiên cứu thấp Nếu Ht bằng 1 thì mức độ tập trung hoá của đối tượng nghiên cứu ngang mức trung bình của cả nước.

b - Nhóm chỉ tiêu phản ánh gián tiếp thông qua các biểu hiện chủ yếu của nền kinh tế

+ Tăng trưởng kinh tế của tỉnh ổn định và đạt được ở mức cao: nền kinh

tế của tỉnh phải tăng trưởng với mức cao và ổn định

+ Xã hội được phát triển tiến bộ: các lĩnh vực xã hội được cải thiện theo

hướng tiến bộ; số người thất nghiệp, tỷ lệ người nghèo, các tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông, tai nạn nghề nghiệp giảm nhanh, văn minh công nghiệp hình thành

và trở thành bản chất của xã hội công bằng, bình đẳng, dân chủ

+ Môi trường sinh thái trên địa bàn tỉnh được kiểm soát và giữ vững Ô

nhiễm môi trường được khắc phục Mọi hoạt động sống và sản xuất đều thân thiện với môi trường

Trong bộ chỉ tiêu sử dụng để phân tích, đánh giá kết quả, hiệu quả mà chúng tôi trình bày ở trên thì năng suất lao động của các hình thức TCLTKT và

đóng góp của các hình thứuc TCLTKT vào tăng năng suất lao động xã hội của toàn bộ nền kinh tế là chỉ tiêu tổng hợp nhất và quan trọng hơn cả

1.3 Các hình thức chủ yếu của TCLTKT và thực tế vận dụng vào

điều kiện Việt Nam

1.3.1 Hình thức thứ nhất: Hành lang kinh tế

Hành lang kinh tế là một hiện tượng kinh tế [6, tr.11], [78, tr.442] hình thành dựa trên một tuyến trục giao thông huyết mạch và sự tập trung các cơ sở công nghiệp và dịch vụ gắn với các đô thị dọc hai bên tuyến trục đó Các nước Lào và Thái Lan cùng với Việt Nam đề xuất phát triển các hành lang kinh tế

Đông - Tây theo tuyến đường số 9 từ Lào và Thái Lan qua Việt Nam Trên lãnh

Trang 12

thổ Việt Nam đã hình thành một số tuyến hành lang kinh tế rất có ý nghĩa, như

3 tuyến hành lang kinh tế: Hà Nội - Hải Phòng; TP Hồ Chí Minh - Biên Hoà - Vũng Tàu; và Huế - Đà Nẵng - Dung Quất Hai nước Việt Nam và Trung Quốc

đã thoả thuận phát triển hai hành lanh kinh tế (Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng)

1.3.2 Hình thức thứ hai: Khu kinh tế

Khu kinh tế là một lãnh thổ xác định được hưởng ưu đãi đặc biệt để phát triển kinh tế tổng hợp, thu hút vốn đầu tư nước ngoài Nhiều nước trên thế giới phát triển thành công loại hình khu kinh tế, tiểu biểu là Trung Quốc và Liên Bang Nga [4] ở Việt Nam, nhiều tỉnh đã phát triển khu kinh tế ven biển và khu kinh tế cửa khẩu [95] Đến tháng 6 năm 2008 trên lãnh thổ Việt Nam đã hình thành 14 khu kinh tế ven biển (Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến năm 2020

nước ta có 15 khu kinh tế ven biển và 5 khu kinh tế cửa khẩu cấp quốc tế)

1.3.3 Hình thức thứ ba: L∙nh thổ tập trung công nghiệp

+ Khu công nghiệp tập trung

Khu công nghiệp tập trung là khu (lãnh thổ) tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới xác định, không có dân cư sinh sống Đến tháng hết năm

2007 Việt Nam đã hình thành hơn 183 khu công nghiệp tập trung phân bố trên

địa bàn 54 tỉnh Khu công nghệ cao là trường hợp đặc biệt của khu công nghiệp tập trung [30] Hiện nay Việt Nam đang triển khai xây dựng hai khu công nghệ cao: Linh Trung (TP Hồ Chí Minh) và Hoà Lạc (Hà Tây)

+ Cụm công nghiệp: Một lãnh thổ có ranh giới xác định bởi văn bản pháp

lý, với quy mô nhỏ hơn của khu công nghiệp và được bố trí tập trung một số cơ

sở công nghiệp thuần túy (tức là chỉ có cơ sở công nghiệp); chúng là những vệ tinh của khu công nghiệp Cụm công nghiệp thường gắn với lãnh thổ cấp huyện hoặc liên huyện, hạt nhân thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở cấp huyện của Việt Nam

+ Điểm công nghiệp: Một lãnh thổ không lớn, có ranh giới ước lệ và cũng

được xác định bởi một văn bản pháp lý, có quy mô nhỏ hơn cụm công nghiệp,

được bố trí tập trung một số ít cơ sở công nghiệp; chúng thường là vệ tinh của các cụm công nghiệp Điểm công nghiệp thường gắn với địa bàn xã hoặc liên xã, hạt nhân để phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

ở cấp xã của Việt Nam

1.3.4 Hình thức thứ tư: Khu du lịch

Khi nói đến hình thức TCLT du lịch chúng tôi cho rằng phải nói tới khu

du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch Khái niệm cụm du lịch như lâu nay người ta nói tới chỉ là vấn đề mang tính ước lệ, trong thực tế khi nghiên cứu về phát triển

Trang 13

1.3.5 Hình thức thứ năm: L∙nh thổ tập trung nông nghiệp

Trên lãnh thổ Việt Nam hiện đang có hai hình thức tương đối phổ biến đối với tổ chức lãnh thổ nông nghiệp [71, tr.20] Đó là, khu nông nghiệp công nghệ cao và vùng chuyên môn hoá cây công nghiệp gắn với công nghiệp chế biến mà Tác giả tạm gọi đó là Tổ hợp nông - công nghiệp

Hiện nay, ở một số địa phương như các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Hồ Chí Minh, tỉnh Lâm Đồng đã hình thành và phát triển khu nông nghiệp công nghệ cao với quy mô diện tích trung bình khoảng 600 ha một khu Hình thức Tổ hợp nông - công nghiệp (vùng trồng cây nông nghiệp chuyên môn hoá gắn với nhà máy chế biến) hoặc lâm - công nghiệp (vùng rừng nguyên liệu gắn với nhà máy chế biến) đang và sẽ phát triển mạnh ở Việt Nam

Chương I đã làm rõ được những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về sự tồn tại, phát triển của các hình thức TCLTKT để vận dụng vào việc nghiên cứu chính các hình thức ấy ở địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Đồng thời, Tác giả rút ra những nhận định có tính kết luận chủ yếu như sau:

+ Việc hình thành và phát triển của các hình thức TCLTKT trên lãnh thổ tỉnh ở nước ta có cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc Các hình thức TCLTKT

là phạm trù tất yếu khách quan, chúng tồn tại và phát triển theo quy luật riêng

mà yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường có tác động chi phối rất lớn

+ Điều kiện hình thành và phát triển các hình thức TCLTKT không chỉ có các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội mà còn có cả yếu tố chính trị cũng như yếu

Ngày đăng: 11/04/2013, 20:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Tổng hợp một số chỉ tiêu đạt đ−ợc của các - Tổ chức lãnh thổ kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở Vĩnh Phúc
Bảng 2.3 Tổng hợp một số chỉ tiêu đạt đ−ợc của các (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w