Do tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp, thực tiễn áp dụng quy định đối với tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước còn gặp nhiều bất cập nên
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THẢO
Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà n-ớc trong luật hình sự Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THẢO
Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà n-ớc trong luật hình sự Việt Nam
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS TRỊNH QUỐC TOẢN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thảo
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY THIỆT HẠI NGHIÊM TRỌNG ĐẾN TÀI SẢN CỦA NHÀ NƯỚC 8
1.1 Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước trong luật hình sự Việt Nam 8
1.1.1 Khái niệm về sở hữu nhà nước, tài sản của Nhà nước 8
1.1.2 Khái niệm về tội Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước 12
1.1.3 Ý nghĩa của việc quy định tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước trong luật hình sự Việt Nam 15
1.2 Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước 15
1.2.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành bộ luật hình sự năm 1985 15
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1985 đến trước khi ban hành bộ luật hình sự năm 1999 18
1.2.3 Giai đoạn từ khi ban hành bộ luật hình sự năm 1999 đến nay 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22
Chương 2: CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ, ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ ĐỐI VỚI TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY THIỆT HẠI NGHIÊM TRỌNG ĐẾN TÀI SẢN CỦA NHÀ NƯỚC THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 23
Trang 52.1 Các dấu hiệu pháp lý của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước 23
2.1.1 Khách thể của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước 24
2.1.2 Mặt khách quan của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước 27
2.1.3 Chủ thể của tội phạm thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước 31
2.1.4 Mặt chủ quan của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước 34
2.2 Đường lối xử lý đối với người thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước theo bộ luật hình sự năm 1999 40
2.2.1 Phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng 41
2.2.2 Phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng 43
2.2.3 Phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng 44
2.2.4 Hình phạt bổ sung 44
2.3 Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước với một số tội phạm theo quy định của bộ luật hình sự năm 1999 45
2.3.1 Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước với tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145 BLHS) 45
2.3.2 Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước với tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165 BLHS) 47
2.3.3 Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144 BLHS) với tội Tham ô tài sản (Điều 278 BLHS) 50
2.3.4 Phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước với tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 285 BLHS) 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 62
Trang 6Chương 3: THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐẤU TRANH
PHÒNG CHỐNG TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY THIỆT
HẠI NGHIÊM TRỌNG ĐẾN TÀI SẢN CỦA NHÀ NƯỚC 64 3.1 Thực trạng xét xử tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm
trọng đến tài sản của Nhà nước 64
3.1.1 Tình hình xét xử tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến
tài sản của Nhà nước 64 3.1.2 So sánh thực trạng xét xử tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm
trọng đến tài sản của Nhà nước với tội phạm chung, tội phạm xâm
phạm sở hữu và nhóm tội xâm phạm sở hữu không có mục đích tư lợi 67 3.1.3 Những tồn tại, hạn chế qua thực tiễn xử lý tội thiếu trách nhiệm gây
thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước 70 3.1.4 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong xét xử tội thiếu trách
nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước 75
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp
dụng pháp luật, hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội
thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của
Nhà nước 83
3.2.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác
đấu tranh phòng chống tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm
trọng đến tài sản của Nhà nước 83 3.2.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự đối với tội thiếu trách nhiệm
gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước 85 3.2.3 Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và trình độ
chuyên môn của cán bộ thực hiện công tác điều tra, truy tố, xét xử tội
thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước 86 3.2.4 Đẩy mạnh công tác giám sát, quản lý tài sản công, chống lãng phí, thiệt
hại đến tài sản của Nhà nước và nâng cao trình độ của cán bộ quản lý 88
KẾT LUẬN 90 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật dân sự BLHS: Bộ luật hình sự LHS: Luật hình sự PLHS: Pháp luật hình sự
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Thống kê số liệu thụ lý sơ thẩm hình sự tội thiếu
trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
Bảng 3.2: Thống kê số liệu xét xử sơ thẩm hình sự tội thiếu
trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
Bảng 3.3: Tỷ lệ xét xử tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến
tài sản của Nhà nước so với tỷ lệ xét xử của tội phạm chung và các tội xâm phạm sở hữu 68 Bảng 3.4: Các tội xâm phạm sở hữu không có mục đích tư lợi 69
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Qua thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự những năm gần đây cho thấy tình hình tội phạm của nhóm tội xâm phạm sở hữu có nhiều diễn biến phức tạp, gây ra nhiều hậu quả và tác hại lớn cho xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của cá nhân của như của Nhà nước Loại tội phạm này không chỉ tăng nhanh về số lượng mà còn tăng nhanh cả về đối tượng phạm tội Tình trạng đó đã và đang gây ra không ít những khó khăn, thách thức đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án cũng nhưng trong công tác phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, đảm bảo phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
để góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo
vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
Nhìn chung, các cơ quan tố tụng trong quá trình áp dụng quy định của các điều luật thuộc Chương XIV - Các tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật hình
sự (BLHS) năm 1999 đều thuận lợi nên kết quả điều tra, truy tố, xét xử đối với loại tội phạm trong thời gian qua từng bước được nâng cao, số lượng các
vụ án xâm phạm sở hữu được đưa ra xét xử tương đối lớn so với tội phạm nói chung Riêng đối với tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước được quy định tại Chương XIV BLHS năm 1999, trong giai đoạn từ 2010 đến 2014 Tòa án cấp sơ thẩm trong cả nước thụ lý giải quyết 19
vụ với 31 bị cáo, chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong tổng số án cũng như bị cáo của nhóm tội xâm phạm sở hữu cần phải giải quyết Mặc dù số lượng án về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước hàng năm xảy ra không nhiều nhưng lại có một số vụ án gây thiệt hại lớn đến tài
Trang 10sản của Nhà nước, gây bất bình trong nhân dân, tạo dư luận xấu và làm cho lòng tin của nhân dân đối với những người làm công tác quản lý tài sản cũng như đối với trình độ của những người này
Do tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp, thực tiễn áp dụng quy định đối với tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước còn gặp nhiều bất cập nên trong một số vụ án cụ thể đã có tình trạng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có nhận thức khác nhau về việc định tội cũng như định khung hình phạt khi tiến hành xử lý hình sự đối với hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước Cá biệt, có trường hợp còn nhầm lẫn trong việc xác định tội danh, áp dụng không đúng pháp luật, không phân biệt được sự khác nhau giữa tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước với một số tội phạm khác trong BLHS năm 1999
Vì vậy, để làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý hình sự, nhận diện đầy đủ
và hiểu sâu sắc hơn các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử đối với tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước trong giai đoạn từ 2010 đến 2014, trên cơ sở đó tìm giải pháp hoàn thiện về mặt lập pháp hình sự cũng như giải pháp thực tiễn nhằm hoàn thiện pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng ngừa
và chống tội phạm là một việc làm cần thiết nên học viên đã quyết định chọn
nghiên cứu đề tài: “Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến
tài sản của Nhà nước trong luật hình sự Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ
luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước đã được nghiên cứu và đề cập trong các Giáo trình LHS Việt Nam của các cơ sở nghiên cứu và đào tạo luật học như: Khoa Luật, trường Đại học
Trang 11quốc gia Hà Nội; trường Đại học Luật Hà Nội; Viện Nhà nước và pháp luật thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam và một số cơ sở đào tạo khác…
Dưới góc độ khoa học pháp lý hình sự, việc nghiên cứu tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước chưa được quan tâm nghiên cứu mà chỉ được đề cập, bình luận chung trong các giáo trình được giảng dạy ở các cơ sở đào tạo đại học và được một số các tác giả nghiên cứu
chung trong nhóm tội xâm phạm sở hữu như: Giáo trình LHS Việt Nam (Phần
các tội phạm), Khoa luật- Đại học Quốc Gia Hà Nội, do GS.TSKH Lê Cảm
chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001; Giáo trình LHS Việt Nam (Tập II) do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
2010; TS Nguyễn Đức Mai (chủ biên), Chương XIV- Các tội xâm phạm sở
hữu, Trong sách: Bình luận khoa học BLHS 1999 sửa đổi bổ sung năm 2013, phần các tội phạm, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013; TS
Nguyễn Mai Bộ, Các tội xâm phạm sở hữu trong BLHS 1999 được sửa đổi bổ
sung năm 2009, Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010;
Th.s Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học BLHS năm 1999 (Phần các tội phạm), Tập II- "Các tội xâm phạm sở hữu", Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, tái
bản 2010 Ngoài ra, còn có một số bài viết trên các tạp chí khoa học cũng chỉ
có một số bài viết đơn lẻ đề cập đến nhóm tội xâm phạm sở hữu như “Hoàn
thiện các quy định của BLHS về các tội xâm phạm sở hữu” Tạp chí Tòa án
nhân dân tháng 1/2009, PGS.TS Nguyễn Ngọc Anh và Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước trong hoạt động ngân hàng, Tạp chí Ngân hàng tháng 11/2009, Ls Phan Văn Lãng…
Dưới góc độ đề tài luân văn thạc sĩ, luận án tiễn sĩ luật học: đối với tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước thì chưa có công công trình khoa học nào đề cập đến mà chỉ có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về một số tội danh cụ thể khác trong nhóm tội xâm phạm
Trang 12sở hữu và có luận văn tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Chí, Viện Nhà nước và
pháp luật, Hà Nội năm 2000 với đề tài “Trách nhiệm hình sự đối với các tội
xâm phạm sở hữu”
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã từng bước nhận diện và làm rõ một số vấn đề về khái niệm, đặc trưng cơ bản của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước Tuy nhiên các tác giả của các công trình nghiên cứu này chưa phân tích sâu về lý luận cũng như thực tiễn áp dụng và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của BLHS năm 1999 về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước Có thể khẳng định việc nghiên cứu về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước dưới góc độ một luận văn thạc sĩ luật học là có tính thời sự và cấp thiết vì cho đến nay chưa có một công trình nào đề cập riêng đến tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước một cách hệ thống các vấn đề pháp lý, lý luận và thực tiễn điều tra, tuy tố, xét xử
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ luật học, đối tượng và phạm
vi nghiên cứu của luận văn tập trung khái quát lịch sử hình thành và phát triển tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước từ sau Cách mạng Tháng tám 1945 đến nay; làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, các dấu hiệu pháp lý đặc trưng và đường lối xử lý đối với tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, phân tích thực tiễn xét xử trong những năm gần đây với tư cách là một tội phạm trong chương các tội xâm phạm sở hữu của BLHS
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một cách toàn diện, làm sáng tỏ
Trang 13một cách có hệ thống những vấn đề về lập pháp, lý luận về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước và việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn, từ đó xác định những bất cập trong việc áp dụng các quy định Đồng thời nghiên cứu thực trạng tội phạm về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, gióp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ đầu tiên là phân tích các căn cứ
về mặt pháp lý, lý luận và thực tiễn xét xử, xác định bản chất, dấu hiệu pháp
lý đặc trưng của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, đường lối xử lý hình sự, qua đó so sánh với một số tội phạm được quy định tại BLHS năm 1999
Mục đích tiếp theo là nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng quy phạm PLHS về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước trong năm năm từ 2010 đến 2014, đồng thời phân tích những hạn chế trong việc áp dụng pháp luật
Mục đích cuối cùng là từ cơ sở lý luận và thực tiễn điều tra, truy tố, xét
xử tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, Luận văn đưa ra một số kiến nghị, đề xuất dưới góc độ hoàn thiện pháp luật hình sự, đường lối xử lý và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của Luận văn là quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lê Nin,
Trang 14tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm và định hướng của Đảng và Nhà nước ta về chính sách hình sự, quan điểm, đường lối xử lý các tội xâm phạm sở hữu trước yêu cầu mới
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac- Lê nin Các phương pháp của khoa học LHS, tội phạm học, khoa học thống kê tư pháp, khoa học lịch sử, so sánh kết hợp với phân tích xã hội học, phương pháp quy nạp, diễn dịch được sử dụng linh hoạt trong nghiên cứu
6 Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Về mặt lý luận
Luận văn hệ thống một cách toàn diện và đầy đủ những vấn đề lý luận
và thực tiễn của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước theo LHS Việt Nam và đánh giá thực tiễn xét xử trong thời gian năm năm trên phạm vi cả nước Góp phần bổ sung sung và hoàn thiện lý luận về tội phạm đối với các tội phạm cụ thể trong LHS Việt Nam, nhất là các tội xâm phạm sở hữu Do đó, luận văn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết cho các nhà khoa học, luật gia, các sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành tư pháp hình sự
6.2 Về mặt thực tiễn
Qua việc phân tích các dấu hiệu pháp lý hình sự, luận văn góp phần xác định cụ thể dấu hiệu của tội phạm thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước khi đánh giá hành vi phạm tội cũng như định tội danh đối với loại tội phạm này Đồng thời những kiến nghị hoàn thiện pháp luật góp phần đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay cũng như đảm bảo việc áp dụng thống nhất pháp luật trong cả nước
Trang 157 Kết cấu của Luận văn
Kết cấu của luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước trong LHS Việt Nam
Chương 2: Các dấu hiệu pháp lý, đường lối xử lý và thực tiễn xét xử
tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước
Chương 3: Thực trạng, giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng
cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước
Trang 161.1.1 Khái niệm về sở hữu nhà nước, tài sản của Nhà nước
Sở hữu là một phạm trù kinh tế mang yếu tố khách quan, xuất hiện và phát triển song song cùng với sự phát triển của xã hội loài người Khi nói về
sở hữu thì các hình thức sở hữu luôn là vấn đề được quan tâm bởi hình thức
sở hữu là sự phản ánh ra bên ngoài nội dung của một chế độ sở hữu nhất định
mà trong một xã hội dù dưới bất kì một hình thức tổ chức thể chế nào cũng phải xác định một chế độ sở hữu nhất định Từ sự “định hướng” của Hiến pháp năm 1992 về chế độ sở hữu và các hình thức sở hữu, Chương XIII, Bộ luật dân sự năm 2005 thì Nhà nước ta có 06 hình sở hữu, bao gồm sở hữu Nhà nước; sở hữu tập thể; sở hữu tư nhân; sở hữu chung; sở hữu của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội; sở hữu của tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp Mỗi hình thức sở hữu có các chế độ pháp lý đặc trưng và có vai trò nhất định, trong đó sở hữu Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong các hình thức sở hữu, là nền tảng của sự phát triển kinh tế - xã hội Chế độ sở hữu và hình thức sở hữu cũng được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận cụ thể
Theo quy định tại Điều 220 đến Điều 207 BLDS năm 2005 thì Nhà nước là chủ sở hữu đối với tài sản của chế độ sở hữu toàn dân, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người đại diện cho nhân dân quản lý, nắm giữ những tư liệu sản xuất Nhà nước thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản đó
Trang 17Một vấn đề quan trọng của sở hữu nhà nước đó là quyền sở hữu Nhà nước Quyền sở hữu Nhà nước hiểu theo nghĩa khách quan là tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm:
- Xác nhận việc chiếm hữu của Nhà nước đối với những Tư liệu sản xuất chủ yếu, quan trọng nhất
- Quy định về nội dung và trình tự thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản Nhà nước
- Xác định phạm vi, quyền hạn của các cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp do Nhà nước thành lập trong việc quản lý nghiệp vụ những tài sản do Nhà nước giao theo quy định của pháp luật để thực hiện các mục tiêu, nhiệm
vụ kinh doanh, quản lý hoặc hoạt động công ích
Theo nghĩa chủ quan, quyền sở hữu Nhà nước được hiểu là toàn bộ những hành vi mà Nhà nước - với tư cách chủ sở hữu - thực hiện các quyền năng cụ thể về chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản của mình Nhà nước “là chủ” đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu và cũng tự quy định các quyền năng, nhưng không có nghĩa là quyền hạn của Nhà nước là vô tận đối với tài sản mà Nhà nước là chủ sở hữu Nhà nước cũng như các chủ thể khác chỉ thực hiện quyền của chủ sở hữu trong phạm vi pháp luật cho phép
Nhà nước là chủ sở hữu đối với tài sản thuộc chế độ sở hữu Nhà nước, Nhà nước tham gia quan hệ quyền sở hữu với tư cách là chủ thể đặc biệt và là chủ thể duy nhất đối với các tư liệu sản xuất Nhà nước đại diện cho nhân dân nắm và quản lý toàn bộ tài sản thuộc sở hữu toàn dân đồng thời nắm toàn bộ quyền lực chính trị Nhà nước giao tài sản cho các doanh nghiệp Nhà nước,
cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang quyền quản lí, sử dụng đúng mục đích theo quy định của pháp luật và thực hiện quyền kiểm tra, giám sát việc quản
lý, sử dụng tài sản đó
Tài sản của Nhà nước rất đa dạng, tại Điều 17 Hiến pháp năm 1992,
Trang 18Điều 53 Hiến pháp năm 2013 và Điều 200 Bộ luật dân sự năm 2005 liệt kê khá rõ những loại tài sản này:
Hiến pháp 1992:
Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành
và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các loại tài sản khác mà pháp luật quy định
là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân [23, Điều 17]
Hiến pháp năm 2013:
Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý [28, Điều 53] BLDS năm 2005:
Tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản
do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định [26, Điều 200]
Khái niệm về tài sản của Nhà nước cũng được quy định cụ thể tại Nghị định số 14/1998/NĐ-CP ngày 06-03-1998 của Thủ tướng Chính phủ:
Tài sản Nhà nước là những tài sản được hình thành từ nguồn ngân sách Nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước, tài
Trang 19pháp luật, đất đai, rừng, núi, sông, hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời
1 Tài sản Nhà nước khu vực hành chính sự nghiệp là những tài sản Nhà nước giao cho các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp quản
lý và sử dụng gồm:
a) Đất đai;
b) Nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất đai;
c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
d) Các phương tiện giao thông vận tải, trang thiết bị làm việc
và các tài sản khác
2 Tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia bao gồm:
a) Hệ thống các công trình giao thông vận tải;
b) Hệ thống các công trình thủy lợi;
c) Hệ thống chiếu sáng, cấp thoát nước;
d) Các công trình văn hoá;
đ) Các công trình kết cấu hạ tầng khác
3 Tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp
4 Tài sản được xác lập sở hữu của Nhà nước theo qui định của pháp luật, bao gồm:
a) Tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm pháp luật bị tịch thu sung quĩ Nhà nước và tiền phạt do vi phạm pháp luật;
b) Tài sản bị chôn dấu, chìm đắm được tìm thấy; tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, vắng chủ, vô chủ và các tài sản khác theo qui định của pháp luật là tài sản Nhà nước;
c) Tài sản do tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước biếu, tặng,
Trang 20đóng góp và các hình thức chuyển giao quyền sở hữu tài sản khác cho Nhà nước, tài sản viện trợ của Chính phủ, tổ chức phi Chính phủ nước ngoài và các tổ chức quốc tế khác
5 Tài sản dự trữ Nhà nước
6 Đất đai, rừng, núi, sông, hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời (sau đây gọi chung là đất đai, tài nguyên thiên nhiên khác) [29]
1.1.2 Khái niệm về tội Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước
Chế định quan trọng và chủ yếu trong LHS chính là chế định về tội phạm Tội phạm nói chung được các nhà làm luật ghi nhận và được quy định tại Điều 8 BLHS năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 với khái niệm như sau:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh
tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [25, Điều 8]
Xuất phát từ khái niệm chung về tội phạm mang tính định hướng này,
khái niệm tội phạm được các nhà khoa học khái quát là “là hành vi nguy hiểm
cho xã hội, trái pháp luật hình sự (tức là hành vi bị LHS cấm), do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý)”3, tr.297
Trang 21Theo quan điểm của tác giả luận văn cho rằng, tội phạm có 5 dấu hiệu đặc trưng bao gồm: tính nguy hiểm cho xã hội; tính trái pháp luật hình sự; tính có năng lực trách nhiệm hình sự; tính đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và tính có lỗi Với cách tiếp cận này thì tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước cũng có 05 đặc trưng cơ bản đó là: hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước
là hành vi nguy hiểm cho xã hội; hành vi đó bị LHS cấm, nếu thực hiện hành
vi này là trái với pháp luật hình sự; hành vi này phải do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện; người thực hiện hành vi phạm tội phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và cuối cùng hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản phải là hành vi có lỗi với lỗi vô ý
Theo quy định tại Điều 144 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm
2009 thì điểm đặc trưng để hình thành khái niệm về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước gồm ba yếu tố chính đó: do người có trách nhiệm trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước;
do thiếu trách nhiệm và cuối cùng là gây thiệt hại nghiêm trọng
Như vậy, trước hết người thực hiện tội phạm là người có trách nhiệm
“trực tiếp quản lý”, tức là người này phải được giao nhiệm vụ quản lý trực tiếp đối với tài sản, có trách nhiệm duy trì sự toàn vẹn của tài sản Nhà nước
mà mình đảm nhận Đây chính là dấu hiệu về chủ thể đặc biệt của tội Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, không phải mọi trường hợp gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước đều được xem là phạm tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước
Thứ hai là do người có trách nhiệm quản lý đã không làm hoặc làm không đúng nhiệm vụ của mình Theo từ điển Tiếng Việt thì “trách nhiệm” là
“phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải đảm bảo làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả” [19, tr.985]
Trang 22Như vậy, thiếu trách nhiệm là hành vi không làm hoặc làm không hết yêu cầu nhiệm vụ được giao
Thứ ba là hậu quả của hành vi thiếu trách nhiệm gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Người được giao nhiệm vụ đã không làm hết trách nhiệm được giao gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước Nếu không
có thiệt hại hoặc thiệt hại không liên quan đến tài sản thì không bị coi là có hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
Về quan điểm khoa học, khái niệm về tội “Thiếu trách nhiệm gây thiệt
hại nghiêm trọng về tài sản của Nhà nước” được một số Tác giả đề cập trong
các sách báo pháp lý, về hình thức thì có sự khác nhau nhưng cơ bản là đều thống nhất với nhau về bản chất của loại tội phạm này
Tác giả Nguyễn Mai Bộ có quan điểm: “Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt
hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước là hành vi thiếu trách nhiệm làm mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà
nước thực hiện một cách vô ý” [2, tr.349]
Tác giả Đinh Văn Quế có đưa ra định nghĩa:
“Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước là hành vi không làm hoặc làm không hết trách nhiệm nên đã để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước
do mình trực tiếp quản lý” [20, tr 309]
Trên cơ sở các đặc điểm vừa phân tích và dựa vào khái niệm chung về
tội phạm có thể đưa ra khái niệm sau: Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại
nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Điều 144 BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được giao nhiệm vụ quản lý tài sản của Nhà nước nhưng đã không làm hoặc không làm hết trách nhiệm gây thiệt nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước do mình trực tiếp quản lý
Trang 231.1.3 Ý nghĩa của việc quy định tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước trong luật hình sự Việt Nam
BLHS năm 1999 đã quy định tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước tại Điều 144 của Chương XIV - Các tội xâm phạm sở hữu, điều này có ý nghĩa rất quan trọng và được thể hiện như sau:
Ý nghĩa đầu tiên là tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong việc áp dụng thống nhất pháp luật của các cơ quan tư pháp hình sự cũng nhưng cuộc đấu tranh phòng, chống tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước
Thứ hai, việc quy định tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước có ý nghĩa trong việc nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ công chức khi thực hiện nhiệm vụ của mình trong khi được giao quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước
Thứ ba, thể hiện tầm quan trọng của tài sản Nhà nước đối với sự tồn tại
và phát triển của đất nước, cần được bảo vệ bởi pháp luật hình sự
1.2 Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước
Qua nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước nói riêng, có thể chia thành các giai đoạn sau đây:
1.2.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành bộ luật hình sự năm 1985
Cách mạng thành công, Nhà nước mới thành lập phải đối phó với thù trong giặc ngoài và hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước còn khó khăn, để giải quyết các vụ án hình sự, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 47-SL ngày 10-10-1945 tạm thời giữ lại các luật lệ tại miền Bắc, Trung, Nam
Bộ cho đến khi ban hành các văn bản pháp luật thống nhất trong toàn quốc
Trang 24Để bảo vệ chính quyền mới, Sắc lệnh 47 quy định: “Những điều khoản trong
các luật lệ cũ được tạm thời giữ lại do sắc lệnh này chỉ được thi hành khi nào không trái với nguyên tắc độc lập của Nhà nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa” [7] Sắc lệnh số 47 được ban hành kịp thời đã hạn chế tới mức
thấp nhất sự xáo trộn trong đời sống và quan hệ thường nhật của nhân dân, góp phần ổn định xã hội Trong giai đoạn này Nhà nước cũng ban hành một
số Sắc lệnh quy định về các tội xâm phạm sở hữu như: Sắc lệnh số 12 ngày 12-3-1949 quy định về tội trộm cắp vật dụng nhà binh trong thời bình và thời
kì chiến tranh; Sắc lệnh số 267 ngày 15-6-1956 trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã và của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch xây dựng kinh tế và văn hóa nhằm góp phần vào việc bảo vệ sự nghiệp xây dựng kinh tế và văn hóa Tại Sắc lệnh này, Nhà nước ta có quy định về hành vi thiếu trách nhiệm trong công tác do mình phụ trách gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã, của nhân dân tại Điều 10:
Kẻ nào vì thiếu tinh thần trách nhiệm mà trong công tác mình phụ trách đã để lãng phí, để hư hỏng máy móc, dụng cụ, nguyên vật liệu, để lộ bí mật Nhà nước, để xảy ra tai nạn, v.v làm thiệt hại một cách nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã, của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch của Nhà nước, sẽ bị phạt từ 3 tháng đến 2 năm tù Nếu bị can là người phụ trách thì có thể bị phạt tới 5 năm tù Nếu gây ra thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng, bị can có thể bị phạt tới 20 năm tù hoặc chung thân,
và phải bồi thường thiệt hại [8]
Xã hội ngày càng phát triển, tài sản của Nhà nước cũng như tài sản của công dân ngày càng được tích lũy nhiều hơn, bên cạnh đó thì tội phạm về xâm phạm sở hữu càng phát triển gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản của Nhà
Trang 25nước Nhận thức được tầm quan trọng của tài sản xã hội chủ nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của đất nước trong thời kỳ đất nước còn chia cắt, thù trong giặc ngoài nên ngoài hai sắc lệnh trên, ngày 21-10-1970, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa nhằm xử lý đối với các hành vi nguy hiểm gây thiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩa và nhằm răn đe, phát huy tinh làm làm chủ tập thể của cán bộ, công nhân, viên chức, đề cao đạo đức xã hội chủ nghĩa và ý thức tôn trọng và bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa Đặc biệt tại Điều 14 của Pháp lệnh có quy định rõ về tội thiếu tinh thần trách nhiệm, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa, cụ thể như sau:
1 Kẻ nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản
xã hội chủ nghĩa, vì thiếu tinh thần trách nhiệm không chấp hành hoặc chấp hành không đúng các nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể
lệ, để mất mát, hư hỏng, lãng phí, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm
2 Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 5 năm đến 15 năm [39, Điều 14]
So với Sắc lệnh 267 thì Pháp lệnh năm 1970 đã quy định cụ thể hơn về các hành vi xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa Về hình phạt Pháp lệnh năm
1970 không quy hình phạt chung thân đối với hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước nhưng ngoài hình phạt chính thì bổ sung thêm hình phạt phụ Đó là ngoài việc bị xử phạt tù thì người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm những chức vụ có liên quan trực tiếp đến tài sản xã hội chủ nghĩa từ hai năm đến năm năm
Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa được ban hành đã thể hiện nguyên tắc cơ bản của Nhà nước ta là kiên quyết bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, coi tài sản xã hội chủ nghĩa là thiêng liêng và bất khả xâm
Trang 26phạm Pháp lệnh năm 1970 đã xây dựng cấu thành hoàn chỉnh về tội thiếu tinh thần trách nhiệm, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1985 đến trước khi ban hành bộ luật hình sự năm 1999
Từ những văn bản tản mạn riêng rẽ quy định về pháp LHS như Sắc Luật, Sắc lệnh, Pháp lệnh…, hầu hết mỗi văn bản chỉ quy định một vấn đề riêng biệt, có nhiều quy định về hình phạt và tội phạm được quy định trong các văn bản quy phạm hành chính gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật dẫn đến sự thiếu đồng bộ; BLHS năm 1985 được Quốc hội khóa VII thông qua ngày 27-6-1985 và có hiệu lực thi hành thống nhất trong cả nước ngày 01-01-1986 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng về kỹ thuật lập pháp của nước ta Lần đầu tiên PLHS được thể hiện dưới hình thức bộ luật - một hình thức lập pháp cao, tập hợp các quy phạm PLHS, thể hiện sự thống nhất, tổng thể và có tính hệ thống,
BLHS năm 1985 ra đời là sự kế thừa và phát triển LHS của Nhà nước ta từ Cách mạng tháng Tám, tổng kết những kinh nghiệm đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm ở nước ta trong mấy chục năm qua và có dự kiến tình hình diễn biến của tội phạm trong thời
gian tới [22, Lời nói đầu]
Tại BLHS năm 1985, các tội xâm phạm sở hữu được quy định thành hai chương độc lập đó là:
- Chương IV: Các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa
- Chương VI: Các tội xâm phạm sở hữu công dân
Trong đó, tội thiếu trách trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa được quy định tại Điều 139 thuộc Chương IV BLHS năm 1985
Trang 27Điều 139 Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa
1- Người nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa, vì thiếu trách nhiệm mà để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa, thì
bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm
2- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù
từ ba năm đến mười hai năm [22, Điều 139]
Ngoài hình phạt chính được quy định tại Điều 139 thì Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa cũng được quy định thêm hình phạt bổ sung như Pháp lệnh năm 1970 đó là có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa từ hai năm đến năm năm
Xuất phát từ diễn biến tình hình tội phạm thực tiễn xét xử, ngày
22-12-1992, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS để phù hợp với tình hình thực tế, trong đó Điều 139 được bổ sung theo tăng nặng khung hình phạt để góp phần trừng trị và đấu tranh chống loại tội phạm này trên thực tế, cụ thể:
Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
xã hội chủ nghĩa
1 Người nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa, vì thiếu trách nhiệm mà để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa, thì
bị phạt tù từ một năm đến bảy năm
2 Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù
từ năm năm đến mười lăm năm [24, Điều 139]
Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội
Trang 28chủ nghĩa trong giai đoạn này được sửa đổi bổ sung theo hướng bỏ hình phạt cải tạo không giam giữ đối với loại tội này và tăng mức hình phạt định khung ở cả khoản 1 và khoản 2 Điều này thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta là cần phải xử phạt thật nghiêm khắc hơn đối với loại tội phạm này, thể hiện sự răn đe đối với đội ngũ cán bộ công chức đối với nhiệm vụ được giao, nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công việc, tránh tình trạng thờ ơ, vô trách nhiệm
1.2.3 Giai đoạn từ khi ban hành bộ luật hình sự năm 1999 đến nay
Qua thực tiễn xét xử nhận thấy có một số tội phạm trong hai chương này chỉ có sự khác nhau về khách thể và đối tượng là tài sản chịu sự tác động của tội phạm thuộc sở hữu của Nhà nước hay sở hữu của công dân Đồng thời bước vào thời kỳ đổi mới, việc xóa bỏ cơ chế kinh tế tập trung, bao cấp, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường,
có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều thành phần kinh tế được xác lập với nhiều hình thức sở hữu khác nhau nên việc phân định các nhóm tội xâm phạm sở hữu thành xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và xâm phạm sở hữu của công dân theo BLHS năm 1985 tỏ ra không còn phù hợp với tính chất đa thành phần sở hữu Trước yêu cầu đó, ngày 21-12-1999 Quốc hội đã thông qua BLHS mới thay thế cho BLHS năm 1985 theo đó đã gộp hai chương xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và chương xâm phạm sở hữu công dân thành xâm phạm sở hữu được quy định tại chương XXIV và bao gồm 13 Điều Lần pháp điển hoá PLHS thứ hai là kết quả của
sự kế thừa cả một hệ thống các nguyên tắc, các chế định của BLHS năm 1985
đã được kiểm nghiệm qua thực tế áp dụng, đồng thời có sự bổ sung, sửa đổi, nâng cao và phát triển BLHS năm 1999 ra đời đã sửa đổi nhiều tội danh trong
bộ luật nói chung và tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản nói riêng phù hợp với thực tế đấu tranh tội phạm
Trang 29Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước được quy định tại Điều 144 BLHS năm 1999 như sau:
Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước
1 Người nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước, vì thiếu trách nhiệm mà để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm
2 Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước có giá trị
từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng trở lên thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm
3 Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm
4 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ quản
lý tài sản của Nhà nước từ một năm đến năm năm [25, Điều 144]
So với Điều 139 BLHS năm 1985 thì tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước được quy định tại Điều 144 BLHS không có thay đổi lớn, nhưng quy định cụ thể thiệt hại nghiêm trọng về tài sản
là thiệt hại từ 50.000.000 đồng trở lên và được quy định thành 4 khoản, trong
đó có quy định hình phạt bổ sung ngay tại điều luật (khoản 4) Mặc dù có hình phạt cao nhất là mười lăm năm tù, nhưng mức hình phạt thấp nhất là cải tạo không giam giữ, nên Điều 144 BLHS năm 1999 được coi là nhẹ hơn so với Điều 139 BLHS năm 1985 Vì vậy, hành vi phạm tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa xảy ra trước 00 giờ 00 ngày 1-7-2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 1-7-2000 mới phát hiện thì áp dụng Điều
144 BLHS năm 1999 để xử lý đối với người phạm tội
Trang 30KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Để đáp ứng yêu cầu của công tác phòng ngừa, đấu tranh đối với tội phạm xâm phạm sở hữu Nhà nước, tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước ngay từ những năm 1945, từ Sắc Lệnh 267 đã được quy định thành một tội phạm độc lập với khách thể được pháp luật hình
sự bảo vệ là quan hệ sở hữu Nhà nước Qua các lần pháp điển hóa lần thứ nhất năm 1985, pháp điển hóa lần thứ hai năm 1999, tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước ngày càng được quy định cụ thể hơn, không chỉ thể hiện sự chuyển biến trong nhận thức của nhà làm luật
mà còn thấy được quá trình phát triển của các quy định pháp luật hình sự về tội này, qua đó thấy được yêu cầu cấp bách của công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý đối với hành vi thiếu trách nhiệm xâm phạm nghiêm trọng đến sở hữu Nhà nước
Nhận thấy tầm quan trọng của tài sản Nhà nước đối với sự tồn tại và phát triển của một quốc gia nên trong lịch sử phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam, tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước được Nhà nước ta đặc biệt chú trọng và quy định cụ thể từ rất sớm, phù hợp với đường lối, chính sách của Nhà nước ta trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử đất nước
Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước là tội phạm được quy định ở Chương tội xâm phạm sở hữu Đây là tội xâm phạm đến quan hệ sở hữu của Nhà nước và gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước do người trực tiếp quản lý tài sản đó gây ra
Việc qui định Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước có ý nghĩa trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền sở hữu về tài sản của Nhà nước đồng nghĩa với việc bảo vệ tài sản của toàn dân
Trang 31Chương 2
CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ, ĐƯỜNG LỐI XỬ LÝ ĐỐI VỚI TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM GÂY THIỆT HẠI NGHIÊM TRỌNG ĐẾN TÀI SẢN CỦA NHÀ NƯỚC THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999
2.1 Các dấu hiệu pháp lý của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước
Để xác định một hành vi nguy hiểm có phải là tội phạm hay không thì cần phải xem xét các dấu hiệu của tội phạm và để xem xét hành vi phạm tội
đó là loại tội phạm gì, được quy đinh ở điều nào, chương nào của BLHS thì cần phải dựa vào các yếu tố cấu thành tội phạm Cấu thành tội phạm là kết cấu của một khái niệm, nó bao gồm hệ thống các dấu hiệu cần và đủ để xác định hành vi nguy hiểm của con người có phải là tội phạm hay không Một hành vi được coi là tội phạm khi nó có đầy đủ các yếu tố hợp thành, thiếu một yếu tố nào đó thì chưa coi là tội phạm Nói cách khác, cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong LHS
Theo LHS Việt Nam, bất cứ hành vi phạm tội nào, dù đặc biệt nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng, dù bị quy định bởi hình phạt tới chung thân, hay tử hình hay chỉ là cảnh cáo, phạt tiền cũng là sự thống nhất giữa mặt khách quan
và mặt chủ quan - giữa những biểu hiện bên ngoài và những quan hệ tâm lý bên trong, đều là hoạt động của con người cụ thể gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội nhất định Sự thống nhất của bốn yếu tố này là hình thức cấu trúc, thể hiện đầy đủ nội dung chính trị - xã hội của tội phạm, nếu về mặt nội dung chính trị- xã hội, mỗi tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau thì về mặt cấu trúc, bốn yếu tố cấu thành tội phạm có những nội dung biểu hiện khác nhau, chính sự khác nhau này quyết định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm [15, tr.54]
Trang 32Nghiên cứu về cấu trúc pháp lý, tội phạm được hợp thành từ bốn yếu tố: chủ thể, khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan của tội phạm Bốn yếu
tố này tồn tại không tách rời nhau nhưng có thể được phân chia trong tư duy,
do đó có thể nghiên cứu độc lập từng yếu tố Cũng như các tội phạm khác,
“tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước” cũng có đầy đủ bốn yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể như sau:
2.1.1 Khách thể của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước
Khách thể của tội phạm có thể được định nghĩa là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm, nhưng
bị tội phạm xâm hại đến và gây nên (hoặc đe dọa thực thế gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định [5, tr.349] Bất kỳ một tội phạm nào cũng đều xâm hại đến một hoặc một số quan hệ xã hội nhất định được LHS bảo vệ bằng cách gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội đó Những đối tượng được xác định cần bảo vệ bởi các quy phạm pháp luật hình sự bao gồm;
Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền lợi ích hợp pháp khác của công dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [25, Điều 8]
Nghiên cứu về khách thể của tội phạm có ý nghĩa quan trọng vì một hành vi nguy hiểm cho xã hội không thể bị coi là tội phạm nếu như nó không xâm hại hoặc có nguy cơ thực tế xâm hại đến quan hệ xã hội được bảo vệ bằng pháp luật hình sự; nó còn là yếu tố bắt buộc, là cơ sở để đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự đối với một người Hiểu rõ về khách thể giúp nhà làm luật xác định rõ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đồng thời trong một
Trang 33Khách thể của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước là hành vi xâm phạm vào quyền sở hữu Nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với tài sản Như vậy chỉ những tài sản mà thuộc sở hữu của Nhà nước mới được xem là khách thể của loại tội phạm này, hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản không thuộc quyền sở hữu của Nhà nước thì không xem xét để xử lý theo tội này Do đó việc xác định khách thể của tội này mà cụ thể là tài sản bị xâm hại có phải của Nhà nước hay không là một yếu tố rất quan trọng để định tội danh đối với người phạm tội
Ví dụ sau đây có thể làm rõ hơn tầm quan trọng của việc xác định khách thể của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước:
Ngày 08-3-2010, Lãnh đạo Câu lạc bộ giải trí Royale, thuộc Công ty liên doanh khách sạn Sài gòn Riverside (có vốn đầu tư 50 triệu đô la Mỹ, vốn pháp định 12,5 triệu đô la Mỹ, trong đó vốn Nhà nước Việt Nam chiếm 28%, vốn nước ngoài chiếm 72%) trình báo với cơ quan điều tra việc Câu lạc bộ bị mất trộm số tiền 500 triệu đồng vào đêm 06-3-2010 Số tiền này được cất trong két sắt đặt trong phòng AM của Câu lạc bộ
Theo quy định của Câu lạc bộ thì chỉ nhân viên thu ngân mới được giữ thẻ để ra vào phòng AM và giữ mã số két sắt đựng tiền trong phòng AM, còn nhân viên bảo vệ trong ca trực thì chỉ được giữ chìa khóa cơ của phòng AM
và chìa khóa tủ chứa chìa khóa két sắt; khi nhân viên thu ngân vào phòng AM
để lấy hoặc cất tiền, ngoài việc dùng thẻ từ do mình quản lý để mở khóa từ, thì phải có bảo vệ đi cùng để mở khóa cơ phòng AM; khi vào phòng AM thì nhân viên bảo vệ có trách nhiệm mở tủ đựng chìa khóa két sắt để nhân viên thu ngân lấy chìa khóa để mở két (cùng với mã két sắt); hết ca trực nhân viên thu ngân phải khóa mã và niêm phong két sắt, yêu cầu nhân viên bảo vệ ra trước, sau đó nhân viên thu ngân mới được ra và đóng cửa phòng AM Theo
Trang 34quy trình này thì nhân viên bảo vệ hoặc người khác không có thẻ từ sẽ không thể vào được phòng AM và không thể tự mở két sắt (vì không có mã két sắt)
Kết quả điều tra đã xác định được Trần Quang Đạt (là nhân viên bảo vệ của Câu lạc bộ, trực cùng ca với Nguyễn Vĩnh Hà) là người đã trộm cắp của Câu lạc bộ số tiền 500 triệu đồng nêu trên
Quá trình giải quyết vụ án Đạt khai: Hà và Đạt đã bàn bạc, thống nhất vạch kế hoạch trộm cắp tiền của Câu lạc bộ từ trước Theo chỉ dẫn của Hà, khoảng 07 giờ ngày 07-3-2010 Đạt giả vờ đi tuần tra (dù đã hết ca trực từ 04 giờ) rồi lẻn vào phòng AM trộm cắp 500 triệu đồng Sau khi lấy được tiền, Đạt mang đến phòng vệ sinh nam Tại đây, Đạt lấy ra 75,5 triệu đồng giấu trong người, số còn lại Đạt giấu lên trần nhà vệ sinh theo yêu cầu của Hà Tuy nhiên, trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử Hà không thừa nhận đã bàn bạc, thông đồng với Đạt để trộm cắp tài sản của Câu lạc bộ Hà chỉ thừa nhận
do mệt mỏi nên Hà đã không thực hiện đúng quy định của Câu lạc bộ, quên không khóa mã và niêm phong két sắt, không đóng cửa phòng AM dẫn đến hậu quả là để Đạt trộm cắp được tiền của Câu lạc bộ
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 128/2012/HSST ngày 27-4-2012, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh áp dụng khoản 3 Điều 144; điểm p, khoản
1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 BLHS, xử phạt Nguyễn Vĩnh Hà 06 năm tù về tội “Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước”
Nguyễn Vĩnh Hà kháng cáo kêu oan và tại Bản án hình sự phúc thẩm
số 696/2012/HSPT ngày 25-7-2012, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm
Tại kháng nghị giám đốc thẩm số 02/QĐ-VKSTC-V3 ngày
22-01-2013, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm nêu trên để xét xử lại với lý do Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm kết án Nguyễn Vĩnh Hà về tội “Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại
Trang 35nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước theo quy định tại khoản 3 Điều 144 BLHS là chưa phù hợp với quy định của pháp luật, bởi vì Công ty liên doanh khách sạn Sài Gòn Riverside có phần vốn góp của Nhà nước chỉ có 28% vốn pháp định Theo Điều 1 và khoản 5 Điều 3 Luật doanh nghiệp Nhà nước năm
2003 thì doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do sở hữu toàn bộ vốn
hoặc có cổ phần vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó
Trong vụ án này, Nguyễn Vĩnh Hà là người có chức vụ (Tổ phó Tổ thu ngân, là trưởng ca trực thu ngân) thực hiện nhiệm vụ được giao từ 19 giờ 30 phút ngày 06-3-2010 đến 04 giờ ngày 07-3-2010, nên hành vi thiếu trách nhiệm của Hà có dấu hiệu của tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại Điều 285 BLHS
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 13/2013 ngày 16-8-2013, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã xác định Công ty liên doanh khách sạn Sài gòn Riverside tuy có vốn góp của Nhà nước, nhưng vốn góp này chỉ chiếm 28% vốn pháp định của doanh nghiệp, không thuộc trường hợp vốn góp của Nhà nước chi phối (tức vốn góp của Nhà nước lớn hơn 50% tổng vốn của Doanh nghiệp), nên số tiền thiệt hại 500 triệu đồng của Công ty này không được coi là “tài sản của Nhà nước” Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng khoản 3 Điều 144 BLHS, xử phạt Nguyễn Vĩnh Hà 06 năm tù về tội “Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước” là không phù hợp với quy định của pháp luật và tình tiết khách quan của vụ án
2.1.2 Mặt khách quan của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước
Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố của tội phạm Không có mặt khách quan thì cũng không có các yếu tố khác của tội phạm và
Trang 36do vậy cũng không có tội phạm Mặt khách quan của tội phạm là “mặt bên
ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan” [37, tr.71]
2.1.2.1 Hành vi khách quan
Trong mặt khách quan của tội phạm, hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm, những biểu hiện khác của mặt khách quan có ý nghĩa khi có hành vi khách quan Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là thiếu trách nhiệm, bản thân của hành vi này đã phản ánh bản chất của tội phạm Nhưng biểu hiện của hành vi thiếu trách nhiệm lại không phải giống nhau, nó tùy thuộc vào nhiệm vụ được giao và tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể lúc xảy ra thiệt hại về tài sản
Hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước là hành vi làm hoặc làm không hết trách nhiệm được giao nên mới gây ra thiệt hại về tài sản, nếu làm tròn trách nhiệm được giao thì không thể gây thiệt hại Trường hợp đã làm hết trách nhiệm mà thiệt hại về tài sản vẫn xảy ra thì không bị coi là thiếu trách nhiệm và họ không phạm tội này dù thiệt hại về tài sản là nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng
Hành vi thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý tài sản Nhà nước thường được biểu hiện như vi phạm các nguyên tắc, chính sách, chế độ liên quan đến việc quản lý tài sản của Nhà nước, như: chế độ quản lý vật tư, kho hàng; chế độ phòng cháy, chữa cháy; chế độ thu chi tiền mặt; chế độ xuất, nhập vật tư, thiết bị; chế độ bảo quản hàng hóa… Các nguyên tắc, chế độ có liên quan đến quản lý tài sản có thể là nguyên tắc, chế độ quản lý kinh tế, nhưng cũng có thể chỉ là nguyên tắc, chế độ về hành chính nhưng có liên quan quản lý tài sản, có khi chỉ là những quy định có tính chất kỹ thuật đơn thuần
Trang 37như những quy tắc vận hành thiết bị, máy móc, chỉ là một bản nội quy cơ quan nếu vi phạm mà dẫn đến mất mát, hư hỏng, lãng phí, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước do mình trực tiếp quản lý thì cũng bị coi là thiếu trách nhiệm
Mất mát tài sản là để cho tài sản của Nhà nước thoát khỏi sự kiểm soát, quản lý của người có trách nhiệm trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước Cũng được xem là mất mát nếu tài sản đó bị hủy hoại mà không thể sử dụng được (ví dụ máy móc để ngoài trời, do mưa nắng kéo dài mà dẫn đến han gỉ nặng không còn khả năng phục hồi lại được…) Hư hỏng tài sản là làm cho tài sản của Nhà nước bị thiệt hại, hỏng hóc mà muốn sử dụng, khai thác được thì phải đi sửa chữa Lãng phí tài sản là sử dụng, khai thác tài sản một cách tùy tiện, bừa bãi, không tiết kiệm, không mang lại hiệu quả [18, tr.227]
Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước là tội thuộc nhóm xâm phạm sở hữu không có mục đích vụ lợi nên thực
tế xét xử về tội phạm này cho thấy hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản của Nhà nước bị coi là hành vi phạm tội thường là những hành vi thiếu yếu tố cấu thành tội phạm hoặc không chứng minh được động cơ, mục đích phạm tội
2.1.2.2 Hậu quả
Hậu quả của tội này là yếu tố bắt buộc để cấu thành tội phạm, tội phạm chỉ coi là hoàn thành khi có hậu quả xảy ra Để truy cứu trách nhiệm hình sự phải xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi thiếu trách nhiệm và hậu quả xảy ra, nghĩa là thiệt hại về tài sản phải do chính hành vi thiếu trách nhiệm gây ra Đồng thời nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả phải là hành vi thiếu trách nhiệm Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt tội phạm này với một số
Trang 38tội phạm khác như thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng được quy định tại Điều 285 BLHS
Hậu quả của tội phạm này là thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Nhà nước, ngoài ra không có thiệt hại nào khác và thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước chính là giá trị tài sản bị thiệt hại do hành vi thiếu trách nhiệm của người có nhiệm vụ trực tiếp quản lý tài sản gây ra và giá trị thiệt hại Cụ thể, hậu quả của hành vi thiếu trách nhiệm là làm mất mát, hư hỏng, gây lãng phí thiệt hại cho tài sản của Nhà nước có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên, mới cấu thành tội phạm Nếu thiệt hại chưa đến mức nghiêm trọng thì chỉ
Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước là loại tội phạm có cấu thành vật chất nên phải có hậu quả là thiệt hại về tài sản xảy ra mới cấu thành tội phạm Đồng thời mức độ thiệt hại về tài sản của Nhà nước chính là tình tiết định khung đối với tội này
2.1.2.3 Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả
Biểu hiện thứ ba của mặt khách quan chính là mối quan hệ nhân quả, trong đó mối quan hệ nhân quả là sợi dây liên hệ giữa hành vi và hậu quả của hành vi phạm tội Con người chỉ phải chịu trách nhiệm về hậu quả nguy hiểm
Trang 39cho xã hội nếu hậu quả đó do chính hành vi khách quan của họ gây ra Khi nói đến mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả cần xác định hành vi là nguyên nhân gây ra hậu quả còn hậu quả là kết quả tất yếu của hành vi Tuy nhiên, không phải hậu quả nào xảy ra cũng là kết quả của hành vi
Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước là tội phạm có cấu thành vật chất, nghĩa là trong mặt khách quan của tội phạm phải xác định và làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi thiếu trách nhiệm của chủ thể và hậu quả do hành vi đó gây nên Người có hành vi thiếu trách nhiệm chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những thiệt hại tài sản do chính hành vi thiếu trách nhiệm của họ gây ra
2.1.3 Chủ thể của tội phạm thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước
Chủ thể của tội phạm theo LHS Việt Nam hiện hành chỉ có thể là con người cụ thể Nhưng không phải ai cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm khi thực hiện hành vi được quy định trong LHS Tội phạm theo LHS Việt Nam phải có tính có lỗi Do vậy, chỉ những người có điều kiện để có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mới có thể là chủ thể của tội phạm Chỉ đối với những người này việc áp dụng biện pháp TNHS mới đạt được mục đích giáo dục, cải tạo [37, tr.89]
Trong toàn bộ 13 tội được quy định tại Chương các tội xâm phạm sở hữu thì tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước là tội phạm duy nhất có chủ thể đặc biệt, là tội duy nhất quy định chủ thể là người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước, còn các tội phạm khác chủ thể của tội phạm là chủ thể thường
Do chủ thể của tội này là chủ thể đặc biệt nên các dấu hiệu về chủ thể là yếu tố định tội bắt buộc của cấu thành tội phạm Việc xác định tư cách chủ thể của tội phạm này là việc làm đầu tiên khi xác định hành vi phạm tội
Trang 40Người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước là người được giao chiếm hữu, sử dụng một số tài sản nhất định bằng các hình thức như: trông giữ, vận chuyển, khai thác lợi ích (giá trị sử dụng) của tài sản Những người này có thể do bầu cử, do bổ nhiệm, do ký hợp đồng… Nếu không được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý tài sản thì không trở thành chủ thể của tội phạm này, mà tùy từng trường hợp có thể là chủ thể của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc vô ý …
Những người do bầu cử, bổ nhiệm có thể được xem là cán bộ công chức Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 và các Nghị định của Chính phủ về cán bộ công chức thì:
- Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữa chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước
- Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân
mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì