Đổi mới giáo dục đòi hỏi nhà trường không chỉ trang bị chohọc sinh những kiến thức đã có của nhân loại mà còn phải bồi dưỡng, hìnhthành ở học sinh tính năng động, óc tư duy sáng tạo và k
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Sau Đại học, ban chủ nhiệm khoa Vật lý và tổ bộ môn Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý trường ĐHSP Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tác giả luận văn xin trân trọng và biết ơn PGS.TS Nguyễn Mạnh Thảo đã quan tâm và tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình
thực hiện đề tài nghiên cứu.
Cuối cùng tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp và các bạn học viên cùng lớp cao học K22 đã động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, tháng 09 năm 2014
Tác giả luận văn
Bùi Thị Thuận
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Giả thuyết khoa học 3
4 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Những đóng góp của đề tài 5
8 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH KHI DẠY VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT 6
1.1 Quan điểm hiện đại về dạy học vật lí 6
1.1.1 Hoạt động học vật lí 6
1.1.1.1 Hoạt động học 6
1.1.1.2 Hoạt động học vật lí 7
1.1.2 Hoạt động dạy vật lí 8
1.1.2.1 Hoạt động dạy 8
1.1.2.2 Hoạt động dạy vật lí 10
1.1.3 Mục tiêu giáo dục cho giai đoạn mới 13
1.2 Tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh 14
1.2.1 Tính tích cực của học sinh trong học tập 14
1.2.1.1 Các dấu hiệu của tính tích cực nhận thức 15
1.2.1.2 Các cấp độ của tính tích cực trong học tập 17
1.2.1.3 Các biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong quá trình dạy học 17
Trang 31.2.2 Phát triển năng lực sáng tạo của HS trong học tập 19
1.2.2.1 Khái niệm năng lực 19
1.2.2.2 Sự hình thành và phát triển năng lực 19
1.2.2.3 Khái niệm năng lực sáng tạo 19
1.2.2.4 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của HS trong dạy học vật lí 21
1.3 Thí nghiệm trong dạy học vật lí 24
1.3.1.Vai trò của thí nghiệm trong dạy học vật lí 24
1.3.1.1 Vai trò của thí nghiệm vật lí theo quan điểm của lí luận nhận thức 24
1.3.1.2 Vai trò của thí nghiệm theo quan điểm của lí luận dạy học 26
1.3.2 Các loại thí nghiệm được sử dụng trong dạy học vật lí 28
1.3.2.1 Thí nghiệm biểu diễn 28
1.3.2.2 Thí nghiệm thực tập 29
1.3.3 Những yêu cầu về mặt kĩ thuật và phương pháp dạy học đối với việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học vật lí 32
1.3.3.1 Những yêu cầu chung đối với việc sử dụng thí nghiệm 32
1.3.3.2 Những yêu cầu đối với thí nghiệm biểu diễn 32
1.3.3.3 Những yêu cầu đối với thí nghiệm trực diện 34
1.3.3.4 Những yêu cầu đối với thí nghiệm thực hành 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 38
CHƯƠNG II: CHẾ TẠO VÀ SỬ DỤNG BỘ THÍ NGHIỆM GIAO THOA SÓNG NƯỚC TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ LỚP 12 39
2.1 Nghiên cứu nội dung, chương trình sách giáo khoa chương “Sóng cơ” 39
2.1.1 Nội dung chương trình, sách giáo khoa 39
2.1.2 Các thí nghiệm cần tiến hành trong dạy học các kiến thức bài “Giao thoa sóng” 43
Trang 42.2 Tìm hiểu thực tế dạy học chương “Sóng cơ” nói chung và bài “Giao
thoa sóng” nói riêng ở các trường THPT 43
2.2.1 Mục đích điều tra 43
2.2.2 Phương pháp điều tra 44
2.2.3 Đối tượng điều tra 44
2.2.4 Kết quả điều tra 44
2.2.5 Những khó khăn, sai lầm của học sinh khi học bài “Giao thoa sóng” 45 2.2.6 Nguyên nhân và những biện pháp khắc phục khó khăn, sai lầm của học sinh 46
2.3 Chế tạo thiết bị thí nghiệm sử dụng trong dạy học bài “Giao thoa sóng” 47
2.3.1 Các bộ phận của thiết bị thí nghiệm 47
2.3.1.1 Máy phát dao động 47
2.3.1.3 Bể tạo sóng, gương phản xạ, khung và đèn chiếu sáng 51
2.3.1.4 Nguồn cần rung 52
2.3.2 Các thí nghiệm có thể tiến hành 53
2.4 Soạn thảo tiến trình dạy học kiến thức “Giao thoa sóng” trong chương trình vật lí lớp 12 THPT 59
2.4.1 Sơ đồ tiến trình khoa học xây dựng kiến thức 59
2.4.2 Diễn giải sơ đồ 60
2.4.3 Mục tiêu bài học 62
2.4.3.1 Mục tiêu về kiến thức 62
2.4.3.2 Mục tiêu về kĩ năng 63
2.4.3.3 Mục tiêu về tình cảm, thái độ 63
2.4.4 Chuẩn bị 63
2.4.5 Tiến trình dạy học cụ thể 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 69
Trang 6CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 70
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 70
3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 70
3.1.2 Nhiệm vụ 70
3.2 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 71
3.3 Chuẩn bị thực nghiệm sư phạm 71
3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 71
3.5 Những khó khăn gặp phải khi thực nghiệm sư phạm 72
3.6 Phân tích đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 73
3.6.1 Sơ bộ đánh giá tính khả thi của tiến trình dạy học về mặt định tính 73 3.6.2 Sơ bộ đánh giá hiệu quả của tiến trình dạy học về mặt định lượng 75 KẾT LUẬN CHƯƠNG III 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 86
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngày nay nhiều thành tựu khoa học và công nghệ xuất hiện một cáchhết sức bất ngờ và đổi mới cực kì nhanh chóng Theo đó hệ thống giáo dụccũng đặt ra những yêu cầu cần phải đổi mới
Trước đòi hỏi của thực tiễn, nước ta đang trên con đường hội nhập vàphát triển thì đổi mới giáo dục, trong đó đổi mới phương pháp dạy học là hếtsức cần thiết Luật giáo dụng công bố năm 2005, điều 28.2 có ghi “ phươngpháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sángtạo của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm của lớp học; bồi dưỡng phươngpháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiếnthức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tậpcho học sinh” Đổi mới giáo dục đòi hỏi nhà trường không chỉ trang bị chohọc sinh những kiến thức đã có của nhân loại mà còn phải bồi dưỡng, hìnhthành ở học sinh tính năng động, óc tư duy sáng tạo và kĩ năng thực hành ápdụng, tức là đào tạo những người lao động không chỉ có kiến thức mà phải cónăng lực hành động, kĩ năng thực hành Để thực hiện các yêu cầu đó, giáo dụcViệt Nam đã trải qua các cuộc cải cách với nhiều thành tựu, nhưng vẫn cònkhông ít những tồn tại cần từng bước khắc phục
Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đã có nhiều đổi mới vềchương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học Việc dạy học bộ mônVật lí ở trường phổ thông cũng đã quan tâm nghiên cứu đổi mới trên nhiềuphương diện: mục tiêu giáo dục, nội dung chương trình, sách giáo khoa vàđặc biệt quan tâm đến phương pháp dạy học ở tất cả các bậc học Với việc đổimới phương pháp dạy học phù hợp với xu thế đổi mới trên thế giới, đáp ứngđược yêu cầu phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh trong học
Trang 9tập là: trong dạy học phải tạo điều kiện cho học sinh học vật lí như nghiêncứu vật lý Khi đó có điều kiện tối đa phát huy các năng lực sáng tạo, tích cựctrong nhận thức, đồng thời rèn luyện cho học sinh phương pháp nghiên cứuVật lí, biến thành năng lực giải quyết vấn đề của học sinh mà khi ra trườnghọc sinh tiếp tục vận dụng để giải quyết các tình huống mới trong cuộc sống.Vật lí học là một bộ môn khoa học thực nghiệm, do đó việc sử dụng cácTBTN trong dạy học là rất quan trọng, đòi hỏi người GV không những biếthướng dẫn HS thiết kế phương án, lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm mà đòihỏi họ phải biết chế tạo các bộ thí nghiệm không có sẵn Chính vì thế, đổi mớiphương pháp dạy học vật lí phải hướng cả tới việc chế tạo và sử dụng có hiệuquả thí nghiệm vật lí.
Thực tế dạy học ở một số trường phổ thông và đặc biệt là việc dạy họccác kiến thức phần sóng cơ học trong chương trình vật lí lớp 12 chủ yếu vẫntheo kiểu dạy học truyền thống, có nghĩa thầy là trung tâm của hoạt động dạy học.Trong giờ học chủ yếu là hoạt động trình diễn của giáo viên.Giáo viên chỉ cố gắngthông báo đầy đủ những kiến thức trong sách giáo khoa, giảng giải cho học sinhhiểu và chấp nhận nó Đặc biệt là thí nghiệm hầu như không có
Các kiến thức phần sóng cơ học (SGK Vật lí 12) khá trừu tượng, sáchgiáo khoa trình bày nặng nề về tính toán Các thí nghiệm ít và nếu có thì chủyếu là trình bày dưới dạng định tính
Để tạo điều kiện phát triển hoạt động nhận thức, hoạt động tìm tòi sángtạo của học sinh trong học tập, học sinh có thể tiếp thu một cách sâu sắc khihọc phần này, tôi thấy cần phải chế tạo và tiến hành một số các thí nghiệmgiúp học sinh tiếp thu được những kiến thức thực sự là các kiến thức có chấtlượng, sâu sắc, vững chắc
Trang 10Với những lí do trên, tôi đã chọn đề tài “Chế tạo và sử dụng bộ thí nghiệm về giao thoa sóng nước trong dạy học vật lí lớp 12” làm đề tài
nghiên cứu
2.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu chế tạo và sử dụng bộ thí nghiệm trong dạy học phần giaothoa sóng nước – Vật lí 12 THPT nhằm phát huy hoạt động nhận thức tíchcực, sáng tạo của HS trong học tập
3.Giả thuyết khoa học
Nếu chế tạo được và sử dụng hợp lí bộ thí nghiệm trong dạy học vật lí
có thể góp phần làm phát huy hoạt động nhận thức tích cực, sáng tạo của HStrong học tập, nâng cao chất lượng dạy học
4.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các thiết bị thí nghiệm và quá trình tổ chức dạyhọc giải quyết vấn đề về kiến thức vật lí bài “ Giao thoa sóng” lớp 12 THPT
5.Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích của đề tài tôi đã xác định những nhiệm vụ chínhsau đây:
- Nghiên cứu lí luận hiện đại về việc tổ chức dạy học nói chung, dạyhọc vật lí nói riêng nhằm nâng cao tính tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh
- Tìm hiểu lí luận chung về vai trò, tác dụng của thí nghiệm vật lý, cácloại thí nghiệm trong dạy học vật lý cũng như phương pháp sử dụng mỗi loại
- Tìm hiểu nội dung kiến thức và kĩ năng cơ bản học sinh cần nắmvững khi dạy học phần sóng cơ học
- Tìm hiểu thực tế dạy học phần “giao thoa sóng” ở trường trung họcphổ thông để thấy được những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân của nhữngkhó khăn ấy khi dạy và học phần này
Trang 11- Nghiên cứu chế tạo và sử dụng hợp lí bộ thí nghiệm trong tổ chứchoạt động nhận thức sáng tạo của học sinh khi dạy một số kiến thức phầnsóng cơ học lớp 12 THPT.
- Tiến hành các thí nghiệm, soạn thảo tiến trình tiến hành thí nghiệm
- Soạn thảo tiến trình day học bài “Giao thoa sóng” theo phương phápthực nghiệm nhằm phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong quá trìnhxây dựng kiến thức mới
Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi của các phương án thínghiệm và tiến trình dạy học đã thiết kế, qua đó bổ sung, sửa chữa cácphương án đã thiết kế Từng bước hình thành năng lực thiết kế, giảng dạy nộidung kiến thức theo phương pháp dạy học mới
6.Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, đề tài sử dụng các biện pháp nghiêncứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: nghiên cứu các tài liệu về lí luận dạyhọc có liên quan đến đề tài dùng làm cơ sở định hướng cho quá trình nghiêncứu Nghiên cứu các tài liệu vật lí, SGK, SGV, SBT… mà trọng tâm là cáckiến thức về giao thoa sóng, nhằm đảm bảo cho việc thực hiện mục đíchnghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Thử nghiệm trong phòng TN đểcải tiến những dụng cụ đã có sẵn, chế tạo những dụng cụ mới để phù hợp vớicác yêu cầu đề ra
- Phương pháp điều tra ( trao đổi với giáo viên, học sinh, dự giờ): tìmhiểu thực tiễn về việc dạy và học các kiến thức phần giao thoa sóng tại một sốtrường THPT
- Thực nghiệm sư phạm (dự giờ, ghi chép, rút kinh nghiệm, điều chỉnh)
Trang 12- Phương pháp thống kê toán học: hỗ trợ cho việc xử lý, đánh giá kếtquả thực nghiệm sư phạm.
7.Những đóng góp của đề tài
- Chế tạo mới một số TBTN về giao thoa sóng để có thể sử dụng trongdạy học
- Sơ đồ logic tiến trình dạy học bài “ giao thoa sóng” có sử dụng TBTN
8.Cấu trúc của luận văn
Gồm 3 phần:
Phần I: Mở đầu
Phần II: Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Chế tạo và sử dụng bộ thí nghiệm trong tổ chức hoạt động nhậnthức của học sinh khi dạy học kiến thức giao thoa sóng – Vật lí 12 THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Kết luận và kiến nghị
Phần III: Tài liệu tham khảo
Trang 13CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC
SINH KHI DẠY VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT
1.1 Quan điểm hiện đại về dạy học vật lí
1.1.1 Hoạt động học vật lí
1.1.1.1 Hoạt động học
Hoạt động học là một hoạt động đặc thù của con người nhằm tiếp thunhững tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm mà loài người đã tích lũy được, đồngthời phát triển những phẩm chất năng lực của người học [8] Chất lượng họctập phụ thuộc chủ yếu vào khả năng tự nhận thức của học sinh Con đường tốtnhất, có hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng học tập và đạt mục tiêu giáodục là học tự lực, thông qua hành động tự lực mà chiếm lĩnh kiến thức, hìnhthành năng lực, thái độ
Đối tượng của hoạt động học là tri thức và những kĩ năng, kĩ xảo tươngứng với nó Có thể nói cái đích mà hoạt động hướng tới là chiếm lĩnh kiếnthức, các kĩ năng, kĩ xảo Cách tốt nhất để nắm vững được những tri thức, kĩnăng, kĩ xảo là người học tái tạo ra chúng Như vậy, người học không phảitiếp thu một cách thụ động mà phải thông qua hoạt động tự lực của bản thân
mà tái tạo lại chúng, chiếm lĩnh chúng
Hoạt động học nhằm mục tiêu cải tạo, phát triển chính mình, đòi hỏi họcsinh phải tự giác, tích cực, tự lực sáng tạo là hoạt động không ai có thể làmthay được Kết quả là học sinh nắm vững các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, hìnhthành những năng lực cho bản thân
Bản chất của hoạt động học là sự chiếm lĩnh tri thức khoa học của ngườihọc Trong hoạt động học cũng có hai trạng thái là học thụ động và học tíchcực Để hoạt động có hiệu quả, quá trình tổ chức dạy học phải làm cho hoạtđộng của học sinh chuyển từ trạng thái học thụ động sang học tích cực
Trang 141.1.1.2 Hoạt động học vật lí
Học vật lí thực chất là hoạt động nhận thức nhằm tái tạo cho mình nhữngtri thức vật lí đã được lựa chọn và áp dụng chúng vào thực tiễn Học vật lí làmột hoạt động nhận thức đặc thù riêng, một mặt nó phải tuân theo qui luậtchung của hoạt động nhận thức sáng tạo, mặt khác phải phù hợp với đặc điểmcủa khoa học vật lí
* Những đặc trưng cơ bản của hoạt động nhận thức vật lí:
Hoạt động nhận thức vật lí của học sinh là hoạt động có đối tượng, đốitượng chính là các hiện tượng tự nhiên, các vật thể tồn tại xung quanh chúng
ta Hoạt động nhận thức vật lí của học sinh nhằm tác động vào các đối tượng
tự nhiên, các vật thể, bằng cách tiến hành các thí nghiệm và thực hiện cácphép đo vv…buộc chúng bộc lộ ra những mục đích, bản chất và những quiluật biến đổi của mình Qua đó, học sinh sẽ phát hiện được những thuộc tính,bản chất cùng với qui luật của các hiện tượng tự nhiên, các vật thể
Hoạt động nhận thức vật lí của học sinh là hoạt động có mục đích vớinhững động cơ phù hợp Những động cơ đó gắn liền với nội dung học tập,nghĩa là động cơ nắm lấy các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo để áp dụng vào đời sống
và lao động sản xuất đem lại lợi ích cụ thể; mặt khác để tự hoàn thiện mình,rèn luyện cho mình khả năng hoạt động thực tiễn và khả năng tư duy sáng tạo.Tính mục đích là điều kiện cần thiết tạo cho học sinh niềm say mê, hứng thútrong quá trình hoạt động nhận thức
Hoạt động nhận thức của học sinh là hoạt động mang tính chủ thể, chủthể của hoạt động ở đây chính là cá nhân học sinh Trong quá trình học tậpđòi hỏi học sinh phải thực hiện và hoàn thiện các kĩ năng, kĩ xảo như: kĩ năngthao tác các thí nghiệm vật lí, kĩ năng mô tả và giải thích cấu tạo các thiết bị,các nguyên tắc hoạt động và ứng dụng của một số các dụng cụ và thiết bị kĩthuật…Hay các kĩ xảo như: sử dụng các dụng cụ cân đo, lực kế, ampe kế…chính xác
Trang 15Để hoạt động nhận thức vật lí của học sinh đạt kết quả cao thì trong quátrình học tập cần có sự giúp đỡ và định hướng của giáo viên.
1.1.2 Hoạt động dạy vật lí
1.1.2.1 Hoạt động dạy
“Quá trình dạy học các tri thức thuộc một môn khoa học cụ thể đượchiểu là quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh trong sự tương táchướng thống nhất biện chứng của 3 thành phần trong hệ dạy học bao gồm:giáo viên, học sinh và tư liệu dạy học” [9]
Quan niệm dạy học truyền thống coi sự dạy của giáo viên chỉ đơn thuần
là sự trình diễn các kiến thức, chỉ cần cố gắng trình diễn chính xác, rõ ràng vàđầy đủ sao cho in đậm vào đầu óc người học được đúng từng câu, từng chữ.Còn học sinh thì hoàn toàn thụ động ngồi nghe, nhìn, cố ghi nhớ và nhắc lại.Cũng không thể quan niệm thực chất của sự học chỉ là ở chỗ người họcđạt được những hành vi xác định nào đó Nghĩa là không chỉ quy chất lượng,hiệu quả của sự học chỉ về những biểu hiện hành vi bên ngoài của người học
Do đó sẽ là phiến diện nếu quan niệm rằng dạy học chỉ cần làm sao cho họcsinh thể hiện ra những hành vi cụ thể nhất định nào đó
Theo quan điểm hiện đại về dạy học thì quá trình dạy học là một quátrình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên, người học tự giác,tích cực, chủ động biết tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức học tập củamình để chiếm lĩnh tri thức, qua đó hình thành và phát triển những phẩm chất
và năng lực
Như vậy muốn đạt được chất lượng hiệu quả cao trong sự vận hành của
hệ thống tác dụng dạy học bao gồm người dạy( giáo viên), người học (họcsinh) và phương tiện hoạt động dạy học (môi trường) thì giáo viên cần tổchức, kiểm tra định hướng hành động của học sinh theo một chiến lược hợp lí
Trang 16sao cho học sinh tự chủ chiếm lĩnh, xây dựng tri thức cho mình và do đó đồngthời phát triển năng lực, trí tuệ và nhân cách của họ từng bước phát triển [9]
Có thể so sánh đặc trưng của phương pháp dạy học mới và phương phápdạy học truyền thống như sau:
Phương pháp dạy học truyềnthống
Các mô hình dạy học mới
Quan
niệm
Học là quá trình tiếp thu vàlĩnh hội qua đó hình thànhkiến thức , kĩ năng, tư tưởng,tình cảm
Học là quá trình kiến tạo; họcsinh tìm tòi, khám phá, pháthiện, luyện tập, khai thác và xử
lí thông tin… tự hình thànhhiểu biết, năng lực và phẩmchất
Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền
thụ và chứng minh chân lícủa giáo viên
Tổ chức hoạt động nhận thứccho học sinh Dạy học sinhcách tìm ra chân lí
Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri thức,
kĩ năng, kĩ xảo Học để đốiphó với thi cử Sau khi thixong những điều đã họcthường bị bỏ quên hoặc ítdùng
Chú trọng hình thành các nănglực(sáng tạo, hợp tác…) dạyphương pháp và kĩ thuật laođộng khoa học, dạy cách học.Học để đáp ứng những yêu cầucủa cuộc sống hiện đại vàtương lai Những điều đã họccần thiết, bổ ích cho bản thânhọc sinh và cho sự phát triểncủa xã hội
Nội dung Từ sách giáo khoa và giáo
viên
Từ nhiều nguồn khác nhau:sách giáo khoa, giáo viên, cáctài liệu khoa học phù hợp, thí
Trang 17pháp
Các phương pháp diễn giảng,truyền thụ kiến thức mộtchiều
Các phương pháp tìm tòi, điềutra, giải quyết vấn đề; dạy họtương tác
Hình thức
tổ chức
Cố định giới hạn trong 4 bứctường của lớp học, giáo viênđối diện với cả lớp
Cơ động linh hoạt: học ở lớp, ởphòng thí nghiệm, ở hiệntrường trong thực tế, học cánhân, học đôi bạn, học theonhóm, cả lớp đối diện với giáoviên
1.1.2.2 Hoạt động dạy vật lí
Như ta đã biết, mục đích của hoạt động dạy là làm cho học sinh lĩnh hộiđược kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm xã hội, đồng thời hình thành và pháttriển ở họ phẩm chất và năng lực Như vậy, hoạt động dạy của giáo viên là tổchức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho học học sinh thực hiện thành công cáchành động học của họ Do đó, dạy vật lí không phải là giảng giải, minh họacho học sinh hiểu ý nghĩa của những khái niệm, định luật vật lí, uốn nắn họthực hiện đúng những kĩ năng của nhà nghiên cứu vật lí, nhồi nhét vào đầuhọc sinh những kinh nghiệm xã hội đã được đúc kết hoàn chỉnh, như quanđiểm cổ truyền về dạy học Theo quan điểm hiện đại, dạy vật lí là tổ chức,hướng dẫn cho học sinh thực hiện các hành động nhận thức vật lí đã nói ở
Trang 18trên, để họ tái tạo được kiến thức, kinh nghiệm xã hội và biến chúng thànhvốn liếng của mình, đồng thời làm biến đổi bản thân học sinh, hình thành vàphát triển những phẩm chất năng lực của họ.
Để tạo ra những điều kiện thuận lợi giúp học sinh có thể thực hiện tốtcác hành động học tập, giáo viên cần thực hiện những hành động sau đâytrong quá trình dạy vật lí [9]:
Xây dựng tình huống có vấn đề
Tạo mâu thuẫn nhận thức, gợi động cơ, hứng thú đi tìm cái mới, kíchthích học sinh hăng hái, tự giác hoạt động, tạo ra không khí lớp học thuận lợiủng hộ những cuộc phát biểu trao đổi ý kiến thảo luận về những kết quả thựchiện hành động học tập của học sinh
Lựa chọn một lôgic nội dung bài học thích hợp
Nội dung kiến thức vật lí ở trường phổ thông không phải là nguyên dạngkiến thức vật lí trong khoa học ở dạng đầy đủ nhất, hiện đại nhất mà đã đượcbiến độ đi, trình bày dưới dạng đơn giản hơn, phù hợp với trình độ học sinh
Do đó, công việc của giáo viên lên làm là phân chia bài học thành những vấn
đề nhỏ, phù hợp với trình độ xuất phát của học sinh, xác định hệ thống nhữnghành động học tập mà học sinh có thể thực hiện với sự cố gắng vừa sức
Rèn luyện cho học sinh kĩ năng thực hiện một số thao tác cơ bản, một số hành động nhận thức phổ biến
Giáo viên có thể rèn luyện cho học sinh những kĩ năng này theo hai cách:
Một là làm theo mẫu nhiều lần (bắt chước) theo một trình tự chặt chẽ,máy móc Cách này thường được dùng ở cấp THCS khi bắt đầu học vật lí đểrèn luyện những hành động và thao tác vật chất
Hai là rèn luyện theo những cơ sở định hướng ( đó là những sơ đồ,những kế hoạch tổng quát) Cách này sẽ giúp học sinh có thể thực hiện tốtnhững hành động phức tạp
Trang 19Việc thực hiện các thao tác theo một angôrít (một trình tự chặt chẽ, máymóc) không phải là con đường tối ưu, nhiều khi có sự chủ động thay đổi hoặckết hợp chúng lại để có hiệu quả nhanh và chính xác hơn, sơ đồ định hướng
có thể áp dụng cho nhiều mục đích tương tự
Ngoài ra, càng thành công, học sinh càng cố gắng vươn lên thực hiện cácnhiệm vụ khó khăn hơn, phức tạp hơn Nếu thất bại liên tiếp, học sinh sẽ sinh
ra chán nản, mất tự tin Vậy, để giúp học sinh thành công trong khi thực hiệncác hành động, giáo viên phải duy trì được hứng thú, tính tích cực, tự giáctrong suốt quá trình hoạt động của học sinh
Cho học sinh làm quen với các phương pháp nhận thức được sử dụng rộng rãi trong hoạt động nhận thức vật lí: phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình
Phương pháp thực nghiệm gồm các giai đoạn chính sau:
Nhận biết các sự kiện khởi đầu, phát hiện vấn đề (nêu câu hỏi)
Xây dựng giả thuyết (câu hỏi trả lời dự đoán)
Từ giả thuyết, suy ra một hệ quả có thể kiểm tra được trong thực tế
Bố trí thí nghiệm kiểm tra
Cho mô hình hoạt động, suy ra một hệ quả có thể kiểm tra được trongthực tế
Bố trí thí nghiệm kiểm tra hệ quả dự đoán
Kết luận
Trang 20Học sinh cần nắm được nội dung các giai đoạn chính của những phươngpháp nhận thức này xem như một định hướng khái quát trên con đường đi tìmchân lí, làm cho kiến thức vật lí thu được phản ánh đúng thực tế khách quan.
Hướng dẫn, tạo điều kiện để học sinh phát triển, trao đổi, tranh luận
về các kết quả hoạt động của mình, động viên khuyến khích kịp thời.
Đây không chỉ đơn thuần là việc rèn luyện ngôn ngữ, trình bày bằng lờilẽ sáng sủa, chính xác những ý nghĩ, tư tưởng của mình mà còn là cách hợpthức hóa các kết quả nghiên cứu, làm cho những người trong cộng đồng thừanhận sự đúng đắn của các kết quả nghiên cứu cá nhân Có như thế, kiến thứcxây dựng được mới trở thành kiến thức khoa học khách quan Mặt khác,việc trao đổi tranh luận này cũng giúp cho việc đánh giá các kết quả hànhđộng được khách quan, tránh được những sai lầm chủ quan nhiều khi không
1.1.3 Mục tiêu giáo dục cho giai đoạn mới
Giáo dục ngày nay ở nước ta và trên thế giới không chỉ dừng lại ở việctruyền thụ cho học sinh những kiến thức, kĩ năng loài người đã tích lũy đượctrước đây, mà còn đặc biệt quan tâm đến bồi dưỡng cho họ năng lực tự lựchoạt động nhận thức, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo ra nhữngtri thức mới, phương pháp mới, thái độ và cách thức giải quyết vấn đề mới,phù hợp với hoàn cảnh của mỗi đất nước, mỗi dân tộc Trong xã hộ biến đổi
Trang 21mau lẹ như hiện nay, người học, người lao động cũng phải biết luôn đổi mớikiến thức và năng lực của mình cho phù hợp với sự phát triển của khoa học,
kĩ thuật Lúc đó, người học, người lao động phải có khả năng tự định hướng
và tự học để thích ứng với đòi hỏi mới của xã hội
Giáo dục nước ta trong những thập kỉ tới phát triển trong bối cảnh thếgiới có nhiều thay đổi nhanh chóng và phức tạp Toàn cầu hóa và hội nhậpquốc tế về giáo dục đã trở thành xu thế tất yếu Cách mạng khoa học côngnghệ, công nghệ thông tin và truyền thông, kinh tế trí thức ngày càng pháttriển mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến sự phát triển của các nền giáo dục trênthế giới Chính vì thế, Nghị quyết số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012của Thủ tướng Chính phủ đã nêu rõ mục tiêu phát triển giáo dục giai đoạn
2011-2020 là: “Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản
và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kĩ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập” [19] Để đạt được mục tiêu này, một trong những chiến lược mà Thủ tướng Chính phủ đã đề ra là: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học” [19]
1.2 Tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh 1.2.1 Tính tích cực của học sinh trong học tập
Tích cực học tập thực chất là tính tích cực nhận thức đặc trưng ởkhát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm
Trang 22lĩnh tri thức Theo Kharlanop “ tính tích cực trong học tập có nghĩa là hoànthành một cách chủ động, tự giác, có nghị lực, có hướng đích rõ rệt, có sángkiến và đầy hào hứng, những hành động trí óc và chân tay nhằm nắm vữngkiến thức , kĩ năng, kĩ xảo, vận dụng chúng vào học tập và thực tiễn” Nhưvậy, tính tích cực là một đức tính quý báu rất cần thiết cho mọi quá trìnhnhận thức, là nhân tố rất quan trọng tạo nên hiệu quả học tập.
Trong dạy học, việc phát triển tính tích cực của HS là điều kiện quantrọng quyết định đến chất lượng kiến thức và việc rèn luyện năng lực hoạtđộng của HS Quá trình dạy học cần được thực hiện sao cho các tác động từ phía
GV lên HS cộng hưởng được với các nỗ lực học tập của chính bản thân họ Đểlàm được điều này, cách tốt nhất là hướng HS vào các hoạt động say mê tìm tòigiống như các nhà khoa học tìm cách giải quyết các vấn đề khoa học
1.2.1.1 Các dấu hiệu của tính tích cực nhận thức
Chúng ta có thể nhận biết được tính tích cực trong hoạt động nhận thứccủa HS dựa vào nhiều dấu hiệu khác nhau Theo GS.TSKH Thái Duy Tuyên,những dấu hiệu đó có thể phân chia thành các nhóm sau:
-Những dấu hiệu bên ngoài thông qua thái độ, hành vi và hứng thú
Những biểu hiện cụ thể thể hiện sự hứng thú của HS:
+ Thích thú, chủ động tiếp xúc với đối tượng:
* HS hay đặt câu hỏi, nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn
đề chưa đủ rõ
* HS mong muốn đóng góp với GV, với bạn những thông tin mới lấy từnguồn khác nhau, thích thú, chủ động tiếp xúc với đối tượng cần nhận thức,không nản chí khi gặp khó khăn
+ HS chú ý quan sát, chăm chú lắng nghe và theo dõi những gì thầy cô làm.+ HS khao khát tự nguyện tham gia vào các hoạt động học tập:
Trang 23* Tham gia trả lời các câu hỏi của GV: phát biểu ý kiến của mình trướcvấn đề nêu ra, bổ sung các câu trả lời của bạn.
* HS ghi chép cẩn thận, đầy đủ, sẵn sang, hồ hởi đón nhận nhiệm vụ, tựgiác thực hiện các nhiệm vụ, cố gắng hoàn thành công việc bằng mọi cách,hoàn thành công việc sớm hơn kế hoạch
* Thái độ phản ứng khi chuông báo hết tiết học: tiếc rẻ, cố làm cho xong
- Những dấu hiệu bên trong như: sự căng thẳng trí tuệ, sự nỗ lực hoạt
động, sự phát triển của tư duy, ý trí và xúc cảm… những biểu hiện này chỉ cóthể phát hiện được qua biểu hiện bên ngoài nhưng phải tích lũy một lượngthông tin đủ lớn và phải qua một quá trình xử lí thông tin mới thấy được + Các em tích cực sử dụng các thao tác nhận thức, đặc biệt là các thaotác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa… vào việc giảiquyết các nhiệm vụ nhận thức
+ Tích cực vận dụng vốn kiến thức, kĩ năng đã tích lũy được nhằm giảiquyết các tình huống và bài tập khác nhau, đặc biệt xử lí các tình huống mới + Phát hiện nhanh chóng, chính xác nội dung được quan sát
+ Hiểu lời người khác và diễn đạt cho người khác hiểu ý mình
+ Có những biểu hiện của tính độc lập, sáng tạo trong quá trình giảiquyết các nhiệm vụ nhận thức như tự tin khi trả lời các câu hỏi, có sáng kiến,biết lựa chọn cách giải quyết hay nhất
+ Có những biểu hiện của ý chí trong quá trình nhận thức như sự nỗlực của bản thân, cố gắng vượt qua các khó khăn để thực hiện đến cùng nhiệm
vụ được giao
-Những dấu hiệu thông qua kết quả học tập
Kết quả học tập là một dấu hiệu quan trọng và có tính chất kháiquát của tính tích cực nhận thức Khi HS học tập một cách thường xuyên, liêntục, tự giác, chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã học đểnhận thức vấn đề mới, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản lòng trướcnhững tình huống khó khăn thì kết quả học tập sẽ tốt hơn
Trang 24Từ các dấu hiệu của tính tích cực, chúng tôi đưa ra các tiêu chí đểđánh giá tính tích cực Các dấu hiệu bên ngoài và các dấu hiệu bên trong đượcđánh giá dựa trên quan sát quá trình hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm, kếhoạch cá nhân, nhóm, hồ sơ học tập… Những dấu hiệu thông qua kết quả họctập được đánh giá thông qua điểm số của phiếu học tập, bài báo cáo, bài thuhoạch, nội dung bài thuyết trình,…và các sản phẩm của HS.
1.2.1.2 Các cấp độ của tính tích cực trong học tập
- Bắt chước, tái hiện: gắng sức làm theo mẫu của GV, của bạn bè
- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề đã nêu ra, tìm ra cách giải quyếthợp lí nhất
- Sáng tạo: nghĩ ra cách thiết kế, chế tạo cụng cụ thí nghiệm và cácphương án thí nghiệm mới
1.2.1.3 Các biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong quá trình dạy học
Theo GS.TSKH Thái Duy Tuyên: để nâng cao tính tích cực nhận thứccủa HS, GV cần chú ý các biện pháp sau
- Giác ngộ ý, thức học tập, kích thích tinh thần trách nhiệm và hứng thúhọc tập của các em bằng cách nói lên ý nghĩa lí thuyết và thực tiễn, tầm quantrọng của vấn đề nghiên cứu
- Kích thích hứng thú qua nội dung:
+ Không chỉ quan tâm đến kiến thức lí thuyết, chú trọng kĩ năng thựchành, vận dụng kiến thức, năng lực phát triển và giải quyết các vấn đề củathực tiễn
+ Gắn vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của HS với tình huống thực
tế, bối cảnh và môi trường địa phương, những vấn đề HS quan tâm
- Kích thích hứng thú qua phương pháp:
Trang 25+ Để tích cực hoạt động nhận thức của HS phải phối hợp nhiều phươngpháp khác nhau Những phương pháp có tác dụng tốt nhất trong việc tích cựchóa hoạt động nhận thức là: dạy học nêu vấn đề, dạy học hợp tác, học theohợp đồng, học theo góc, học theo dự án, dạy học vi mô…
+ Thực hiện dạy học theo phân hóa trình độ năng lực, thiên hướng vànhịp độ học tập của HS, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thúhọc tập
- Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau
+ Học cá nhân, đôi bạn, học theo nhóm,…
+ Địa điểm học tập cơ động linh hoạt: học lớp, ở phòng thí nghiệm, ởhiện trường, trong thực tế, viện bảo tang, cơ sở sản xuất
+ Thường dùng bàn ghế cá nhân, có thể thay đổi linh hoạt cách bố tríphù hợp với các hoạt động học tập
- Sử dụng các phương tiện dạy học
+ Phương tiện dạy học được sử dụng như là nguồn thông tin dẫn HS đếnnhững kiến thức mới
+ Quan tâm vận dụng các phương tiện dạy học hiện đại để HS hoànthành nhiệm vụ học tập theo tiến độ phù hợp với năng lực
- Đánh giá và khen thưởng.
+ Thường đánh giá theo mục tiêu bài học, đánh giá kết quả học tập theochuẩn kiến thức, kĩ năng và năng lực của người học
+ Không chỉ đánh giá sau khi học nội dung mà thường đánh giá ngaytrong quá trình học HS tự giác chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình,được tham gia tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau
+ Giáo viên đánh giá thường xuyên nhằm điều chỉnh quá trình dạy học
GV hướng dẫn cho HS tự phát triển năng lực tự đánh giá để tự điều chỉnhcách học, khuyến khích cách học, khuyến khích cách học thông minh, sángtạo, biết giải quyết các vấn đề nảy sinh trong tình huống thực tế
Trang 26+ Những động viên, khen thưởng khi có thành tích học tập tốt của GV vàbạn bè dành cho HS cũng góp phần làm nâng cao tính tích cực nhận thức của HS.
1.2.2 Phát triển năng lực sáng tạo của HS trong học tập
1.2.2.1 Khái niệm năng lực
Năng lực là những thuộc tính tâm lí riêng của cá nhân, nhờ những thuộctính này mà con người hoàn thành tốt đẹp một loạt hành động nào đó, mặc dùphải bỏ ra ít sức lao động nhưng vẫn đạt kết quả cao
Năng lực gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực hoạt động tươngứng kĩ năng, kĩ xảo liên quan đến việc thực hiện một loạt hành động hẹpchuyên biệt, đến mức thành thạo, tự động hóa, máy móc còn năng lực chứađựng yếu tố mới mẻ, linh hoạt trong hành động, có thể giải quyết nhiệm vụthành công trong nhiều tình huống khác nhau, trong một lĩnh vực hoạt độngrộng hơn
1.2.2.2 Sự hình thành và phát triển năng lực
Tâm lí học hiện đại cho rằng: con người mới sinh ra chưa có năng lực,chưa có nhân cách Chính trong quá trình sống, học tập, lao động, giao lưucon người đã hình thành và phát triển nhân cách của mình
Sự hình thành và phát triển năng lực của con người chịu tác động củanhiều yếu tố:
- Yếu tố sinh học: Vai trò của di truyền trong sự hình thành năng lực
- Yếu tố hoạt động của chủ thể
- Yếu tố môi trường xã hội
- Vai trò của giáo dục, dạy học
1.2.2.3 Khái niệm năng lực sáng tạo
“Sáng tạo là một hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thầnhay vật chất có tính đổi mới, có ý nghĩa xã hội, có giá trị.”
Trang 27Năng lực sáng tạo có thể hiểu là khả năng tạo ra những giá trị mới về vậtchất và tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thànhcông những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới.
Như vậy, sản phẩm của sự sáng tạo không thể suy ra từ cái đã biết bằngcách suy luận logic hay bắt chước làm theo
Năng lực sáng tạo gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo và vốn hiểu biết của chủthể Trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, càng thành thạo và có kiến thức sâurộng thì càng nhạy bén trong dự đoán, đề ra được nhiều dự đoán, nhiềuphương án để lựa chọn, càng tạo điều kiện cho trực giác phát triển Bởi vậy,không thể rèn luyện năng lực sáng tạo tách rời, độc lập với học tập kiến thức
về một lĩnh vực nào đó
Đặc trưng tâm lí quan trọng của hoạt động sáng tạo là tính chất hai mặtchủ quan và khách quan: Chủ quan theo quan điểm của người nhận thức màtrong đầu đang diễn ra quá trình sáng tạo và khách quan theo quan điểm củangười nghiên cứu cái quá trình sáng tạo đó xem như là một quá trình diễn ra
có quy luật, tác động qua lại giữa ba thành tố: tự nhiên, ý thức con người và
sự phản ánh của tự nhiên vào ý thức con người
Đối với người sáng tạo thì tính mới mẻ, tính bất ngờ, tính ngẫu nhiên củaphỏng đoán đều là chủ quan Bất cứ một người bình thường nào cũng đềutham gia sáng tạo ít nhiều trong cuộc sống của mình, người này có thể phátminh ra cái mà người khác trước đó đã phát minh ra
Hoạt động sáng tạo của học sinh khác với hoạt động sáng tạo của nhàkhoa học Đối với nhà khoa học thì chỉ những phát minh mà nhân loại chưa
hề biết đến mới được coi là sáng tạo mới Đối với học sinh thì sáng tạo là tạo
ra cái mới đối với chính bản thân mình, chứ giáo viên và nhiều người khác cóthể đã biết rồi Bởi vậy hoạt động sáng tạo đối với học sinh mang ý nghĩa làmột hoạt động tập dượt sáng tạo, sáng tạo lại Điều quan trọng cần đạt được
Trang 28không phải là những sản phẩm sáng tạo mà là khả năng sáng tạo của họ Kiếnthức học sinh sáng tạo sau này sẽ quên đi vì không được dùng đến, còn nănglực sáng tạo của họ thì sẽ luôn được sử dụng trong các hoạt động thực tiễn saunày.[10]
1.2.2.4 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của HS trong dạy học vật lí
* Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới
Kiến thức Vật lí trong trường phổ thông là những kiến thức đã được loàingười khẳng định; tuy vậy, chúng luôn luôn là mới mẻ đối với học sinh Việcxây dựng kiến thức mới sẽ thường xuyên tạo ra những tình huống đòi hỏi họcsinh phải đưa ra những ý kiến mới, giải pháp mới đối với chính bản thân họ.Khi xây dựng kiến thức mới, nếu tổ chức quá trình nhận thức Vật lí theochu trình sáng tạo sẽ giúp cho học sinh trên con đường hoạt động sáng tạo dễnhận biết được: chỗ nào có thể suy nghĩ dựa trên những hiểu biết đã có, chỗnào phải đưa ra kiến thức mới, giải pháp mới Việc tập trung sức lực vào chỗmới đó sẽ giúp cho hoạt động sáng tạo có hiệu quả, rèn cho tư duy trực giácbiện chứng nhạy bén, phong phú Trong nhiều trường hợp giáo viên có thểgiới thiệu cho học sinh những kinh nghiệm sáng tạo của các nhà bác học.Theo quan điểm hoạt động, quá trình Vật lí được xây dựng đi từ dễ đếnkhó, phù hợp với trình độ học sinh, tận dụng được những kinh nghiệm sốnghằng ngày của họ, tạo điều kiện cho họ có cơ hội đề xuất ra những ý kiến mới
mẻ, có ý nghĩa, làm cho họ cảm nhận được hoạt động sáng tạo là hoạt độngthường xuyên có thể thực hiện được với sự cố gắng nhất định Sự tự tin tronghoạt động sáng tạo là một yếu tố tâm lí rất quan trọng làm cho chủ thể nhậnthức thoát khỏi những sự ràng buộc, hạn chế của những hiểu biết cũ hay bởi ý
kiến của người khác [14].
Trang 29*Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết.
Dự đoán có vai trò rất quan trọng trên con đường sáng tạo khoa học Dựđoán dựa chủ yếu vào trực giác, kết hợp với kinh nghiệm phong phú và kiếnthức sâu sắc về mỗi lĩnh vực Dự đoán khoa học không phải là tùy tiện màluôn luôn phải có một cơ sở nào đó, tuy chưa thật là chắc chắn Trong dạy họcVật lí có thể có những căn cứ để đưa ra dự đoán [9]:
- Dựa vào liên tưởng tới một kinh nghiệm đã có
- Dựa trên sự tương tự
- Dựa trên sự xuất hiện đồng thời giữa hai hiện tượng mà dự đoán giữachúng có quan hệ nhân quả
- Dựa trên sự nhận xét giữa hai hiện tượng luôn luôn biến đổi đồng thời,cùng tăng hoặc cùng giảm mà dự đoán về quan hệ nhân quả giữa chúng
- Dựa trên sự thuận nghịch thường thấy của nhiều quá trình
- Dựa trên sự mở rộng phạm vi ứng dụng của một kiến thức đã biết sangmột lĩnh vực khác
- Dự đoán về mối quan hệ định lượng
*Luyện tập đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra dự đoán.
Trong nghiên cứu Vật lí, muốn kiểm tra xem dự đoán, giả thuyết có phùhợp với thực tế hay không, ta phải xem điều dự đoán đó biểu hiện trong thực
tế như thế nào, có những dấu hiệu nào có thể quan sát, đo lường được Điều
đó có nghĩa là: từ một dự đoán, giả thuyết, ta phải suy ra được một hệ quả cóthể quan sát được trong thực tế, sau đó tiến hành thí nghiệm để xem hệ quảrút ra từ suy luận đó có phù hợp với kết quả thí nghiệm hay không Quá trìnhrút ra hệ quả thường áp dụng suy luận logic hay suy luận toán học Sự suyluận này không đòi hỏi một sự sáng tạo thực sự, có thể kiểm soát được Vấn
đề đòi hỏi sáng tạo ở đây là đề xuất được phương án thí nghiệm kiểm tra hệquả đã rút ra được
Trang 30Để có thể đề ra được một phương án thí nghiệm kiểm tra, học sinhkhông những phải huy động những kiến thức Vật lí đã có mà còn cả nhữngkinh nghiệm trong đời sống hằng ngày, hay từ những môn học khác.
Việc bố trí một phương án thí nghiệm để quan sát hiện tượng hay đolường các đại lượng cụ thể đã dự đoán, có khi đơn giản, nhưng cũng có khi rấtphức tạp, đòi hỏi sự hoạt động tích cực của học sinh và có thể học sinh chỉđưa ra ý tưởng còn giáo viên giúp họ phân tích các phương án, lựa chọnphương án tối ưu [9]
*Giải bài tập sáng tạo
Trong dạy học Vật lí, ngoài việc rèn luyện năng lực sáng tạo cho họcsinh trong quá trình xây dựng kiến thức mới, người ta còn xây dựng nhữngloại bài tập riêng với mục đích bồi dưỡng năng lực sáng tạo và được gọi là bàitập sáng tạo
Khi giải những bài tập sáng tạo, ngoài việc phải vận dụng một số kiếnthức đã học học sinh bắt buộc phải có những ý kiến độc lập mới mẻ, khôngthể suy ra một cách logic từ những kiến thức đã học
Có hai loại bài tập sáng tạo là bài tập thiết kế và bài tập nghiên cứu.Trong bài tập thiết kế, đòi hỏi học sinh phải đề xuất một thiết bị để thỏa mãnyêu cầu tạo ra một hiện tượng Vật lí nào đó Trong bài tập nghiên cứu, yêucầu học sinh nghiên cứu để giải thích một hiện tượng mới gặp nào đó
Theo chương trình Vật lí phổ thông, người ta đặc biệt chú trọng rènluyện cho học sinh khả năng dự đoán và đề xuất phương án thí nghiệm kiểmtra dự đoán đó, nhằm hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh.[10]
*Tổ chức cho học sinh học nhóm
Học nhóm là một hình thức học tập, trong học nhóm có sự kết hợp giữa
cá nhân tự lực nghiên cứu và sự gợi ý, tiếp sức của tập thể trên con đường tìmtòi cũng như sự tranh luận để hợp thức hóa các kết quả nghiên cứu
Trang 31Theo lí thuyết về vùng phát triển gần của Vưgôtxki, mỗi cá nhân có thểvươn tới những tầm hiểu biết rộng hơn nhờ sự trao đổi với bạn bè Việc thảoluận trong tập thể không những tạo điều kiện cho học sinh có thể giúp đỡ, gợi
ý hỗ trợ lẫn nhau trong việc tìm tòi nghiên cứu mà thông qua tập thể ý kiến củamỗi cá nhân được điều chỉnh, khẳng định hay bác bỏ Qua đó hình thành cho họcsinh năng lực tự khẳng định mình, năng lực giao tiếp, ứng xử, năng lực sáng tạo
Đó cũng là nền tảng để học sinh nâng mình lên một trình độ mới
1.3 Thí nghiệm trong dạy học vật lí
TN vật lí là sự tác động có chủ định, có hệ thống của con người vào cácđối tượng của hiện thực khách quan Thông qua sự phân tích các điều kiện màtrong đó đã diễn ra sự tác động và các kết quả của sự tác động, ta có thu nhậnđược tri thức mới [9]
1.3.1 Vai trò của thí nghiệm trong dạy học vật lí
TN vật lí là yếu tố không thể thiếu trong quá trình nhận thức vật lí Tùytheo mục đích sử dụng TN trong dạy học, thí nghiệm có thể thực hiện nhữngchức năng khác nhau trong tiến trình dạy học
Hiểu theo một cách rộng rãi nhất thì TN vật lí là một bộ phận hữu cơ củaquá trình dạy học Nó là một yếu tố không thể tách rời của quá trình nhận thức
TN có vai trò to lớn trong việc thực hiện các nhiệm vụ của dạy học vật lí
1.3.1.1 Vai trò của thí nghiệm vật lí theo quan điểm của lí luận nhận thức
Theo quan điểm của lí luận nhận thức, trong dạy học vật lí ở trường phổthông, TN có các vai trò sau:
TN là phương tiện của việc thu nhận tri thức
Vai trò của TN trong mỗi giai đoạn của quá trình nhận thức phụ thuộcvào vốn hiểu biết của con người về đối tượng cần nghiên cứu Nếu học sinhhoàn toàn chưa có hoặc có ít hiểu biết về đối tượng cần nghiên cứu thì TNđược sử dụng để thu nhận những kiến thức đầu tiên về nó Khi đó, TN được
Trang 32sử dụng như là “câu hỏi đối với tự nhiên” và chỉ có thể thông qua TN mới trảlời được câu hỏi này Việc tìm cách đặt câu hỏi đối với tự nhiên (thiết kếphương ánTN), việc tiến hành TN và việc xử lí các kết quả quan sát, đo đạcsau đó chính là quá trình tìm câu trả lời cho câu hỏi đã đặt ra Như vây, TNđược sử dung như là kẻ phân tích hiện thực khách quan và thông qua quátrình thiết lập nó một cách chủ quan để thu nhận tri thức khách quan.
TN là phương tiện để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức đã thuđược
Theo quan điểm của lí luận nhận thức, một trong các vai trò của TNtrong dạy học vật lí là dùng để kiểm tra tính đúng đắn của các tri thức mà họcsinh đã thu được trước đó Trong nhiều trường hợp, kết quả của TN phủ địnhtính đúng đắn của tri thức đã biết, đòi hỏi phải đưa ra giả thuyết khoa học mới
và lại phải kiểm tra nó ở các TN khác Nhờ vậy, thường ta sẽ thu được nhữngtri thức có tính khái quát hơn, bao hàm các tri thức đã biết trước đó như lànhững trường hợp riêng, trường hợp giới hạn
Trong dạy học vật lí ở trường phổ thông, có một số kiến thức đượcrút ra bằng suy luận logic chật chẽ từ các kiến thức đã biết Trong nhữngtrường hợp này, cần tiến hành TN để kiểm tra tính đúng đắn của chúng
TN là phương tiện của việc vận dụng tri thức đã thu được vào thực tiễn.Trong việc vận dụng các tri thức lí thuyết vào việc thiết kế, chế tạo cácthiết bị kĩ thuật, người ta thường gặp khó khăn do tính trừu tượng của tri thứccần sử dụng, tính phức tạp chịu sự chi phối bởi nhiều định luật của các thiết bịcần chế tạo hoặc do lí do về mặt kinh tế hay những nguyên nhân về mặt antoàn Khi đó, TN được sử dụng như là phương tiện tạo cơ sở cho việc vậndụng các tri thức thu được vào thực tiễn
TN là một bộ phận của các phương pháp nhận thức vật lí
Trang 33Việc bồi dưỡng cho học sinh các phương pháp nhận thức được dùng phổbiến trong nghiên cứu vật lí (phương pháp thực nghiệm và phương pháp môhình) là một nội dung của việc hình thành những kiến thức cơ bản vật lí ởtrường phổ thông TN đóng vai trò quan trọng ở cả hai phương pháp nhậnthức vật lí này.
1.3.1.2 Vai trò của thí nghiệm theo quan điểm của lí luận dạy học
TN có thể được sử dụng ở tất cả các giai đoạn khác nhau của quá trìnhdạy học
TN có thể được sử dụng ở tất cả các giai đoạn khác nhau của quá trìnhdạy học: Đề xuất vấn đề cần nghiên cứu, hình thành kiến thức mới, kĩ năngmới, củng cố kiến thức, kĩ năng đã thu được và kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩnăng của học sinh
+ Ở giai đoạn định hướng mục đích nghiên cứu, có thể sử dụng TN để đềxuất vấn đề nghiên cứu, đặc biệt có hiệu quả trong việc tạo tình huống có vấn
đề Các TN được sử dụng để tạo tình huống có vấn đề thường là những TNđơn giản, tốn ít thời gian chuẩn bị và tiến hành
TN có vai trò quan trọng trong giai đoạn hình thành kiến thức mới Nócung cấp một hệ cách hệ thống các cứ liệu thực nghiệm, để từ đó khái quát,qui nạp, kiểm tra được tính đúng đắn của giả thuyết hoặc hệ quả rút ra từ giảthuyết đã đề xuất, hình thành kiến thức mới
TN có thể được sử dụng một cách đa dạng trong quá trình cunhr cốkiến thức, kĩ năng của học sinh Những TN loại này được tiến hành ngay ởmỗi bài học nghiên cứu tài liệu mới, trong các bài học dành cho việc luyệntập, các tiết ôn tập và các giờ TNTH sau mỗi chương, trong các giờ ngoạikhóa hay thậm chí khi học sinh ở nhà
TN là phương tiện để kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng của học sinh
Trang 34Để kiểm tra, đánh giá mức độ nắm vững kiến thức và kĩ năng của họcsinh, giáo viên có nhiều cách thức dử dụng TN với nhiều mức độ yêu cầukhác nhau,từ đơn giản đến phức tạp, từ việc cho học sinh quan sát TN rồinhận xét đến việc cho học sinh trực tiếp tiến hành các TN rồi trả lời một sốcâu hỏi nhất định Mức độ tự lực của học sinh trong quá trình TN cũng có thểkhác nhau, từ việc tiến hành TN theo bảng hướng dẫn chi tiết cho sẵn đếnviệc học sinh hoàn toàn tự lực trong tất cả các giai đoạn của TN.
TN là phương tiện góp phần phát triển nhân cách toàn diện của học sinh.Việc sử dụng TN trong dạy học vật lí góp phần quan trọng vào việc pháttriển nhân cách toàn diện của học sinh
TN là phương tiện để nâng cao chất lượng kiến thức và rèn luyện kĩnăng, kĩ xảo về vật lí của học sinh
TN là phương tiện kítch thích hứng thú học tập vật lí, tổ chức quátrình học tập tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
TN là phương tiện tổ chức các hình thức làm việc tập thể khác nhau,bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức của học sinh
TN là phương tiện đơn giản hóa và trực quan trong dạy học vật lí
Trong tự nhiên và kĩ thuật, rất ít các hiện tượng, quá trình vật lí xảy radưới dạng thuần khiết Chính nhờ TN, ta có thể nghiên cứu các hiện tượng,quá trình xảy ra trong những điều kiện có thể khống chế được, thay đổi được,
có thể quan sát đo đạc đơn giản hơn, dễ dàng hơn để đi tới nhận thức đượcnguyên nhân của mỗi hiện tượng và mối quan hệ có tính qui luật giữa chúngvới nhau
TN là phương tiện trực quan giúp học sinh nhanh chóng thu đượcnhững thông tin chân thực về các hiện tượng, quá trình vật lí Đặc biệt trongviệc nghiên cứu các lĩnh vực của vật lí mà ở đó, đối tượng cần nghiên cứukhông thể tri giác trực tiếp bằng các giác quan của con người thì việc sử dụngtrong dạy học vật lí các TN mô hình để trực quan hóa các hiện tượng, quá
Trang 351.3.2 Các loại thí nghiệm được sử dụng trong dạy học vật lí
Có hai loại TN được sử dụng trong dạy học vật lí ở trường phổ thông:
TN biểu diễn (TN do giáo viên tiến hành là chính, có thể có sự hỗ trợ của giáoviên) và TN thực tập (TN do học sinh tự thực hành dưới sự hướng dẫn củagiáo viên)
1.3.2.1 Thí nghiệm biểu diễn
TN biểu diễn được giáo viên tiến hành ở trên lớp, trong các giờ học nghiêncứu kiến thức mới và có thể ở các giờ học củng cố kiến thức của học sinh
Căn cứ vào mục đích lí luận dạy học của TN biểu diễn trong quá trìnhnhận thức của học sinh, TN biểu diễn gồm:
TN mở đầu: Là TN nhằm giới thiệu cho học sinh biết qua về hiệntượng sắp nghiên cứu, để tạo tình huống có vấn đề, tạo nhu cầu hứng thú họctập của học sinh, lôi cuốn học sinh vào hoạt động nhận thức
TN nghiên cứu hiện tượng: Là TN nhằm xây dựng nên hoặc kiểmchứng lại kiến thức mới, được sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu kiến thứcmới TN nghiên cứu hiện tượng bao gồm:
TN nghiên cứu khảo sát: là thí nghiệm nhằm cung cấp các cứ liệu thựcnghiệm để từ đó khái quát hóa qui nạp, kiểm tra được tính đúng đắn của giảthuyết hoặc hệ quả logic rút ra từ giả thuyết đã đề xuất, giải quyết được vấn
đề xuất hiện ở đầu giờ học, từ đó xây dựng nên kiến thức mới
TN nghiên cứu khảo sát được tiến hành nhằm đi đến một luận đề kháiquát, một định luật hay một qui tắc trên cơ sở khái quát những kết quả út ra từthực nghiệm tức là theo con đường quy nạp TN loại này khi tiến hành thườngkhó thực hiện do các TN thường phức tạp, mất nhiều thời gian, số liệu khôngđầy đủ, chính xác, số TN tiến hành chỉ giới hạn nên kết luận đưa ra không cótính thuyết phục cao
TN nghiên cứu minh họa: Là TN được tiến hành theo con đường diễn
Trang 36qui tắc bằng những phép suy luận logic chặt chẽ, thì dùng TN kiểm chứng lạinhững kết luận, định luật hay qui tắc ấy Hình thức TN này hay được sử dụnghơn do nó chỉ mang tính chất kiểm nghiệm lại các kết luận đã có nên họcsinh sẵn có định hướng về cái phải làm và phù hợp với trình độ nhận thức củahọc sinh hơn.
TN củng cố: Là TN nêu lên những biểu hiện của kiến thức đã họctrong tự nhiên, đề cập đến các ứng dụng của kiến thức trong sản xuất và đờisống, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức đã học để dự đoán hoặc giảithích hiện tượng hay cơ chế hoạt động của các thiết bị, dụng cụ kĩ thuật.Thông qua đó, giáo viên cũng có thể kiểm tra được mức độ tiếp thu kiến thứccủa học sinh
TN củng cố có thể được sử dụng không chỉ trong các tiết học nghiên cứukiến thức mới mà cả trong những giờ luyện tập, hệ thống hóa kiến thức đã học
TN trực diện: Tùy theo mức độ sử dụng, TN trực diện có thể là TN
mở đầu, TN nghiên cứu hiện tượng được tiến hành dưới dạng nghiên cứukhảo sát hay nghiên cứu minh họa và cũng có thể là TN củng cố
TN trực diện có thể được tổ chức dưới hình thức TN đồng loạt (giáo viênchia học sinh trong lớp thành các nhóm, tất cả các nhóm học sinh cùng một lúclàm các TN như nhau với dụng cụ giống nhau để giải quyết cùng một nhiệm vụ)nhưng cũng có thể dưới hình thức TN cá thể (các nhóm học sinh cùng một lúctiến hành các TN khác nhau thường với cùng một dụng cụ nhằm giải quyết cácnhiệm vụ bộ phận, để đi tới giải quyết được một nhiệm vụ tổng quát)
Ngoài các tác dụng về mặt rèn luyện kĩ năng TN, bồi dưỡng phương
Trang 37thể, TN trực diện còn có ưu điểm: các kết luận được rút ra trên cơ sở một sốlượng nhiều hơn các cứ liệu thực nghiệm, các cứ liệu thực nghiệm này đãđược các nhóm học sinh so sánh, bổ sung; qua đó, học sinh thấy được tínhchất khách quan của các qui luật đang nghiên cứu.
Thí nghiệm thực hành (TNTH): Là loại TN do học sinh thực hiện trên lớp(trong phòng TN) mà sự tự lực làm việc cao hơn so với TN trực diện Học sinhdựa vào tài liệu hướng dẫn đã in sẵn mà tiến hành TN, rồi viết báo cáo TN
TNTH vật lí có thể có nội dung định tính hay định lượng, song chủ yếu làkiểm nghiệm lại các định luật, các qui tắc đã học và xác định các đại lượng vật lí
mà các nội dung này không có điều kiện để thực hiện ở dạng TN trực diện
TNTH vật lí thường có nội dung phong phú do được tiến hành sau khihọc sinh đã học xong một chương, một phần của chương trình; mỗi bài TNđược tiến hành thường từ 1 đến 2 tiết liền và đòi hỏi thiết bị hoàn chỉnh, phứctạp hơn so với TN trực diện Yêu cầu đối với học sinh ở loại TN này cũng caohơn so với ở TN trực diện, học sinh phải tự lực thực hiện các giai đoạn củaquá trình TN, thực hiện nhiều thao tác, tiến hành nhiều phép đo, xử lí nhiều sốliệu định lượng mới có thể rút ra các kết luận cần thiết
TNTH có thể được tổ chức dưới một trong hai hình thức: TNTH đồngloạt (tất cả các nhóm học sinh tiến hành những TN như nhau với dụng cụgiống nhau theo cùng một mục đích) hoặc TNTH cá thể với nhiều phương ánkhác nhau Ưu điểm nổi bật của hình thức tổ chức TNTH đồng loạt là pháthuy được tác dụng của sự tương tác lẫn nhau giữa các nhóm học sinh, việc chỉđạo của giáo viên đơn giản hơn, nhưng lại gặp khó khăn về việc trang bị đồngloạt cùng dụng cụ thí nghiệm cho tất cả các nhóm học sinn Ngược lại, ở hìnhthức tổ chức TNTH cá thể, tuy khắc phục được khó khăn của hình thức tổchức TNTH đồng loạt nhưng giáo viên lại khó bao quát lớp, khó giúp đỡ kịpthời các nhóm học sinh khi gặp khó khăn
Trang 38 TN và quan sát vật lí ở nhà: Là một loạt bài mà giáo viên giao chotừng học sinh hoặc các nhóm học sinh thực hiện ở nhà.
Khác với các loại TN khác, học sinh tiến hành TN và quan sát vật lítrong điều kiện không có sự giúp đỡ, kiểm tra trực tiếp của giáo viên Vì vậy,loại TN này đòi hỏi cao độ tính tự giác, tự lực của học sinh trong học tập, đòihỏi học sinh sử dụng các dụng cụ trong đời sống, các đồ chơi có bán trên thịtrường, những vật liệu dễ kiếm, rẻ tiền hoặc các dụng cụ đơn giản được họcsinh chế tạo từ những vật liệu này Chính đặc điểm này tạo nhiều cơ hội đểphát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong việc thiết kế, chế tạo và sửdụng các dụng cụ nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao
TN và quan sát vật lí ở nhà có tác dụng trên nhiều mặt đối với việcphát triển nhân cách của học sinh: quá trình tự lực thiết kế phương án TN, lập
kế hoạch TN, chế tạo hoặc lựa chọn dụng cụ, bố trí và tiến hành TN, xử lí kếtquả TN thu được góp phần vào việc phát triển năng lực hoạt động trí tuệ -thực tiễn của học sinh Việc thực hiện và hoàn thành các công việc trên sẽ làmtăng rõ rệt hứng thú học tập, tạo niềm vui của sự thành công trong học tập củahọc sinh Chất lượng kiến thức của học sinh được nâng cao thông qua việchuy động các kiến thức đã học ở nhiều phần khác nhau vào việc thiết kếphương án TN, tiên đoán hoặc giải thích các kết quả TN TN vật lí ở nhà cótác dụng làm phát triển những kĩ năng, kĩ xảo TN, các thói quen của ngườilàm thực nghiệm mà học sinh đã thu được trong TN trực diện và TNTH
Loại TN bày cũng tạo điều kiện để giáo viên cá thể hóa quá trình học tậpcủa học sinh bằng cách giao cho các loại đối tượng học sinh khác nhau nhiệm
vụ chế tạo dụng cụ TN, tiến hành TN với mức độ khó dễ khác nhau, nông sâukhác nhau và với mức độ hướng dẫn khác nhau
TN và quan sát vật lí ở nhà không những nhằm đào sâu, mở rộng cáckiến thức đã học mà trong nhiều trường hợp, các kết quả thu mà học sinh thuđược sẽ là những cứ liệu thực nghiệm cho việc nghiên cứu kiến thức mới ở
Trang 391.3.3 Những yêu cầu về mặt kĩ thuật và phương pháp dạy học đối với việc
sử dụng thí nghiệm trong dạy học vật lí
1.3.3.1.Những yêu cầu chung đối với việc sử dụng thí nghiệm
Xác định rõ logic của tiến trình dạy học, trong đó việc sử dụng TNphải là một bộ phận hữu cơ của quá trình dạy học, nhằm giải quyết một nhiệm
vụ cụ thể trong tiến trình nhận thức Trước mỗi TN, phải đảm bảo cho họcsinh ý thức được sự cần thiết của TN, hiểu rõ mục đích của TN
Xác định rõ các dụng cụ cần sử dụng, sơ đồ bố trí chúng, tiến trình
TN Không xem nhẹ các dụng cụ thí nghiệm đơn giản
Đảm bảo cho học sinh ý thức được rõ ràng và tham gia tích cực vào tất
cả các giai đoạn TN bằng cách giao cho học sinh thực hiện các nhiệm cụ thể
Thử nghiệm kĩ lưỡng mỗi TN trước giờ học, đảm bảo TN phải thành công
Việc sử dụng các dụng cụ và tiến hành TN phải tuân theo các qui tắc an toàn
1.3.3.2 Những yêu cầu đối với thí nghiệm biểu diễn
Việc sử dụng TN biểu diễn phải tránh tình trạng lạm dụng TN, chỉ sửdụng TN như một sự trình diễn và phải tuân thủ các yêu cầu của việc đặt kếhoạch TN, chuẩn bị TN, bố trí TN, tiến hành TN và xử lí kết quả TN
Các yêu cầu trong việc đặt kế hoạch TN:
Xác định chính xác mục đích của TN cần phải tiến hành và chức năng
lí luận dạy học của nó (đề xuất vấn đề cần nghiên cứu, hình thành kiến thứcmới, củng cố hay kiểm tra đánh giá)
Xác định các nhiệm vụ mà hoc sinh cần phải hoàn thành trong việcchuẩn bị TN, trong việc tiến hành TN và trong việc xử lí kết quả TN
Từ mục đích TN và vị trí của nó trong quá trình nhận thức của họcsinh, lựa chọn phương án TN cần biểu diễn đáp ứng các đòi hỏi sư phạm: tínhtrực quan, tính hiệu quả,tính an toàn và đặt kế hoạch tiến hành một chuỗi các
TN sao cho có đủ cứ liệu để khái quát hóa, trong đó có việc xác định thờiđiểm sử dụng, thời gian cần thiết cho mỗi TN trong giờ học
Các yêu cầu trong việc chuẩn bị TN:
Trang 40Nghiên cứu kĩ lưỡng tính năng của các dụng cụ TN đã được lựa chọn và
sử dụng thành thạo chúng
Trước giờ học, phải kiểm tra sự hoạt động của các dụng cụ sẽ sử dụng
và thử nghiệm lại các TN sẽ tiến hành, dù là TN đơn giản nhất, kịp thời thaythế những bộ phận hỏng hóc
Công việc chuẩn bị TN chỉ kết thúc khi TN có thể lặp lại nhiều lần,cho kết quả rõ ràng, đơn trị
Các yêu cầu trong việc bố trí TN:
Bố trí TN phải đảm bảo sao cho mọi học sinh từ vị trí ngồi của mìnhtrong lớp học đều nhìn rõ mọi dụng cụ, độ lệch của kim chỉ của các dụng cụ
đo, đẹp về thẩm mĩ Muốn vậy, cần thực hiện các yêu cầu sau:
Lắp ráp từng bước các dụng cụ trong TN trước mắt học sinh Trongtrường hợp không cho phép, phải lắp ráp hoàn chỉnh trước giờ học thì cầnphải phân tích kĩ lưỡng cách nối kết các bộ phận với học sinh
Những thiết bị mà học sinh mới gặp lần đầu, phải mô tả, giải thích chohọc sinh hiểu rõ nguyên tắc hoạt động của chúng
Chỉ đặt trên bàn những dụng cụ cần thiết cho TN
Bố trí các dụng cụ TN trên nhiều độ cao khác nhau Bố trí TN thẳngđứng, nếu phải bố trí trên mặt phẳng nằm ngang thì phải sử dụng các phươngpháp chiếu sáng Thay đổi độ sáng của phòng học, nhất là khi tiến hành các
TN quang hình học
Cần sắp xếp các dụng cụ mà ở đó mà hiện tượng mong muốn sẽ diễn
ra nằm bên phải các dụng cụ khác, các dụng cụ chính ở trước mặt, không chekhuất nhau, các bộ phận của một thiết bị phải nằm cạnh nhau
Dùng vật chỉ thị để làm nổi bật bộ phận chính, đánh dấu sự diễn biếnhiện tượng mà học sinh cần theo dõi