1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

[ Bản Full ] Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam

123 683 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS năm 2003 trên cơ sở kế thừa có chọn lọc của BLTTH năm 1988 và các văn bản pháp luật về TTHS trước đây, trên cơ sở tổng kết thực tiễn áp dụng các biện pháp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TÔ THỊ THU TRANG

THỜI HẠN CỦA CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TÔ THỊ THU TRANG

THỜI HẠN CỦA CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số : 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí

Hà Nội - 2014

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Tô Thị Thu Trang

Trang 4

1.2.3 Thời hạn biện pháp ngăn chặn với các thời hạn khác có liên

quan trong quá trình giải quyết vụ án

27

1.3 Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình

sự một số nước trên thế giới

29

1.3.2 Luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Liên bang Đức 31 1.3.3 Luật tố tụng hình sự của Liên bang Nga 34

Trang 5

Chương 2: QUY ĐỊNH VỀ THỜI HẠN BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN

TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

VÀ THỰC TIẾN ÁP DỤNG

38

2.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của luật tố tụng

hình sự Việt Nam về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn từ

sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến nay

38

2.1.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến

khi Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam được ban hành lần đầu

(năm 1988)

38

2.1.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

năm 1988 cho đến nay

40

2.2 Các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về thời

hạn của các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự

41

2.2.1 Quy định về thời hạn của biện pháp bắt người 41 2.2.2 Quy định về thời hạn của biện pháp tạm giữ 48 2.2.3 Quy định về thời hạn của biện pháp tạm giam 51 2.2.4 Quy định về thời hạn của biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú 56 2.2.5 Quy định về thời hạn của biện pháp bảo lĩnh 58 2.2.6 Quy định về thời hạn của biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có

giá trị để bảo đảm

60

2.3 Thực trạng áp dụng các quy định về thời hạn của các biện

pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự từ khi có Bộ luật tố

Trang 6

Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU

QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỜI HẠN CỦA BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

89

3.1 Nhóm giải pháp và kiến nghị về hoàn thiện các quy định của

pháp luật

89

3.1.1 Những nội dung quy định về thời hạn của biện pháp ngăn

chặn trong Bộ luật tố tụng hình sự cần được sửa đổi, bổ sung

89

3.1.2 Tăng cường ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng các

quy định của pháp luật về thời hạn của biện pháp ngăn chặn

quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự

98

3.2 Nhóm giải pháp và kiến nghị về nâng cao năng lực cho cơ

quan và người tiến hành tố tụng hình sự

99

3.2.1 Tăng cường lực lượng và nâng cao trình độ cho Điều tra

viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và những người tiến hành tố

tụng khác

101

3.2.2 Tăng cường bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật mới về

tố tụng hình sự cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán

và những người tiến hành tố tụng khác

103

3.2.3 Tiến hành tổng kết thực tiễn, tổ chức rút kinh nghiệm về việc

áp dụng các quy định về thời hạn của biện pháp ngăn chặn

quy định trong tố tụng hình sự

104

3.2.4 Giải pháp tăng cường hợp tác quốc tế và trao đổi kinh nghiệm

với các nước về áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng

về thời hạn của biện pháp ngăn chặn

105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật hình sự

BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự

CAND : Công an nhân dân

CQĐT : Cơ quan điều tra

TAND : Tòa án nhân dân

TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

TTHS : Tố tụng hình sự

UBND : Ủy ban nhân dân

VKSND : Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Các biện pháp ngăn chặn là một chế định quan trọng trong pháp luật

tố tụng hình sự (TTHS) Nghiên cứu lịch sử lập pháp của Việt Nam từ năm

1945 đến nay cho thấy các biện pháp ngăn chặn trong TTHS được quy định phong phú và đa dạng với nhiều tên gọi khác nhau, đồng thời có sự kế thừa và

bổ sung hoàn thiện qua từng thời kỳ Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm

2003 trên cơ sở kế thừa có chọn lọc của BLTTH năm 1988 và các văn bản pháp luật về TTHS trước đây, trên cơ sở tổng kết thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn của các cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan tư pháp đã quy định chặt chẽ hơn về các biện pháp ngăn chặn, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giải quyết vụ

án Các quy định về biện pháp ngăn chặn trong pháp luật TTHS đã tạo hành lang pháp lý cho việc áp dụng, góp phần tích cực vào việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý tội phạm Tuy nhiên, khi áp dụng những biện pháp ngăn chặn,

nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người, các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và các văn bản pháp luật ghi nhận Do đó, khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về căn cứ, thẩm quyền, thủ tục và thời hạn áp dụng

Thực tế áp dụng các quy định về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong TTHS cho thấy còn nhiều vi phạm, tình trạng quá hạn tạm giữ, tạm giam còn xảy ra, việc áp dụng thời hạn tạm giam hiện nay còn quá dài, vượt mức quy định, thời hạn áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú còn chưa đảm bảo.v.v đã ảnh hưởng lớn các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Nguyên nhân của những vi phạm trên xuất phát từ việc các quy định của pháp luật chưa chặt chẽ, số lượng, chất lượng cán bộ làm công tác tiến hành TTHS còn thiếu, có nơi còn chưa chưa đáp ứng yêu cầu, chưa chú trọng bảo đảm những quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, công tác kiểm

Trang 9

tra, giám sát còn chưa được thường xuyên, kịp thời, hiểu biết pháp luật của người dân còn nhiều hạn chế v.v

Xuất phát từ tình hình thực tế đó, cần thiết phải nghiên cứu chuyên sâu các quy định về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này, và

đó cũng là lý do, luận chứng cho sự cần thiết để chúng tôi lựa chọn đề tài

"Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam"

làm luận văn thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Do việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn không chỉ có ý nghĩa về mặt TTHS mà còn có vai trò lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là xuyên suốt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự, nên đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những mức độ khác nhau, những khía cạnh, phương diện khác nhau về các biện pháp ngăn chặn trong TTHS

Hiện nay, khoa học luật TTHS trong và ngoài nước đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về các biện pháp ngăn chặn, nhưng chủ yếu chỉ đề cập một cách tổng thể và có hệ thống những khía cạnh lý luận chung nhất về các biện pháp ngăn chặn mà chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu

có hệ thống, toàn diện và sâu sắc riêng về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn dưới góc độ lý luận cũng như thực tiễn áp dụng

Ở Việt Nam, nghiên cứu về các biện pháp ngăn chặn, đã có các công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:

Cấp độ luận văn Tiến sĩ có đề tài:

- Áp dụng biện pháp ngăn chặn trong điều tra vụ án hình sự của lực

lượng cảnh sát nhân dân của tác giả Trịnh Văn Thanh, (Bộ Công an), 2000;

- Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình

sự Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp của Nguyễn Văn Điệp,

Học viện Tư pháp, 2005;

Trang 10

Ở cấp độ luận văn Thạc sĩ có đề tài:

- Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam của tác giả

Nguyễn Văn Điệp, Học viện Tư pháp, 1996;

- Tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam, thực trạng, nguyên

nhân và giải pháp, của Phạm Thanh Bình, Tòa án nhân dân tối cao, 1996;

- Bắt người trong tố tụng hình sự Việt Nam, của Vũ Gia Lâm, 2000;

- Vai trò của Viện kiểm sát trong việc áp dụng biện pháp tạm giam,

của Phạm Duy Trường, 2006;

- Vai trò của Viện kiểm sát trong việc áp dụng các biện pháp ngăn

chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, của Nguyễn

Bá Phùng, 2010;

- Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt

Nam, của Lê Thanh Bình, 2010

Về đề tài khoa học cấp Bộ có Hoàn thiện các biện pháp ngăn chặn

trong Bộ luật tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, của Viện

khoa học kiểm sát - Viện kiểm sát nhân dân tối cao, 2008,…

Bên cạnh đó, về giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận có các công trình của các tác giả sau:

- Những điều cần biết về bắt, giữ, khám xét, của Phạm Quang Mỹ và

Phạm Hữu Kỳ, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 1983;

- Những điều cần biết về bắt người, tạm giữ, tạm giam đúng pháp

luật, của Phạm Quang Mỹ và Phạm Hữu Kỳ, Nhà xuất bản Pháp lý, 1993;

- Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự; của Viện nghiên cứu

khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp - 1990, 1992,

- Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, của

Viện Nhà nước và Pháp luật, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994;

- Tội phạm học, luật hình sự và tố tụng hình sự, của Viện Nghiên cứu

Nhà nước và Pháp luật, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1994;

Trang 11

- Các biện pháp ngăn chặn và vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng,

của TS Nguyễn Vạn Nguyên, Nhà xuất bản Công an nhân dân (CAND), 1995;

- Các biện pháp ngăn chặn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, của

Nguyễn Mai Bộ, Nhà xuất bản CAND, 1997

- Biện pháp ngăn chặn khám xét và kê biên tài sản trong Bộ luật tố

tụng hình sự, của ThS Nguyễn Mai Bộ, 2004;

- Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, của TS Trần

Quang Tiệp, 2005

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát trên đây cho thấy, ở nước ta

đã có nhiều công trình nghiên cứu cơ bản và trực diện về các biện pháp ngăn chặn, căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn còn đối với riêng thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong TTHS Việt Nam, nhìn một cách tổng quan có thể khẳng định chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu Ngoài ra, trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về "Một số nhiệm vụ trong tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" nêu rõ: "Tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ đảm bảo đúng pháp luật phát

hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong bắt, giữ"; Nghị quyết số

48-NQ/TW ngày 25/4/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020"; và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về

"Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" trong đó có nêu: "hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người" với nhiệm vụ đặt ra là "Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội" thì vấn đề hoàn thiện pháp luật TTHS về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn càng trở nên cần thiết

Trang 12

Như vậy, tình hình nghiên cứu trên đây lại một lần nữa cho phép

khẳng định việc nghiên cứu đề tài "Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn

trong tố tụng hình sự Việt Nam" là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính

lý luận, vừa có tính thực tiễn

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn dưới khía cạnh lập pháp hình sự và áp dụng chúng trong thực tiễn, từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật TTHS Việt Nam, cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc quy định thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong thực tiễn áp dụng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Trên cơ sở kết quả tổng hợp các quan điểm của các tác giả trong và ngoài nước về các biện pháp ngăn chặn, luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ một

số vấn đề chung về các biện pháp ngăn chặn và thời hạn của các biện pháp ngăn chặn như: Khái niệm, ý nghĩa của các biện pháp ngăn chặn, căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn; Khái niệm thời hạn biện pháp ngăn chặn, căn

cứ quy định thời hạn, thời hạn của các biện pháp ngăn chặn với các thời hạn khác có liên quan trong quá trình giải quyết vụ án

- Khái quát sự phát triển của các quy định về biện pháp ngăn chặn cũng như thời hạn của các biện pháp ngăn chặn được trong lịch sử pháp luật TTHS của nước ta từ năm 1945 đến nay để rút ra những nhận xét, đánh giá;

- Nghiên cứu các quy định về thời hạn của từng biện pháp ngăn chặn

cụ thể trong BLTTHS Việt Nam hiện hành, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá;

Trang 13

- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn, đồng thời phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế xung quanh việc áp dụng;

- Từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong BLTTHS Việt Nam hiện hành, cũng như những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong thực tiễn

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong luật TTHS Việt Nam, kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá tình hình áp dụng các quy định về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan tư pháp, những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong thực tiễn

Luận văn cũng có tham khảo những bài học kinh nghiệm lập pháp một

số nước trong khi nghiên cứu về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn

Về không gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trên phạm vi cả nước

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong 10 năm (2004-2013)

4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, chính sách TTHS, về vấn đề cải cách

tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX, X

Trang 14

và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật TTHS như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học về luật TTHS và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn

5 Những điểm mới và đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong TTHS, trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận

và thực tiễn liên quan tới thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong luật TTHS Việt Nam Những điểm mới cơ bản của luận văn là:

- Tổng hợp các quan điểm khoa học trong và ngoài nước về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong TTHS để xây dựng nên khái niệm thời hạn của các biện pháp ngăn chặn, bảo đảm tính chính xác, khoa học, đồng thời chỉ

ra ý nghĩa của việc quy định thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong mối tương quan so sánh với một số chế định khác;

- Nghiên cứu chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của quá trình hình thành

và phát triển của các quy định về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật TTHS Việt Nam từ năm 1945 cho đến nay;

- Nghiên cứu, đánh giá làm sáng tỏ bức tranh về tình hình áp dụng các quy định về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn của các cơ quan tiến hành

tố tụng; những tồn tại, hạn chế của thực tiễn áp dụng pháp luật;

- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao

Trang 15

hiệu quả áp dụng pháp luật trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam

Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho không chỉ các nhà lập pháp, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán

bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan thi hành án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thời hạn của các biện pháp ngăn

chặn

Chương 2: Quy định về thời hạn biện pháp ngăn chặn trong pháp luật

tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng

Chương 3: Những giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả áp dụng

các quy định về thời hạn của biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự

Trang 16

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỜI HẠN CỦA CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN

1.1 BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ THỜI HẠN TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1.1 Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự

1.1.1.1 Khái niệm biện pháp ngăn chặn

Trong bất kỳ xã hội nào, con người cũng luôn giữ vai trò quyết định đối với sự phát sinh, tồn tại và và phát triển của xã hội đó Tác giả Phạm Thanh Bình đã chỉ ra rằng: "Tuy nhiên, chỉ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, con người mới được đặt vào vị trí trung tâm của toàn bộ hoạt động xã hội Mọi chiến lược, chính sách phát triển của Đảng ta đều nhằm tới mục đích vì con người, cho con người" [3] Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) với vai trò là đại diện cho nhân dân, đã thể chế hóa ý chí và lợi ích của nhân dân thành pháp luật, do đó bảo vệ trật tự XHCN, bảo vệ quyền công dân là một trong những chức năng quan trọng của Nhà nước ta

Trên tinh thần kế thừa Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã quy định:

1 Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm

2 Nghiêm cấm mọi hành vi tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử khác xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của con người [50, khoản 1, 2 Điều 22] Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân cũng đã được quy định tại Điều 6 BLTTHS năm 2003 và trở thành nguyên tắc quan trọng xuyên suốt toàn bộ quá trình TTHS Tuy nhiên, trong hoạt động bảo vệ pháp luật nói chung và hoạt động chống tội phạm nói riêng vẫn cần thiết đặt ra vấn đề hạn chế một số quyền công dân, nhằm bảo đảm trật tự chung của cả xã hội Cụ thể

Trang 17

hơn, để công tác phát hiện tội phạm được nhanh chóng, chính xác, kịp thời xử

lý tội phạm và hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người

vô tội, trong một số trường hợp nhất định, pháp luật phải cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp cưỡng chế nào đó hạn chế quyền và lợi ích của công dân, trong đó có các biện pháp ngăn chặn

Theo Từ điển Tiếng Việt "ngăn chặn" là "chặn lại ngay từ đầu, không

để cho gây tác hại" [55] Theo định nghĩa của Giáo trình của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, biện pháp ngăn chặn được hiểu là biện pháp cưỡng chế TTHS được quy định trong pháp luật TTHS, do người có thẩm quyền ở các

cơ quan tiến hành tố tụng hoặc các cơ quan khác được giao một số hoạt động

tố tụng áp dụng, công dân đối với bị can, bị cáo, người phạm tội tang, người

có lệnh truy nã hoặc người bị nghi là phạm tội, nhằm ngăn chặn kịp thời hành

vi phạm tội, không để họ cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội cũng như nhằm đảo bảo cho việc thi hành án [10, tr 248]

1.1.1.2 Mục đích của biện pháp ngăn chặn

Mục đích của các biện pháp ngăn chặn là không cho tội phạm tiếp tục xảy ra gây thiệt hại cho xã hội, không để cho người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật Đồng thời, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn còn nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án như không để người phạm tội có thể xóa bỏ dấu vết phạm tội, tiêu hủy chứng cứ, thông cung giữa những người phạm tội hoặc với người làm chứng, đảm bảo sự có mặt của bị can, bị cáo, bị án khi có yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng… Như vậy, biện pháp ngăn chặn không nhằm mục đích trừng trị như hình phạt mà nhằm mục đích phòng ngừa và có thể làm giảm hậu quả của tội phạm gây ra, để làm rõ sự thật khách quan của vụ án, mặc dù khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn cũng có thể hạn chế quyền tự do thân thể, tự do đi lại của người bị áp dụng Do đó, mọi nhận thức áp dụng biện pháp ngăn chặn để trấn áp, trừng trị người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn đều là không đúng; như quan niệm của nhà Luật học I.I Karpes:

Trang 18

"Giải quyết việc lựa chọn áp dụng biện pháp ngăn chặn chính là thực hiện trách nhiệm hình sự đối với cá nhân người phạm tội" [54, tr 49] hay các tác giả Phan Hữu Kỳ, Phạm Quang Mỹ là "có tác dụng trấn áp mạnh mẽ kẻ địch và các bọn tội phạm khác, thỏa mãn được yêu cầu, nguyện vọng của quần chúng" [31]

1.1.1.3 Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn

Điều 79 BLTTHS năm 2003 quy định các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn bao gồm:

- Để kịp thời ngăn chặn tội phạm: Việc kịp thời ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm xảy ra hoặc không để người phạm tội có điều kiện kết thúc hành vi phạm tội của mình gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội là việc làm rất cần thiết và cấp bách vì mỗi tội phạm xảy ra đều có thể gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho một hoặc nhiều quan hệ xã hội là khách thể được luật hình sự bảo vệ Quy định áp dụng trong những trường hợp cụ thể như: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp khi có căn cứ để cho rằng một người nào đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (điểm a khoản 1 Điều 81 BLTTHS năm 2003); hoặc bắt người phạm tội quả tang khi phát hiện một người đang thực hiện tội phạm (khoản 1 Điều 82 BLTTHS năm 2003)

- Khi có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội: Người đã thực hiện xong hành vi phạm tội sau khi đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố với tư cách bị can hoặc đưa ra xét xử với tư cách bị cáo, mà có căn cứ cho rằng họ sẽ tiếp tục phạm tội nếu vẫn để họ tự do nên cần áp dụng các biện pháp ngăn chặn Cụ thể là: Bị can, bị cáo có những hành vi tích cực chuẩn bị thực hiện tội phạm mới và là bất kỳ loại tội nào; Bị can, bị cáo có hành vi đe dọa, trả thù người tố cáo, người làm chứng và có khả năng thực hiện sự đe dọa đó; Bị can, bị cáo trong nhiều trường hợp là những phần tử có ý thức chống đối chế độ sâu sắc, nhiều trường hợp lại là đối tượng côn đồ, hung hãn,

có tiền án, tiền sự, thuộc loại tái phạm, tái phạm nguy hiểm Căn cứ này được thể hiện cụ thể trong quy định về bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người trong trường hợp khẩn cấp; tạm giữ; tạm giam

Trang 19

- Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử: Những biểu hiện của việc gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử có thể là bị can, bị cáo trốn khỏi nơi cư trú; nhiều lần không có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng mà không có

lý do chính đáng; xóa bỏ dấu vết tội phạm; tiêu hủy chứng cứ; làm thay đổi tài liệu liên quan đến tội phạm; mua chuộc người bị hại, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch; thông đồng cấu kết với nhau đối phó lại hoạt động điều tra, truy tố, xét xử… Căn cứ này được hiểu là bị can, bị cáo đã có hành vi gây cản trở hoặc có khả năng thực hiện ngay tức khắc việc gây cản trở cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử Đối tượng để áp dụng căn cứ này thường là bị can, bị cáo, người bị truy nã; Cũng có thể áp dụng đối với người chưa có quyết định khởi tố bị can như một người thực hiện tội phạm và sau đó

bỏ trốn hoặc sau khi phát hiện dấu vết tội phạm trên người hoặc nơi ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và có căn cứ cho rằng người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ, cụ thể là những trường hợp bắt khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang theo quy định của BLTTHS

- Để đảm bảo thi hành án: Thi hành án là giai đoạn cuối cùng của TTHS, phát huy hiệu lực của bản án được thi hành trong thực tế Việc cản trở thi hành án được thể hiện: bị cáo không có nơi cư trú rõ ràng, không có nghề nghiệp hoặc bị cáo có nhân thân xấu như có tiền án, tiền sự, đối tượng côn đồ hung hãn,… Khi có căn cứ cho rằng bị cáo cản trở việc thi hành án thì có thể

áp dụng một trong các biện pháp ngăn chặn thích hợp như: Tạm giam; Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bảo lãnh; Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

1.1.1.4 Ý nghĩa của biện pháp ngăn chặn

Thứ nhất, các biện pháp ngăn chặn thể hiện sự chuyên chính của nhà

nước XHCN trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm: Tội phạm trực tiếp hoặc hoặc gián tiếp xâm hại đến sự bền vững và ổn định của chế độ nhà nước, chế độ kinh tế - chính trị và xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tự do,

Trang 20

danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân Do đó, Nhà nước ta coi việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn kịp thời, xử lí nghiêm minh nhằm tiến tới loại trừ hiện tượng phạm tội ra khỏi đời sống xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất và phải được tiến hành một cách kiên quyết, triệt để, không khoan nhượng

Thứ hai, các biện pháp ngăn chặn bảo đảm cho hoạt động của các cơ

quan tiến hành tố tụng được thuận lợi; góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Thông thường, người phạm tội luôn tìm đủ mọi cách để có thể nhanh chóng đạt được mục đích phạm tội lại vừa có thể che giấu, trốn tránh được sự phát hiện và trừng phạt của pháp luật, do đó, cần thiết phải ngăn chặn kịp thời ngay từ đầu các hành vi thực hiện tội phạm hoặc hành vi trốn tránh, gây khó khăn cho việc xử lý người phạm tội Như vậy, các biện pháp ngăn chặn góp phần hạn chế đến mức thấp nhất những khó khăn mà người phạm tội có thể gây ra cho quá trình giải quyết vụ án

Thứ ba, các biện pháp ngăn chặn bảo đảm sự dân chủ, tôn trọng các

quyền cơ bản của công dân được hiến pháp quy định như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do cư trú và đi lại…; thể hiện tính ưu việt của chế

độ XHCN: Mọi trường hợp thực hiện không đúng các quy định pháp luật trong việc áp dụng biện pháp chăn chặn đều phải bị phát hiện và khắc phục kịp thời Mọi hành vi trái pháp luật khi áp dụng biện pháp ngăn chặn gây hậu quả nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân đều bị xử lý nghiêm minh Như vậy, quy định và đảm bảo áp dụng nghiêm chỉnh những biện pháp ngăn chặn trong TTHS là sự thể hiện tập trung và rõ nét nhất sự dân chủ, tính ưu việt của chế độ XHCN của Nhà nước ta

1.1.1.5 Các biện pháp ngăn chặn

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định các biện pháp ngăn chặn bao gồm: Bắt người (với bốn trường hợp bắt: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam;

Trang 21

Bắt người trong trường hợp khẩn cấp; Bắt người phạm tội quả tang; Bắt người

có lệnh truy nã); Tạm giữ; Tạm giam; Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bảo lĩnh; Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Mỗi biện pháp ngăn chặn có những quy định khác nhau về đối tượng, thẩm quyền, thủ tục áp dụng, do đó tùy từng trường hợp cụ thể để lựa chọn biện pháp ngăn chặn phù hợp sẽ mang lại

ý nghĩa tích cực và hiệu quả trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm

1.1.2 Thời hạn tố tụng hình sự

Pháp luật về TTHS đều có quy định về thời hạn trong từng giai đoạn tố tụng cụ thể nhằm đảm bảo các hành vi tố tụng được thực hiện một cách chính xác, khách quan Trong giai đoạn trước khi khởi tố vụ án hình sự, BLTTHS đã quy định về thời hạn giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm, đảm bảo mọi tội phạm được phát hiện kịp thời để từ đó quyết định khởi tố hoặc không khởi tố

vụ án hình sự Theo quy định tại Điều 103 BLTTHS năm 2003, thời hạn này là hai mươi ngày đối với sự việc đơn giản, hai tháng đối với vụ việc phức tạp Thời hạn điều tra vụ án hình sự được quy định tại Điều 119 BLTTHS năm 2003 như sau: Không được quá bốn tháng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra Trong trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ

án, trong thời hạn mười ngày trước khi hết hạn điều tra, CQĐT phải có văn bản

đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra Trong suốt giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát thực hiện chặt chẽ việc kiểm sát điều tra của CQĐT, đồng thời thực hiện một số hoạt động điều tra trong thời hạn mà pháp luật cho phép v.v

Có thể thấy rằng, ở mỗi giai đoạn TTHS, pháp luật đều quy định chặt chẽ một thời hạn nhất định, không có hoạt động tố tụng nào lại không bị ràng buộc bởi một thời hạn cụ thể Việc quy định thời hạn tố tụng nhằm để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có ý thức tinh thần trách nhiệm về các hoạt động của mình đảm bảo đúng thời gian quy định, chống lại

sự tùy tiện và những biểu hiện vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng

Trang 22

Theo quy định của pháp luật TTHS hiện hành: Thời hạn TTHS bao gồm hai loại: thời hạn của thủ tục tố tụng và thời hạn của các biện pháp ngăn chặn

Bộ luật tố tụng hình sự quy định về thời hạn của thủ tục tố tụng cụ thể thông qua từng nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng Các hoạt động tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án hình sự đều phải được tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định Mỗi cơ quan tiến hành tố tụng đều có những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn riêng, nhưng đồng thời có mối quan hệ với nhau trong quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng mà pháp luật cho phép Cơ quan nào có thẩm quyền gì và thực hiện thẩm quyền trong thời hạn như bao lâu, những người tiến hành tố tụng có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cụ thể nào Ví dụ: Khi CQĐT ra lệnh bắt khẩn cấp thì phải báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ bắt khẩn cấp Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn Nếu Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn thì người đã ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt [47, khoản 4 Điều 81]

Trong suốt quá trình tố tụng, để tiến hành các hoạt động giải quyết vụ

án được thuận lợi, chính xác, kịp thời, các cơ quan tiến hành tố tụng cần thiết phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn trên cơ sở các quy định của pháp luật

về nhiệm vụ, quyền hạn cũng như thủ tục áp dụng các biện pháp đó Mỗi biện pháp ngăn chặn khi áp dụng lại có quy định bắt buộc riêng về thời hạn Ví dụ thời hạn tạm giữ không quá 3 ngày kể từ khi CQĐT nhận người bị bắt Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ, nhưng không quá ba ngày [47, Điều 87]

Như vậy, thời hạn TTHS không chỉ là khoảng thời gian vật chất được xác định để thực hiện hoạt động cần thiết, mà nó còn quy định cụ thể về trình

Trang 23

tự, thủ tục, thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng khi thực hiện các hoạt động tố tụng đó, đồng thời là sự thể hiện, mang dấu ấn chủ quan của nhà làm luật, xác định những thời hạn cần thiết để tiến hành các hoạt động tố tụng

Thời hạn là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong TTHS, nhưng BLTTHS năm 2003 lại không quy định khái niệm về thời hạn TTHS Điều 96 BLTTHS năm 2003 chỉ quy định riêng về cách tính thời hạn trong TTHS Từ những quy định tại Điều 96 BLTTHS và từ thực tiễn hoạt động TTHS có thể đưa ra khái niệm về thời hạn TTHS như sau: Thời hạn trong TTHS chính là giới hạn, thời gian dành cho các chủ thể của TTHS thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình theo quy định của pháp luật; là khoảng thời gian được ấn định để chủ thể TTHS phải thực hiện hoặc kết thúc một hoạt động tố tụng nào đó và thời hạn cũng là một tiêu chí để xác định trách nhiệm của các chủ thể TTHS

1.2 THỜI HẠN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.2.1 Khái niệm thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự

Từ phân tích ở trên cho thấy, thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong TTHS thuộc phạm vi, giới hạn của thời hạn trong TTHS Các quy định nghiêm ngặt của pháp luật TTHS về thời hạn đối với từng biện pháp ngăn chặn là thực sự cần thiết để đảm bảo việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn được chính xác, khách quan và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng Cũng như các loại thời hạn tố tụng khác, thời hạn của các biện pháp ngăn chặn được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác

để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với cá nhân, tổ chức, người bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn do BLTTHS quy định

Theo quy định của BLTTHS thì các biện pháp ngăn chặn trong TTHS sự bao gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh,

Trang 24

đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Vì vậy thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong TTHS chính là thời gian, giới hạn của việc bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong TTHS được coi là một loại thời hạn đặc biệt quan trọng, vì việc quy định thời hạn này một cách hợp

lý không chỉ mang lại sự khách quan, công bằng mà còn xác định được một cách chính xác nhất thời gian để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện được các hoạt động tố tụng cần thiết cho toàn bộ quá trình tố tụng, giúp quá trình giải quyết vụ án được thuận lợi, góp phần nâng cao hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, ngăn chặn ngay

từ đầu các hành vi thực hiện tội phạm hoặc hành vi trốn tránh, gây khó khăn cho việc xử lý người phạm tội; đồng thời đảm bảo sự dân chủ, tôn trọng tối đa các quyền cơ bản của công dân, hạn chế việc lạm quyền, xâm phạm quyền tự

do, dân chủ của công dân Việc xác định một khoảng thời gian hợp lý, chính xác khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn còn thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, ngăn chặn các biểu hiện cản trở hoặc gây khó khăn cho toàn bộ quá trình tố tụng, đảm bảo sự có mặt của bị can, bị cáo khi có triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng Do đó, việc quy định thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật TTHS là vô cùng quan trọng và cần thiết, góp phần thể hiện sự dân chủ, tính ưu việt của Nhà nước XHCN

Có thể đưa ra khái niệm về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn như sau:

Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong TTHS là một trong những thời hạn của TTHS, là khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng phải tuân thủ khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS

Trang 25

1.2.2 Căn cứ quy định thời hạn các biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình sự

Khi xác định thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong TTHS, cần thiết phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của TTHS Việc áp dụng đúng thời hạn của các biện pháp ngăn chặn giúp quá trình giải quyết vụ án được chính xác, đúng đắn, khách quan, tránh làm oan người vô tội hay giam giữ người trái pháp luật Do đó, để quy định thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong TTHS, cần phải dựa trên những căn cứ sau:

* Tính chất nghiêm trọng của tội phạm, mức độ phức tạp của vụ án

Căn cứ này dựa trên việc quy định những hành vi nào là nguy hiểm đáng kể cho xã hội, xâm phạm đến những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ thì mới được coi là tội phạm Khác với những hành vi không phải là tội phạm, được quy định trong các đạo luật khác Khi đã xác định được hành

vi là tội phạm, phải căn cứ vào mức độ gây nguy hại cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS) về 4 loại tội: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Ví dụ, thời hạn tạm giam bị can để điều tra đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá hai tháng, tội phạm nghiêm trọng là không quá ba tháng, tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng là không quá bốn tháng [47, khoản 1 Điều 120] Việc quy định các thời hạn của biện pháp ngăn chặn căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của tội phạm, mức độ phức tạp của vụ

án có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn áp dụng Đối với những vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp, có đồng phạm, do nhiều người thực hiện, gây nguy hiểm lớn cho xã hội,… thì cần thiết phải tiến hành nhiều hoạt động điều tra để xác minh, thu thập chứng cứ, do đó, thời hạn tạm giam để điều tra phải dài hơn để đảm bảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng có thể thực hiện đủ các hoạt động điều tra cần thiết, tìm ra sự thật khách quan của vụ án, chứng minh được tội phạm và người phạm tội

Trang 26

* Căn cứ vào nhân thân, điều kiện sinh sống, hoạt động của người thực hiện hành vi phạm tội

Nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm nói lên tính chất của một con người Những đặc điểm đó có ảnh hưởng nhất định đến hành vi phạm tội và khả năng cải tạo, giáo dục người phạm tội Xét đến nhân thân người phạm tội là xét đến những mối quan hệ giữa người ấy với xã hội, tập thể, gia đình và với người khác cũng như những đặc điểm của bản thân người đó Đặc điểm nhân thân người phạm tội có rất nhiều loại, như:

+ Những đặc điểm mang tính chất pháp lý (tức là đặc điểm có ảnh hưởng trực tiếp đến tội phạm) được BLHS quy định là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ hình phạt như: Phạm tội lần đầu hay đã có tiền án, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, người chưa thành niên, có thái độ tự thú, hối cải, lập công chuộc tội hay ngoan cố ;

+ Những đặc điểm có quan hệ đến ý thức chính trị, ý thức lao động, trình độ nhận thức, hiểu biết của người phạm tội như: Thành phần, trình độ văn hóa, nghề nghiệp ;

+ Những đặc điểm có quan hệ đến các đối tượng của các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước như: Người phạm tội thuộc dân tộc ít người, thuộc gia đình liệt sĩ, là nhân sĩ, trí thức có danh tiếng, là người hoạt động trong lĩnh vực tôn giáo ;

+ Những đặc điểm phản ánh hoàn cảnh thực tế của người phạm tội như: Bị lâm bệnh hiểm nghèo, là người già yếu, là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của bản thân hay của gia đình

+ Những đặc điểm có liên quan đến cuộc sống của người phạm tội như: có địa chỉ và nhà ở cố định hay lang thang không nghề nghiệp, nguồn thu nhập để sống…

Dựa vào các đặc điểm nhân thân như trình độ học vấn, tình trạng gia đình, quan hệ xã hội,…cũng như các điều kiện sinh sống, hoạt động của

Trang 27

người thực hiện hành vi phạm tội để xem xét sự cần thiết áp dụng biện pháp ngăn chặn và cần phải áp dụng thời hạn ngăn chặn dài hay ngắn

Dựa vào điều kiện nhân thân người phạm tội, đối với trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội không có ý trốn tránh pháp luật, phạm tội lần đầu, tính chất ít nghiêm trọng hoặc phạm tội do vô ý, không có hành động cản trở, gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án,… BLTTHS quy định không cần thiết phải áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam, mà có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác như quản chế, cấm đi khỏi nơi cư trú,… Nhân thân, điều kiện sinh sống của người thực hiện hành

vi phạm tội được xem xét để pháp luật TTHS quy định thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn dài hay ngắn khác nhau Ví dụ đối với việc gia hạn tạm giữ: "Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ, nhưng không quá ba ngày Trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá ba ngày " [47, khoản 2 Điều 87]

Theo đó, các trường hợp cần thiết và trường hợp đặc biệt để gia hạn thời hạn tạm giữ có thể bao gồm cả việc khi xem xem nhân thân của người bị tạm giữ mà thấy cần ngăn chặn ngay người đó có thể trốn hoặc cản trở điều tra làm rõ vụ việc

* Căn cứ vào mô hình tố tụng hình sự

Theo tác giả Nguyễn Thảo - Ban Nội chính Trung ương:

Mô hình tố tụng hình sự theo cách hiểu chung nhất là sự khái quát cao những đặc trưng cơ bản, phổ biến, phản ánh cách thức

tổ chức hoạt động tố tụng hình sự, cách thức tìm đến sự thật khách quan của vụ án Cách thức tổ chức này quyết định địa vị tố tụng của các chủ thể trong quá trình thực hiện các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự (chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử) [51]

Căn cứ vào các dấu hiệu chung nhất có thể phân thủ tục xét xử các vụ

án hình sự ở các nước trên thế giới thành hai hệ tố tụng cơ bản: Tố tụng tranh

Trang 28

tụng và tố tụng thẩm vấn (xét hỏi) "Cả hai hệ tố tụng này đều có mục đích cơ bản là tìm ra sự thật và hoạt động theo nguyên tắc "kẻ có tội phải bị trừng phạt, người vô tội phải được tự do" Điểm khác biệt giữa chúng là ở sự giả định về cách thức tốt nhất để tìm ra sự thật" [37]

Tố tụng tranh tụng là mô hình TTHS mà ở đó xuất hiện bên buộc tội

và bên gỡ tội có địa vị pháp lý ngang nhau trong quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án và tòa án sẽ ra phán quyết dựa trên kết quả tranh tụng giữa các bên tại phiên tòa Trong mô hình này, do tất cả các hoạt động tố tụng đan xen với nhau, thể hiện rõ nhất tại phiên tòa, thời gian vụ án thường bị kéo dài, nhưng lại đảm bảo quyền con người tốt hơn, do đó pháp luật quy định thời hạn của các biện pháp ngăn chặn nghiêm ngặt, chặt chẽ hơn, đảm bảo quyền con người tốt hơn Ví dụ, pháp luật của Mỹ và một số nước quy định thời hạn áp dụng biện pháp tạm giam rất nghiêm ngặt Từ khi người bị tình nghi bị bắt, tạm giam; Cơ quan điều tra phải tìm các chứng cứ chứng minh tội phạm Nếu hết thời hạn tạm giam mà không có chứng cứ chứng minh người

bị tình nghi phạm tội thì phải trả tự do ngay cho người bị bắt giữ

Tố tụng xét hỏi, tố tụng thẩm vấn được hiểu là mô hình tố tụng mà

việc xác định sự thật khách quan của vụ án dựa trên kết quả của CQĐT và việc xét hỏi bị cáo của Hội đồng xét xử tại phiên tòa Thủ tục tố tụng của mô hình này phân chia tách biệt các giai đoạn từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử

Do phụ thuộc vào từng giai đoạn tố tụng nên thời hạn của các biện pháp ngăn chặn tùy thuộc vào từng cơ quan có thẩm quyền quyết định, do đó thời hạn của các biện pháp ngăn chặn cũng tương đối dài Ví dụ: Theo quy định của BLTTHS Việt Nam hiện hành thì cả ba cơ quan: CQĐT, Viện kiểm sát và Tòa án đều có thẩm quyền tạm giam đối với người phạm tội; song thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra thường dài hơn các giai đoạn truy tố, xét xử

Ngoài hai hệ tố tụng cơ bản nêu trên, trong xu hướng hội nhập quốc

tế, việc tham khảo kinh nghiệm lập pháp của các nước khác để hoàn thiện hệ

Trang 29

thống pháp luật nói chung và hệ thống tư pháp của mình nói riêng luôn được các quốc gia quan tâm Ngày nay nhiều nước thuộc hệ thống pháp luật lục địa với hệ tố tụng thẩm vấn truyền thống đã tiếp thu và kết hợp một số yếu tố hợp

lý của tố tụng tranh tụng vào hệ thống tố tụng của mình tạo thành hệ tố tụng pha trộn - tố tung bán tranh tụng Ví dụ: Tại Cộng hòa Pháp ngày 15/6/2000

đã ban hành "Luật về suy đoán vô tội và tăng quyền của nạn nhân" đã bổ sung một số nội dung của tố tụng tranh tụng nhằm tăng cường vai trò, quyền hạn của các bên tại phiên tòa và đảm bảo tốt hơn nguyên tắc tranh tụng [37] Mô hình tố tụng bán tranh tụng theo hướng kết hợp một số yếu tố hợp lý của tố tụng tranh tụng vào tố tụng thẩm vấn truyền thống cũng đang được áp dụng ở các nước như: Pháp, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản,

Như vậy, phụ thuộc vào từng mô hình tố tụng mà thời hạn của các biện pháp ngăn chặn ở pháp luật mỗi nước cũng có những quy định khác nhau

* Căn cứ vào tổ chức hệ thống tư pháp

Do mô hình tố tụng khác nhau và cách thức tổ chức hệ thống tư pháp khác nhau, nên các quốc gia cũng có những quy định khác nhau về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn Ví dụ đối với thời hạn của biện pháp ngăn chặn tạm giam:

Theo hệ thống tư pháp Nhật Bản, chỉ Thẩm phán mới có quyền ra lệnh tạm giam Luật TTHS của Nhật Bản quy định: Chỉ có Công tố viên mới có quyền đề nghị Thẩm phán tạm giam người bị tình nghi để điều tra Thẩm phán có thể ra quyết định tạm giam người bị tình nghi trong thời hạn 10 ngày Khi Công tố viên không thể hoàn thành điều tra trong thời hạn 10 ngày thì có thể đề nghị Thẩm phán gia hạn thêm 10 ngày nữa Trước khi có cáo trạng, người bị tình nghi bị tạm giam trước khi xét xử được giam ở nhà tạm giam do

Bộ Tư pháp quản lý hoặc ở phòng tạm giam của Cảnh sát, tùy thuộc vào lệnh tạm giam của Thẩm phán [61]

Theo luật của In-đô-nê-si-a, Cảnh sát có quyền tạm giam người bị tình nghi nhiều nhất là 20 ngày, hết 20 ngày chưa điều tra xong thì Công tố viên

Trang 30

có thể gia hạn thêm 40 ngày Sau 60 ngày, Điều tra viên phải trả tự do cho người bị tình nghi Trát bắt của Công tố viên chỉ có hiệu lực trong thời hạn nhiều nhất 20 ngày, nếu việc điều tra vẫn chưa kết thúc thì Thẩm phán Tòa án cấp quận có thể gia hạn thêm 30 ngày Như vậy, sau 50 ngày, Công tố viên phải trả tự do cho người bị tình nghi v.v… [61]

Có thể thấy rằng quy định thời hạn tạm giam của Nhật Bản và nê-si-a rất chặt chẽ, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để bảo đảm tốt quyền công dân, quyền con người, thể hiện sự tôn trọng cao đối với tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của công dân

In-đô-Pháp luật TTHS của Trung Quốc quy định Cảnh sát có thẩm quyền rất rộng trong việc tạm giam người bị tình nghi để lấy lời khai Về thời hạn: Cảnh sát phải thẩm vấn người bị bắt trong vòng 24 giờ kể từ lúc bắt giữ Thời hạn tạm giam một người trong khi điều tra là 02 tháng sau khi bắt Tổng thời hạn

cả gia hạn và trong những vụ việc phức tạp là 06 tháng kể từ ngày xác định được danh tính của người bị tình nghi Nếu trong quá trình điều tra phát hiện

ra một tội phạm khác thì thời hạn điều tra tội phạm mới bắt đầu được tính từ thời điểm phát hiện ra chứng cứ của tội phạm mới… Như vậy, thời hạn tạm giam do Luật TTHS của Trung Quốc quy định là rất dài Cùng với đó, vấn đề tạm giam quá thời hạn đang trở nên nghiêm trọng tại nước này, đã được báo cáo lên Cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương của Trung Quốc như một vấn

đề hết sức nghiêm trọng, cần phải nhanh chóng khắc phục Một bản tin của Tân hoa xã đã trích dẫn số liệu do Viện kiểm sát cung cấp cho biết số vụ giam giữ quá hạn từ 01/2003-7/2007 là 33.398 vụ (Xinhua 2007) [33]

Có thể thấy rằng, hệ thống tư pháp mỗi nước có ảnh hưởng nhất định đến việc quy định thời hạn của các biện pháp ngăn chặn

Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn được thực hiện bởi những cơ

Trang 31

quan, những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền do pháp luật TTHS quy định Trong đó, những người tiến hành tố tụng cần thiết phải đáp ứng các yêu cầu về trình độ, phẩm chất, năng lực chuyên môn để việc áp dụng pháp luật được đúng đắn, chính xác, khách quan Có thể nói, trình độ, phẩm chất và năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng quyết định lớn đến kết quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 với những quy định về thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn

đã xem xét khả năng thực hiện của chủ thể tiến hành Ví dụ, quy định việc gia hạn thời hạn tạm giam để điều tra:

Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản

đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam… [47, khoản 2 Điều 120]

Về thẩm quyền gia hạn tạm giam của Viện kiểm sát được quy định như sau:

a Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, gia hạn tạm giam lần thứ nhất đối với tội phạm nghiêm trọng

và tội phạm rất nghiêm trọng Trong trường hợp vụ án được thụ lý

để điều tra ở cấp tỉnh, cấp quân khu thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, gia hạn tạm giam lần thứ nhất đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

b Trong trường hợp gia hạn tạm giam lần thứ nhất quy định tại điểm a khoản này đã hết mà vẫn chưa thể kết thúc việc điều tra

và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam

Trang 32

thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực có thể gia hạn tạm giam lần thứ hai đối với tội phạm nghiêm trọng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có thể gia hạn tạm giam lần thứ hai đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [47, khoản 3 Điều 120]

Như vậy, pháp luật đã dựa trên các quy định về thẩm quyền của cơ quan và người tiến hành tố tụng ở các nhóm cơ quan tiến hành tố tụng để phân loại những người có quyền quyết định gia hạn tạm giam

* Căn cứ vào văn hóa, pháp lý, nhận thức pháp luật của người dân

Dựa vào trình độ văn hóa, pháp lý và nhận thức pháp luật của người dân, pháp luật các quốc gia khác nhau quy định việc áp dụng thời hạn các biện pháp ngăn chặn khác nhau Ở những nước có trình độ dân trí cao, người dân có sự am hiểu pháp luật, có điều kiện thuê luật sư tham gia TTHS, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, thì các quy định pháp luật của nước đó cũng tập trung vào vấn đề bảo vệ quyền con người cao hơn, do đó, việc quy định thời hạn của các biện pháp ngăn chặn cũng nhằm đảm bảo hợp lý nhất quyền con người, hạn chế thấp nhất việc xâm phạm quyền tự do đi lại hay xâm phạm về thân thể của công dân Và ngược lại, với những nước có trình

độ dân trí thấp, hiểu biết pháp luật chưa cao, việc quy định thời hạn của các biện pháp ngăn chặn có phần dễ dẫn đến việc xâm phạm quyền con người hơn

Ở nước ta, ngay trong mỗi giai đoạn lịch sử, căn cứ vào tình hình văn hóa, pháp lý, nhận thức pháp luật của người dân mà pháp luật đã có những thay đổi nhất định: Sau cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền dân chủ nhân dân còn non trẻ, phải đương đầu với thù trong giặc ngoài, trấn áp, trừng trị kẻ thù của đất nước, bảo vệ chính quyền cách mạng là nội dung chủ yếu, về nhận thức pháp lý của người dân chưa chú trọng Trong thời kỳ này, chính sách hình sự hàng đầu chỉ nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi công cộng,

Trang 33

chưa tập trung vào thủ tục tố tụng cũng như các quy định chống xâm phạm quyền cá nhân con người Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống

đế quốc Mỹ, chính sách hình sự của Nhà nước ta vẫn thiên về mặt chuyên chính với kẻ thù Đến khi ban hành BLHS 1985 và BLTTHS 1988, việc xác định thời hạn tố tụng đã được quy định một cách chi tiết, có hệ thống, đáp ứng yêu cầu, mục đích nhiệm vụ của TTHS trong giai đoạn mới, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đến giai đoạn ban hành BLTTHS năm 2003, nhận thức về pháp lý của đất nước và nhân dân đã nâng cao hơn, thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn được quy định chặt chẽ hơn, phù hợp hơn Ngày nay, về văn hóa, pháp lý của người dân ngày càng được nâng cao và trong bối cảnh hội nhập sâu rộng với quốc tế, càng cần thiết đặt ra vấn

đề quy định thời hạn của các biện pháp ngăn chặn chặt chẽ hơn nữa, đang đòi hỏi bức thiết sửa đổi pháp luật về thời hạn ngăn chặn phải nâng cao việc bảo

vệ quyền con người hơn nữa

* Căn cứ vào điều kiện cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất của đất nước

Trong điều kiện cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất của đất nước phát triển thì việc quy định các biện pháp ngăn chặn thời hạn áp dụng các biện pháp này được chú trọng hơn, thuận lợi hơn Hiện nay, ở nước ta cơ sở vật chất bảo đảm cho công tác tiếp cận pháp luật của người dân còn rất thiếu thốn, nhất là đối với các tỉnh miền núi Các phương tiện làm việc như máy vi tính chưa có hoặc phải sử dụng chung; các tài liệu pháp luật, nghiệp vụ chưa được cập nhật thường xuyên Nhiều nơi chưa được nối mạng Internet đã ảnh hưởng đến việc cập nhật văn bản pháp luật mới và sử dụng cơ sở dữ liệu pháp luật một cách hệ thống, việc ứng dụng công nghệ thông tin, tin học trong quản lý

và thực thi công vụ còn ít, do đó vấn đề quy định pháp luật TTHS nói chung, quy định về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn nói riêng chưa được chú trọng nhiều Đây chính là những hạn chế làm ảnh hưởng không nhỏ đến các quy định của thủ tục tố tụng, thời hạn tố tụng cũng như thời hạn của các biện

Trang 34

* Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn với các thời hạn khác trong giai đoạn trước khi khởi tố vụ án

Trước khi khởi tố vụ án, cần thiết phải áp dụng một số biện pháp ngăn chặn khi thấy một người thực hiện hành vi có dấu hiệu phạm tội để xem xét việc khởi tố hay không khởi tố một người như: biện pháp bắt khẩn cấp, bắt quả tang, tạm giữ Thời hạn của các biện pháp này được quy định rất ngắn, đảm bảo phù hợp với tính cấp thiết, nhanh chóng trước khi khởi tố vụ án, xác định tội phạm, đồng thời đảm bảo quyền con người Khoảng thời gian cho phép để áp dụng biện pháp bắt khẩn cấp, bắt quả tang phải xác định nhanh chóng, không thể chậm trễ để xem xét quyết định một người có phạm tội được quy định trong BLHS hay không Sau khi bắt, tạm giữ, các cơ quan tiến hành một số hoạt động nghiệp vụ cần thiết, thu thập chứng cứ, tài liệu có liên quan, nếu không đủ căn cứ chứng minh một người phạm tội trong BLHS thì phải trả tự do cho họ Như vậy, nếu họ không phạm vào tội được quy định trong BLHS mà áp dụng biện pháp ngăn chặn với họ thì đã phần nào ảnh hưởng nhất định đến quyền công dân, quyền tự do thân thể, danh dự, nhân phẩm của họ, do đó, xác định giới hạn khoảng thời gian mà pháp luật cho phép trong giai đoạn này bắt buộc không thể kéo dài

Thời điểm này, pháp luật quy định áp dụng các biện pháp ngăn chặn phải được giới hạn trong thời gian cho phép để tiến hành các hoạt động cần thiết cho việc khởi tố vụ án, đảm bảo việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can có căn

cứ, đúng pháp luật Ví dụ: thời hạn tối đa để áp dụng biện pháp tạm giữ là 9

Trang 35

ngày, thì ít nhất sau 9 ngày, CQĐT phải thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh người đang bị tạm giữ phạm tội quy định trong BLHS hay không, để ra Quyết định khởi tố vụ án Nếu không thì phải trả tự do cho người bị tạm giữ

* Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn với các thời hạn trong giai đoạn điều tra vụ án, giai đoạn truy tố, xét xử

Sau khi khởi tố vụ án, xác định được sự việc phạm tội, khởi tố được bị can, xác định được người thực hiện hành vi phạm tội, vụ án được bước sang giai đoạn điều tra, sau khi kết thúc điều tra chuyển sang giai đoạn truy tố, kết thúc truy tố bằng bản Cáo trạng là đến giai đoạn xét xử và sau cùng là thi hành án Tương ứng với giai đoạn điều tra có thời hạn điều tra, tương ứng với giai đoạn truy tố có thời hạn truy tố, và tương ứng với giai đoạn xét xử là thời hạn xét xử sơ thẩm, thời hạn xét xử phúc thẩm Các thời hạn này phân chia ranh giới của từng giai đoạn tố tụng, xác định khoảng thời gian cần thiết mà các cơ quan tiến hành tố tụng phải hoàn thành việc điều tra, truy tố, xét xử vụ

án tương ứng Trong khoảng thời hạn của từng giai đoạn này, ngoài việc tiến hành điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ, các hoạt động nghiệp vụ khác, thì các cơ quan tiến hành tố tụng còn được quyền áp dụng thời hạn ngăn chặn Mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong các giai đoạn tố tụng này nhằm việc tiến hành điều tra, truy tố, xét xử người thực hiện hành vi phạm tội được thuận lợi, tránh việc cản trở điều tra, truy tố, xét xử và đảm bảo

sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng Trong từng giai đoạn này, tùy thuộc vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các điều kiện cần thiết khác để các cơ quan tiến hành tố tụng

áp dụng các biện pháp ngăn chặn phù hợp Nếu cần thiết người phạm tội có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng

có thể áp dụng biện pháp tạm giam Trường hợp xét thấy không cần thiết phải tạm giam, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn ít nghiêm khắc hơn như cấm đi

Trang 36

khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn này phải phù hợp với thời hạn của giai đoạn tố tụng, việc xác định khoảng thời gian mà pháp luật cho phép để áp dụng biện pháp ngăn chặn phải nằm trong khoảng thời gian của giai đoạn tố tụng tương ứng Ví dụ, nếu cần thiết phải áp dụng tạm giam, thì thời hạn tạm giam để điều tra không được phép dài hơn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam để truy tố không được phép dài hơn thời hạn truy tố, thời hạn tạm giam để xét xử không được phép dài hơn thời hạn xét xử, v.v… Tương tự như vậy, khi áp dụng thời hạn biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cũng phải được xác định giới hạn nằm trong khoảng thời gian của giai đoạn tố tụng tương ứng Như vậy, dựa vào từng giai đoạn tố tụng để làm căn cứ xác định thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn

1.3 THỜI HẠN CỦA CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1.3.1 Luật tố tụng hình sự của Hoa Kỳ

Theo pháp luật Hoa Kỳ, TTHS bắt đầu khi một đạo luật bị vi phạm và trải qua các giai đoạn bắt giữ, cáo trạng, xét xử sơ thẩm và phúc thẩm Ở Mỹ,

có một trình tự tố tụng ở cấp quốc gia và mỗi bang, mỗi lãnh thổ lại có những quy tắc và quy định riêng tác động lên thủ tục tố tụng, do đó, các thủ tục TTHS vừa có những chuẩn mực nhất định và cũng tồn tại những sự tương đồng giữa các thực thể chính quyền

Trong "Các nguyên tắc liên bang về tố tụng hình sự (2006) (bao gồm

cả sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01 tháng 12 năm 2006) của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ không quy định cụ thể các biện pháp ngăn chặn và phân biệt thành từng loại biện pháp ngăn chặn cũng như thời hạn của các biện pháp ngăn chặn

mà một số "biện pháp ngăn chặn" như bắt giữ, bảo lãnh, giải phóng bị đơn bằng cam kết trước tòa v.v… được quy định trong tổng thể trình tự, thủ tục tố tụng từ trước khi diễn ra phiên tòa, tại phiên tòa và sau phiên tòa

Trước khi một phiên tòa sơ thẩm hình sự được tiến hành, luật pháp

Trang 37

của liên bang và bang yêu cầu rất nhiều thủ tục

Nguyên tắc thứ 4 của "Các nguyên tắc liên bang về tố tụng hình sự" (2006) của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về "Lệnh bắt hoặc triệu tập dựa trên một đơn tố giác" quy định rất cụ thể về việc bắt giữ Trên cơ sở điều tra sơ bộ, nếu thấy đủ chứng cứ để buộc tội người tình nghi đã thực hiện tội phạm thì cảnh sát có thể bắt giam ngay người đó Thông thường, Cảnh sát căn cứ vào lệnh giam của Thẩm phán để bắt giam người bị tình nghi Tuy nhiên trong thực tế công tác, hầu hết các trường hợp bắt giam không nhất thiết phải có lệnh của Thẩm phán Luật cho phép Cảnh sát được bắt những người phạm tội nhỏ khi họ đang thực hiện tội phạm (tội vi cảnh mà không phải tội phạm hình sự như cướp của, giết người, hủy hoại tài sản) Thường thì cảnh sát giải người bị bắt đến trụ sở để xét hỏi, lấy lời khai của người bị bắt và nhân chứng hoặc đưa đến đội cảnh sát điều tra để nạn nhân hoặc các nhân chứng nhận dạng Khi đã có đủ căn cứ cho rằng người bị bắt phạm tội thì cảnh sát mới trình lên thẩm phán để xin lệnh giam Bắt giữ không có lệnh xảy ra khi tội phạm diễn

ra trước sự có mặt của một cảnh sát hay khi một viên cảnh sát có nguyên nhân hợp lý để tin rằng một người nào đó đã phạm (hoặc dường như phạm) một tội Niềm tin như vậy sau đó phải được thể hiện bằng một tuyên bố cam đoan hoặc một bản cam kết "Ở Mỹ, 95% các cuộc bắt giữ là không có lệnh" [13] Khi một người bị bắt giữ vì tình nghi phạm tội thì người đó sẽ bị lưu giữ ở đồn cảnh sát; "Năm 1991, Tòa án tối cao Mỹ quyết định rằng cảnh sát có thể lưu giữ một người bị bắt giữ không có lệnh trong vòng 48 giờ mà không cần phải có một phiên tòa xem xét việc bắt giữ đó có đúng hay không" [13]

Theo quy định, một thời gian ngắn sau khi bị bắt, người bị tình nghi phải được đưa đến Tòa tiểu hình để xem xét việc bảo lãnh Thẩm phán tiểu hình sẽ xác định bị cáo có được bảo lãnh tại ngoại hay không, và trong trường hợp đó thì số tiền bảo lãnh là bao nhiêu Về mặt Hiến pháp, yêu cầu duy nhất đối với số tiền bảo lãnh là nó không được "quá lớn" Bảo lãnh được coi là một

Trang 38

đặc quyền - chứ không phải quyền lợi - và nó có thể bị từ chối trong những vụ

án tử hình mà bằng chứng phạm tội có tính thuyết phục cao hoặc nếu thẩm phán tiểu hình tin rằng bị cáo sẽ lẩn trốn khỏi bị kiện tụng mà không cần quan tâm số tiền bảo lãnh là bao nhiêu Một biện pháp thay thế bảo lãnh là giải phóng bị đơn bằng cam kết trước tòa, về cơ bản là một lời hứa của bị đơn sẽ quay lại tòa án vào ngày xét xử được chỉ định Những vụ việc vi phạm nhỏ về giao thông thì Tòa tiểu hình xem xét giải quyết ngay Trường hợp tội phạm thông thường thì Tòa tiểu hình sẽ căn cứ vào tính chất tội phạm, mức độ phạm tội và các điều kiện bảo lãnh để xem xét việc bảo lãnh bằng tiền hoặc đặt tài sản nhằm bảo đảm sự có mặt của họ khi có giấy triệu tập trong các giai đoạn tố tụng sau Tuy nhiên, đối với những trường hợp người phạm tội thuộc diện nghèo khó nhưng có nghề nghiệp, nhà cửa hoặc có những mối ràng buộc khác trong cộng đồng thì chỉ cần cho họ cam đoan có mặt bất cứ lúc nào

mà không phải đặt tiền để bảo đảm Cũng như hầu hết các nước phát triển, Luật TTHS Hoa Kỳ quy định các tội phạm hình sự có tính chất nghiêm trọng như giết người, bắt cóc trẻ em thì không được áp dụng biện pháp bảo lãnh

1.3.2 Luật Tố tụng hình sự của Cộng hòa Liên bang Đức

Cộng hòa Liên bang Đức là một đất nước có truyền thống pháp luật lục địa lâu đời, thủ tục TTHS của họ được xây dựng và áp dụng trên mô hình

tố tụng thẩm vấn, xét hỏi Bộ luật TTHS Cộng hòa Liên bang Đức là một Bộ luật đồ sộ, công phu gồm 6 phần với khoảng gần 470 điều quy định cụ thể từng hoạt động, thủ tục trong trình tự tố tụng giải quyết vụ án hình sự của Cộng hòa Liên bang Đức

Các biện pháp ngăn chặn được BLTTHS Đức quy định bao gồm: bắt

và tạm giam (Chương IX, Phần một), tạm giữ (Điều 127), bắt người cản trở hoạt động công vụ (Điều 164), và những biện pháp khác nhằm bảo đảm truy

tố và thi hành bản án hình sự (Chương IXa, Phần một):

* Về bắt và tạm giam: Khác với BLTTHS của Việt Nam, quy định bắt

Trang 39

và tạm giam ở Chương các biện pháp ngăn chặn, BLTTHS của Cộng hòa Liên bang Đức quy định các biện pháp bắt và tạm giam tại Chương IX của Phần những quy định chung

Đối với vấn đề bắt và tạm giam, Luật Đức phân biệt giữa biện pháp tạm giam và bắt Tạm giam trong giai đoạn tiền xét xử (giai đoạn điều tra) là sự hạn chế nghiêm khắc nhất quyền tự do cá nhân theo Bộ luật tố tụng hình sự Do đó, chỉ có Thẩm phán mới có quyền ra lệnh này và lệnh này phải được thực hiện như một biện pháp an ninh chứ không phải với mục đích làm cho người bị tình nghi nếm mùi nhà tù khi mà giả định vô tội vẫn đang áp dụng Theo quy định, thời hạn tạm giam trong giai đoạn tiền xét xử được tự động trừ vào thời gian chấp hành án, trừ khi bị can từ bỏ đặc quyền

này do thái độ bất hợp tác sau khi phạm tội [11]

Điều 114 quy định việc tạm giam sẽ do Thẩm phán quyết định bằng một lệnh bắt, dựa trên đơn yêu cầu của Công tố viên (các điều 125 I và 128 II BLTTHS Cộng hòa Liên bang Đức) Lệnh tạm giam phải xác định rõ bị can

và các chi tiết về tội trạng của người đó, cơ sở pháp lý cũng như cơ sở của việc bắt giữ và sự cần thiết của việc bắt giữ Tại Điều 115, 115a quy định về thủ tục xem xét của thẩm phán, theo đó, nếu bị can bị bắt trên cơ sở lệnh bắt, anh ta phải được mang tới trước Thẩm phán có thẩm quyền ngay lập tức Thẩm phán sẽ xem xét việc buộc tội bị can ngay sau khi bắt và không muộn hơn ngày tiếp theo Nếu không thể đưa bị can ra trước Thẩm phán có thẩm quyền chậm nhất là vào ngày sau ngày bắt, anh ta sẽ phải được đưa ngay ra trước Thẩm phán của Tòa án địa phương nơi gần nhất, không chậm hơn ngày sau ngày bắt Thẩm phán sẽ xem xét trường hợp của bị can ngay lập tức, không chậm hơn ngày tiếp theo

Về thời hạn tạm giam: Theo quy định tại Điều 122a thì thời hạn tạm giam tối đa không kéo dài hơn một năm Tuy nhiên, Điều 121 Bộ luật cũng có

Trang 40

quy định, trong trường hợp bản án chưa được tuyên quyết định hình phạt tù hoặc hình phạt cải tạo không giam giữ, thì tạm giam vì một hành vi phạm tội kéo dài quá sáu tháng sẽ chỉ được thi hành trong trường hợp có khó khăn đặc biệt hoặc kéo dài bất thường việc điều tra hoặc vì một lý do quan trọng khác ngăn cản việc tuyên án và tạo cơ sở cho việc tiếp tục tạm giam Trong trường hợp này, lệnh bắt sẽ phải được hủy bỏ khi quá thời hạn sáu tháng, trừ khi việc thi hành lệnh bắt bị đình chỉ theo Điều 116 Bộ luật hoặc khi Tòa án khu vực cấp trên ra lệnh tiếp tục tạm giam Tòa án khu vực cấp trên phải xem xét lại việc tạm giam trong thời hạn chậm nhất ba tháng

* Tạm giữ được quy định tại Điều 127: Trong trường hợp một người

bị bắt quả tang hoặc bị bắt khi bị truy đuổi thì bất cứ ai cũng có quyền tạm giữ người đó, ngay cả khi không có lệnh của Tòa án, nếu có căn cứ cho rằng người đó bỏ trốn hoặc nếu không thể xác định căn cước của người đó ngay; Trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan Công tố và các nhân viên cảnh sát có quyền thực hiện việc tạm giữ nếu các có đủ các căn cứ cho việc ra lệnh bắt Tuy nhiên, không đề cập thời hạn tạm giữ bao lâu

* Biện pháp bắt và tạm giữ người cản trở hoạt động công vụ:

Theo quy định tại Điều 164 BLTTHS Đức, người thi hành công vụ trực tiếp tiến hành các hoạt động công vụ tại hiện trường có thẩm quyền bắt những người cố ý cản trở hoạt động của người thi hành công vụ đó hoặc trong phạm vi thẩm quyền của mình ban hành lệnh bắt và tạm giữ những người cản trở cho tới khi người thi hành công vụ hoàn thành nhiệm vụ công vụ, nhưng không được quá ngày tiếp theo

* Các biện pháp khác để đảm bảo việc truy tố và thi hành án hình sự: Theo quy định tại Điều 132 BLTTHS Đức, nếu người bị nghi ngờ là

đã thực hiện tội phạm không có nơi ở cố định hoặc nơi thường trú trong phạm

vi lãnh thổ mà Bộ luật này có hiệu lực và các căn cứ cho việc ra lệnh bắt không được thỏa mãn, thì Thẩm phán có thể ban hành một lệnh để bảo đảm

Ngày đăng: 16/07/2015, 00:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Ánh (2011), "Băn khoăn chuyện bảo lĩnh trong án hình sự" http://www.baomoi.com, ngày 09/9/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Băn khoăn chuyện bảo lĩnh trong án hình sự
Tác giả: Phạm Ngọc Ánh
Năm: 2011
2. Phạm Thanh Bình (1996), Tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp
Tác giả: Phạm Thanh Bình
Năm: 1996
3. Phạm Thanh Bình (1997), Một số vấn đề chung quanh việc tạm giữ, tạm giam, Nxb Đồng Nai, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chung quanh việc tạm giữ, tạm giam
Tác giả: Phạm Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 1997
4. Phạm Thanh Bình (1998), "Bắt - Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam", Nhà nước và pháp luật, (3), tr. 38-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bắt - Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Phạm Thanh Bình
Năm: 1998
5. Lê Thanh Bình (2010), Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Thanh Bình
Năm: 2010
7. Trần Duy Bình, "Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về biện pháp ngăn chặn tạm giữ", http://toaan.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về biện pháp ngăn chặn tạm giữ
Tác giả: Trần Duy Bình
8. Nguyễn Mai Bộ (1997), Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự
Tác giả: Nguyễn Mai Bộ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
9. Mai Bộ, Hoàng Ngọc Thành (2003), "Về các biện pháp ngăn chặn trong Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi", Tòa án nhân dân, (8), tr. 9-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về các biện pháp ngăn chặn trong Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi
Tác giả: Mai Bộ, Hoàng Ngọc Thành
Năm: 2003
10. Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên) (2014), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
12. Hồng Dân (2012), "Người đàn ông 20 năm bị cấm đi khỏi nơi cư trú", http://news.zing.vn, ngày 08/4/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người đàn ông 20 năm bị cấm đi khỏi nơi cư trú
Tác giả: Hồng Dân
Nhà XB: news.zing.vn
Năm: 2012
13. Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam (2004), "Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ", http://vietnamese. vietnam.usembassy.gov Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Tác giả: Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam
Năm: 2004
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
17. Nguyễn Văn Điệp (1996), Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Điệp
Năm: 1996
18. Nguyễn Văn Điệp (2005), Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Luận án tiến sĩ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Văn Điệp
Năm: 2005
19. Trần Văn Độ (2012), "Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về biện pháp tạm giam", http://tks.edu.vn, ngày 11/12/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về biện pháp tạm giam
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 2012
20. "Đòi bồi thường hơn 600 triệu đồng vì bị khởi tố, tạm giam oan", http://phapluatxahoi.vn, ngày 20/9/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đòi bồi thường hơn 600 triệu đồng vì bị khởi tố, tạm giam oan
Nhà XB: phapluatxahoi.vn
Năm: 2010
21. "Giải pháp nào hạn chế việc lạm dụng giam giữ?", http://baophapluat.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nào hạn chế việc lạm dụng giam giữ
Nhà XB: Báo Pháp luật Việt Nam điện tử
22. H. Giang (2012), "Bắt, tạm giam, tạm giữ trong tố tụng hình sự: Quá tải nên vi phạm cũng không thể khắc phục", http://moj.gov.vn, ngày 09/05/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bắt, tạm giam, tạm giữ trong tố tụng hình sự: Quá tải nên vi phạm cũng không thể khắc phục
Tác giả: H. Giang
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Số liệu người bị tạm giữ và tỷ lệ khởi tố vụ án hình sự - [ Bản Full ] Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam
Bảng 2.3 Số liệu người bị tạm giữ và tỷ lệ khởi tố vụ án hình sự (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w