1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

[ Bản Full ] Hoàn thiện địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam

126 442 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên và thực tiễn áp dụng để làm sáng tỏ về

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VŨ THỊ PHƯƠNG THANH

HOµN THIÖN §ÞA VÞ PH¸P Lý CñA BÞ CAN, BÞ C¸O Lµ NG¦êI CH¦A THµNH NI£N

TRONG Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS TRẦN VĂN ĐỘ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Thị Phương Thanh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng, biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 10

1.1 Khái niệm bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự 10

1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên 10

1.1.2 Khái niệm bị can là người chưa thành niên 14

1.1.3 Khái niệm bị cáo là người chưa thành niên 15

1.2 Khái niệm, cơ sở và ý nghĩa của việc quy định địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam 16

1.2.1 Khái niệm địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự 16

1.2.2 Cơ sở của việc quy định địa vị pháp lý của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự 18

1.2.3 Ý nghĩa của việc quy định địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự 24

1.3 Địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự một số nước trên thế giới 25

1.3.1 Trong tư pháp hình sự của Nhật Bản 25

1.3.2 Trong tư pháp hình sự của Pháp 29

1.3.3 Trong tố tụng hình sự của tiểu bang Victoria, Australia 31

Trang 5

Chương 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT

NAM VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ

NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 33 2.1 Khái quát lịch sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về địa

vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trước

khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 33

2.1.1 Quy định về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa

thành niên trước Cách mạng tháng 8-1945 33 2.1.2 Quy định về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa

thành niên giai đoạn 1945 - 1988 37 2.1.3 Quy định về địa vị pháp lý bị can, bị cáo là của người chưa

thành niên trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 43

2.2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về địa vị pháp

lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên 46

2.2.1 Địa vị pháp lý của bị can là người chưa thành niên 46 2.2.2 Địa vị pháp lý của bị cáo là người chưa thành niên 59

Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CAN, BỊ

CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 78 3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về địa vị

pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên 78

3.1.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về địa vị pháp lý của bị can, bị

cáo là người chưa thành niên 78 3.1.2 Những bất cập, vướng mắc trong áp dụng những quy định của pháp

luật về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên 86

3.2 Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định

về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên 95

3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị

pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên 95 3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về địa vị pháp lý

của bị can, bị cáo là người chưa thành niên 98

KẾT LUẬN 110 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra

CQTHTT: Cơ quan tiến hành tố tụng

NCTN: Người chưa thành niên NTGTT: Người tham gia tố tụng NTHTT: Người tiến hành tố tụng

TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao

VKS: Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Số hiệu bảng,

biểu đồ Tên bảng, biểu đồ Trang

Bảng 3.1: Số lượng vụ án phải giải quyết và số bị cáo là người

Bảng 3.2: Đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo là người chưa

Biểu đồ 3.1: Biểu đồ số lượng vụ án phải giải quyết và số bị cáo là

Biểu đồ 3.2: Biểu đồ hình phạt áp dụng đối với bị cáo là người chưa

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến thế hệ trẻ, đặc biệt là

lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng Trong di chúc của Người viết “Thiếu niên, nhi

đồng là người chủ tương lai của đất nước” Vì vậy “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là điều rất quan trọng và cần thiết” “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”, “trẻ em là hạnh phúc gia đình, tương lai của đất nước” Ngay

trong Lời mở đầu của Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em đã chỉ rõ:

“Do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” [25] Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em qui định:

Trong tất cả những hành động liên quan đến trẻ em, dù do hành động liên quan đến trẻ em, dù do các cơ quan phúc lợi xã hội công cộng hay tư nhân, Toà án, các nhà chức trách hành chính hay

cơ quan lập pháp tiến hành thì lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu [25, Điều 3]

Bảo vệ trẻ em chính là bảo vệ sự phát triển trong tương lai của quốc gia Nhận thức được tầm quan trọng này, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều hoạt động thiết thực nhằm thúc đẩy việc bảo vệ trẻ em và người chưa thành niên Việt Nam là quốc gia thứ 2 trên thế giới ký Công ước bảo vệ quyền trẻ em Khi lựa chọn trở thành quốc gia thành viên của một Công ước quốc tế có tốc độ phê chuẩn nhanh nhất và rộng rãi nhất

trong lịch sử, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đồng ý thực hiện “tất cả các

biện pháp lập pháp, hành chính, và các biện pháp phù hợp khác để thực hiện những quyền được ghi nhận trong Công ước” [25, Điều 4] Việt Nam cũng

đã xây dựng được một hệ thống pháp luật khá đầy đủ tạo những căn cứ pháp

Trang 9

lý quan trọng cho các cơ quan bảo vệ pháp luật bảo vệ trẻ em nói chung và người chưa thành niên trong các vụ án hình sự nói riêng

Các quốc gia trên thế giới đều thống nhất rằng mọi người đều được quyền đối xử bình đẳng và chung sống với nhau trong hòa bình và tự do Tất

cả trẻ em cũng đều có các quyền như vậy và Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em đã ra đời nhằm mục đích công nhận và bảo vệ các quyền chuyên biệt của trẻ em Công ước coi trẻ vị thành niên là một cá nhân toàn diện, có đầy đủ địa vị pháp lý, tuy nhiên một trong những quyền quan trọng

mà các em dễ bị xâm phạm nhất đó là “quyền được bảo vệ khỏi những khó

khăn trong suốt quá trình tư pháp” Có nghĩa là các em có quyền được bảo

vệ khỏi mọi hình thức xâm phạm và ngược đãi từ thời điểm hành vi phạm pháp bị phát hiện cho đến suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử hành vi

đó Các thủ tục, các kỹ năng tố tụng đặc biệt hết sức quan trọng để bảo đảm rằng sự tiếp xúc với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thì các em được đối xử một cách công bằng, hướng dẫn để chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình và hơn thế nữa, được tạo một cơ hội tránh mắc phải sai phạm trong tương lai để lớn lên thành những người có trách nhiệm

Thực tiễn tố tụng hình sự Việt Nam những năm qua cho thấy, kể từ khi Nghị quyết của Bộ chính trị số 08/NQ-TW và Nghị quyết của Bộ chính trị số 49/NQ-TW được ban hành, vấn đề bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo là người vị thành niên được coi trọng rất nhiều so với trước đây và ngày một đảm bảo hơn Tuy nhiên, công tác tư pháp vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế như đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu, trình độ nghiệp vụ

và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, vấn đề bảo đảm bị can,

bị cáo là của người chưa thành niên còn hạn chế, sai sót Vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra, truy tố và xét xử Nhất là đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong hoàn cảnh tội phạm do người chưa thành thực

Trang 10

hiện ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp Pháp luật tố tụng hình sự đã quy định thủ tục giải quyết những vụ án do người chưa thành niên thực hiện tương đối đầy đủ, tuy nhiên trong thực tiễn vận dụng do chưa được quan tâm nên vẫn còn nhiều hạn chế, chưa bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của

họ, còn bộc lộ nhiều thiếu sót, dẫn đến việc giải quyết những vụ án này không đạt hiệu quả

Do đó, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên

và thực tiễn áp dụng để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng những quy định đó không chỉ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng mà

còn là lý do luận chứng cho sự cần thiết để chúng tôi lựa chọn đề tài “Hoàn

thiện địa vị pháp lý của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Do người chưa thành niên là một chủ thể quan đặc biệt và quan trọng trong quan hệ pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, nên ở trong và ngoài nước

đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những mức độ khác nhau, những khía cạnh, phương diện khác nhau về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo

là người chưa thành niên

Vấn đề người chưa thành niên phạm tội đã được nhiều chuyên gia ở

nước ngoài nghiên cứu như: Gilbert H.F.Mumford và T.J Se, The Act for the

Establishment of and Procedure for juvenile and Family Court B.E 2534”, “A guide to juvenile court law”; N.I.Vetrop, Phòng ngừa vi phạm pháp luật trong thanh niên, A.I Đôgôva, Những khía cạnh tâm lý - xã hội về tình trạng phạm tội của người chưa thành niên; v.v

Ở Việt Nam, khoa học luật hình sự và tố tụng hình sự là một trong

Trang 11

những ngành khoa học pháp lý phát triển nhất so với các ngành khoa học pháp lý khác, do đó, xét riêng về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên, cho thấy có các công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:

Ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học có các đề tài của các tác giả: Lê Minh

Thắng, Bảo đảm quyền của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt

Nam; Nguyễn Xuân Thủy, Phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm của người chưa thành niên trong điều kiện ngày nay ở Việt Nam; Đặng Thanh Nga, Đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên có hành vi phạm tội; Đỗ Thị Phượng, Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam”; Nguyễn Huy Hoàn, Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay; v.v

Cấp độ luận văn thạc sĩ có các đề tài: Đỗ Thị Phượng, Thủ tục xét xử vụ

án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam; Chu Mạnh Hùng, Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam;

Nguyễn Ngọc Thương, Thủ tục tố tụng hình sự đối với những vụ án do người

chưa thành niên thực hiện - Lý luận và thực tiễn; Nguyễn Thu Huyền, Thủ tục xét xử những vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” v.v

Bên cạnh đó, về giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận có các công

trình sau: GS.TSKH Lê Cảm, Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề

cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà

Nội, 2005; Lê Cảm và Nguyễn Ngọc Chí (Đồng chủ biên) Cải cách tư pháp ở

Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc

gia Hà Nội, Hà Nội, 2004, v.v

Ngoài ra, một số tác giả cũng đã công bố những bài báo khoa học có đề

cập đến quyền của người chưa thành niên như Lê Cảm - Đỗ Thị Phượng, “Tư

pháp hình sự đối với người chưa thành niên: Những khía cạnh pháp lý hình

Trang 12

sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học”, Tòa án nhân dân 2004;

Đỗ Thị Phượng, “Bàn về khái niệm và cơ sở áp dụng thủ tục đối với người bị

bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Tạp chí Luật học, 2004; Trần Hưng Bình, Bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên bị buộc tội trong tố tụng hình sự,

Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, Số 1/2013;

Nguyễn Thanh Trúc, Biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại

của hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Nghiên cứu

lập pháp, Văn phòng Quốc hội, Số 20/2008; Đoàn Tấn Minh, Cần sửa đổi, bổ

sung một số quy định về người chưa thành niên phạm tội trong bộ luật hình

sự năm 1999, Tạp chí Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Số 10/2009;

Lê Minh Thắng, Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội -

nhìn từ phương diện tội phạm học và trách nhiệm xã hội, Tạp chí Dân chủ và

pháp luật, Bộ Tư pháp Số 12/2011; Phạm Văn Hùng, Hệ thống điều tra thân

thiện với người chưa thành niên, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng

Quốc hội, Số 20/2008; Nguyễn Thị Thu Quỳ, Trịnh Thắng Quyết, Hoàn thiện

chế định miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên trong giai đoạn truy tố, Tạp chí Kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Số 4/2013;

Đỗ Thuý Vân, Hoàn thiện pháp luật về xử lý chuyển hướng đối với người

chưa thành niên vi phạm pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,Văn phòng

Quốc hội, Số 20/2008; Nguyễn Thị Lộc, Một số giải pháp nhằm nâng cao

hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có người bị hại là người chưa thành niên, Tạp chí Kiểm sát Viện

kiểm sát nhân dân tối cao, Số 15/2013; Vũ Thị Thu Quyên, Quyền của người

chưa thành niên phạm tội trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, Tạp

chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, Số 5/2012 v.v

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát trên đây cho thấy khoa học luật

Trang 13

TTHS Việt Nam chưa có công trình nào đề cập một cách có hệ thống, đồng

bộ và toàn diện về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên

đặc biệt là ở cấp độ luận văn thạc sĩ đúng như tên gọi của đề tài “Hoàn thiện

địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam” Do vậy trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu về

quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo là người chưa thành niên theo quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn việc thực hiện quyền và nghĩa vụ này trong quá trình tố tụng để nêu ra được những vướng mắc, bất cập, hạn chế, từ

đó đưa ra một số giải pháp nhằm đảm bảo và hoàn thiện địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong quá tình tố tụng hình sự đặc biệt với vai trò là người phạm tội

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo

là người chưa thành niên dưới khía cạnh lập pháp tố tụng hình sự và áp dụng chúng trong thực tiễn, từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong pháp luật về TTHS của Việt Nam, cũng như đề xuất những giải pháp đảm bảo địa vị pháp lý này trong thực tiễn áp dụng

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra là:

- Từ cơ sở kết quả tổng hợp các quan điểm của các tác giả trong và ngoài nước về về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên, luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề chung về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên như: Căn cứ xác định người chưa thành niên phạm tội trong TTHS Việt Nam; Khái niệm, cơ sở và ý nghĩa của việc quy định địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam;

Trang 14

- Khái quát sự phát triển của những quy định địa vị pháp lý của bị can,

bị cáo là người chưa thành niên trong lịch sử pháp luật TTHS của nước ta từ

thời phong kiến đến nay;

- Nghiên cứu các quy định cụ thể về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của Việt Nam,

từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá;

- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định địa vị pháp lý của

bị can, bị cáo là người chưa thành niên, đồng thời phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế xung quanh việc áp dụng và những nguyên nhân cơ bản của nó;

- Từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định

về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam, cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng của địa vị pháp lý này trong thực tiễn

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tư pháp hình sự Việt Nam, kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá tình hình đảm bảo quyền và nghĩa

vụ của người chưa thành niên phạm tội trong thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp và những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu quả việc đảm bảo địa vị pháp

lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong thực tiễn

Luận văn cũng có tham khảo những bài học kinh nghiệm lập pháp một

số nước trong khi quá trình nghiên cứu đề tài

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn việc thực hiện địa vị pháp

lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong 5 năm (2009-2013)

4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật

Trang 15

lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật TTHS như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học luật TTHS và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn

5 Những điểm mới và đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện

lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên Những điểm mới cơ bản của luận văn là:

- Tổng hợp các quan điểm khoa học trong và ngoài nước về địa vị pháp

lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên;

- Nghiên cứu chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của quá trình hình thành

và phát triển của quy định về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong TTHS từ thời phong kiến cho đến nay;

- Nghiên cứu, đánh giá trên cơ sở so sánh với quy định của pháp luật quốc

tế và một số quốc gia về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên, từ đó rút ra nguyên nhân cơ bản của các tồn tại, hạn chế trong thực tiễn;

- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao hiệu quả áp dụng về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên

Trang 16

trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay

và cơ quan Thi hành án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là

người chưa thành niên

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về địa vị

pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và giải pháp nhằm hoàn thiện

các quy định về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên

Trang 17

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

Người chưa thành niên phạm tội là một hiện tượng, một thực tế tồn tại

ở tất cả các quốc gia trên thế giới Mỗi quốc gia đều giải quyết vấn đề người chưa thành niên phạm tội theo những mức độ, cách thức khác nhau tuỳ thuộc vào những điều kiện, tập quán, pháp luật của mỗi nước.Thuật ngữ người chưa thành niên được dùng phổ biến trong các ngành khoa học khác nhau như: Luật học, Xã hội học, Tâm lý học, Giáo dục học… Dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi ngành khoa học tự đặt ra cho mình những nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau nhằm đạt được những mục đích khác nhau liên quan đến người chưa thành niên

Trong TTHS hình sự, khái niệm người chưa thành niên được các nhà lập pháp hình sự sử dụng với hai tư cách, hoặc là đối tượng tác động của tội phạm hoặc là chủ thể của tội phạm

Nghiên cứu về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên thì khái niệm người chưa thành niên được đề cập với tư cách là chủ thể của tội phạm

1.1 Khái niệm bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự

1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên

Người chưa thành niên là người đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện về thể chất, tâm sinh lý, nhân cách sống Người ở độ tuổi này chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần, nhân cách; có sự hạn chế

về kinh nghiệm sống, kiến thức pháp luật, dễ bị tác động, chi phối bởi điều kiện sống; chưa thể nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của

Trang 18

hành vi mà mình thực hiện, khả năng tự kiềm chế chưa tốt Khái niệm người chưa thành niên được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học khác nhau như tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, luật học Tuy nhiên, tùy theo các góc độ, lĩnh vực mà khái niệm này được hiểu khác nhau Theo nhà tâm lý học G.Stanley Hall, thời kỳ chưa thành niên là thời kỳ quá độ tuổi trẻ em chuyển lên người lớn và là thời kỳ gắn liền với những xung đột, xáo trộn tâm trạng,

nó cũng được quan niệm đồng nghĩa với tuổi đang lớn hoặc đang trưởng thành [22] Quá trình phát triển của một đứa trẻ từ khi sinh ra đến khi trưởng thành được các nhà khoa học phân chia thành các giai đoạn khác nhau, trong

đó có giai đoạn chưa thành niên, nhưng việc xác định cụ thể thời điểm bắt đầu, kết thúc tuổi chưa thành niên còn có nhiều ý kiến khác nhau (tuổi chưa thành niên từ 14 -17 tuổi; 11 - 15 tuổi; 12 - 15 tuổi; hoặc nam là từ 14 - 16 tuổi, nữ là

từ 11 - 13 tuổi; hoặc nam từ 12- 17 tuổi, nữ là từ 12 - 15 tuổi) [16, tr.17]

Hiện nay, luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam chưa đưa ra một khái niệm cụ thể về người chưa thành niên Trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế về người chưa thành niên và quyền trẻ em cũng như các văn bản pháp luật Việt Nam như: Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên, Công ước Quốc tế về quyền trẻ em năm 1999, Quy tắc Bắc Kinh năm

1985, Hướng dẫn Riat năm 1990, Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 18), Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 đều chỉ quy định, định nghĩa người chưa thành niên theo độ tuổi, cụ thể:

Công ước quốc tế về quyền trẻ em ghi nhận: “Trong phạm vi của công

ước này, Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [25] Theo cách hiểu

thông thường, từ “Trẻ em” có nghĩa là người chưa thành niên Theo điều này Công ước đã ghi nhận, khái niệm người chưa thành niên được hiểu là mọi trẻ

em dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật quốc gia có quy định khác

Trang 19

Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh), được Đại hội đồng

LHQ thông qua ngày 29-11-1985 nêu rõ: "Người chưa thành niên là trẻ em

hay người ít tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn" [24, số 2.2 mục a]

Quy tắc tối thiểu phổ biến của LHQ về bảo vệ người chưa thành niên bị tước

quyền tự do thông qua ngày 14-12-1990 quy định: "Người chưa thành niên là

người dưới 18 tuổi Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định

và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên" [27, số 2.1, mục a]

Như vậy, có thể thấy rằng, khi đưa ra khái niệm về trẻ em hay người chưa thành niên, trong pháp luật quốc tế không dựa vào đặc điểm tâm - sinh

lý hay sự phát triển thể chất, tinh thần mà trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc xác định độ tuổi Kể cả khái niệm trẻ em và khái niệm người chưa thành niên đều giới hạn là dưới 18 tuổi, đồng thời đưa ra khả năng mở cho các quốc gia tùy điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá, truyền thống của mình có thể quy định độ tuổi đó sớm hơn

Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Người chưa thành niên là người

chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa

có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân” [73] Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa

thành niên được xác định thống nhất trong Hiến Pháp năm 2013, Bộ luật Hình

sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, và một số văn bản quy phạm pháp luật khác Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực cụ thể Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, khái niệm người chưa thành niên khác với khái niệm trẻ em Theo Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em

năm 2004: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [42, Điều 1] Bộ luật

Trang 20

dân sự Việt Nam năm 2005 ghi nhận: “…Người chưa đủ mười tám tuổi là

người chưa thành niên” [43, Điều 18] Bộ luật hình sự 1999 quy định:

“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm 2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” [39, Điều 12] Bộ luật hình sự cũng quy định:

“Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự ” [39, Điều 68]

Tóm lại, khái niệm người chưa thành niên được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hoá bằng giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia Theo đó, người ta quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của người chưa thành niên

Trong khoa học luật hình sự, có không nhiều các định nghĩa về NCTN, với nội dung chủ yếu nhắc lại quy định của pháp luật và đưa ra khái niệm trên

cơ sở độ tuổi "người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi" hoặc tiếp cận ở giác độ rất hẹp - NCTN phạm tội Theo Theo GS.TSKH Lê Cảm và TS Đỗ

Thị Phượng thì “Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến

dưới 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do sự hạn chế bởi các đặc điểm về tâm, sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm” [8, tr.20, 21, 22] TS Trịnh

Tiến Việt định nghĩa như sau: "Người chưa thành niên là người chưa phát

triển đầy đủ về thể chất và tâm - sinh lí, chưa có khả năng nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện" [76]

Từ những phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm: Người chưa thành

niên trong tố tụng hình sự Việt Nam là người dưới mười tám tuổi chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa

vụ pháp lý như người đã thành niên

Trang 21

1.1.2 Khái niệm bị can là người chưa thành niên

Theo quy định tại khoản 1 Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) thì

bị can là người đã bị khởi tố về hình sự Thuật ngữ “bị can” đã được sử dụng trong Sắc lệnh số 13 ngày 24-1-1946 về tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán

và trong nhiều văn bản pháp luật tố tụng hình sự khác nhưng vẫn chưa có một khái niệm cụ thể về bị can Sắc lệnh số 13 có một số quy định như:

Khi bắt người trong hai trường hợp kể trên, ban tư pháp phải lập biên bản hỏi cung và giải bị can lên ngay Tòa án trên trong hạn 24 giờ là cùng [11, Điều 5] Sau khi nghe các bị can, các người chứng, cáo trạng của Chưởng lý, và sau cùng nghe lời cãi của các bị can, ông Chánh án, hai Hội thẩm, hai Phụ thẩm nhân dân lui vào phòng nghị xử

để cùng quyết nghị về tất cả các vấn đề thuộc về tội vong, hình phạt, trường hợp tăng tội và trường hợp giảm tội [11, Điều 41]

Ta có thể thấy, trong giai đoạn điều tra và cả giai đoạn xét xử thì người

bị buộc tội đều được gọi là bị can Như vậy, vẫn chưa có một định nghĩa rõ ràng phân biệt được rành mạch bị can và bị cáo trong thời kỳ này Lần đầu tiên chúng ta biết đến khái niệm bị can khi nó được quy định tại Điều 34 BLTTHS năm 1988 Theo đó, một người chỉ có thể bị khởi tố với tư cách bị can trong vụ án hình sự khi có đủ căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành

vi phạm tội

Việc xác định một người có tư cách bị can từ khi nào là điều rất quan trọng Bởi vì, khi một người phát sinh tư cách bị can đồng nghĩa với việc người đó sẽ có các quyền và nghĩa vụ của bị can Người đó sẽ bị các CQTHTT áp dụng các biện pháp tố tụng được phép tiến hành với bị can theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành thì bị can là người bị khởi tố về hình sự và tham gia tố tụng

từ khi có quyết định khởi tố bị can Bị can sẽ tham gia vào các giai đoạn điều

Trang 22

tra, truy tố và một phần giai đoạn xét xử sơ thẩm Tư cách tố tụng của bị can

sẽ chấm dứt khi cơ quan điều tra đình chỉ điều tra, viện kiểm sát đình chỉ vụ

án, Tòa án đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đối với bị can hoặc tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Khi một người bị khởi tố về hình sự thì họ sẽ trở thành đối tượng bị buộc tội trong vụ án Tuy vậy, điều đó không

có nghĩa xác định họ là người có tội Đây là vấn đề có tính nguyên tắc Vì theo quy định tại Điều 31 Hiến pháp 2013 và Điều 9 BLTTHS 2003 thì:

“Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [41, Điều 9] Như vậy, bị can là người

chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi bị khởi tố về hình sự

và tham gia tố tụng từ khi có quyết định khởi tố bị can

1.1.3 Khái niệm bị cáo là người chưa thành niên

Về khái niệm bị cáo, theo quy định tại BLTTHS 2003 thì: “bị cáo là

người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử” [41, Điều 50, Khoản 1] Thuật

ngữ: “bị cáo” được sử dụng trong nhiều Sắc lệnh về tổ chức các cơ quan tư pháp do Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ký từ năm 1945 Tuy nhiên chỉ đến năm 1974, trong bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự kèm theo Thông tư số 16/TATC ngày 27-9-1974 của TANDTC mới đưa ra định nghĩa pháp lý về khái niệm bị cáo Theo đó:

Bị cáo là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự trước Tòa án nhân dân Trong giai đoạn xét xử Tòa án nhân dân chỉ được đưa một người ra xét xử với tư cách bị cáo nếu VKSND đã truy tố người đó trước TAND, nếu VKSND không truy tố thì TAND không được xét xử một người với tư cách là bị cáo trừ những người

mà TAND xét xử về những việc hình sự nhẹ [54]

Trong BLTTHS năm 1988 thì khái niệm bị cáo được quy định tại Điều

34 của bộ luật Và hiện nay, khái niệm bị cáo được quy định tại Điều 50

Trang 23

BLTTHS 2003 Kể từ thời điểm Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa

ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bị can trở thành bị cáo Như vậy, bị cáo tham gia tố tụng kể từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Và khái niệm bị cáo không đồng nghĩa với khái niệm chủ thể của tội phạm Là bị cáo, họ chưa bị coi là người có tội, họ chỉ là người bị cáo buộc về một tội phạm nào đó theo Bộ luật hình sự, nên họ phải được đối xử như đối với một người bình thường khác

Họ chỉ trở thành người có tội nếu sau khi xét xử họ bị Tòa án ra bản án kết tội

và bản án đã có hiệu lực pháp luật Cũng chính vì vậy mà BLTTHS quy định quyền của bị cáo rất đầy đủ và cụ thể để họ tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ cho mình trước lời cáo buộc của Viện kiểm sát tại phiên toà Từ những

phân tích trên có thể hiểu “bị cáo là người chưa thành niên là người từ đủ 14

tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình

sự quy định là tội phạm và bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử”

1.2 Khái niệm, cơ sở và ý nghĩa của việc quy định địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam

1.2.1 Khái niệm địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự

Theo từ điển luật học, địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình Thông qua địa vị pháp

lý ta có thể phân biệt được chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời cũng có thể xem xét vị trí, tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ pháp lý Do vậy, việc nắm vững địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luật có vai trò vô cùng quan trọng đối với mọi

Trang 24

chủ thể Đối với chủ thể có địa vị pháp lý thì sẽ giúp họ thực hiện tốt hơn các quyền và nghĩa vụ của mình Còn đối với các chủ thể khác việc nắm vững địa vị pháp lý của chủ thể trong quan hệ pháp luật sẽ giúp họ không xâm phạm đến quyền và nghĩa vụ của người khác Trong tố tụng hình sự, thì việc nắm vững địa vị pháp lý của các chủ thể càng có vai trò quan trọng hơn hết Bởi vì, khi giải quyết một vụ án hình sự phải trải qua rất nhiều giai đoạn khác nhau Và tại mỗi giai đoạn thì địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia

tố tụng cũng không giống nhau Khi đó, việc nắm vững địa vị pháp lý của các chủ thể này sẽ đảm bảo cho việc thực hiện đúng các thủ tục tố tụng, đảm bảo cho việc xác định sự thật vụ án Như vậy, có thể thấy việc nắm vững địa

vị pháp lý của các chủ thể đặc biệt là những người tiến hành tố tụng đối với những người tham gia tố tụng có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết vụ án hình sự, đảm bảo đúng người, đúng tội

Trong tố tụng hình sự chưa có một khái niệm chính thức nào về địa vị pháp lý của bị can Nhưng dựa vào những điểm đã phân tích ở trên ta có thể nhận thấy: Địa vị pháp lý của bị can là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của người đã bị khởi tố về hình sự trong quá trình tham gia tố tụng hình sự Khi một người có địa vị pháp lý là bị can thì họ sẽ có các quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật Quyền và nghĩa vụ của bị can được quy định cụ thể tại Khoản 2 Điều 49 BLTTHS 2003 Cũng tương tự như bị can

Từ trước tới nay chưa có một khái niệm cụ thể nào về địa vị pháp lý của bị cáo Và mỗi tác giả khi nghiên cứu về các quyền và nghĩa vụ của bị cáo thì tự rút ra cho mình một khái niệm riêng Từ những phân tích ở trên, chúng tôi xin

được đưa ra khái niệm như sau: Địa vị pháp lý của bị cáo chính là tổng thể

các quyền và nghĩa vụ của một người đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án có thẩm quyền đến khi bản án kết tội hay quyết định của Tòa án

có hiệu lực pháp luật

Trang 25

Từ những phân tích về người chưa thành niên, địa vị pháp lý, bị can, bị cáo ở trên, có thể đưa ra định nghĩa về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là

người chưa thành niên như sau: Địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người

chưa thành niên là tổng thể quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong quá trình tiến hành giải quyết các vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

1.2.2 Cơ sở của việc quy định địa vị pháp lý của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự

Cơ sở thứ nhất là bắt nguồn từ việc bảo đảm thực hiện quyền con người Khi lựa chọn định hướng phát triển theo xu hướng tiến bộ, các quốc

gia đều cố gắng phấn đấu vì hạnh phúc của con người, vì thế bảo vệ các quyền của con người là một tất yếu khách quan Quyền con người là thành quả phát tr iển lâu dài của li ̣ch sử xã hô ̣i loài người Khái niệm quyền con người lần đầu tiên được tổ chức Liên Hợp Quốc chính thức thừa nhận vào năm 1948 với sự kiện ra đời của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người Trong đó, khẳng định:

Quyền con người là những quyền cơ bản, không thể tước bỏ mà một người vốn được thừa hưởng đơn giản vì họ là con người [79] Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc

sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và

tự do cơ bản của con người [78, tr.1]

Như vậy, quyền con người – dù được nhìn nhận dưới góc độ nào đều được hiểu là những quyền tự nhiên cơ bản của con người, không thể bị tước đoạt, chiếm giữ bởi bất cứ ai và bất cứ thế lực nào Quyền con người bao gồm những quyền không thể tước bỏ , do đó , bảo vệ quyền con người chính là những bảo đảm pháp lý mang tính toàn cầu Quyền con người đã được công

Trang 26

nhận ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Quốc hội khóa XIII thông qua Hiến pháp (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ VI (ngày 28-11-2013) là một sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng bậc nhất của đất nước, Hiến pháp (sửa đổi) có rất nhiều đổi mới và chính những đổi mới đó là cơ sở hiến định quan trọng mở đường cho việc tiếp tục cải cách, đổi mới để đất nước ta phát triển Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi mang nhiều đổi mới quan trọng so với những bản Hiến pháp trước đây, trong đó có vấn đề quyền con người Đây cũng là một điểm nhấn quan trọng khẳng định việc kế thừa, phát triển nhiều nội dung về nhân quyền từ các bản Hiến pháp trước đó, đồng thời nhất quán những nội dung, tinh thần điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia về quyền con người Trách nhiệm của Nhà nước và những đảm bảo của Nhà nước trong việc ghi nhận, tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người, quyền công dân được quy định đầy đủ trong

các điều luật Hiến pháp mới ghi nhận “Quyền con người, quyền công dân về

chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” [45, Điều 14] Hiến pháp là đạo luật

gốc, đạo luật cơ bản của nhà nước, do đó các văn bản quy phạm pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng được ban hành phải đảm bảo thống nhất và không được trái với Hiến pháp Pháp luật tố tụng hình sự của bất kỳ quốc gia và hê ̣ thống pháp lý nào cũng đều phải thực hiê ̣n cùng mô ̣t lúc hai nhiê ̣m vu ̣: vừa phải xác đi ̣nh cho được sự thâ ̣t của vu ̣ án , đảm bảo để công

lý được thực thi , nhưng la ̣i vừa phải làm thế nào để trên con đường đi tìm sự thâ ̣t và công lý thì quyền của tất cả những người có liên quan đều phải được tôn tro ̣ng, đảm bảo và bảo vê ̣ Trọng tâm của nhiệm vụ bảo đảm quyền con người trong tố tu ̣ng hình sự vẫn là viê ̣c bảo đảm quyền con người cho người

bị buộc tội : bị can , bị cáo , trong đó, đối tượng người chưa thành niên (nói chung) và trẻ em (nói riêng ) là những chủ thể đặc biệt , có những đă ̣c điểm

Trang 27

riêng về tâm sinh lý và sự phát triển chưa đầy đủ , chưa biết cách tự bảo vê ̣ mình khi đứng trước những sự kiện pháp lý nên cần phải có những bảo đảm pháp lý đầy đủ, cần thiết và đáp ứng phù hợp

Cơ sở thứ hai là dựa trên việc bảo đảm sự công bằng, bình đẳng đối với tất cả mọi người

Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 (International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR) ghi nhận:

Mọi người đều bình đẳng trước các tòa án và cơ quan tài phán Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập

ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội người đó trong các vụ án hình sự, hoặc để xác định quyền và nghĩa vụ của người đó trong các vụ kiện dân sự… [23, Điều 14, Khoản 1]

Tháng 10/2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012-2020, hướng tới thực hiện mục tiêu tổng quát là xây dựng môi trường sống an toàn, thân thiện và lành mạnh để thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền của trẻ em từng bước giảm khoảng cách chênh lệch về điều kiện sống giữa các nhóm trẻ em và trẻ em giữa các vùng, miền nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi trẻ em [3] Nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử là nguyên tắc nền tảng xuyên suốt các văn bản pháp luật Việt Nam, tạo tiền đề cho việc đảm bảo và phát huy các quyền của người dân trên từng lĩnh vực cụ thể Trong pháp luật Việt Nam, quyền bình đẳng trước pháp luật là một quyền đã được Hiến định [45, Điều 16] Luật pháp quy định mọi người đều bình đẳng trước pháp luật chỉ có thông qua hoạt động xét xử, Tòa án mới ra phán quyết một người có tội hay không có tội bằng một bản án không có ai bị coi là có tội

và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án có hiệu lực của Tòa án Bình đẳng

Trang 28

trước pháp luật còn là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của Bộ

luật tố tụng hình sự, “tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân

đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội Bất cứ người nào phạm tội đều bị

xử lý theo pháp luật” [41, Điều 5] Quyền bình đẳng trước pháp luật còn được

hiểu là quyền bình đẳng trong việc đưa ra các chứng cứ, đưa ra các yêu cầu tranh luận trước tòa án và phải được tòa án tôn trọng, tạo điều kiện Điều 19 BLTTHS quy định về bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án như sau: “Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân

sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền

đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án” Vì tính chất hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là nhân danh nhà nước và mang quyền lực nhà nước, nên trong quan hệ của họ với bị can, bị cáo thì đây

là quan hệ bất bình đẳng Vì vậy, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo nói chung và với đối tượng bị can, bị cáo là người chưa thành niên nói chung, giảm thiểu các nguy cơ xâm phạm bất hợp pháp là mối quan tâm hàng đầu của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền con

người trong hoạt động tố tụng hình sự

Việc quy định địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên thể hiện các nguyên tắc của Hiến pháp và BLTTHS cũng như các văn bản quy phạm pháp luật quốc tế như bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo

đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo… Tuyên ngôn thế giới về

Trang 29

nhân quyền năm 1948 quy định: “Mọi người nếu bị cáo buộc về hình sự, đều

có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật tại một phiên tòa xét xử công khai nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình” [17, Điều 11] Quy định này

cũng được tái khẳng định và cụ thể hóa trong Công ước quốc tế về quyền dân

sự, chính trị năm 1966 “Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được

coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật” [23, Điều 14, khoản 2] Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (sửa đổi

năm 2001) quy định: Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của

Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [38, Điều 72] Bộ luật TTHS cũng quy định:

“Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” [41, Điều 9] Hiến pháp năm 2013 đã

sửa đổi quy định này tại Điều 31: “Người bị buộc tội được coi là không có tội

cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [45, Điều 31] Như vậy, ta có thể thấy quy

định này trong Hiến pháp năm 2013 rất phù hợp với quy định tại Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và Điều 14 Công ước quốc tế

về quyền dân sự, chính trị năm 1966 đó là sử dụng cụm từ được coi là không

có tội, thay thế cho cụm từ không bị coi là có tội Đồng thời, người bị buộc tội phải được chứng minh theo trình tự luật định, các pháp Hiến pháp trước đây

không quy định nội dung này

Cơ sở thứ ba là dựa trên bảo đảm giáo dục, ngăn ngừa tội phạm, nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự

Vấn đề trẻ em vi phạm pháp luật luôn được cộng đồng quốc tế quan tâm Trên bình diện quốc tế, Liên hợp quốc và nhiều quốc gia đang chuyển sang sửa đổi pháp luật quốc gia dựa trên những tiêu chuẩn quốc tế về xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật theo hướng chung là khuyến khích nhiều hơn

Trang 30

những cơ chế và chương trình xử lý theo hướng không giam giữ (hạn chế đến mức thấp nhất việc áp dụng những chế tài mang tính chất giam giữ), thực hiện các hoạt động phòng ngừa, các biện pháp và chương trình tái hoà nhập thành công và áp dụng những trình tự xử lý đặc biệt phù hợp với lứa tuổi của các em Theo hướng dẫn Riyadh, phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên là một bộ phận chính yếu của phòng ngừa tội phạm trong xã hội Quan điểm chỉ đạo toàn bộ vấn đề phòng ngừa người chưa thành niên phạm pháp là phải coi trẻ em và phúc lợi của trẻ em là trung tâm của bất cứ một chương trình phòng ngừa nào Với cách hiểu rằng hành vi của trẻ em không phù hợp với các chuẩn mực và giá trị xã hội chung thường chỉ là một phần của quá trình trưởng thành

và có xu hướng mất đi ở hầu hết mọi cá nhân khi trở thành người lớn, cho nên,

theo Hướng dẫn Riyadh: phòng ngừa người chưa thành niên phạm pháp là việc

giúp các em có nguy cơ vi phạm cao phát triển các thái độ không dẫn đến việc phạm pháp thông qua sự thu hút các em tham gia vào các hoạt động hợp pháp,

hữu ích về mặt xã hội với một định hướng và cách nhìn nhân đạo đối với cuộc sống Để làm việc này thành công đòi hỏi những cố gắng của toàn xã hội thông qua các chương trình cộng đồng nhằm đảm bảo sự phát triển hài hoà về nhân cách của các em ngay từ tuổi thơ ấu

Xét theo quan điểm trên thì mặc dù Công ước Quyền trẻ em không có điều khoản riêng quy định trực tiếp việc phòng ngừa trẻ em phạm tội nhưng qua các điều 5, 18, 19, 27, Công ước đã khẳng định trách nhiệm của cha, mẹ, gia đình, người giám hộ, nhà trường và toàn cộng đồng trong việc hướng dẫn chỉ bảo trẻ em phát triển theo cách phù hợp với nhịp phát triển và khả năng của trẻ em Từ khi tham gia Công ước quyền trẻ em đến nay, Nhà nước Việt Nam đã cố gắng tới mức cao nhất để nội luật hóa những nguyên tắc của Công ước quyền trẻ em vào hệ thống pháp luật quốc gia Trong hệ thống các văn bản đó, một bộ phận quan trọng thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng

Trang 31

và Nhà nước Việt Nam về biện pháp giáo dục, xử lý và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên vi phạm pháp luật, tạo nên khung pháp

luật về tư pháp người chưa thành niên của Việt Nam

1.2.3 Ý nghĩa của việc quy định địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự

Việc quy định địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên

có ý nghĩa chính trị, xã hội, ý nghĩa pháp lý và ý nghĩa trên thực tiễn to lớn

Thứ nhất, việc quy định địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa

thành niên có ý nghĩa bảo đảm quyền con người, thể hiện tính nhân đạo sâu sắc trong pháp luật của nhà nước Việc quy định này cũng làm thu hẹp khoảng cách giữa nước ta với các nước trên thế giới về nhân quyền, thể hiện

sự nội luật hóa các quy định của pháp luật quốc tế vào các quy định của pháp luật Việt Nam

Thứ hai, việc quy định địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa

thành niên trong tố tụng hình sự mang ý nghĩa pháp lý, tạo cơ sở cho hoạt động tố tụng đúng pháp luật, đảm bảo tranh tụng nhanh chóng, khách quan, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Việc quy định địa vị pháp lý này tạo sự đối xử công bằng cho bị can, bị cáo là người chưa thành niên, tránh sự lạm quyền, lạm dụng, quan liêu trong quá trình tố tụng

Thứ ba, việc quy định địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa

thành niên trong tố tụng hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc tránh sự xâm hại từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần định hướng và chỉ đạo cho những người thực thi pháp luật, tránh sai sót, vi phạm nhân quyền, đảm bảo khách quan, thận trọng trong việc nhận thức vụ án hình sự một cách khoa học, không làm người vô tội, không bỏ lọt tội phạm Ngoài ra việc quy định địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội có ý nghĩa trong việc ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên gây ra

Trang 32

1.3 Địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự một số nước trên thế giới

1.3.1 Trong tư pháp hình sự của Nhật Bản

Vấn đề người chưa thành niên phạm tội là một bức xúc xã hội không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước trên thể giới trong đó có Nhật Bản Theo quy định tại Điều 2 của Luật về người chưa thành niên số 168 ngày 15-7-1948 được sửa đổi qua các năm 1949, 1950, 1951, 1952, 1953, 1954, 1985, 1987,

1995, 1997, 1999, 2000 (sau đây gọi tắt là Luật về người chưa thành niên) thì người chưa thành niên là người chưa đủ 20 tuổi Mục đích của Luật người chưa thành niên là không trừng phạt những người chưa thành niên phạm tội

mà "giúp đỡ cho họ phát triển tốt, tiến hành những biện pháp bảo vệ để thay đổi tính cách của người chưa thành niên phạm tội và tạo ra một môi trường giáo dục để điều chỉnh người chưa thành niên đã chót mắc phải sai lầm"

Về thẩm quyền xét xử các vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên, theo quy định tại Điều 6 của Luật về người chưa thành niên thì bất kỳ

người nào phát hiện ra hành vi của người chưa thành niên và thấy cần phải xét

xử người chưa thành niên đó tại Toà án gia đình thì thông báo cho Toà án gia đình có thẩm quyền biết Trong trường hợp cảnh sát hoặc người giám hộ cho rằng việc xử lý người chưa thành niên theo quy định của Luật bảo vệ trẻ em

sẽ tốt hơn việc chuyển vụ án cho Toà án gia đình giải quyết thì có thể thông báo việc này với Trung tâm giáo dục trẻ em Theo quy định tại Điều 41 của Luật về người chưa thành niên thì Toà án gia đình cũng tiếp nhận vụ án từ cơ quan cảnh sát Theo quy định tại điều này thì sau khi điều tra về người chưa thành niên bị tình nghi phạm tội mà cảnh sát cho rằng người đó đã phạm một tội có thể bị xử phạt tiền hoặc hình phạt nhẹ hơn thì phải chuyển vụ án cho Toà án gia đình Ngay cả khi không có cơ sở để cho rằng người chưa thành niên thực hiện tội phạm mà cảnh sát thấy rằng cần thiết chuyển vụ án cho Toà

Trang 33

án gia đình để xét xử theo thẩm quyền của mình thì vẫn có thể chuyển vụ án cho Toà án gia đình Trừ những vụ án quá nhẹ, thẩm phán tòa án gia đình khi thụ lý vụ án thiếu niên đều chỉ thị cho điều tra viên tòa án gia đình tiến hành điều tra về tính cách, thói quen, hành động hàng ngày, quá trình sinh trưởng

và môi trường của thiếu niên để làm rõ nguyên nhân phạm tội và những vấn

đề của thiếu niên (Điều 8)

Về quyền được điều tra trong môi trường thân thiện, Điều tra viên tiến

hành điều tra vụ án thì cần phải sử dụng những kiến thức về y học, tâm lý, sư phạm, xã hội và các kỹ năng khác, đặc biệt là kết quả phân loại mà Cơ quan phân loại người chưa thành niên cung cấp về hành vi, nghề nghiệp, tính tình

và môi trường xã hội xung quanh người chưa thành niên, của người giám hộ của họ hoặc của những người khác có liên quan Mục đích của việc điều tra là làm rõ các vấn đề về tính cách, tiểu sử bản thân, gia đình và môi trường xã hội xung quanh người chưa thành niên Trừ những vụ án quá nhẹ, thẩm phán tòa

án gia đình khi thụ lý vụ án thiếu niên đều chỉ thị cho điều tra viên tòa án gia đình tiến hành điều tra về tính cách, thói quen, hành động hàng ngày, quá trình sinh trưởng và môi trường của thiếu niên để làm rõ nguyên nhân phạm tội và những vấn đề của thiếu niên (Điều 8)

Về quyền được áp dụng các biện pháp bảo vệ, căn cứ vào kết quả xét

hỏi tại phiên điều tra, nếu Toà án gia đình xét thấy cần thiết thì có thể ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người chưa thành niên thì có thể áp dụng một trong các biện pháp bảo vệ như đưa người chưa thành niên vào cơ

sở giám sát, đưa người chưa thành niên vào nhà dành cho trẻ sống một mình hoặc cơ sở bảo hộ trẻ em, đưa người chưa thành niên vào cơ sở giáo dục người chưa thành niên Thời hạn đưa vào các cơ sở bảo vệ không quá 4 tuần Trong thời gian 4 tuần, Toà án phải hoàn tất những thủ tục cần thiết để đưa ra xét xử Ở Nhật Bản không có thủ tục riêng cho việc truy tố và xét xử người

Trang 34

chưa thành niên Theo Luật người chưa thành niên, thì công tố viên không có quyền tham gia xét xử tại các Toà án gia đình Tuy nhiên, Thẩm phán có thể cho phép công tố viên tham dự và khi cần thiết có thể yêu cầu công tố viên tiến hành điều tra thêm

Về quyền có người đại diện, Luật người chưa thành niên của Nhật Bản

cho phép người chưa thành niên khi bị đưa ra xét xử tại Toà án gia đình được

có một hoặc hai người đại diện Người đại diện không phải là luật sư bào chữa như trong phiên toà xét xử người đã thành niên Người đại diện này không nhất thiết phải là luật sư, có thể là giáo viên hoặc người làm công tác

xã hội Luật không quy định chi tiết các bước tiếp theo cần tiến hành như thế nào mà chỉ đưa ra chung chung rằng Toà án gia đình phải tiến hành xét xử trên cơ sở "chân tình, có lợi" cho người chưa thành niên và "cần có mọi cố gắng để bảo vệ cho được những thuộc tính cao đẹp nhất của người chưa thành niên và để cho người chưa thành niên có niềm tin" và việc xét xử cần tiến hành công khai

Về quyền được xét xử trong môi trường nhẹ nhàng, Phiên toà sẽ do một

Thẩm phán tiến hành nhưng không được tiến hành công khai và phải được tiến hành trong một môi trường nhẹ nhàng không gây căng thẳng đối với người chưa thành niên Thẩm phán trên cơ sở kết quả điều tra sẽ xem xét có tiến hành thẩm xét với thiếu niên đó hay không Trong trường hợp không có xung đột về

sự việc, vụ việc đơn giản, khả năng tái phạm thấp chỉ cần tác động về mặt giáo dục tiến hành khi điều tra là đủ, không cần tiến hành thẩm xét để đưa ra chỉ đạo thì sẽ quyết định không bắt đầu thẩm xét và kết thúc thủ tục (Điều 19) Trường hợp cần phải theo dõi thiếu niên để đưa ra quyết định xử lý cuối cùng thì thẩm phán đặt ra thời hạn tương đối khoảng 3,4 tháng và quyết định kiểm tra theo dõi Trường hợp này có thể giao cho điều tra viên tòa án gia đình theo dõi (Khoản 1, Điều 25) Trong thời gian kiểm tra theo dõi, thiếu niên được cho

Trang 35

tham gia các hoạt động xã hội như hoạt động chăm sóc người già tại nhà dưỡng lão, hoạt động dọn vệ sinh ở địa phương, tham dự các giờ học để nghe ý kiến trực tiếp của người bị hại giúp các em tỉnh ngộ Việc đưa các em vào các cơ sở cải tạo hoặc giao cho cá nhân để ủy thác hướng dẫn (mục 3, khoản 2) trước đây được tiến hành thường xuyên nhưng gần đây chỉ khoảng một vài phần trăm Khi mở thủ tục thẩm xét, thiếu niên và người giám hộ được triệu tập, tùy trường hợp có thể có sự tham dự của luật sư là người đi kèm, giáo viên nhà trường, người thuê lao động, nhân viên giám hộ Ngoài ra trong một số vụ nghiêm trọng có sự tranh chấp về tình tiết phạm tội, tòa án gia đình có thể xem xét yêu cầu công tố viên có mặt Tuy nhiên xét xử vụ việc thiếu niên không công khai như xét xử hình sự nên những người không liên quan không được dự phiên tòa Việc xét xử được tiến hành một cách ôn hòa và cẩn trọng trong không khí có sự nghiêm khắc để thiếu niên tự nhận ra lỗi lầm của mình Thẩm phán không chỉ nhắc nhở thiếu niên nhận ra lỗi lầm của mình mà còn nhắc nhở người giám hộ nhận thức về trách nhiệm nuôi dưỡng của mình

Về thi hành hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, theo quy

định tại Điều 56 của Luật về người chưa thành niên, thì nếu người chưa thành niên bị xử phạt tù lao động hoặc tù giam, họ sẽ phải chấp hành hình phạt tại một nhà tù được xây dựng để dành riêng cho người chưa thành niên hoặc một phần riêng biệt của nhà tù thông thường

Về quyền được giữ bí mật thông tin, đối với người chưa thành niên bị

Toà án gia đình xét xử hoặc người đã thành niên bị truy tố về tội đã phạm khi còn chưa thành niên thì các thông tin về người phạm tội hoặc hình ảnh

có thể khiến người khác hiểu rằng họ là người phạm tội liên quan đến vụ án hình sự đó như tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi ở, hình dáng v.v… sẽ không được công khai trên bất kỳ báo hay tạp chí nào Điều 61 quy đinh về việc cấm ghi trên báo như sau:

Trang 36

Đối với thiếu niên bị đưa ra xử lý tại tòa án gia đình hoặc người bị truy tố về tội đã phạm khi còn thiếu niên, không được phép đăng bài viết hoặc ảnh trên báo chí, hoặc các ấn phẩm khác để từ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở, khuôn mặt có thể suy đoán được người đó chính là người trong vụ việc đó [30, Điều 61]

Về quyền kháng cáo của bị can, bị cáo là người chưa thành niên, Điều

32 Luật người chưa thành niên quy định:

Thiếu niên, người đại diện theo pháp luật hoặc người đi kèm

có quyền kháng cáo trong thời hạn 2 tuần đối với quyết định xử lý bảo hộ, nếu lý do kháng cáo là có vi phạm pháp luật ảnh hưởng đến quyết định, có sự nhầm lẫn nghiêm trọng về tình tiết sự thật hoặc rõ ràng có sự bất công trong xử lý Tuy nhiên, người đi kèm không được kháng cáo trái với ý chí mà người bảo hộ được lựa chọn đã thể hiện rõ ràng [30, Điều 32]

1.3.2 Trong tư pháp hình sự của Pháp

Nói đến pháp luật về người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật của Cộng hòa Pháp là nói đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự, tính công minh trong hoạt động điều tra, xét xử, thi hành án hình sự của Thẩm phán vị thành niên, tính chất đặc biệt của Tòa án vị thành niên và cuối cùng là các cơ quan

có tính chất trợ giúp tư pháp đối với người chưa thành niên Khác với ở Việt Nam, thẩm quyền điều tra vụ án hình sự phần lớn thuộc về cơ quan cảnh sát điều tra, ở Cộng hòa Pháp, hoạt động điều tra về cơ bản thuộc thẩm quyền của Thẩm phán điều tra Pháp luật tố tụng hình sự của Công hòa pháp có sự chuyên biệt hóa về các vụ án hình sự do người chưa thành niên phạm tội ở ba khía cạnh: Trợ giúp tư pháp vị thành niên, Tòa án vị thành niên, Thẩm phán

vị thành niên và Tòa đại hình chuyên xét xử vụ án do người chưa thành niên phạm tội thực hiện

Trang 37

Trong bộ luật tố tụng hình sự Công hòa Pháp, người chưa thành niên phạm tội có những quyền sau:

Về tạm giữ người chưa thành niên phạm tội, đây là một “biện pháp

ngăn chặn” cho phép cảnh sát có quyền tạm giữ người phạm tội trong một khoảng nhất định để thực hiện một số hoạt động điều tra trong giai đoạn đầu Đối với người chưa thành niên phạm tội, biện pháp này được áp dụng như sau: Về nguyên tắc, biện pháp tạm giữ không được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi 13 Tuy nhiên trong những trường hợp đặc biệt như: có đủ điều kiện để khẳng định họ đang chuẩn bị thực hiện một trọng tội hoặc khinh tội mà mức hình phạt ít nhất là năm năm tù giam; hoặc do yêu cầu điều tra mà những người từ đủ 10 tuổi đến 16 tuổi có thể bị tạm giữ tại cơ quan cảnh sát (officier de police judiciaire) Khi áp dụng biện pháp này, người

ra lệnh phải báo cáo trước và dưới sự kiểm tra giám sát của công tố viên hoặc của Thẩm phán điều tra Thời hạn tạm giữ không quá 12 giờ Khi áp dụng biện pháp này, cảnh sát tư pháp phải thông báo cho cha mẹ, người đại diện của người bị tạm giữ biết trong thời gian sớm nhất

Về quyền được thông báo “Công tố viên trưởng phải được thông báo ngay khi bắt đầu việc tạm giữ người chưa thành niên chưa đủ 18 tuổi Người chưa thành niên phải được sự trợ giúp của đại diện pháp lý trừ khi điều này

là không thể thực hiện được”[30, Điều 78-3] Vào lúc bắt đầu cuộc điều tra,

thẩm phán điều tra phải thông báo cho nạn nhân của tội phạm bị khởi tố là người này có quyền thực hiện các quyền của bên dân sự, và cách thức có thể thực hiện các quyền này Nếu nạn nhân là người chưa thành niên, thông tin này được đưa cho những người đại diện của họ [30, Điều 80-3]

Về quyền có người bào chữa, việc yêu cầu đoàn luật sư cử luật sư bảo

vệ cho người bị tạm giữ phải được thực hiện ngay khi biết được thông tin cha

mẹ hoặc người đỡ đầu cho người bị tạm giữ không mời luật sư Ngay từ khi bị

Trang 38

tạm giữ, người chưa thành niên bị tạm giữ có quyền được thông tin ngay lập tức về việc mời luật sư và quyền yêu cầu được tiếp xúc với luật sư

Về quyền được kiểm tra về tình tạng sức khỏe, đối với người chưa

thành niên bị tạm giữ có độ tuổi 16, công tố viên có quyền yêu cầu kiểm tra

về tình trạng sức khoẻ của người bị tạm giữ

1.3.3 Trong tố tụng hình sự của tiểu bang Victoria, Australia

Những quy định về xử lý trẻ em phạm tội chủ yếu được quy định trong

Bộ luật về trẻ em và thanh niên 1989 (Vic) Bộ luật này tồn tại song song với

Bộ luật hình sự 1958 của Tiểu bang Victoria

Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, theo Bộ luật về trẻ em và thanh niên

1989 (Vic) thì trẻ em từ 10 tuổi trở lên sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự Cũng theo bộ luật này, trẻ em được định nghĩa là những người từ đủ 10 tuổi đến dưới 18 tuổi Tuy nhiên, Toà án dành cho trẻ em không xét xử những người từ

đủ 19 tuổi kể cả khi phạm tội người đó là trẻ em theo định nghĩa nói trên

Về quyền được thông báo về tội phạm mà mình bị điều tra và quyền im lặng, pháp luật tại Victoria quy định rằng trước khi tiến hành việc thẩm vấn,

người thẩm vấn phải thông báo cho người bị thẩm vấn về tội phạm mà người

đó bị tình nghi và đồng thời phải thông báo cho người bị thẩm vất biết rằng

họ có quyền im lặng và bất kỳ điều gì mà họ khai ra có thể được dùng làm bằng chứng chống lại họ Toà án cũng phán xét rằng khi cơ quan cảnh sát thông báo cho người bị tình nghi về một tội phạm cụ thể thì lời nhận tội liên quan đến tội phạm đó thì chỉ được dùng làm chứng cứ cho việc xét xử tội phạm đó, không được dùng làm chứng cho việc xét xử tội phạm khác

Về quyền có cha mẹ, người đại diện hợp pháp hoặc người khác khi thẩm vấn, Điều 464E (1) quy định rằng một người dưới 18 tuổi đang bị giam

giữ thì việc thẩm vấn chỉ được tiến hành khi có mặt cha mẹ, hoặc người giám

hộ của người đó, nếu không có cha mẹ, người giám hộ thì phải có một người độc lập khác và trước khi tiến hành thẩm vấn hoặc điều tra, nhân viên cảnh sát

Trang 39

phải cho phép người dưới 18 tuổi đang bị giam giữ này liên lạc với cha mẹ, người giám hộ hoặc một người độc lập khác và phải bảo đảm rằng việc liên lạc này không bị nghe lén Điều luật này đã được Toà án giải thích rằng việc

có mặt của người thân hoặc của người thứ ba độc lập là yêu cầu bắt buộc trong các cuộc thẩm vấn trẻ em Trong trường hợp cha mẹ, người thân không thể tham dự, thì cơ quan cảnh sát phải mời một người thứ ba độc lập tham gia

Về quyền được xét xử theo thủ tục giản lược Toà án vị thành niên có

thẩm quyền xét xử giản lược tất cả các loại tội phạm nghiêm trọng trừ năm tội là: giết người, giết người chưa đạt, vô ý làm chết người, gây hỏa hoạn dẫn đến chết người và lái xe cẩu thả dẫn đến chết người

Về nguyên tắc “Suy đoán trẻ em không có đủ năng lực hành vi thực hiện tội phạm”, ngoài việc phải chứng minh yếu tố lỗi (mens rea) trong cấu

thành tội phạm, đối với các tội phạm được thực hiện bởi trẻ em và tại thời điểm thực hiện tội phạm đứa trẻ trong độ tuổi từ đủ 10 đến dưới 14 tuổi thì pháp luật buộc bên công tố có nghĩa vụ chứng minh ngược lại “Suy đoán trẻ

em không có đủ năng lực hành vi thực hiện tội phạm” “Theo án lệ, trẻ em dưới 14 tuổi được suy đoán là chưa đạt độ tuổi để nhận thức về những việc mình làm Nhưng suy đoán này có thể bị chứng minh ngược lại với chứng cứ

rõ ràng, có ngọn ngành về tội phạm của đứa trẻ… Nghĩa vụ chứng minh ngược lại suy đoán trẻ em không có đủ năng lực hành vi thực hiện tội phạm được áp dụng không chỉ ở Toà án vị thành niên mà ở tất cả các Toà án khác Như vậy, Toà án đã phân tích nguyên tắc “suy đoán trẻ em không có lỗi” với

xu hướng mở rộng yếu tố lỗi của tội phạm để bao hàm cả nguyên tắc này Cũng cần phải lưu ý rằng, việc xét xử với bồi thẩm đoàn thì viện công tố phải đưa ra đủ chứng cứ để thuyết phục bồi thẩm đoàn, chứ không phải thẩm phán, rằng đứa trẻ khi thực hiện hành vi phạm tội đã hiểu rằng hành vi đó là sai trái nghiêm trọng Chính bồi thẩm đoàn sẽ quyết định việc bị cáo có tội hay không

có tội dựa trên các chứng cứ được xuất trình tại toà

Trang 40

sẽ có cơ sở để có được sự đánh giá đúng đắn thực trạng của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên, từ đó đưa ra phương hướng hoàn thiện địa vị pháp lý này Lịch sử lập pháp nói chung và lịch sử lập pháp về người chưa thành niên phạm tội nói riêng cũng được nghiên cứu dựa trên lịch sử dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ: thời kỳ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, thời kỳ từ năm 1945-1988, thời kỳ hiện nay Mỗi một thời kỳ đều có những thành tựu lập pháp nhất định cần được nghiên cứ làm rõ

2.1.1 Quy định về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trước Cách mạng tháng 8-1945

Thế kỷ XV đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động lập pháp của Nhà nước phong kiến Việt Nam, nó được coi là cái mốc hết sức quan trọng trong lịch sử pháp quyền nước ta Hệ thống pháp luật được bắt đầu từ thời vua

Lê Thái Tổ đến đời vua Lê Cung Hoành với đỉnh cao là những thành tựu lập pháp dưới đời vua Lê Thánh Tông Tuân theo những giáo lý cơ bản của Nho giáo, Lê Thánh Tông cũng chủ trương đức trị, tức là lấy giáo lý đạo đức hướng về mục đích trau dồi nhân cách làm phương tiện cải hóa, cai trị Tuy

Ngày đăng: 16/07/2015, 00:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2012), Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 05-11-2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 05-11-2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2012
2. Bộ Công an (2011), Thông tư 70/TT-BCA ngày 10-10-2011 về đảm bảo quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra VAHS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 70/TT-BCA ngày 10-10-2011 về đảm bảo quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra VAHS
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2011
3. Bộ ngoại giao Việt Nam (2014), Báo cáo Quốc gia về thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế kiểm định kỳ phổ cập (UPR) chu kỳ II, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Quốc gia về thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế kiểm định kỳ phổ cập (UPR) chu kỳ II
Tác giả: Bộ ngoại giao Việt Nam
Năm: 2014
5. Nguyễn Mai Bộ (2009), “Một số vướng mắc, bất cập trong các quy định của BLTTHS và hướng hoàn thiện”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, (4), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vướng mắc, bất cập trong các quy định của BLTTHS và hướng hoàn thiện”, "Tạp chí nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Mai Bộ
Năm: 2009
6. Lê Cảm (1999), Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền (Một số vấn đề cơ bản của phần chung), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền (Một số vấn đề cơ bản của phần chung)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
7. Lê Cảm (chủ biên) Tập thể tác giả (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), NXB ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm (chủ biên) Tập thể tác giả
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
Năm: 2001
8. Lê Cảm - Đỗ Thị Phượng (2004), “Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên: Những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (21, 22), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên: Những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Lê Cảm - Đỗ Thị Phượng
Năm: 2004
9. Lê Cảm và Nguyễn Ngọc Chí (Đồng chủ biên) (2004), Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Cảm và Nguyễn Ngọc Chí (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
10. Lê Cảm (chủ biên) (2005), Sách chuyên khảo sau đại học - Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
11. Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hoà (1946), Sắc lệnh số 13 ngày 24-1-1946 về tổ chức Tòa án, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 13 ngày 24-1-1946 về tổ chức Tòa án
Tác giả: Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hoà
Năm: 1946
12. Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa (1950), Sắc lệnh số 97-SL ngày 22-5-1950 sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân Luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 97-SL ngày 22-5-1950 sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân Luật
Tác giả: Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa
Năm: 1950
13. Chủ tịch nước (1949), Sắc lệnh số 69/SL ngày 18-6-1949 đã quy định về việc bào chữa của bị can, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 69/SL ngày 18-6-1949 đã quy định về việc bào chữa của bị can
Tác giả: Chủ tịch nước
Năm: 1949
14. Phan Huy Chú (1819), Lịch triều hiến chương loại chí -Phần Hình luật chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
15. Lê Duẩn (1970), Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1970
16. Vũ Dũng (1998) “Tâm lý tuổi vị thành niên”, Tạp chí tâm lý học, (4), tr.17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý tuổi vị thành niên”, "Tạp chí tâm lý học
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
20. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Năm: 2011
21. Hội đồng Thẩm phán TANDTC (2005), Nghị quyết số 05/2005/NQ- HĐTP ngày 08-12-2005 “Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của Bộ luật tố tụng hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08-12-2005 “Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của Bộ luật tố tụng hình sự
Tác giả: Hội đồng Thẩm phán TANDTC
Năm: 2005
22. Trần Thị Hương Lan (2004), “Tìm hiểu thế giới của tuổi vị thành niên”, Nxb phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tìm hiểu thế giới của tuổi vị thành niên
Tác giả: Trần Thị Hương Lan
Nhà XB: Nxb phụ nữ
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1:  Số  lượng  vụ  án  phải  giải  quyết  và  số  bị  cáo  là  người - [ Bản Full ] Hoàn thiện địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam
Bảng 3.1 Số lượng vụ án phải giải quyết và số bị cáo là người (Trang 7)
Bảng 3.1: Số lượng vụ án phải giải quyết và số bị cáo là người chưa thành - [ Bản Full ] Hoàn thiện địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam
Bảng 3.1 Số lượng vụ án phải giải quyết và số bị cáo là người chưa thành (Trang 86)
Bảng 3.2: Đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo - [ Bản Full ] Hoàn thiện địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam
Bảng 3.2 Đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo (Trang 87)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm