Kết quả điều tra vụ án hình sự phụ thuộc vào hoạt động điều tra và công tác kiểm sát hoạt động điều tra; là điều kiện tiên quyết, thiết thực, trực tiếp cho việc truy tố, xét xử nói chung
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN NGỌC CHÍ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đặng Thị Hồng Thủy
Trang 3MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 8
1.1 Khái quát về giai đoạn điều tra và hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự 8
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của giai đoạn điều tra vụ án hình sự 9
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm hoạt động điều tra vụ án hình sự 11
1.2 Kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự 13
1.2.1 Khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự 14
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm kiểm sát hoạt động điều tra 17
1.2.3 Mối quan hệ giữa kiểm sát hoạt động điều tra và thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự 19
1.2.4 Ý nghĩa, vai trò của kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự 23
1.2.5 Kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự ở nước ta từ năm 1945 đến nay 26
1.3 Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra vụ án hình sự 29
1.4 Tổ chức thực hiện công tác kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự 32
Trang 4Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM VỀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA VỤ
ÁN HÌNH SỰ 35
2.1 Kiểm sát Khởi tố bị can 35
2.2 Kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi 37
2.3 Kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can; lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan 40
2.3.1 Kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can 40
2.3.2 Kiểm sát hoạt động lấy lời khai người làm chứng 42
2.3.3 Kiểm sát hoạt động lấy lời khai người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan 44
2.4 Kiểm sát hoạt động khám xét, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra 45
2.4.1 Kiểm sát hoạt động khám xét 45
2.4.2 Kiểm sát hoạt động đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra 46
2.5 Kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn 47
2.5.1 Kiểm sát hoạt động bắt người 47
2.5.2 Kiểm sát việc áp dụng bỏ biện pháp tạm giữ 52
2.5.3 Kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giam 54
2.5.4 Kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác 56
2.5.5 Kiểm sát việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam 59
2.6 Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra 60
2.6.1 Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra 60
2.6.2 Kiểm sát đình chỉ điều tra 63
Chương 3: THỰC TIỄN CÔNG TÁC KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ 66
Trang 53.1 Thực tiễn công tác kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự
trên địa bàn tỉnh Nam Định 66
3.1.1 Đặc điểm tình hình kinh tế- xã hội tỉnh Nam Định 66
3.1.2 Tình hình tổ chức cán bộ và hoạt động của VKSND tỉnh Nam Định 67
3.1.3 Một số kết quả đạt được trong công tác kiểm sát hoạt động điều tra các vụ án hình sự của VKSND tỉnh Nam Định từ năm 2009 đến 2013 68
3.1.4 Những tồn tại, hạn chế trong công tác kiểm sát hoạt động điều tra của VKSND tỉnh Nam Định 80
3.2 Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác kiểm sát hoạt động điều tra 85
3.2.1 Quy định của pháp luật 85
3.2.2 Tổ chức thực hiện công tác kiểm sát hoạt động điều tra 88
3.2.3 Việc đào tạo, sắp xếp cán bộ, kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ kiểm sát điều tra 88
3.2.4 Điều kiện cơ sở vật chất 89
3.3 Các giải pháp, kiến nghị nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động điều tra 90
3.3.1 Đề xuất xây dựng hoàn thiện pháp luật 90
3.3.2 Giải pháp để thực hiện tốt các biện pháp nghiệp vụ kiểm sát hoạt động điều tra 95
3.3.3 Giải pháp kiến nghị về tăng cường công tác chỉ đạo điều hành, tổ chức tập huấn nghiệp vụ và tổng kết rút kinh nghiệm 97
3.3.4 Giải pháp kiến nghị về công tác cán bộ 99
3.3.5 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và hoàn thiện chính sách 101
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATGT: An toàn giao thông BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra
CSGT: Cảnh sát giao thông HĐTP: Hội đồng thẩm phán HĐXX: Hội đồng xét xử KNHT: Khám nghiệm hiện trường KNTT: Khám nghiệm tử thi
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao THQCT: Thực hành quyền công tố TTHS: Tố tụng hình sự
UBND: Ủy ban nhân dân VKS: Viện kiểm sát VKSND: Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Công tác kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của
Bảng 3.2: Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều
tra các vụ án hình sự của VKS tỉnh Nam Định (kết
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Kết quả giải quyết án hình sự của Viện kiểm sát tỉnh
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Điều tra là một giai đoạn của Tố tụng hình sự Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam thì điều tra là một trong những hoạt động tư pháp có chức năng làm rõ tội phạm và người phạm tội, chứng minh mọi tình tiết khách quan của vụ án, hướng tới mục đích mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng theo đúng pháp luật Để bảo đảm mọi hoạt động điều tra được thực hiện theo đúng qui định của pháp luật, một
cơ chế giám sát được hình hình thành; đó là, Nhà nước giao cho Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật đối với các hoạt động tư pháp, trong đó có hoạt động điều tra vụ án hình sự
Kiểm sát hoạt động điều tra các vụ án hình sự có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong hoạt động tố tụng Công tác kiểm sát hoạt động điều tra được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật sẽ giúp cho Cơ quan điều tra hoạt động đúng hướng, các quyết định khởi tố bị can được đảm bảo đúng người, đúng tội, các hoạt động điều tra được thực hiện đầy đủ, chính xác và kịp thời theo đúng quy định của pháp luật Kết quả điều tra vụ án hình sự phụ thuộc vào hoạt động điều tra và công tác kiểm sát hoạt động điều tra; là điều kiện tiên quyết, thiết thực, trực tiếp cho việc truy tố, xét xử nói chung và việc thực hiện quyền công tố của Viện kiểm sát nói riêng nhằm đảm bảo mọi tội phạm đều phải được phát hiện xử lý nhanh chóng kịp thời, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh oan, sai và bỏ lọt tội phạm, tăng cường đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta hiện nay
Quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, được sự chỉ đạo, lãnh đạo của Tỉnh uỷ Nam Định và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong những năm qua ngành kiểm sát nhân dân tỉnh Nam
Trang 10Định đã có nhiều cố gắng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao và đã đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ trong công tác kiểm sát các hoạt động
tư pháp nói chung, công tác kiểm sát các hoạt động điều tra nói riêng, góp phần có hiệu quả trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trên địa bàn tỉnh, phục vụ tích cực nhiệm vụ chính trị địa phương, được cấp uỷ Đảng, chính quyền và nhân dân tin tưởng, đánh giá cao
Tuy nhiên, so với yêu cầu cải cách tư pháp, công tác kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định vẫn còn có những tồn tại, thiếu sót nhất định Ở một số đơn vị, có kiểm sát viên được phân công thực hiện nhiệm vụ kiểm sát điều tra chưa đầu tư nghiên cứu, chưa nắm vững các quy định của pháp luật, còn lúng túng, thiếu kinh nghiệm và bản lĩnh trong thao tác nghiệp vụ, không kiểm sát chặt chẽ việc khởi tố bị can và các hoạt động điều tra khác, không nắm chắc được tiến độ điều tra cũng như không kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật của cơ quan điều tra nói chung, điều tra viên nói riêng; năng lực trình độ tổng hợp, phân tích đánh giá chứng cứ còn hạn chế, thiếu toàn diện tỷ mỉ dẫn đến nhiều vụ án gặp không ít khó khăn cho các
cơ quan và người tiến hành tố tụng ở giai đoạn sau, làm ảnh hưởng đến công tác phòng chống đấu tranh tội phạm ở địa phương Tình trạng án trả lại hồ sơ
vì thiếu chứng cứ hoặc vi phạm thủ tục tố tụng vẫn xảy ra
Thực tế nêu trên cho thấy việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác kiểm sát hoạt động điều tra các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Nam Định là hết sức cần thiết để tìm ra những nguyên nhân, cả nguyên nhân chủ quan và khách quan của những yếu kém, tồn tại Từ đó, có những giải pháp khắc phục những tồn tại, yếu kém, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác kiểm sát hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam
Trang 11Định, đáp ứng các yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế trong giai
đoạn hiện nay Chính vì vậy, học viên chọn đề tài: "Kiểm sát hoạt động điều
tra - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (trên cơ sở nghiên cứu số liệu tại địa bàn tỉnh Nam Định)" làm luận văn cao học luật của mình
- 2006; “Quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp” của TS Lê Hữu Thể chủ biên năm 2008
Luận án tiến sỹ luật học: “Quyền công tố ở Việt Nam” của tác giả Lê Thị Tuyết Hoa Các luận văn thạc sỹ “Quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra Công an tỉnh Nam Định trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự của Phạm Quang Định năm 2005; “Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định” của Trần Văn Ngọc “Gắn công tố với h oạt động điều tra trong tố tụng hình sự theo tinh thầ n Nghi ̣ quyết Đ ại hội Đảng lần thứ X - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn của Bùi Mạnh Cường” năm 2012
Trang 12Đề tài nghiên cứu cấp bộ: “Nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố về vấn đề thông khâu và chuyên khâu trong công tác kiểm sát hình sự” do tác giả Ngô Văn Đọn chủ biên năm 2004; Đề tài khoa học cấp bộ “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về trật tự xã hội theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay” do tác giả Vũ Việt Hùng và các Kiểm sát viên vụ 1A- VKS Tối cao thực hiện năm 2012; Đề tài khoa học cấp Bộ: “Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát quân
sự theo tinh thần cải cách tư pháp, thực trạng và giải pháp” do Đại tá - Thạc
sỹ luật Huỳnh Quốc Hùng chủ biên năm 2012
Một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành của các tác giả như: Hà Mạnh Trí, “Nâng cao chất lượng quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp góp phần đẩy mạnh cải cách tư pháp”- Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 1/2003; Nguyễn Viết Hoạt “Bản chất của hoạt động điều tra trong Tố tụng hình sự” - Tạp chí KHPL số 03/2007
Như vậy, tuy đã có một số công trình nghiên cứu về chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra trong tố tụng hình sự, song chưa có công trình nào nghiên cứu, khảo sát về kiểm sát hoạt động điều tra và thực tiễn trên địa bàn tỉnh Nam Định Đề tài này hiện được tác giả bắt đầu thực hiện và là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sỹ Các công trình nghiên cứu đã thực hiện là nguồn tư liệu bổ ích, phong phú cho học viên thực hiện luận văn tốt nghiệp cao học của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu làm rõ bản chất của công tác kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự, mối quan hệ chặt chẽ giữa các khâu của
Trang 13công tác kiểm sát điều tra Luận văn cũng nghiên cứu tình hình thực tiễn của công tác kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Nam Định
từ năm 2009 đến năm 2013 Trên cơ sở đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế của công tác kiểm sát hoạt động điều tra và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả chất lượng công tác kiểm sát hoạt động điều tra
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở những mục đích nêu trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề chung về kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự: xây dựng khái niệm, làm rõ đặc điểm, phạm
vi, đối tượng kiểm sát hoạt động điều tra điều tra, mối quan hệ giữa viện kiểm sát và cơ quan điều tra trong giai đoạn điều tra
- Phân tích các quy định cụ thể về kiểm sát hoạt động điều tra trong Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của Việt Nam, từ đó rút ra những nhận xét,
đánh giá
- Đánh giá thực tiễn việc thực hiện công tác kiểm sát hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam định, đồng thời phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế của công tác này và những nguyên nhân cơ bản của nó
- Đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định về kiểm sát hoạt động điều tra trong BLTTHS Việt Nam hiện hành, cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác này trong thực tiễn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn đúng như tên gọi của nó: Kiểm sát
hoạt động điều tra - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (trên cơ sở nghiên cứu
số liệu tại địa bàn tỉnh Nam Định)
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu
Trang 14chức năng kiểm sát hoạt động điều tra dưới góc độ Luật TTHS và đánh giá thực tiễn việc thực hiện chức năng này tại địa bàn tỉnh Nam định trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2013)
5 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận: các kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa nhất định về mặt khoa học góp phần xây dựng một cách nhìn toàn diện về công tác kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát, vai trò của công tác này trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa tội phạm
Về mặt thực tiễn: Luận văn đánh giá bức tranh toàn cảnh về công tác kiểm sát hoạt động điều tra tại địa bàn tỉnh Nam Định Trên cơ sở đó đề xuất hoàn thiện một số quy định của BLHS, BLTTHS hiện hành và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động điều tra Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập cũng như làm tài liệu cho các cán bộ kiểm sát trong hoạt động nghiệp vụ của mình
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng về tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp trong các nghị quyết 08/NQTW và nghị quyết 49/NQTW của Bộ chính trị
Luận văn sử dụng các phương pháp của triết học duy vật biện chứng như: phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp nghiên cứu của các bộ môn khác như: phương pháp hệ thống, thống kê tội phạm, luật học so sánh
Trang 157 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm 3 chương, mục như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kiểm sát hoạt động điều tra trong
luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về kiểm
sát hoạt động điều tra vụ án hình sự
Chương 3: Thực tiễn công tác kiểm sát hoạt động điều tra trên địa bàn
tỉnh Nam Định và các giải pháp nâng cao hiệu quả
Trang 16Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG
ĐIỀU TRA TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái quát về giai đoạn điều tra và hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự
Khi tội phạm xảy ra, việc giải quyết vụ án phải trải qua nhiều giai đoạn
và do nhiều cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhằm xác định chính xác, khách quan bản chất vụ án, áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án được gọi là tố tụng hình sự Theo định nghĩa của giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Khoa luật - Đại học quốc
gia Hà Nội thì: "Tố tụng hình sự bao gồm toàn bộ hoạt động của các chủ thể
tố tụng hình sự hướng tới việc giải quyết vụ án khách quan, công bằng, góp phần đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, bảo vệ quyền con người" [5]
Quá trình giải quyết vụ án hình sự được chia thành các giai đoạn, mỗi giai đoạn tố tụng hình sự có nhiệm vụ giải quyết những yêu cầu khác nhau và tương ứng với mỗi giai đoạn đó là chức năng cụ thể của mỗi cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định Như vậy, giai đoạn tố tụng hình sự là:
Bước của quá trình tố tụng hình sự tương ứng với chức năng nhất định trong hoạt động tư pháp hình sự của từng loại chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc để giải quyết
vụ án hình sự một cách công minh, khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật, góp phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật, bảo vệ vững chắc các quyền và tự do của công dân [5]
Theo GS.TSKH Lê Cảm, BLTTHS nước ta chia quá trình giải quyết
Trang 17vụ án hình sự thành năm giai đoạn tố tụng theo thứ tự sau: giai đoạn khởi tố
vụ án hình sự; giai đoạn điều tra; giai đoạn truy tố; giai đoạn xét xử và giai đoạn thi hành án [4] Mỗi giai đoạn tố tụng hình sự có nhiệm vụ giải quyết những yêu cầu khác nhau; tương ứng với mỗi giai đoạn là chức năng, nhiệm
vụ cụ thể của mỗi cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền do pháp luật quy định Luận văn này không có điều kiện xem xét tất cả các giai đoạn của TTHS, mà chỉ tập trung vào nghiên cứu chức năng kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự Vì vậy, sau đây chúng tôi sẽ trình bày khái niệm, đặc điểm của giai đoạn điều tra vụ án hình sự và hoạt động điều tra trong TTHS
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của giai đoạn điều tra vụ án hình sự
1.1.1.1 Khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn thứ hai của quá trình tố tụng hình sự, được BLTTHS quy định trong 6 chương, từ chương VIII đến chương XIII Giai đoạn điều tra vụ án hình sự bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi CQĐT kết thúc điều tra chuyển toàn bộ hồ
sơ và kết luận điều tra sang VKS đề nghị truy tố Trong trường hợp vụ án bị đình chỉ điều tra thời điểm chấm dứt giai đoạn điều tra là khi cơ quan tiến hành tố tụng quyết định đình chỉ điều tra
Khoảng thời gian bắt đầu cho đến khi kết thúc của giai đoạn điều tra được Luật TTHS quy định cụ thể Thời hạn điều tra tối đa đối với tội ít nghiêm trọng không quá 4 tháng, đối với tội nghiêm trọng không quá 8 tháng, đối với tội rất nghiêm trọng không quá 12 tháng, đối với tội đặc biệt nghiêm trọng không quá 20 tháng kể từ khi cơ quan tiến hành tố tụng quyết định khởi
tố vụ án hình sự
Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, bởi kết quả của hoạt động điều tra là cơ sở phục vụ cho việc truy tố và xét xử; Đó là: chứng minh tội phạm và người thực hiện tội
Trang 18phạm, các tình tiết khác có liên quan đến vụ án, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội… Tất cả các hoạt động tố tụng do chủ thể của giai đoạn điều tra thực hiện đều phải tuân thủ đúng các quy định của luật tố tụng hình sự góp phần giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng, chính xác, khách quan, đúng pháp luật
Như vậy, giai đoạn điều tra vụ án hình sự được hiểu là:
Một giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó cơ quan điều tra
và các cơ quan khác được giao thực hiện một số hoạt động điều tra được sử dụng các biện pháp do luật tố tụng hình sự quy định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn
đề khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc xét xử của tòa
án Đồng thời thông qua hoạt động điều tra, xác định nguyên nhân điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ thể và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa với các cơ quan tổ chức hữu quan [6]
1.1.1.2 Đặc điểm của giai đoạn điều tra
Từ khái niệm về giai đoạn điều tra vụ án hình sự nêu trên, có thể rút ra các đặc điểm cơ bản và đặc trưng của giai đoạn này như sau:
Thứ nhất, giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn thứ hai của quá
trình TTHS có thời hạn xác định bắt đầu từ khi cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi CQĐT chuyển toàn bộ hồ sơ vụ
án và kết luận điều tra sang VKS đề nghị truy tố hoặc CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án
Thứ hai, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án hình sự là các cơ quan
có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do Luật TTHS quy định để chứng minh tội phạm và người phạm tội, làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ án bao gồm cả tình tiết buộc tội và tình tiết gỡ tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị với các cấp, các ngành thực hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm
Trang 19Thứ ba, chủ thể thực hiện các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều
chỉ là CQĐT hoặc các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra Các tài liệu do chính hoạt động của các chủ thể nói trên tiến hành thu thập mới được coi là những chứng cứ làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự
Thứ tư, biện pháp mà các chủ thể áp dụng trong giai đoạn điều tra là
mọi biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định, việc áp dụng các biện pháp
đó tùy thuộc vào tính chất, mức độ của từng vụ án Các biện pháp được áp dụng phải theo đúng quy định của Luật tố tụng hình sự
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm hoạt động điều tra vụ án hình sự
1.1.2.1 Khái niệm hoạt động điều tra vụ án hình sự
Điều tra là hoạt động có mục đích nhằm khám phá sự thật khách quan phục vụ nhu cầu của con người Trong lĩnh vực phòng chống tội phạm, điều tra là hoạt động khám phá, phát hiện tội phạm Từ điển Luật học giải thích
rằng: “Điều tra là công tác trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ” [28] Có
quan điểm cho rằng: trên thực tế, hoạt động điều tra vụ án hình sự được tiến hành trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự: điều tra, truy tố, xét xử với những mục đích khác nhau nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án Tuy nhiên phần lớn các quan điểm cho rằng: hoạt động điều tra là tổng hợp tất cả các hành vi được thực hiện trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và do Cơ quan điều tra thực hiện Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai vì hoạt động điều tra là chức năng nhiệm vụ của CQĐT và kết quả của hoạt động điều tra trong giai đoạn điều tra là cơ sở cho việc giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng
Như vậy, hoạt động điều tra được hiểu là: "tổng hợp tất cả các hành vi được CQĐT tiến hành trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nhằm xác định
sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ"
Trang 201.1.2.2 Đặc điểm hoạt động điều tra vụ án hình sự
Thứ nhất, hoạt động điều tra được tiến hành công khai theo các trình tự,
thủ tục, thẩm quyền do pháp luật quy định Khi tiến hành các biện pháp điều tra phải có mặt của những người mà luật định và họ phải ký vào biên bản hoạt động điều tra Tính công khai của hoạt động điều tra thể hiện ở biện pháp và các thủ tục tố tụng được tiến hành, còn nội dung, kết quả điều tra thì phải bí mật Tính công khai của hoạt động điều tra là tiêu chí cơ bản nhất để phân biệt với hoạt động trinh sát được tổ chức và tiến hành dưới hình thức bí mật
cả về nội dung, phương pháp để nắm bắt tin tức về tội phạm, theo dõi và truy bắt các đối tượng phạm tội, nhằm phòng ngừa tội phạm
Thứ hai, tùy theo đặc điểm của vụ án hình sự mà CQĐT áp dụng các
biện pháp điều tra cho phù hợp
Thứ ba, phạm vi điều tra các tình tiết thực tế của vụ án rộng hơn phạm
vi những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự do luật định Để xác định được một tình tiết quy định tại Điều 63 của BLTTHS thì CQĐT phải làm
rõ được những tài liệu, chứng cứ liên quan Chẳng hạn, để xác định ai là người thực hiện hành vi phạm tội, trước tiên phải chứng minh người đó có mặt tại hiện trường vào thời điểm xảy ra vụ án (thông qua các dấu vết, vật chứng, lời khai người bị hại, người làm chứng…)
Thứ tư, trong hoạt động điều tra vụ án hình sự có thể phải áp dụng các
biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam và áp dụng các biện pháp cưỡng chế như khám xét chỗ ở, khám xét nơi làm việc, thân thể; do đó thường tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân
Thứ năm, hoạt động điều tra của CQĐT phải chịu sự chế ước và
kiểm sát chặt chẽ của Cơ quan VKS Điều này được thể hiện thông qua việc pháp luật quy định các nhiệm vụ, quyền hạn cho VKS để bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự có căn cứ và hợp pháp (xét phê chuẩn các
Trang 21quyết định tố tụng của CQĐT, yêu cầu điều tra; quyết định áp dụng, thay đổi các biện pháp ngăn chặn, hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT…)
1.1.2.3 Các biện pháp điều tra
Luật TTHS Việt Nam quy định trong giai đoạn điều tra, CQĐT được thực hiện các biện pháp điều tra sau: Khởi tố bị can; Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; Hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; Đối chất; nhận dạng; thực nghiệm điều tra; Trưng cầu giám định; Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn như: bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt bị can để tạm giam, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú; khám xét khẩn cấp… Các biện pháp này phải được thực hiện theo đúng quy định của Luật TTHS
1.2 Kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2002 thì VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp Đây là chức năng hiến định của VKSND, là một nhiệm vụ mà VKSND vốn đảm nhiệm đã từ nhiều năm, ngay từ khi tổ chức tiền thân của
nó là Viện công tố ra đời Mặc dù vậy, cho đến nay, trong khoa học pháp
lý, trong khoa học kiểm sát và ngay cả trong thực tiễn hoạt động của VKSND vẫn chưa đạt được sự thống nhất cao về lý luận Điều này không chỉ ảnh hưởng đến nhận thức mà còn tác động trực tiếp đến hiệu quả của việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể trong các cơ quan tư pháp nói chung, cơ quan VKSND nói riêng Để góp phần từng bước nâng cao hiệu quả và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác kiểm sát thì cần phải làm rõ từ trong nhận thức về các vấn đề cơ bản, đó là: Khái niệm thế nào là kiểm sát các hoạt động tư pháp, kiểm sát hoạt động điều tra, thế nào
Trang 22là quyền công tố và thực hành quyền công tố, đối tượng, nội dung, phạm vi
cũng như mối quan hệ của chúng
1.2.1 Khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự
Từ khi ra đời, Nhà nước ta đứng trước những yêu cầu của quá trình xây dựng, củng cố đất nước, trong đó việc tuân thủ pháp luật của của các cơ quan nhà nước và mọi công dân là một trong những yêu cầu cấp bách Để đáp ứng được yêu cầu đó cần tổ chức thành lập một cơ quan có chức năng kiểm tra, giám sát các hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan Nhà nước và mọi công dân
nhằm bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Lênin là người đầu tiên có quan điểm về tổ chức cơ quan kiểm tra, giám sát, quan điểm đó được thể hiện trong tác phẩm bàn về "Song trùng, trực thuộc và pháp chế" Vận dụng tư tưởng của Lênin vào thực tiễn xây dựng, tổ chức bộ máy Nhà nước ta, Đảng và Nhà nước đã nhận định rằng, để đảm bảo cho pháp luật do Nhà nước ban hành được thực hiện một cách nghiêm minh
và thống nhất thì việc tổ chức một cơ quan có chức năng kiểm tra và giám sát hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước và công dân là một đòi hỏi mang tính tất yếu khách quan nên đã quyết định thành lập cơ quan VKS Quan điểm trên đã được thể chế hóa trong các hiến pháp từ Hiến pháp năm
1959 đến Hiến pháp 2013
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) trong đó có sự điều chỉnh chức năng của
cơ quan VKS với quy định "Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật" [21, Điều 137] Hiến pháp năm 2013 quy định:
"Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp" [24, Điều 107]
Luật tổ chức VKSND năm 2002 đã cụ thể hóa quy định trên với nội dung Viện kiểm sát thực hiện chủ yếu hai chức năng đó là thực hành quyền
Trang 23công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Những quy định trên đã đưa ra tiền đề cho việc nghiên cứu làm rõ chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát
Chức năng theo định nghĩa chung nhất được hiểu là những phương diện, hướng hoạt động của tổ chức, cá nhân thể hiện bản chất của hoạt động đó Với quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi) và Điều 1 Luật tổ chức VKSND năm 2002 thì chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp được coi là vấn
đề căn bản xuyên suốt toàn bộ hoạt động của hệ thống cơ quan VKS, đồng thời thể hiện bản chất trong hoạt động của VKS nước ta [23]; [24]
Thuật ngữ "kiểm sát các hoạt động tư pháp" được xuất hiện trong các văn kiện của Đảng như Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, X, Nghị quyết số
08 ngày 02/1/2002 của Bộ chính trị và đặc biệt được quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2002 Tuy nhiên, các nhà lập pháp nước ta chưa đưa ra một định nghĩa pháp lý chung nhất về "kiểm sát các hoạt động tư pháp" nên dẫn đến nhiều quan điểm nhận thức khác nhau về khái niệm này Xung quanh khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp đang còn có nhiều quan điểm khác nhau, tựu chung lại có ba nhóm quan điểm sau:
Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng, "kiểm sát các hoạt động tư pháp chỉ bao gồm nội dung kiểm sát các hoạt động tố tụng như điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án"
Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng, "kiểm sát các hoạt động tư pháp bao gồm việc kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (cả các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính) và phần
"tư pháp" trong thi hành án"
Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng: Hoạt động tư pháp là một dạng hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước và cũng phải chịu sự giám sát từ bên
Trang 24ngoài cũng như từ bên trong hệ thống tư pháp, chịu sự giám sát Nhà nước và giám sát xã hội Theo nghĩa rộng, kiểm sát hoạt động tư pháp cũng được hiểu
là giám sát tư pháp, là một bộ phận, một lĩnh vực của hoạt động giám sát Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp Còn theo nghĩa hẹp thì kiểm sát hoạt động tư pháp được hiểu là chức năng của Viện kiểm sát Phạm vi kiểm sát tư pháp là việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử các vụ án hình sự, giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật Mục đích của của kiểm sát hoạt động tư pháp là bảo đảm cho pháp luật được áp dụng thống nhất trong giải quyết các vụ án trên cơ sở tuân thủ nghiêm chỉnh thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định
Mỗi quan điểm trên đây đều có những lập luận đúng của mình về khái niệm "kiểm sát các hoạt động tư pháp" Theo quan điểm của chúng tôi, trước hết cần phải khẳng định kiểm sát các hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của VKS Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một dạng giám sát Nhà nước về tư pháp, đây là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước Tuy nhiên, khác với hoạt động giám sát Nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát các hoạt động tư pháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp trong quá trình tố tụng với mục đích là nhằm đảm bảo cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình giải quyết các
vụ án Bản chất pháp lý của chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong
tố tụng hình sự là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hành vi của các chủ thể bị kiểm sát Từ đó, có thể đưa ra khái niệm kiểm sát các hoạt động
tư pháp trong tố tụng hình sự như sau:
Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là chức năng hiến định của VKS, có nội dung là giám sát trực tiếp các hoạt động của các
cơ quan tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nhằm bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, thống nhất
Trang 25Như vậy, khi đã hiểu được như thế nào là kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự, thì vấn đề đặt ra cho chúng ta cần tiếp tục làm rõ đó là: Kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự là gì? Đặc điểm của chúng?
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm kiểm sát hoạt động điều tra
1.2.2.1 Khái niệm kiểm sát hoạt động điều tra
Chức năng kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự của VKS thực chất là kiểm sát việc tuân theo pháp luật các hoạt động tư pháp của CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trình giải quyết vụ án hình sự (sau đây gọi chung là CQĐT) Kiểm sát hoạt động điều tra là bộ phận cấu thành, là nhiệm vụ cụ thể của chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Kiểm sát hoạt động điều tra với tính chất là một chức năng của VKS thì nó có bản chất pháp lý là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp các hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện bởi CQĐT trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự nhằm bảo đảm việc khởi tố, điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm đồng thời cũng không làm
oan người vô tội "Những sai lầm, thiếu sót trong hoạt động điều tra tất yếu
sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc giải quyết vụ án hình sự, như truy tố, xét xử oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm" [14] Vì vậy, hoạt động điều tra của CQĐT
phải chịu sự chế ước và kiểm sát chặt chẽ của cơ quan VKS Điều này được thể hiện thông qua việc luật quy định các nhiệm vụ, quyền hạn cho VKS để bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự có căn cứ và hợp pháp
Như vậy, Kiểm sát hoạt động điều tra được hiểu là: hoạt động của VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật của điều tra viên và những người có liên quan trong các hoạt động điều tra nhằm bảo đảm cho tất cả các hoạt động điều tra vụ án hình sự của CQĐT được thực hiện đúng quy định của pháp luật
Từ bản chất pháp lý đó chúng ta cũng cần xem xét đối tượng của kiểm sát hoạt động điều tra các vụ án hình sự là gì? và phạm vi và các đặc điểm của nó?
Trang 261.2.2.2 Đối tượng, phạm vi kiểm sát hoạt động điều tra
Theo chúng tôi, đối tượng của kiểm sát hoạt động điều tra các vụ án hình sự chính là các hành vi xử sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra vụ án hình
sự Khi tiến hành hoạt động kiểm sát, VKS phải dựa trên các căn cứ pháp lý là Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND, BLHS, BLTTHS và các văn bản pháp luật khác có liên quan để kiểm tra, xem xét bảo đảm sự tuân theo pháp luật, bảo đảm tính có căn cứ và hợp pháp của các hành vi tố tụng hình sự mà chủ thể bị
kiểm sát thực hiện "Trong trường hợp chưa có quyết định khởi tố vụ án thì các biện pháp điều tra chưa được tiến hành, trừ những biện pháp khẩn cấp không thể trì hoãn được như bắt khẩn cấp, tạm giữ, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể" [35] nên phạm vi
của kiểm sát hoạt động điều tra các vụ án hình sự được xác định bắt đầu từ khi CQĐT quyết định khởi tố vụ án hình sự cho tới khi vụ án được kết thúc điều tra bằng bản kết luận điều tra chuyển cho VKS đề nghị truy tố hoặc khi CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, trừ những trường hợp khẩn cấp không thể trì hoãn, CQĐT phải tiến hành kiểm sát một số hoạt động điều tra trước khi khởi tố vụ án thì phạm vi của kiểm sát hoạt động điều tra bắt đầu từ khi CQĐT tiến hành các hoạt động điều tra đó
Việc xác định phạm vi như vậy là thể hiện đầy đủ bản chất pháp lý của kiểm sát việc tuân theo pháp luật đó là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hoạt động điều tra vụ án hình sự
1.2.2.3 Đặc điểm của kiểm sát hoạt động điều tra
Xuất phát từ khái niệm đã nêu ở trên và trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan, rút ra một số đặc điểm chung của kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự như sau:
Thứ nhất, kiểm sát các hoạt động điều tra vụ án hình sự là chức năng
Trang 27hiến định của VKS, có phạm vi xác định, thời điểm bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự và thời điểm kết thúc khi CQĐT kết thúc điều tra
vụ án, chuyển hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra cho VKS đề nghị truy tố hoặc vụ án được đình chỉ điều tra
Thứ hai, nội dung của chức năng này chính là việc giám sát trực tiếp
mọi hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra các vụ án hình sự
Thứ ba, kiểm sát các hoạt động điều tra vụ án hình sự nhằm mục đích
bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh
Quyền công tố: là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất Nhà
nước và pháp luật Theo quan điểm của chúng tôi, quyền công tố là một loại quyền lực Nhà nước (quyền lực công), nó ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời
và tồn tại của Nhà nước, do đó quyền công tố luôn luôn gắn liền với bản chất Nhà nước Quyền công tố chủ yếu được phát sinh trong quan hệ pháp luật giữa một bên là Nhà nước (chủ thể quyền lực) và bên kia là người thực hiện hành vi phạm tội (người bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải chịu hình phạt) Trong quan hệ đó, muốn trừng trị được người phạm tội để bảo vệ quyền lợi của Nhà nước cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thì trước
Trang 28hết Nhà nước phải buộc tội được người phạm tội Nên quyền công tố là việc Nhà nước sử dụng quyền lực của mình truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội Như vậy, quyền công tố có nội dung là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm Với nội dung đó có thể khẳng định quyền công tố chỉ được thực hiện trong lĩnh vực hình sự, đối tượng của quyền công tố chỉ là tội phạm và người phạm tội Tuy vậy, phạm vi quyền công tố không phải có trong mọi giai đoạn của tố tụng hình sự, thi hành án là một giai đoạn tố tụng hình sự nhưng ở giai đoạn này VKS chỉ tham gia với vai trò là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác thi hành án hình sự Như vậy, trong tố tụng hình sự, phạm vi quyền công tố được xác định từ khi có tội phạm xảy ra cho đến khi vụ án được xét xử và bản án đã có hiệu lực pháp luật
Từ nội dung trên có thể hiểu quyền công tố là: Một loại quyền lực của Nhà nước, được Nhà nước giao cho VKS thực hiện để truy cứu trách nhiệm hình sự và buộc tội người đã có hành vi bị coi là tội phạm, được thực hiện trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử tội phạm
Thực hành quyền công tố: Thuật ngữ „thực hành quyền công tố” đã
được nhà làm luật nước ta ghi nhận và đề cập trong nhiều các văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời hoạt động thực hành quyền công tố cũng đã gắn liền với hoạt động của VKS Thế nhưng trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ trước đến nay nhà làm luật chưa ghi nhận một định nghĩa pháp lý về khái niệm "thực hành quyền công tố"
"Quyền công tố" và "thực hành quyền công tố" là hai khái niệm, hai phạm trù khoa học pháp lý khác nhau, không thể đồng nhất hai khái niệm này
Để bảo đảm thực hiện quyền công tố trong thực tế đấu tranh chống tội phạm thì Nhà nước phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, trong đó quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố Các quyền năng
Trang 29pháp lý đó Nhà nước giao cho cơ quan nhà nước nào thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, thì cơ quan
ấy được gọi là cơ quan có trách nhiệm thực hành quyền công tố
Ở Việt Nam, chức năng thực hành quyền công tố được giao cho cơ
quan VKS “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án” [25, Điều 23] Tuy
nhiên, thực tiễn điều tra và xét xử ở nước ta cho thấy,việc khởi tố vụ án hình
sự được tập trung chủ yếu vào một đầu mối là CQĐT, khởi tố vụ án là phát động công tố Chính vấn đề thực tiễn nói trên là sự thể hiện nguyên tắc công
tố trong pháp luật tố tụng hình sự nước ta, tức là trách nhiệm và nghĩa vụ phát hiện, chứng minh tội phạm và người định phạm tội thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quan diều tra, VKS và Tòa án
Từ những nội dung nêu trên, có thể hiểu: “THQCT là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử" [26]
Từ khái niệm nói trên và trên cơ sở các quy định của BLTTHS có thể nêu lên nội dung của thực hành quyền công tố bao gồm:
Thứ nhất, những hoạt động phát động công tố, đó là khởi tố vụ án, khởi
tố bị can
Thứ hai, trong giai đoạn điều tra, VKS tiếp tục thực hành quyền công tố
với những nội dung: Yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố
vụ án, khởi tố bị can; đề ra yêu cầu điều tra; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy
bỏ các biện pháp ngăn chặn; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của CQĐT; hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT; quyết định việc truy tố; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án
Từ những nội dung nêu trên chúng ta đi vào phân tích mối quan hệ giữa kiểm sát các hoạt động tư pháp với thực hành quyền công tố trong TTHS
Trang 30Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra và kiểm sát hoạt động điều tra có mối quan hệ mật thiết với nhau, chỉ có một số hoạt động mang tính độc lập tương đối, còn lại phần nhiều chúng đan xen, hỗ trợ và tác động qua lại
và bổ sung tích cực cho nhau Mối quan hệ giữa chúng song song tồn tại cho đến khi CQĐT kết thúc điều tra Mục đích của thực hành quyền công tố là nhằm chứng minh tội phạm và xác định người phạm tội, đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện, xử lý, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Mục đích của kiểm sát hoạt động điều tra là phát hiện vi phạm trong hoạt động điều tra, kiến nghị, yêu cầu khắc phục vi phạm nhằm đảm bảo cho các hoạt động điều tra chính xác, khách quan, tuân thủ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục thẩm quyền đúng quy định của pháp luật Kiểm sát hoạt động điều tra có hiệu quả sẽ là điều kiện giúp cho VKS hoàn thành tốt chức năng
thực hành quyền công tố "Làm tốt công tác kiểm sát điều tra nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho hoạt động thực hành quyền công tố được tốt hơn, vì mục đích cuối cùng của quá trình giải quyết vụ án hình sự là đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự có căn cứ, đúng pháp luật" [15]
Kết quả công tác kiểm sát hoạt động điều tra là cơ sở tiền đề để VKS thực hiện tốt chức năng công tố Ngược lại, thực hành quyền công tố có hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho công tác kiểm sát hoạt động điều tra xác định kịp thời
các vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra; "đảm bảo việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật; những vi phạm trong quá trình điều tra phải được phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh" [23, Điều 12] Chỉ khi thực hiện tốt đồng thời cả hoạt động
thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra thì VKS mới có thể đáp ứng và hoàn thành tốt yêu cầu nhiệm vụ đặt ra: Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật;
Trang 31không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội phải đúng pháp luật, có căn cứ; việc điều tra phải được tiến hành một cách khách quan, toàn diện, chính xác… Do vậy, trong hoạt động tố tụng nói chung, kiểm sát hoạt động điều tra nói riêng VKS không thể tách rời thực hành quyền công tố và công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật Để thực hiện tốt yêu cầu này, tại hội nghị triển khai công tác năm 2011, đồng chí Viện trưởng VKSND Tối cao đã nhấn mạnh:
Cần có cái nhìn toàn diện, đầy đủ về quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra; tăng cường hơn nữa vai trò chủ động của chúng ta trong quá trình điều tra; Chúng ta phải song hành với cơ quan điều tra trong điều tra, làm rõ tội phạm; phải phối hợp chặt chẽ với cơ quan điều tra để tìm giải pháp phát hiện, xử lý tội phạm khẩn trương nhất, đầy đủ nhất Khi phát hiện một thiếu sót, hạn chế trong quá trình điều tra, cần coi đó là thiếu sót của chính chúng ta
để cùng cơ quan điều tra tìm biện pháp khắc phục Khi kiểm sát điều tra, chúng ta giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan điều tra, đảm bảo việc điều tra có căn cứ, đúng pháp luật Chúng ta kiên quyết không phê chuẩn đối với những quyết định tố tụng vi phạm pháp luật hoặc không có căn cứ Mục tiêu của hoạt động kiểm sát điều tra là nhằm hỗ trợ việc thực hành quyền công tố được tốt, bảo đảm việc truy
tố có căn cứ, đúng pháp luật Do vậy, yêu cầu của việc tăng cường trách nhiệm công tố đòi hỏi chúng ta cùng cơ quan điều tra khắc phục những vi phạm tồn tại trong quá trình điều tra, bảo đảm không để lọt
tội phạm, không làm oan người vô tội [34]
1.2.4 Ý nghĩa, vai trò của kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự
- Kiểm sát hoạt động điều tra các vụ án hình sự góp phần bảo vệ pháp chế, bảo vệ chế độ XHCN, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, tính mạng sức
Trang 32khoẻ, danh dự nhân phẩm, tự do, tài sản và các quyền lợi ích hợp pháp khác của công dân, giữ vững an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội Đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều bị phát hiện xử lý nhanh chóng nghiêm minh kịp thời; không bỏ lọt tội phạm, tránh làm oan người vô tội
- Trong TTHS, CQĐT được giao trách nhiệm điều tra tội phạm, có quyền áp dụng tất cả các biện pháp theo quy định của pháp luật để điều tra làm rõ vụ án, làm rõ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết có liên quan Đây
là những hoạt động mà không có cơ quan nào có thể thay thế cho CQĐT Nhưng việc đưa một con người vào vòng tố tụng và xử lý họ về hình sự là vấn
đề không hề đơn giản, động chạm đến rất nhiều quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo hộ, cần phải đảm bảo tính thận trọng và chính xác Cho nên, cần phải có sự chế ước đối với các hoạt động này nhằm đảm bảo tất cả mọi hành vi phạm tội đã phát hiện phải được khởi tố, xử lý kịp thời và nghiêm minh nhưng cũng cần phải có căn cứ và đúng pháp luật.Vì vậy, pháp luật quy định VKS có trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đảm bảo cho các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc chứng minh hành vi phạm tội và nhân thân của người phạm tội phải được thu thập đầy đủ, toàn diện, khách quan và hợp pháp VKS có nhiệm vụ quyền hạn kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của các chủ thể tiến hành tố tụng nên CQĐT không thể tuỳ tiện bắt ai, khởi tố ai, bỏ qua cho trường hợp nào cũng được VKS là cơ quan duy nhất có quyền can thiệp trực tiếp vào quá trình điều tra, đề ra yêu cầu điều tra để CQĐT tiến hành điều tra CQĐT mà cụ thể là các Điều tra viên có trách nhiệm phải thực hiện tất cả các yêu cầu của VKS Trường hợp không nhất trí, CQĐT có quyền được kiến nghị đến VKS cấp trên nhưng trong thời gian chờ đợi kết quả vẫn phải thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu đó VKS có thể can thiệp bằng các quyền năng tố tụng ngay lập tức nếu cơ quan điều tra ban hành các văn bản áp dụng pháp luật hoặc các biện pháp điều tra không có căn cứ,
Trang 33không hợp pháp Cụ thể là VKS có thể kiến nghị yêu cầu CQĐT khắc phục vi phạm ngay trong quá trình điều tra, có quyền yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi Điều tra viên theo quy định của BLTTHS Pháp luật TTHS quy định quyền năng này cho VKS không chỉ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động điều tra vụ án hình sự, hạn chế những trường hợp đình chỉ điều tra vụ án hình
sự do bị can không phạm tội mà còn nhằm ngăn chặn kịp thời những vi phạm quyền con người, quyền công dân Điều đó cho thấy VKS có vai trò quan trọng đối với việc bảo vệ công lý trong hoạt động điều tra
- Thông qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và kiểm sát hoạt động điều tra nói riêng, kiểm sát viên là những người trực tiếp kiểm nghiệm tính phù hợp hay không phù hợp, có căn
cứ hay không có căn cứ của các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là BLHS
và BLTTHS Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi cơ chế quản lý kinh tế của chúng ta chưa hoàn thiện còn nhiều vấn đề bất cập, một số quan hệ thuộc lĩnh vực mới nhưng BLHS chưa được pháp điển hoá để bảo vệ, nhiều quy phạm
đã lạc hậu, chồng chéo nên một số đối tượng thường lợi dụng kẽ hở của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội, nhất là nhóm tội phạm tham ô, cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, nhận hối lộ Vậy làm sao để khắc phục những điều này, thì câu trả lời đầu tiên là chúng ta phải hoàn thiện hệ thống pháp luật một cách đồng bộ, có tính
dự báo trên tất cả các lĩnh vực của quản lý Nhà nước Qua công tác kiểm sát hoạt động điều tra, VKSNDTC sẽ tổng hợp những vấn đề bất cập nêu trên đề nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung, thay thế cho phù hợp Như vậy, công tác kiểm sát hoạt động điều tra có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật
- Kiểm sát hoạt động điều tra các vụ án hình sự có vai trò hướng tới các chủ thể của quan hệ pháp luật, thực hiện đầy đủ chức trách nhiệm vụ của
Trang 34mình khi tiến hành tố tụng, ngăn ngừa việc lạm quyền của những người tiến hành tố tụng; đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, nhất là người bị tạm giữ, bị can, người bị hại
- Cùng với công tác thực hành quyền công tố, công tác kiểm sát hoạt động điều tra đã góp phần giáo dục riêng đối với người phạm tội răn đe phòng ngừa chung đối với người đã và đang có ý định phạm tội, góp phần phổ biến tuyên truyền pháp luật; kiến nghị các cơ quan, tổ chức có biện pháp phòng ngừa vi phạm và tội phạm
1.2.5 Kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự ở nước ta từ năm
1945 đến nay
Tiền thân của cơ quan VKS là cơ quan Công tố viện, được thành lập theo sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/1945, là một bộ phận trong hệ thống cơ quan Tòa án Công tố viện chỉ có chức năng truy tố người phạm tội ra Tòa án
để xét xử chứ không có chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp
Nghị quyết của Quốc hội thông qua ngày 29/4/1958, đã quyết định thành lập cơ quan Viện công tố Trung ương và hệ thống Viện công tố trực thuộc Hội đồng Chính phủ Sau đó, Phủ Thủ tướng đã ban hành Nghị định 256/TTg ngày 1/7/1959 quy định về nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố,
trong đó có quy định: "Nhiệm vụ của Viện công tố là điều tra và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm pháp về hình sự; giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác điều tra của Cơ quan điều tra " [7] Như vậy, ngoài chức
năng truy tố theo luật hình sự những kẻ phạm pháp, Viện công tố còn có chức năng giám sát việc chấp hành pháp luật trong điều tra vụ án hình sự Đây là lần đầu tiên, chức năng kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự của Viện công tố được quy định Theo Hiến pháp 1959, VKSND được tổ chức thành một hệ thống độc lập với Chính phủ và chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Quốc hội đã ban hành Luật tổ chức
Trang 35VKSND năm 1960, đánh dấu sự hình thành hệ thống cơ quan VKS từ trung ương đến địa phương, đồng thời khẳng định chức năng hiến định là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Cũng trong thời gian này VKSNDTC và Bộ công an đã ban hành nhiều thông tư liên bộ trong đó có thông tư số 427-TTLB ngày 28/6/1963 quy định trách nhiệm của từng ngành đối với việc điều tra xử lý tội phạm, thông
tư quy định: Cơ quan Công an điều tra đảm nhiệm việc điều tra tất cả các vụ
án phản cách mạng và những tội phạm phức tạp Còn VKS chủ yếu là làm nhiệm vụ kiểm sát điều tra, đồng thời trong phạm vi điều kiện và khả năng của mình sẽ trực tiếp điều tra một số loại phạm pháp kinh tế và hành vi phạm
pháp đã tương đối rõ
Hiến pháp năm 1980 ra đời, trong đó quy định chức năng của VKS là:
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và các đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [19]
Trên cơ sở đó, Luật tổ chức VKSND năm 1981 đã quy định cụ thể chức
năng kiểm sát hoạt động điều tra tại chương II
Ngày 28/6/1988, Quốc hội khóa VIII đã thông qua BLTTHS đầu tiên của nước ta đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động lập pháp của Quốc hội Điều 23 BLTTHS quy định:
Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật
tố tụng hình sự, thực hiện quyền công tố bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, VKS có trách nhiệm áp dụng những biện pháp
do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất
kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào [20, Điều 23]
Trang 36Với quy định này, VKS thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với
toàn bộ hoạt động tố tụng của CQĐT trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Năm 2001, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa X đã tiến hành sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (Hiến pháp năm 1992 sửa đổi), lần sửa đổi này đã điều
chỉnh chức năng của VKS với quy định: "VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật"
[21, Điều 137] Như vậy, Hiến pháp năm 1992 sửa đổi đã tiếp tục quy định rõ kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong hai chức năng chính của VKS Trên
cơ sở quy định của Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, Luật tổ chức VKSND năm
2002 được ban hành và tại các Điều 12, 14 chương II quy định: "VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra" [23, Điều 12, 14]
Tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XI đã thông qua BLTTHS năm 2003 thể hiện những tư tưởng mới về cải cách tư pháp hình sự, trong đó tại Điều 23 chương II - Những nguyên tắc cơ bản có quy định:
Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này [25, Điều 23]
Ngoài ra còn có những quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của
VKS khi kiểm sát hoạt động điều tra như Điều 113, v.v
Ngày 28/11/2013, Quốc hội khóa VIII đã thông qua Hiến pháp 2013,
tiếp tục khẳng định chức năng của VKS: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [24, Điều 107, Khoản 1] Để cụ
thể hóa các quy định của Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức VKSND đang tiếp
Trang 37tục được sửa đổi bổ sung, trong đó quy định cụ thể về chức năng kiểm sát
hoạt động tư pháp nói chung và kiểm sát hoạt động điều tra nói riêng
Như vậy, trong suốt quá trình hình thành và phát triển hệ thống cơ quan VKS thì chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra
vụ án hình sự ngày càng được khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong công
cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm Điều đó thể hiện quan điểm của
Đảng và Nhà nước luôn luôn khẳng định kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự nói riêng là chức năng
quan trọng và chỉ giao cho cơ quan VKS thực hiện
1.3 Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra vụ án hình sự
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì CQĐT và VKS là các
cơ quan tiến hành tố tụng, có trách nhiệm thay mặt Nhà nước chứng minh tội phạm và người phạm tội khi phát hiện có tội phạm xảy ra trong đời sống xã
hội Mối quan hệ giữa CQĐT và VKS là: Mối quan hệ tố tụng hình sự được
phát sinh trong quá trình điều tra vụ án hình sự
Trên cơ sở các quy định của BLTTHS và các văn bản pháp luật có liên quan thì mối quan hệ giữa CQĐT và VKS trong hoạt động điều tra vụ án hình
sự được thể hiện dưới hai hình thức: phối hợp và chế ước Để làm rõ chức năng kiểm sát hoạt động điều tra, chúng tôi chỉ phân tích nội dung mối quan
Trang 38Như vậy, khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động điều tra, VKS có trách nhiệm phát hiện kịp thời các vi phạm pháp luật của CQĐT và VKS có quyền áp dụng mọi biện pháp mà BLTTHS quy định để loại trừ vi phạm Quy định này đã thể hiện tính chế ước của VKS đối với CQĐT trong hoạt động tố tụng nói chung và hoạt động điều tra nói riêng
Trong hoạt động điều tra của CQĐT, ở chừng mực nào đó đều liên quan, ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân, mà quyền này được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ, nên bất kỳ một hoạt động điều tra nào cũng phải được cân nhắc, kiểm tra, giám sát một cách chặt chẽ Các quyết định của CQĐT đều được VKS kiểm tra giám sát chặt chẽ, quyết định khởi tố bị can và việc quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế về tố tụng đều phải được VKS phê chuẩn mới có hiệu lực thi hành Trong trường hợp CQĐT ra các quyết định nói trên không có căn cứ, vi phạm pháp luật thì VKS có quyền từ chối phê chuẩn hoặc huỷ bỏ các quyết định đó, CQĐT phải phục hồi toàn bộ các quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân
Trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, yêu cầu đặt ra đối với CQĐT là phải phát hiện, điều tra làm rõ tội phạm và người phạm tội nhưng các hoạt động tố tụng nói chung và hoạt động điều tra nói riêng phải đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật Để đảm bảo yêu cầu trên thì pháp luật TTHS quy định mối quan hệ chế ước của VKS đối với CQĐT trong hoạt động tố tụng là điều tất yếu Trong BLTTHS, quyền chế ước của VKS được quy định tương đối rộng và chặt chẽ, cụ thể từ việc phê chuẩn quyết định khởi
tố bị can đến việc phê chuẩn, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn Những quy định này thể hiện rõ bản chất của Nhà nước ta là tôn trọng quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp ghi nhận VKS thực hiện tốt quyền chế ước sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác điều tra và kết quả giải quyết các vụ án hình sự, tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm
Trang 39Quyền chế ước của VKS được thể hiện dưới các hình thức cơ bản sau:
- VKS có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp giám sát các hoạt động điều tra của CQĐT như kiểm sát các hoạt động khám nghiệm hiện trường, tử thi, kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can, hoạt động khám xét hoặc kiểm sát hồ sơ, tài liệu phản ánh hoạt động điều tra Qua các hoạt động giám sát này, VKS kịp thời phát hiện những vi phạm, thiếu sót cần khắc phục và thể hiện quan điểm
là nhất trí hay không nhất trí, phê chuẩn hay không phê chuẩn các quyết định
tố tụng của CQĐT Hoạt động giám sát là cơ sở để VKS thực hiện quyền chế ước, thông qua đó VKS nắm rõ tiến độ điều tra và các hoạt động tố tụng của CQĐT đúng hay sai hoặc có thiếu sót hay không?
- Trên cơ sở thực hiện quyền giám sát và thực hiện tốt chủ trương
“Tăng cường trách nhiệm công tố trong giai đoạn điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” VKS thực hiện quyền đề ra yêu cầu điều tra đối với từng
vụ án, yêu cầu CQĐT thực hiện các hoạt động điều tra cần thiết nhằm làm sáng tỏ vụ án hoặc khắc phục ngay các thiếu sót về trình tự thủ tục trong các hoạt động điều tra Việc đề ra yêu cầu điều tra có thể được thực hiện một hay nhiều lần, ngay từ đầu khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình điều tra vụ án
- Pháp luật TTHS quy định VKS có quyền hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT, đây là cơ sở đảm bảo cho các hoạt động điều tra phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, tránh tuỳ tiện trong hoạt điều tra VKS thực hiện quyền này trên cơ sở đã thực hiện triệt để cả hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra Trên thực tế, VKS chỉ hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT khi đã có yêu cầu nhưng CQĐT không thực hiện hoặc không thể tự huỷ bỏ được, ví dụ: VKS quyết định huỷ bỏ khởi tố bị can của CQĐT khi thấy quyết định đó không có căn cứ, trái quy định của pháp luật Tuy nhiên, khi thực hiện quyền chế ước nêu trên VKS phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật TTHS
Trang 401.4 Tổ chức thực hiện công tác kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự
Hiến pháp năm 1959 ra đời đã ghi nhận VKSND là một cơ quan trong
hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước, với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật; tại Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 1960 đã ghi nhận
VKSND có nhiệm vụ: "… kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của Cơ quan công an và của CQĐT khác; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam, giữ của các trại giam " [18] Điều này cho thấy, từ khi
mới thành lập VKSND đã có trách nhiệm quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, đảm bảo cho pháp luật tố tụng hình sự được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Cùng với sự phát triển của cách mạng Việt nam, Hiến pháp và Luật tổ chức VKSND có những bước tiến và có những thay đổi căn bản về nội dung Nhưng chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS vẫn được ghi nhận Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2002 sửa đổi đã quy định:
Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ bằng những công tác sau đây:
1 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; [23]
Như vậy, trải qua một thời gian dài phát triển cho đến nay, trong lĩnh vực tư pháp hình sự VKS vẫn có trách nhiệm, quyền hạn là kiểm sát việc tuân theo pháp luật và được thực hiện thông qua các khâu công tác là: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong luật trong