1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng mô hình Tòa án khu vực trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay Luận văn ThS. Luật

110 501 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề cấp thiết đặt ra là tổ chức Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực phải đáp ứng mục tiêu chung của việc đổi mới các cơ quan tư pháp, đó là đảm bảo tính khoa học, đồng bộ, đề cao tính độc

Trang 1

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2014

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HÀ TIẾN DŨNG

XÂY DỰNG MÔ HÌNH TÒA ÁN KHU VỰC

TRONG TIẾN TRÌNH CẢI CÁCH TƯ PHÁP

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số : 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Đặng Minh Tuấn

Hà Nội - 2014

Trang 3

1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Hà Tiến Dũng

Trang 4

2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: YÊU CẦU ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TÒA ÁN TRONG BỐI CẢNH CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM 8

1.1 Khái quát về cải cách tư pháp 8

1.1.1 Bối cảnh cải cách tư pháp 8

1.1.2 Các quan điểm cải cách tư pháp 11

1.1.3 Những nội dung của cải cách tư pháp 15

1.2 Đổi mới hệ thống Tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp 18

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Tòa án nhân dân 18

1.2.2 Hệ thống Tòa án nhân dân theo pháp luật hiện hành 28

1.2.3 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân 33

1.3 Cơ sở thiết lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực trong hệ thống Tòa án nhân dân 41

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG MÔ HÌNH TÒA ÁN NHÂN DÂN SƠ THẨM KHU VỰC 53

2.1 Những thuận lợi của việc xây dựng Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực 53

2.2.1 Phù hợp so với các quy định của Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2013 53

2.1.2 Sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của Đảng 55

2.1.3 Phù hợp với bối cảnh đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước 59

2.1.4 Phù hợp với chủ trương tăng thẩm quyền cho Tòa án nhân dân cấp huyện 60

2.1.5 Tiếp thu kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân ở Việt Nam và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 61

Trang 5

3

2.2 Khó khăn, thách thức của việc xây dựng mô hình Tòa án nhân dân sơ thẩm

khu vực 66

2.2.1 Những bất cập trong việc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và sự giám sát của Hội đồng nhân dân 66

2.2.2 Sự thiếu đồng bộ trong việc đổi mới hệ thống các cơ quan tư pháp 69

2.2.3 Sự thiếu thống nhất trong việc xây dựng số lượng và địa hạt tư pháp của Tòa án khu vực ở một số địa phương 71

2.2.4 Chưa đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc thành lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực 73

2.2.5 Những bất cập trong việc tổ chức cán bộ 74

2.2.6 Những bất cập về cơ sở vật chất 75

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG MÔ HÌNH TÒA ÁN NHÂN DÂN SƠ THẨM KHU VỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP 78

3.1 Phương hướng xây dựng Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực 78

3.1.1 Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng 78

3.1.2 Đảm bảo sự giám sát của Hội đồng nhân dân 81

3.1.3 Đảm bảo quyền của người dân trong việc tiếp cận Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực 84

3.1.4 Đảm bảo sự đồng bộ của các cơ quan tư pháp 85

3.2 Các giải pháp xây dựng Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực 86

3.2.1 Về cơ sở pháp lý 86

3.2.2 Về tổ chức bộ máy 93

3.2.3 Về đội ngũ cán bộ 94

3.2.4 Về cơ sở vật chất 96

KẾT LUẬN 99 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Danh sách các tỉnh, thành phố dự kiến thành lập Tòa án nhân dân

sơ thẩm khu vực 57

Trang 7

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cải cách Tòa án nhân dân là một trong những nội dung quan trọng của cải cách bộ máy nhà nước nói chung và cải cách tư pháp nói riêng nhằm mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trong những năm qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Đảng ta đã có một số Nghị quyết, Chỉ thị về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước và Pháp luật, trong đó có nhấn mạnh đến nội dung đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân như Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa VII); Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa VIII), Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa VIII); Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX; Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm

vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” [1] Nghị quyết số 49-NQ/TW

Bộ Chính trị ngày 02/06/2005 ban hành về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020 đã xác định mục tiêu xây dựng một nền tư pháp trong sạch, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trong đó, Bộ Chính trị chỉ rõ phải:

Tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm: Tòa án sơ thẩm khu vực được tổ chức

ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Tòa án phúc thẩm

có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số

vụ án; Tòa thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét

xử phúc thẩm; Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển

án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm… [2, mục 2.2]

Trên cơ sở chỉ đạo của Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách

tư pháp đến năm 2020, ngày 28/7/2010 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Kết luận số 79-KL/TW về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra [3] Kế thừa Kết luận số 79-KL/TW, ngày 12

Trang 8

2

tháng 3 năm 2014 Bộ chính trị đã có Kết luận số 92-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49 về cải cách tư pháp đến năm 2020, theo đó, Ban chấp hành Trung ương khẳng định:

Tiếp tục thực hiện chủ trương tổ chức tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân theo cấp xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính Tòa án nhân dân được tổ chức 4 cấp như Kết luận số 79-KL/TW, ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị Đối với tòa án nhân dân cấp sơ thẩm và Tòa án nhân dân tương ứng, cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng 2 phương án (Phương án 1, tổ chức theo khu vực như Kết luận số 70-KL/TW; phương án 2, tổ chức tòa án nhân dân sơ thẩm đặt tại các đơn vị hành chính cấp huyện), báo cáo xin ý kiến Bộ Chính trị trước khi trình Quốc hội thông qua Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi) [4, mục 2.3]

Trong đó, việc thành lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực là nội dung quan trọng nhất trong phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án vì đây là cấp trực tiếp giải quyết số lượng chủ yếu các vụ việc theo thủ tục tư pháp

và đây cũng là vấn đề phức tạp, có tác động rất lớn đến hiệu quả của cải cách tư pháp trong thời gian tới

Những tư tưởng mới quan trọng nêu trên của nhà nước pháp quyền cùng với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người là cơ sở quan trọng cho việc quy định cụ thể trong các chương khác nhau về tổ chức bộ máy nhà nước nói chung, trong quy định về Tòa án nhân dân nói riêng

Bằng việc quy định “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” [5, khoản 1 Điều 102],

Hiến pháp (sửa đổi) xác định rõ ràng, cụ thể vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân trong bộ máy cơ quan nhà nước Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, thực hiện chức năng xét xử; Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất

Trang 9

Hiến pháp (sửa đổi) khẳng định vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống

tư pháp, vị trí trọng tâm của hoạt động xét xử trong các hoạt động tư pháp

Thành lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực thực sự là một chủ trương lớn của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi phải được quan tâm, tập trung chỉ đạo, lãnh đạo kịp thời Vấn

đề cấp thiết đặt ra là tổ chức Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực phải đáp ứng mục tiêu chung của việc đổi mới các cơ quan tư pháp, đó là đảm bảo tính khoa học, đồng bộ, đề cao tính độc lập, khách quan, tuân thủ pháp luật của từng cơ quan và các chức danh tư pháp trong quá trình tiến hành tố tụng; góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đồng thời phải đảm bảo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành, là nguyên tắc tổ chức và hoạt động đặc thù của Tòa án nhân dân

Với lý do nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Xây dựng mô hình Tòa án khu

vực trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn thạc

sỹ chuyên ngành Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật Đây là vấn đề có tính thời sự, cần thiết và cấp bách

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nhằm góp phần hoàn thiện các vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, thời gian qua Tòa án nhân dân tối cao đã có nhiều chương trình trao đổi và hợp tác với các cơ quan ở các nước Pháp, Đức, Thụy Điển, Nhật Bản, Trung Quốc, Canada và các tổ chức quốc tế như SIDA,

Trang 10

4

JICA, UNDP về hoạt động tư pháp Trong đó có nhiều Hội nghị, Hội thảo, Tọa đàm trong và ngoài nước đã cho chúng ta một bức tranh nhiều màu sắc về tổ chức và hoạt động hệ thống cơ quan tư pháp của các nước Đây là những kinh nghiệm quý giúp chúng ta có cái nhìn bao quát về hệ thống tư pháp của các nước trên thế giới để từ đó lựa chọn một mô hình tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Những định hướng lớn về cải cách tư pháp nói riêng và cải cách bộ máy nhà nước nói chung liên tục được đề cập qua các kỳ Đại hội Đảng VI, VII, VIII

và IX là nền tảng tư tưởng vững chắc cho công cuộc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp nước ta Trong những năm gần đây đã có một số công trình khoa học cấp nhà nước, cấp bộ, các luận án tiến sĩ, sách chuyên khảo nghiên cứu về hệ thống tư pháp Việt Nam có liên quan đến cải cách

tư pháp như: Luận án Tiến sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội: Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền

của tác giả Trần Huy Liệu năm 2003; Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức

và hoạt động của các cơ quan tư pháp (góp phần sửa đổi Hiến pháp năm 1992),

Đề tài cấp Bộ, Chủ nhiệm đề tài: Hoàng Thế Liên; Sách chuyên khảo Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của GS.TSKH Đào Trí Úc, NXB Tư pháp năm 2006; Một số vấn đề về Hiến pháp

và bộ máy Nhà nước của GS.TS Nguyễn Đăng Dung, NXB Giao thông vận tải

năm 2002; Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay của tập

thể các tác giả do GS.TS Đào Trí Úc chủ biên, NXB Khoa học xã hội năm 2002; Đại hội VII Đảng cộng sản Việt Nam và những vấn đề cấp bách của khoa học về

nhà nước và pháp luật của Giáo sư Tiến sĩ khoa học Đào Trí Úc, Nxb khoa học

xã hội, Hà Nội, năm 1997 Những công trình khoa học nghiên cứu về Tòa án nhân dân ở những góc độ khác nhau Có thể kể đến những công trình cơ bản sau: Vai trò của Tòa án trong hệ thống các cơ quan tư pháp, PGS.TS Phạm Hồng Hải,

Trang 11

5

Tạp chí Tòa án nhân dân, số 05 năm 2001; Cơ sở lý luận và thực tiễn tăng cường

năng lực xét xử của tòa án nhân dân cấp huyện, Chủ nhiệm: TS Nguyễn Văn

Hiện, năm 2001

Các công trình khoa học nêu trên đã góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp nước ta, phúc đáp những yêu cầu bức xúc của cuộc sống Tuy nhiên, vì các lý do khác nhau nên những công trình nghiên cứu trên chưa giải quyết một cách đầy

đủ, toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và Tòa án nhân dân nói riêng trong điều kiện cải cách tư pháp Vấn đề tổ chức Tòa án nhân dân 4 cấp trong đó có việc xây dựng Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực mới được đặt ra trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị, Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 và Kết luận

số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49 về cải cách tư pháp đến năm 2020 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Vì vậy, mặc

dù đã có khá nhiều bài viết về vấn đề này nhưng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện và có hệ thống chính thức được công bố

3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục tiêu nghiên cứu đề tài bao gồm:

- Làm rõ bối cảnh, quan điểm và nội dung cải cách tư pháp

- Hiểu rõ thực trạng hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ và tổ chức

bộ máy, cán bộ của Tòa án nhân dân trong thời gian qua

- Xác định cơ sở thiết lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực trong hệ thống Tòa án nhân dân và tính ưu việt của mô hình này so với Tòa án nhân dân cấp huyện hiện nay

- Chỉ ra những thuận lợi cũng như khó khăn, thách thức đặt ra đối với ngành Tòa án trong việc xây dựng mô hình Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực;

Trang 12

6

- Đưa ra phương hướng và đề xuất một số giải pháp xây dựng mô hình Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:

- Nghiên cứu cải cách tư pháp ở Việt Nam và yêu cầu cải cách đối với ngành Tòa án nhân dân

- Nghiên cứu thực trạng hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy, cán bộ của Tòa án nhân dân trong thời gian qua

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc thiết lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực cũng như tính ưu việt của mô hình này

- Nghiên cứu những thuận lợi và khó khăn thách thức đối với ngành Tòa

án trong việc xây dựng Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực Trên cơ sở đó đưa ra một số phương hướng, giải pháp để xây dựng mô hình này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Trong khuôn khổ của một đề tài luận văn thạc sỹ, tôi xác định phạm vi của

đề tài tập trung nghiên cứu giải quyết những vấn đề pháp lý liên quan đến Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực; Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân theo pháp luật hiện hành; Cơ sở thiết lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực; Những thuận lợi và khó khăn, thách thức trong việc xây dựng mô hình Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực, trên cơ sở đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm xây dựng có hiệu quả mô hình này

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; Các quan điểm của Đảng về từng bước hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân theo yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Luận văn cũng được trình bày trên cơ sở nghiên cứu Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, và các văn bản pháp luật khác quy định về tổ chức và

Trang 13

7

hoạt động của Tòa án Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp luật học so sánh và khảo sát thực tế để làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu của luận văn

6 Những đóng góp mới của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và luận cứ khoa học về bối cảnh, quan điểm, nội dung cải cách tư pháp và yêu cầu cải cách Tòa

án nhân dân; xác định cơ sở thiết lập và tính ưu việt của mô hình Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra một số phương hướng và giải pháp khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn để xây dựng mô hình Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, hi vọng rằng luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học, những người làm thực tiễn và công tác nghiên cứu, giảng dạy

7 Kết cấu luận văn

Về kết cấu của luận văn, ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Yêu cầu đổi mới mô hình Tòa án trong bối cảnh cải cách tư pháp ở Việt Nam

Chương 2: Xây dựng mô hình Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực

Chương 3: Phương hướng và giải pháp xây dựng mô hình Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Trang 14

8

CHƯƠNG 1: YÊU CẦU ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TÒA ÁN TRONG BỐI

CẢNH CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM

1.1 Khái quát về cải cách tư pháp

1.1.1 Bối cảnh cải cách tư pháp

Trong hơn 60 năm qua, hệ thống các cơ quan tư pháp ở nước ta đã hình thành và từng bước kiện toàn, phát triển trên nền tảng của những nguyên tắc dân chủ, tiến bộ, hiện đại, ngày càng phù hợp và đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của thực tiễn cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử, góp phần quan trọng vào việc thực hiện các nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Bước vào thiên niên kỷ mới, công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đạt đến bước phát triển mới, tạo nên những tiền đề và cũng là thách thức lớn về kinh tế, chính trị, xã hội đòi hỏi phải

có những điều chỉnh lớn mang tính cải cách đối với thiết kế tổng thể của hệ thống tư pháp, từ chức năng, nhiệm vụ đến tổ chức, con người và hoạt động của từng cơ quan tư pháp cũng như các mối quan hệ giữa chúng

Trên bình diện quốc tế, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính và suy thoái toàn cầu vẫn còn tiếp tục tác động đến thế giới nói chung và nền kinh tế nước ta nói riêng, vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái khủng hoảng Quá trình tái cấu trúc các nền kinh tế và điều chỉnh các thể chế tài chính toàn cầu sẽ diễn ra mạnh mẽ, gắn với những bước tiến mới về khoa học, công nghệ và sử dụng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên Chủ trương bảo hộ trỗi dậy trở thành rào cản lớn cho thương mại quốc tế Thực tế này đã đặt ra những thách thức gay gắt đối với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển trong việc chủ động sử dụng các công cụ pháp lý quốc tế và các nỗ lực tập thể để nêu cao chủ quyền dân tộc, phát huy vai trò và bảo vệ lợi ích của mình Trong giai đoạn tới, các nước ASEAN sẽ hình thành cộng đồng kinh tế chung Quá trình này sẽ dẫn đến việc hình thành các

Trang 15

ASEAN+, và sắp tới đây Việt Nam đang đàm phán để chuẩn bị gia nhập Hiê ̣p

đi ̣nh đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) đặt ra nhiều cơ hội

và thách thức đối với Việt Nam Quá trình này đã làm cho hệ thống pháp luật và các thiết chế lập pháp, hành pháp, tư pháp của Việt Nam đã có những sửa đổi và điều chỉnh tích cực như từng bước chuyển hóa các nguyên tắc pháp lý thương mại quốc tế cơ bản như không phân biệt đối xử, công khai, minh bạch trong hoạt động ban hành pháp luật, áp dụng pháp luật, trong quy trình ra các quyết định hành chính, tư pháp Tuy nhiên, những tiền đề đó chưa đủ để vượt qua được những thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật và tư pháp nước ta trong những năm tiếp theo Như một số nhà nghiên cứu phân tích, những thách thức đó là sự bất tương thích về mô hình tổ chức cơ chế hoạt động và thủ tục tố tụng tư pháp của Việt Nam so với các quy tắc và chuẩn mực chung của quốc tế; sự bất cập, lạc hậu trong nhận thức, hiểu biết và đặc biệt là kỹ năng áp dụng pháp luật của đội ngũ cán bộ tư pháp trong khi xử lý các vấn đề pháp lý liên quan đến quá trình hội nhập trong khi đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức thương mại quốc tế hiện đại và kỹ năng nghiệp vụ liên quan tới hội nhập vẫn đang trong tình trạng bị động, chắp vá, hình thức, kém hiệu quả Để có thể thúc đẩy quá trình hội nhập nhanh và bền vững, việc xây dựng một nhà nước hiệu quả, có cơ cấu tổ

Trang 16

10

chức phù hợp và một hệ thống pháp luật hoàn thiện, phù hợp với thông lệ chung

là yêu cầu rất lớn đang đặt ra đối với đất nước ta

Sau 25 năm đổi mới và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội 2001 - 2010, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, tạo ra sức mạnh tổng hợp cho sự phát triển kinh tế đất nước Sự ổn định về chính trị - xã hội, dân trí được nâng cao, dân chủ hóa nhiều mặt đời sống xã hội, bảo đảm nhân quyền, công bằng, tiến bộ xã hội đang đòi hỏi phải phát huy vai trò của pháp luật

và tư pháp Mặt khác, nhiều vấn đề văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục đặt ra nhiều thách thức lớn trong đó có vấn đề phát triển bền vững Quốc phòng và an ninh, nhất là chủ quyền và an ninh vùng biển đảo vẫn đang là thách thức lớn trong bối cảnh quốc tế hiện tại Bên cạnh đó, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, lợi dụng triệt để vấn đề tự do dân chủ, tự do tôn giáo, các vấn đề

về nhân quyền để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, kích động bạo loạn, ly khai Những tội phạm có vấn đề an ninh phi truyền thống như buôn bán ma túy, cướp biển, tội phạm có tổ chức, khủng bố, nhập cư và di cư trái phép đang ảnh hưởng đến tình hình trật tự - xã hội của đất nước Trong bối cảnh đó, việc xây dựng, củng cố hệ thống pháp luật và tư pháp có khả năng đối mặt với khó khăn, thách thức này càng cần phải được chú trọng

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI được tổ chức thành công có ý nghĩa trọng đại khi đất nước đang bước sang một giai đoạn phát triển mới sau 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới Đại hội Đảng đã thông qua Cương lĩnh phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ (sửa đổi) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 Đây là những văn kiện quan trọng định hướng cho sự phát triển đất nước trong những năm tới, đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước như một khâu quan trọng đảm bảo cho việc thực hiện thắng lợi Chiến lược, tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy, tạo bước chuyển mạnh

về cải cách hành chính

Trang 17

11

Viê ̣c Quốc hội khóa XIII thông qua Hiến pháp (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ sáu (ngày 28 - 11 - 2013) là một sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng bậc nhất của đất nước trong năm 2013, thể hiện sự kết tinh trí tuệ của cả dân tộc ta trên con đường phát triển Hiến pháp (sửa đổi) có rất nhiều đổi mới và chính những đổi mới đó là cơ sở hiến định quan trọng mở đường cho việc tiếp tục cải cách, đổi mới để đất nước ta phát triển

Một trong những nội dung trọng tâm của sửa đổi, bổ sung Hiến pháp lần này là đổi mới về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền, không những có sự hoàn thiện hơn nguyên tắc tổ chức quyền lực Nhà nước tại Điều 2 của Hiến pháp, mà các nguyên tắc đó đã trở thành tư tưởng xuyên suốt trong các quy định cụ thể của Hiến pháp Bước tiến

mới dễ nhận thấy nhất là Hiến pháp (sửa đổi) đã khẳng định rõ: “Tòa án là cơ

quan thực hiện quyền tư pháp” [5, khoản 1 Điều 102]

1.1.2 Các quan điểm cải cách tư pháp

Thứ nhất, cải cách tư pháp phải xuất phát từ nhu cầu và điều kiện kinh tế -

xã hội cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Trong từng giai đoạn phát triển của mình, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi các cơ quan tư pháp không chỉ phục

vụ, tạo thuận lợi cho sự vận hành của nền kinh tế mà đồng thời phải là người lính gác bảo vệ tinh thông, nhạy bén trước những biến cố, tiêu cực, mặt trái của kinh

tế thị trường có thể xâm hại đến trật tự công cộng [6, tr41] Sự phát triển, hoàn thiện của hệ thống tư pháp không tách rời sự phát triển của kinh tế - xã hội và tác động ngược trở lại đối với kinh tế - xã hội, tạo hệ thống công cụ pháp lý an toàn cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế, bảo vệ trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia Tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, các trình tự, thủ tục và phương thức, lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ, chức danh tư pháp phải được cải cách theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả, tiêu chuẩn hóa, hiện đại hóa

Trang 18

12

phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đảm bảo ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội tham nhũng và các loại tội phạm

có tổ chức, giải quyết nhanh chóng, hợp lý, hiệu quả các tranh chấp kinh tế, dân

sự trong nền kinh tế thị trường đang hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và quốc tế, bảo vệ trật tự kỷ cương xã hội, bảo đảm và tôn trọng quyền dân chủ, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, xã hội và Nhà nước

Thứ hai, cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa phải đảm bảo giữ vững và phát huy bản chất dân chủ, vì con người và bảo vệ quyền con người của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thể hiện bản chất dân chủ của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Mục tiêu của Nhà nước pháp quyền là bảo đảm và phát triển quyền con người, quyền công dân Phương thức bảo đảm quyền con người của nhà nước pháp quyền là công nhận quyền con người, xác lập quyền công dân bằng hoạt động lập pháp, tổ chức thực thi quyền con người, quyền công dân bằng hoạt động hành pháp và bảo vệ các quyền đó bằng hoạt động tư pháp Nguyên tắc xây dựng các cơ quan tư pháp của dân, do dân, vì dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền đòi hỏi huy động sự tham gia ngày càng rộng rãi và tích cực của nhân dân vào công tác tư pháp, bắt đầu từ quá trình xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động tư pháp đến quá trình tổ chức thực thi pháp luật trong hoạt động tư pháp [7, tr12] Nhiều Nghị quyết của Đảng (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị) và đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nhấn mạnh chủ trương nghiên cứu và đẩy mạnh

xã hội hóa một số hoạt động tư pháp, bổ trợ tư pháp như tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, thi hành án, giám định tư pháp, công chứng, kết hợp quản lý nhà nước với vai trò tự quản của các tổ chức nghề nghiệp Thực chất đó là quá trình

Trang 19

13

thu hút sức mạnh, trí tuệ, nguồn lực của nhân dân để làm thành sức mạnh của nhà nước, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở xã hội rộng rãi cho hoạt động tư pháp có hiệu lực, hiệu quả

Thứ ba, cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa phải được tiến hành đồng bộ với cải cách lập pháp, hành pháp theo hướng đảm bảo tính độc lập tương đối và sự kiểm tra, giám sát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực trên cơ sở quyền lực nhà nước thống nhất thuộc về nhân dân, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước Trên cơ sở của Cương lĩnh xây đựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ 2001 - 2010 do Đại hội Đảng IX thông qua [8, tr27], Nhà nước đã chọn khâu trọng tâm, đột phá trong cải cách bộ máy nhà nước – đó là xây dựng và triển khai Chương trình tổng thể cải cách hành chính 2001 - 2010 với mục tiêu xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, hiệu lực, hiệu quả, từng bước hiện đại hóa Kết quả bước đầu dù còn rất khiêm tốn của cải cách hành chính đã góp phần tạo ra những tiền đề và yêu cầu mới đối với cải cách đồng bộ tổ chức và hoạt động lập pháp, tư pháp Trên cơ sở tổng kết

lý luận và thực tiễn 20 năm đổi mới, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết về Chiến lược xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (gọi tắt là Chiến lược pháp luật) và Nghị quyết về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 làm cơ sở chính trị quan trọng cho các cải cách đồng

bộ của cả bộ máy nhà nước

Thứ tư, cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền

phải đảm bảo tính tối cao của luật trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, đảm bảo cải cách đồng bộ cả hệ thống tư pháp với Tòa án và hoạt động xét

xử là trung tâm Đây là yêu cầu rất cơ bản của nhà nước pháp quyền đối với hoạt động tư pháp Tòa án – cơ quan duy nhất có quyền xét xử, quyền sử dụng và nhân danh quyền lực nhà nước để phán xét tính hợp hiến, hợp pháp của những vi

phạm pháp luật, những tranh chấp pháp lý Nguyên tắc hiến định “Người bị buộc

Trang 20

14

tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định

và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [5, Điều 31] khẳng

định tính tối cao, quyết định của hoạt động xét xử và vị trí trung tâm của tòa án trong hệ thống tư pháp Vì vậy, cải cách tư pháp phải đồng bộ ở tất cả các công đoạn của quy trình tố tụng và với tất cả các cơ quan, tổ chức trong hệ thống tư pháp nhằm giải quyết triệt để những bất cập hiện nay đang làm cho quy trình tố tụng bị cắt khúc, các cơ quan tư pháp biệt lập với quyền ra những quyết định tiền xét xử (bắt tạm giữ, tạm giam ) có nhiều nguy cơ gây oan sai, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích cơ bản của công dân, làm cho Tòa án không thực sự giữ được vị trí là trung tâm của hệ thống tư pháp, là cơ quan duy nhất có quyền ra các quyết định, phán quyết động chạm đến quyền cơ bản của công dân trong quá trình tố tụng tư pháp

Thứ năm, cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp phải dựa trên việc khai

thác, phát huy các giá trị văn hóa pháp luật truyền thống của Việt Nam đồng thời tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa pháp luật thế giới trong lĩnh vực tư pháp nói riêng, trong tổ chức lao động quyền lực nói chung theo các nguyên tắc pháp quyền Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, một nền kinh tế phát triển, một nền chính trị dân chủ phải đi kèm với một nền văn hóa pháp luật ở trình độ cao Phát huy các giá trị văn hóa trong hoạt động xây dựng, thực hiện pháp luật trở thành đòi hỏi có tính cấp bách, góp phần đảm bảo thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong giai đoạn hiện nay, khi Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và xây dựng Nhà nước pháp quyền, thì việc nhận diện và phát huy các giá trị văn hóa pháp luật trong việc xây dựng, thực hiện pháp luật trở nên vô cùng cấp thiết Mục tiêu của công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và cải cách tư pháp chỉ có thể đạt được khi được tiến hành trong môi trường văn hóa dân chủ,

Trang 21

15

trọng dân, trọng pháp thông qua văn hóa ứng xử của những con người, tổ chức

cụ thể Vì vậy, việc nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện để góp phần khẳng định những giá trị văn hóa pháp luật truyền thống, khai thác và áp dụng những kinh nghiệm, bài học quý của dân tộc và các giá trị văn hóa pháp luật của nhân loại – công bằng và nhân đạo, dân chủ và pháp chế phải trở thành một quan điểm xuyên suốt quá trình cải cách tư pháp theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân trong điều kiện hội nhập quốc tế.[9]

1.1.3 Những nội dung của cải cách tư pháp

Dựa trên các nguyên tắc và yêu cầu cải cách tư pháp, những nội dung cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải được thiết kế và thực hiện trên cả 3 yếu tố hợp thành của hệ thống tư pháp,

đó là các thể chế, các thiết chế và các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, cụ thể như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự, pháp

luật hành chính và tố tụng tư pháp Trong đó, hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự theo hướng đề cao tính nhân đạo trong xử lý tội phạm như sử dụng biện pháp xử lý hành chính hay các biện pháp khác đối với một số hành vi kinh doanh trái phép, vô ý gây thiệt hại đến tài sản ; giảm áp dụng hình phạt tù và tăng áp dụng hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ đối với các tội phạm về môi trường, các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính; áp dụng hạn chế hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Hoàn thiện chính sách, pháp luật dân sự theo hướng phải xác định rõ, cụ thể quyền và nghĩa vụ về tài sản của Nhà nước, cá nhân, tổ chức; tiếp tục xây dựng

và hoàn thiện chế định sở hữu, quyền tự do kinh doanh, hợp đồng; xây dựng và hoàn thiện chế định bồi thường và bồi hoàn, nhất là việc bồi thường của nhà nước cho các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do lỗi của nhân viên trong các cơ quan nhà nước, Hoàn thiện pháp luật hành chính về việc tách bạch mối quan hệ giữa

Trang 22

16

Tòa án và các cơ quan hành chính nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thực hiện quyền xét xử khách quan của Tòa án Hoàn thiện tố tụng tư pháp, trong đó hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự theo hướng mở rộng quyền hạn cho điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán để họ chủ động thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình; hoàn thiện các quy định về pháp luật tố tụng dân sự theo hướng đề cao trách nhiệm và quyền tự định đoạt, chứng minh của các đương sự trong việc giải quyết các tranh chấp và yêu cầu của họ trước tòa án [27, tr30]; các quy định về tố tụng hành chính cần mở rộng thẩm quyền xét xử của tòa án đối với các khiếu kiện hành chính tạo thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân với cơ quan nhà nước trước tòa án

Thứ hai, cải cách tổ chức và hoạt động của tòa án, trong đó mở rộng thẩm

quyền xét xử chung của tòa án; phân định lại thẩm quyền xét xử giữa tòa án các cấp theo hướng đảm bảo tòa án mỗi cấp chủ yếu thực hiện một thẩm quyền xét

xử - sơ thẩm hoặc phúc thẩm, hạn chế đi đến chấm dứt tình trạng một tòa án thực hiện cả thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm; tổ chức hệ thống tòa án theo nguyên tắc hai cấp xét xử, không phụ thuộc vào địa giới hành chính; nâng cao tính độc lập nghiêm minh của hoạt động xét xử Tổ chức hệ thống Tòa

án nhân dân thành 4 cấp, phù hợp với hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân, gồm Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực (số lượng và địa hạt tư pháp tương ứng với số lượng và địa hạt tư pháp của Viện kiểm sát khu vực); Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Tòa án nhân dân cấp cao (số lượng

và địa hạt tư pháp tương ứng với số lượng và địa hạt tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao); Tòa án nhân dân tối cao Đồng thời, tăng cường năng lực và trách nhiệm độc lập của thẩm phán trong việc xét xử độc lập theo tinh thần cải cách tư pháp

Trang 23

17

Thứ ba, cải cách tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, xây dựng mô hình Viện kiểm sát khu vực tương ứng với các cấp của Tòa án tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát các cấp là hệ thống cơ quan độc lập, thống nhất từ trung ương tới địa phương Bên cạnh nhiệm vụ trọng tâm là thực hành quyền công tố

và kiểm sát tư pháp, Viện kiểm sát cần thêm chức năng đại diện nhà nước trong các vụ việc dân sự mà nhà nước có quyền khởi kiện nhân danh lợi ích nhà nước,

lợi ích công cộng, lợi ích chính đáng của công dân

Thứ tư, cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra, trong đó xác định

cơ quan điều tra là một bộ phận của hệ thống hành pháp; trước mắt cơ quan điều tra vẫn được giữ nguyên như hiện nay Cùng với việc xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan điều tra cần nghiên cứu để sớm xây dựng chế định pháp

lý về các chức danh Điều tra viên, Thủ trưởng Cơ quan điều tra theo hướng nâng cao quyền hạn và trách nhiệm của điều tra viên đối với kết quả điều tra Theo đó quy định cụ thể tiêu chuẩn về đạo đức, phẩm chất chính trị, trình độ pháp luật, chuyên môn nghiệp vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của các chức danh này Đồng thời xác định rõ chế độ đãi ngộ, cách thức tuyển chọn, bổ nhiệm, bãi nhiệm các chức danh, từ đó xác định mô hình, chương trình đào tạo phù hợp

Thứ năm, cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan Thi hành án Việc

xây dựng mô hình thi hành án phải đảm bảo tính kế thừa và phát huy những ưu điểm cơ bản của mô hình hiện tại, đồng thời khắc phục triệt để những nhược điểm đang cản trở, làm giảm hiệu lực và hiệu quả của toàn bộ công tác thi hành

án Những đổi mới cơ bản, toàn diện có tính cải cách trong lĩnh vực thi hành án không chỉ dừng ở mô hình quản lý Nhà nước về thi hành án mà còn là hình thức

tổ chức, quyền và nghĩa vụ tương ứng của từng cơ quan, từng chức danh được giao nhiệm vụ trực tiếp thi hành án

Thứ sáu, cải cách tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp Trong đó, cần nhận thức lại một cách đầy đủ và đúng đắn về vị trí của các hoạt động bổ trợ tư pháp Đây chính là một thiết chế xã hội – nghề nghiệp đặc biệt mà thông qua đó nhân

Trang 24

18

dân có khả năng tự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình Do tính chất đặc biệt của bổ trợ tư pháp, tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp cần được điều chỉnh bằng các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, đó

là các đạo luật Đồng thời, nâng cao tính chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa, độc lập chịu trách nhiệm của đội ngũ chức danh bổ trợ tư pháp (luật sư, công chứng viên, giám định viên) – yêu cầu có tính quyết định đối với chất lượng hoạt động của các tổ chức bổ trợ tư pháp Ngoài ra, đổi mới nội dung và phương thức quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp theo hướng kết hợp chặt chẽ quản lý nhà nước với tự quản của các hiệp hội nghề nghiệp

Thứ bảy, xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh Theo các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đối với hệ thống tư pháp, cần xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp trong sạch, vững mạnh, tính chuyên nghiệp cao, có bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng và đạo đức nghề nghiệp chuẩn mực theo hướng tiêu chuẩn hóa cụ thể đối với từng loại cán

bộ về chính trị, đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm xã hội Trên cơ

sở các tiêu chuẩn mang tính nguyên tắc đó, xây dựng chương trình đào tạo chung

về những kiến thức cơ bản, sau đó đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ cụ thể của từng lĩnh vực Chương trình đào tạo phải theo hướng đào tạo nghề, tăng cường bồi dưỡng ngắn ngày bắt buộc theo định kỳ cho cán bộ tư pháp trong quá trình làm việc Xác định chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với đội ngũ cán bộ tư pháp, tôn vinh cán bộ tư pháp giỏi, lập nhiều thành tích trong hoạt động tư pháp [9]

1.2 Đổi mới hệ thống Tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Tòa án nhân dân

* Tòa án trong giai đoạn từ năm 1945 đến 1958

Ngày 24-1-1946 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng

hoà đã ra Sắc lệnh số 13 về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán Đây là Sắc lệnh đầu tiên quy định một cách đầy đủ tổ chức giải quyết các tranh chấp, xử phạt các việc vi cảnh ở cơ sở cũng như tổ chức các Tòa án

Trang 25

có quyền hạn như Tòa án sơ cấp

Tiếp theo Sắc lệnh số 13 ngày 24-01-1946, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 51 ngày 17-4-1946 ấn định thẩm quyền các Tòa án và sự phân công giữa các thành viên trong Tòa án

Như vậy, từ sau ngày 13-9-1945 đến sau ngày 24-01-1946, ở nước ta đã

có 3 loại Tòa án: Tòa án Quân sự, Tòa án đặc biệt, Tòa án thường Nhằm giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án này, Chính phủ đã ban hành

Sắc lệnh số 43 ngày 3-4-1946 lập ở mỗi kỳ “một hội đồng phân định thẩm quyền

giữa Tòa án Quân sự, Tòa án đặc biệt và Tòa án thường” [11, tr10]

Ngày 09 - 11 - 1946, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta Tại Chương VI bản Hiến pháp này quy định về “Cơ quan tư pháp”, theo đó Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gồm có: Tòa án tối cao; các Tòa án phúc thẩm; các Tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp (Điều 63) Cao viên Thẩm phán đều do Chính phủ bổ nhiệm (Điều 64) Về các nguyên tắc xét xử gồm có: “Trong khi xử việc hình thì phải có phụ thẩm nhân dân để hoặc tham gia ý kiến nếu là việc đại hình (Điều 65); Quốc dân thiểu số có quyền dùng tiếng nói của mình trước Tòa án (Điều 66); Các phiên Tòa án đều phải công khai, trừ những trường hợp đặc biệt Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn Luật sư (Điều 67); trong khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp (Điều 69)” [11, tr15]

Trang 26

20

Để đáp ứng công tác xét xử trong hoàn cảnh kháng chiến ngày 29 12

-1946 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông lệnh số 12/NV-CT về tổ chức Tư pháp trong tình thế đặc biệt Bản Thông lệnh này cùng với bản Thông lệnh số 6/NV-

CT ngày 28-12-1946 về tổ chức chính quyền trong thời kỳ đặc biệt là những cơ

sở pháp lý để tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án trong thời kỳ kháng chiến được linh hoạt

* Tòa án trong giai đoạn cải cách tư pháp 1950 đến 1958

Trước hết là Sắc lệnh số 85 ngày 22-5-1950

- Về tổ chức: Bộ máy tư pháp được dân chủ hoá các Tòa án sơ cấp, đệ nhị

cấp nay gọi là Tòa án nhân dân huyện, Tòa án nhân dân tỉnh Hội đồng phúc án nay là Tòa Phúc thẩm phụ thẩm nhân dân nay gọi là hội thẩm nhân dân

- Thành phần nhân dân được đa số trong việc xét xử: Để xét xử việc hình

và hộ, Tòa án nhân dân huyện và tỉnh gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân Tòa Phúc thẩm gồm hai Thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân Hội thẩm nhân dân có quyền xem hồ sơ và biểu quyết

- Thành lập hội đồng hòa giải tại mỗi huyện nhằm mục đích giao cho nhân dân trực tiếp phụ trách việc hòa giải tất cả các việc hộ kể cả việc ly dị mà từ trước tới nay chỉ có Chánh án Tòa án tỉnh mới có thẩm quyền Biên bản hòa giải thành có chấp hành hiệu lực Đây là một điểm tiến bộ so với thế hệ cũ Khi các đương sự đã thoả thuận trước hội đồng hòa giải thì việc hòa giải được đem thi hành ngay

Cùng trong năm 1950, ngày 05 - 6 Chủ tịch Chính phủ ra Sắc lệnh số

103-SL quy định: “Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp có nhiệm vụ lãnh đạo và điều khiển các ngành chuyên môn cấp tương đương trong đó có ngành Tư pháp bao gồm cả Công tố và Tòa án” (Điều 1) và Thông tư số 21-TTg ngày 07-6-1950 của Thủ tướng phủ

Trên cơ sở các Tòa án được tăng cường cán bộ cách mạng, Sắc lệnh số 156-SL ngày 22-11-1950 đã quy định việc thành lập Tòa án nhân dân liên khu và

Trang 27

21

giao cho các Tòa án đó quyền xử cả những tội phản cách mạng Từ đó, các Tòa

án Quân sự đã được nhập vào hệ thống Tòa án thường và các cán bộ của Tòa án Quân sự lại được tăng cường cho Tòa án nhân dân liên khu [28, tr3]

* Tòa án trong giai đoạn 1959 đến 1980

Ngày 31-11-1959, Quốc hội khoá I, kỳ họp thứ 11 đã thông qua Hiến pháp mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (công bố ngày 01-01-1960) Về

tổ chức bộ máy nhà nước nói chung thì những quy định trong Hiến pháp năm

1959 có những sửa đổi căn bản so với những quy định trong Hiến pháp năm

1946 Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Phó Chủ tịch nước được tách ra khỏi Hội đồng Chính phủ và có quyền thay mặt nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về mặt đối nội và đối ngoại Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

Hệ thống Tòa án nhân dân theo Hiến pháp năm 1959 bao gồm Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự Trong trường hợp cần xét xử những vụ án đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Tòa án đặc biệt (Điều 97)

Theo Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 [12] thì “Các Tòa án nhân dân gồm có: Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự” và “Các Tòa án nhân dân địa phương gồm có: Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương, Tòa

án nhân dân ở các khu vực tự trị”; “ở các khu vực tự trị, tổ chức các Tòa án nhân dân địa phương sẽ do Hội đồng nhân dân khu vực tự trị quy định, căn cứ vào Điều 95 của Hiến pháp và những nguyên tắc tổ chức Tòa án nhân dân trong luật này” (Điều 2) Điều đáng lưu ý là trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 chỉ quy định có tính chất nguyên tắc về thẩm quyền của các Tòa án nhân dân các cấp, mà không quy định cụ thể về tổ chức của Tòa án nhân dân mỗi cấp Trong đạo luật này cũng chỉ quy định có tính chất nguyên tắc về chế độ bầu cử Thẩm

Trang 28

án nhân dân tối cao; Hội đồng Toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao” Trong Pháp lệnh này cũng đã quy định một cách cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi tổ chức tương ứng Mặc dù trong cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao Pháp lệnh không quy định cụ thể bộ máy giúp việc, nhưng theo quy định tại Điều 6 của Pháp lệnh và thực tiễn tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao trong thời gian này cho thấy còn có bộ máy giúp việc như Văn phòng, các Vụ tổ chức, tổng hợp, nghiên cứu pháp luật v.v Điều đáng lưu ý là theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 và Pháp lệnh ngày 23-3-1961 nói trên thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu ra và bãi miễn Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa

án nhân dân tối cao là năm năm Còn Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm phán dự khuyết và Uỷ viên Uỷ ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Uỷ ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm và bãi miễn theo đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Ngoài chức năng, nhiệm vụ xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án nhân dân khu có nhiệm vụ xây dựng tổ chức tư pháp trong khu và tổ chức việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân; mở lớp huấn luyện Thẩm phán Tòa án nhân dân thị xã, huyện và Thư ký Tòa án để góp phần đào tạo cán bộ địa phương theo chính sách dân tộc của Nhà nước Đối với Tòa án nhân dân tỉnh có nhiệm vụ xây dựng tổ chức tư pháp ở địa phương, huấn luyện cán bộ

Trang 29

23

tư pháp cho thị trấn và xã, tổ chức việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân; Tòa án nhân dân thị xã và huyện có nhiệm vụ xây dựng tổ chức tư pháp và hướng dẫn công tác hòa giải ở thị trấn và xã, tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhân dân

Về cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân khu và các Tòa án nhân dân tỉnh gồm có Chánh án, một hoặc nhiều Phó Chánh án và các Thẩm phán Tòa án nhân dân khu và các Tòa án nhân dân tỉnh có Uỷ ban Thẩm phán gồm có Chánh án, Phó Chánh án và một số Thẩm phán Tòa án nhân dân thị xã và huyện gồm có Chánh án và Thẩm phán, nếu cần thiết thì có Phó Chánh án

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm của các Tòa án nhân dân các cấp trong khu gồm có một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân; trong trường hợp

xử những vụ án mà đương sự hoặc bị can thuộc nhiều thành phần dân tộc khác nhau thì thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có thể gồm có một Thẩm phán và bốn Hội thẩm nhân dân

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có ba Thẩm phán; khi cần thiết thì có thể có thêm hai hoặc bốn Hội thẩm nhân dân Về các chức vụ Chánh

án, Phó Chánh án và Thẩm phán của các Tòa án nhân dân trong khu tự trị do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và bãi miễn Nhiệm kỳ của Chánh án, Phó Chánh

án và Thẩm phán Tòa án nhân dân khu và Tòa án nhân dân tỉnh là bốn năm, còn Tòa án nhân dân thị xã và huyện là ba năm Đối với thành viên Uỷ ban Thẩm phán của Tòa án nhân dân khu và Tòa án nhân dân tỉnh do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và bãi miễn

Đối với Hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân các cấp trong khu do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và bãi miễn Nhiệm kỳ của các Hội thẩm nhân dân là hai năm Danh sách Hội thẩm nhân dân của các Tòa án nhân dân các cấp trong khu tự trị cần phản ánh thích đáng các thành phần dân tộc trong quản hạt của Tòa án

Trang 30

24

- Ngày 27-12-1975 Quốc hội khoá V kỳ họp thứ hai đã ra Nghị quyết “về việc cải tiến các đơn vị hành chính”, bỏ cấp khu tự trị trong hệ thống các đơn vị hành chính Do đó, Tòa án nhân dân khu tự trị Việt Bắc và Tòa án nhân dân khu

tự trị Tây Bắc được giải thể

Căn cứ vào Hiến pháp mới được Quốc hội thông qua ngày 31-12-1959 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, ngày 21-2-1961 Bộ Tổng tham mưu ra Quyết định số 165 quy định tạm thời tổ chức biên chế của ngành Tòa án quân sự như sau: “Hệ thống Tòa án quân sự bao gồm: Tòa án quân sự trung ương và các Tòa án quân sự ở cấp quân khu, quân binh chủng, sư đoàn trực thuộc Bộ và tương đương Về quân số Tòa án quân sự trung ương có 15 người, Tòa án quân

sự quân khu, quân binh chủng và tương đương có từ 7 đến 9 người, Tòa án quân

sự sư đoàn trực thuộc Bộ và tương đương có 6 người”

* Tòa án trong giai đoạn 1980 đến 1992

Năm 1981 Bộ Tư pháp được thành lập lại và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 [13] đã giao “việc quản lý các Tòa án nhân dân địa phương về mặt

tổ chức do Bộ trưởng Bộ Tư pháp đảm nhiệm Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trong việc thực hiện nhiệm vụ đó” (Điều 16) Về quản lý các Tòa án quân sự, thì Pháp lệnh năm 1985 đã giao

“Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trong việc quản lý về mặt tổ chức các Tòa án quân sự quân khu và cấp tương đương và các Tòa án quân sự khu vực”

Về biên chế của các Tòa án nhân dân theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 và Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 1985, thì biên chế của Tòa

án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định và trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn Tổng số biên chế của các Tòa án nhân dân địa phương do Bộ trưởng Bộ Tư pháp trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định Sau khi

đã được Hội đồng Bộ trưởng quyết định tổng số biên chế, việc quy định biên chế cho từng Tòa án nhân dân địa phương do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định Đối

Trang 31

25

với các Tòa án quân sự, thì bộ máy làm việc, biên chế của Tòa án quân sự cấp cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định, sau khi đã thống nhất ý kiến với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn; bộ máy làm việc, biên chế của các Tòa án quân sự quân khu và cấp tương đương, của các Tòa án quân sự khu vực do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định, sau khi đã thống nhất ý kiến với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Về kinh phí, phương tiện hoạt động và trụ sở của các Tòa án quân sự do

Bộ Quốc phòng và các đơn vị quân đội bảo đảm

Tóm lại, việc quản lý các Tòa án nhân dân địa phương trong giai đoạn này

do Bộ Tư pháp đảm nhiệm, nhưng chủ yếu là việc trình tổng số biên chế và quy định biên chế cụ thể cho từng Tòa án nhân dân địa phương, còn về kinh phí hoạt động vẫn do ngân sách địa phương cấp, về nhân sự như Chánh án, Phó Chánh

án, Thẩm phán do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu Riêng việc quản lý, hướng dẫn công tác xét xử vẫn do Tòa án nhân dân tối cao đảm nhiệm

Ngay sau khi có Nghị quyết của Quốc hội tại kỳ họp thứ IV (tháng 1988) về công tác bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội, Toàn ngành Tòa án đã quán triệt tinh thần Nghị quyết và đề ra biện pháp thi hành, xác định việc thi hành Nghị quyết của Quốc hội là nội dung chủ yếu của phương hướng nhiệm vụ của ngành Tòa án Các Tòa án các cấp đã phối hợp chặt chẽ với các ngành các cấp, các cơ quan nhà nước hữu quan tấn công truy quét bọn phạm tội, nghiêm trị bọn lưu manh, côn đồ, bọn cướp của, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của nhân dân, giữ vững trật tự, an toàn xã hội

12-* Tòa án trong giai đoạn 1992 đến 2002

Đường lối đổi mới mọi mặt về đời sống xã hội do Đại hội lần thứ VI của

Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng đã tạo tiền đề cho việc nghiên cứu, xây dựng Hiến pháp năm 1992 - Hiến pháp của thời kỳ đổi mới đất nước Nhìn chung nhiều quy định của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức và hoạt động của Tòa

án nhân dân được kế thừa các quy định của Hiến pháp năm 1980, tuy nhiên một

Trang 32

26

số quy định của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và của Tòa án nhân dân nói riêng đã thể hiện rõ nét đổi mới các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan này

Để cụ thể hoá những quy định của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, ngày 6-10-1992 [14] Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ nhất đã thông qua Luật tổ chức Tòa án nhân dân và được sửa đổi, bổ sung theo các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Tòa án nhân dân, được Quốc hội thông qua ngày 28-12-1993 và ngày 28-10-1995 Đồng thời ngày 19-4-1993 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự và ngày 14-5-1993 Uỷ ban thường

vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân Có thể nói rằng việc ban hành các đạo luật và các Pháp lệnh cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân

là một bước tiến dài trong công cuộc cải cách tư pháp Theo các văn bản pháp luật này thì tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân đã được kiện toàn và đổi mới một bước

Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp của nước nhà, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành một văn bản pháp luật riêng biệt về Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân Trong Pháp lệnh này đã quy định cụ thể tiêu chuẩn của Thẩm phán, Hội thẩm Tòa án ở mỗi cấp; nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, Hội thẩm Tòa án Sau rất nhiều năm, chế độ bổ nhiệm Thẩm phán được khôi phục lại

Khái quát tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân trong giai đoạn này,

có thể thấy rằng bước đầu thực hiện công cuộc đổi mới chúng ta đã đạt được một

số kết quả đáng khích lệ, đó là:

- Trong cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được thành lập một Tòa chuyên trách mới

Trang 33

- Đã có một bước tiến mới trong việc cải cách chế độ tiền lương đối với Thẩm phán, thể hiện sự đánh giá lao động xét xử là một loại lao động quan trọng, cần được sự ưu đãi của Nhà nước

- Về cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ cho hoạt động xét xử của Tòa án được chú trọng hơn và được nâng cao lên một bước Công tác đào tạo mới và đào tạo lại cán bộ công tác ở các Tòa án đã được chú trọng và đẩy mạnh thêm một bước

- Chuyển giao việc thi hành án dân sự từ Tòa án sang cơ quan tư pháp tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án tập trung hoàn thành nhiệm vụ trọng tâm là xét

xử

Nhằm cụ thể hoá các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Bộ máy nhà nước cũng như những yêu cầu cụ thể về đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó có Tòa án nhân dân

đã được đề ra trong các nghị quyết, văn kiện của Đảng, đặc biệt là trong Văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng và Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, ngày 02-4-2002, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá X đã thông qua Luật tổ chức Tòa án nhân dân mới thay thế Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 06-10-1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 28-12-1993

và ngày 28-10-1995

Trang 34

28

1.2.2 Hệ thống Tòa án nhân dân theo pháp luật hiện hành

* Về vị trí, vai trò của Tòa án

Vị trí và vai trò của Tòa án biểu hiện qua chức năng và thẩm quyền của Tòa án được quy định trong Hiến pháp 1992, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật tố tụng hành chính và các văn bản pháp luật khác Đặc biệt, vị chức năng và thẩm quyền của Tòa án được thể hiện mới nhất trong Hiến pháp 2013 đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của Tòa án trong bộ máy nhà nước nói chung và trong hệ thống các cơ quan tư pháp nói riêng

Theo quy định của những văn bản pháp luật nêu trên thì Tòa án là cơ quan xét xử duy nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chức năng xét

xử của Tòa án là chức năng cơ bản và quan trọng nhất, nó bao trùm và xuyên suốt quá trình hoạt động của Tòa án Điều 127 Hiến pháp 1992 quy định Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án Quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam; Điều 1 Luật tổ chức Tòa án Nhân dân quy định Tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính

và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật

Chỉ có Tòa án mới có quyền nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam tuyên bố một người có tội hay vô tội Điều 72 Hiến pháp 1992 quy định “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét

xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh

dự Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh

Hiến pháp năm 2013 được ban hành và một lần nữa khẳng định vị trí, vai trò của Tòa án trong bộ máy nhà nước, theo đó Tòa án không những là cơ quan

xét xử mà còn là cơ quan thực hiện quyền tư pháp theo khoản 1 Điều 102: “Tòa

Trang 35

ra hết sức cấp thiết Hệ thống các cơ quan tư pháp ở nước ta hiện nay gồm có:

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan thi hành án và mỗi cơ quan tư pháp đều có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau nhưng cùng năm trong một hệ thống đồng bộ, có mối liên quan chặt chẽ với nhau Để tạo chuyển biến trong cải cách tư pháp cần phải nghiên cứu, tìm giải pháp đồng bộ, khả thi nhất trong đó có việc thực hiện cải cách, đổi mới các vấn đề liên quan đến tất cả các

cơ quan trong hệ thống các cơ quan tư pháp mà trọng tâm là cải cách tổ chức Tòa án Tòa án không những là cơ quan thực hiện các hoạt động tư pháp theo đúng chức năng, thẩm quyền của mình mà còn là cơ quan giảm sát kết quả hoạt động của cả hệ thống tư pháp

Tòa án có một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là cơ quan trung tâm trong hệ thống các cơ quan tư pháp, thể hiện qua các chức năng và nhiệm vụ sau:

* Về chức năng, thẩm quyền của Tòa án

Thứ nhất, Tòa án là cơ quan xét xử duy nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chỉ có Tòa án mới có quyền tuyên bố một người có tội hoặc

vô tội và áp dụng hình phạt hoặc các biện pháp tư pháp khác đối với họ

Thứ hai, Tòa án xét xử theo chế độ hai cấp, xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm Ngoài ra, Tòa án còn thực hiện chức năng giám đốc thẩm, tái thẩm các bản

án hay quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có sự vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục tố tụng… hoặc phát hiện có những tình tiết mới làm thay đổi bản chất của vụ án… để đảm bảo hoạt động xét xử của Tòa án là phải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh oan sai xảy ra

Trang 36

30

Thứ ba, Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Không một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào được phép can thiệp, tác động, làm ảnh hưởng đến tính độc lập xét xử của Tòa án Phán quyết của Tòa án là nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Bản án, quyết định của Tòa án có tính cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất để đảm bảo hiệu lực thi hành

Thứ tư, trong tố tụng hình sự, mọi hoạt động điều tra, truy tố đều phục vụ cho quá trình xét xử, phục vụ cho việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Bản án, quyết định của Tòa án làm cơ sở cho việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

Thứ năm, khi nói đến “quyền tư pháp” là phải nói đến Tòa án, Tòa án là nơi biểu hiện một cách mạnh mẽ nhất, tập trung và rõ ràng nhất quyền lực tư pháp thông qua hoạt động xét xử Với Hiến pháp 2013, quyền tư pháp đối với Tòa án không chỉ thông qua hoạt động xét xử mà còn thông qua các hoạt động thực hiện quyền tư pháp, giám sát hoạt động tư pháp của các cơ quan khác Cụ thể hóa điều này, ngày 20/01/2014 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân Pháp lệnh này quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ

sở cai nghiện bắt buộc tại Tòa án nhân dân; trình tự, thủ tục xem xét, quyết định việc hoãn, miễn chấp hành, giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại; khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị; giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính [16, Điều 1] Với phạm vi điều chỉnh như trên, việc quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trước đây thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh đã được

Trang 37

31

chuyển sang cho Tòa án nhân dân quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh Điều này một mặt làm giảm gánh nặng cho Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh trong việc quản lý hành chính, mặt khác tăng thẩm quyền cho Tòa án, thể hiện vai trò của Tòa án đối với việc thực hiện quyền tư pháp Đây cũng là việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về cải cách hệ thống hóa pháp luật, cải cách tư pháp và cải cách hành chính đã được xác định trong các nghị quyết, văn kiện của Đảng; bảo đảm trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính chặt chẽ, nhanh gọn, khả thi nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch, công bằng dân chủ trong quá trình xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính bảo đảm quyền công dân, quyền con người

Thứ sáu, ngoài chức năng xét xử, Tòa án còn có nhiệm vụ đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và mọi cá nhân Trong quá trình xét xử, giải quyết vụ án hình sự, Tòa án có nhiệm vụ tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, để từ đó có những kiến nghị, yêu cầu đối với cá nhân có trách nhiệm, tổ chức, cơ quan nhà nước có liên quan có những biện pháp hợp lý và kịp thời để chống và ngăn ngừa tội phạm mới phát sinh

Thứ bảy, sau khi ra quyết định thi hành bản án, Tòa án còn có nhiệm vụ phối hợp với chính quyền địa phương, các cơ quan đoàn thể, cơ quan Viện kiểm sát để theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo được hưởng án treo, cải tạo không giam giử, xét giảm thời gian thử thách đối với những người bị phạt tù nhưng cho hưởng án treo, công tác đặc xá

Thứ tám, trong các vụ án dân sự, lao động, kinh tế Tòa án là nơi bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mọi tổ chức, cá nhân khi có tranh chấp xảy ra, luôn cố gắng xây dựng mối đoàn kết trong nhân dân qua việc xét xử, hoà giải các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, hàn gắn và khôi phục lại một phần

Trang 38

xã hội thông qua chức năng xét xử Theo quy định tại Điều 1 Luật tổ chức Tòa

án nhân dân thì: Trong phạm vi chức năng của mình, Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự

do, danh dự và nhân phẩm của công dân

Tòa án là nơi biểu hiện quyền lực Nhà nước mạnh mẽ nhất, sâu sắc nhất, mọi phán quyết của Tòa án có tính cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước Theo

quy định tại Điều 106 Hiến pháp 2013: “Bản án, quyết định của Tòa án nhân

dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” [5, Điều 106]

Nhà nước đã tạo ra một hệ thống thiết chế, chế tài hỗ trợ cho bản án, quyết định được thực hiện trong thực tế cuộc sống, đặc biệt trong Bộ luật hình sự Việt nam hiện hành quy định ba tội phạm liên quan đến những phán quyết của Tòa án, đó

là tội “không chấp hành án” (Điều 304), tội “không thi hành án” (Điều 305), và tội “cản trở việc thi hành án” (Điều 306)

Tòa án là nơi thực hiện chức năng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả nhất, bằng việc đưa lên phương tiện thông tin đại chúng các phiên tòa tổ chức xét xử lưu động ngoài tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung, còn có tác dụng tuyên truyền, giới thiệu, giải thích cho quần chúng nhân dân về pháp luật để mọi người hiểu biết thêm về pháp luật

và hướng họ tới: Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác

Trang 39

xã hội

1.2.3 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân

* Tổ chức Tòa án nhân dân:

Hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức cùng với đơn vị hành chính từ cấp huyện đến cấp trung ương Hiện nay cả nước có 700 Tòa án nhân dân cấp huyện, 63 Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân tối cao; Tổng biên chế của Tòa án nhân dân cấp tỉnh là 4088 người, trong đó có 1.170 Thẩm phán trung cấp; tổng biên chế Tòa án nhân dân cấp huyện là 10.427 người, trong đó có 4.865 Thẩm phán trung cấp và sơ cấp [17, tr9]

Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, thẩm quyền của mỗi cấp Tòa án theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, cụ thể như sau:

- Cơ cấu tổ chức Tòa án nhân dân tối cao gồm có:

“a Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

b Tòa án quân sự trung ương, Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa hành chính và các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao; trong trường hợp cần thiết Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

c Bộ máy giúp việc”

[15, Khoản 2 Điều 18]

Trang 40

34

- Theo quy định tại Điều 19 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ và quyền hạn là: Hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử của các Tòa án; giám đốc việc xét

xử của Tòa án các cấp; trình Quốc hội dự án luật và trình Ủy ban thường vụ Quốc hội dự án pháp lệnh theo quy định của pháp luật Về thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân tối cao, theo quy định tại Điều 20 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng; phúc thẩm những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng

- Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân cấp tỉnh gồm có: Ủy ban Thẩm phán, Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa hành chính, bộ máy giúp việc Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh: sơ thẩm những

vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng; phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng; giám đốc thẩm, tái thẩm những

vụ án mà bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng

- Cơ cấu tổ chức và thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện là: Tòa án nhân dân cấp huyện có bộ máy giúp việc (văn phòng Tòa án nhân dân cấp huyện); sơ thẩm những vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng

Như vậy, hệ thống Tòa án nhân dân hiện nay được tổ chức tương ứng với đơn vị hành chính từ cấp huyện trở lên và có 3 cấp Tòa án

Hệ thống Tòa án quân sự về cơ bản, được tổ chức theo địa bàn quân khu, hiện nay hệ thống Tòa án quân sự gồm có: Tòa án quân sự trung ương; 9 Tòa án quân sự cấp quân khu và 17 Tòa án cấp khu vực Thẩm quyền của Tòa án quân

Ngày đăng: 15/07/2015, 23:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Danh sách các tỉnh, thành phố dự kiến thành lập Tòa án nhân - Xây dựng mô hình Tòa án khu vực trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay Luận văn ThS. Luật
Bảng 2.1. Danh sách các tỉnh, thành phố dự kiến thành lập Tòa án nhân (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w